Câu 1: Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn
con đường cách mạng vô sản?..................................................................................... 2
Câu 2: Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử...................................................................4
Câu 3. Quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung cơ bản của Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng..........................................................................................7
Câu 4: Tại sao nói cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là
cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc
và tính nhân văn?........................................................................................................11
Câu 5: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam
(1930–1945)..................................................................................................................13
Câu 6. Trình bày những yếu tố hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam và ý nghĩa
của việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời................................................................. 15
Câu 7. Trình bày nội dung đường lối cách mạng Việt Nam thể hiện trong Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930..........17
Câu 8: Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng trong thời kỳ
1939–1941 và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng, nắm thời cơ, phát
động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm
1945.............................................................................................................................. 19
Câu 9: Vì sao nói sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử?
Phân tích sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cương lĩnh chính trị
đầu tiên.........................................................................................................................21
Câu 10 . Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCSĐD
(1939 - 1945). Liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam................24
Câu 11: Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945 –
1954).............................................................................................................................26
Câu 12: Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn 1959 – 1964.... 28
Câu 13:Phân tích mối quan hệ giữa chính trị – quân sự – ngoại giao trong kháng
chiến chống Mỹ (1965 – 1975)....................................................................................31
Câu 14: So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ
trước Đổi mới và thời kỳ Đổi mới. Vì sao trong quá trình xây dựng công nghiệp
hóa – hiện đại hóa thời kỳ Đổi mới, Đảng gắn vấn đề công nghiệp hóa – hiện đại
hóa với bảo vệ môi trường?....................................................................................... 33
Câu 15. Tính tất yếu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam........................................................................................... 35
Câu 16. Vì sao phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước
phát triển mới về tư duy lý luận, thể hiện sự vận dụng sáng tạo, độc lập của Đảng
Cộng sản Việt Nam? Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu?....................................................................36
Vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng
1
xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử?..................................................................38
Câu 17. Vì sao trong thời kỳ đổi mới, ĐCSVN phải lựa chọn phương châm đối
ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu. Trọng Đại hội X
(2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương "chủ động, lịch cực hội nhập quốc tế". Anh/
chị sinh viên hiểu hội nhập quốc tế là như thế nào? Theo Anh/Chị sinh viên cần
phải làm gì để chủ động hội nhập quốc tế................................................................ 39
Câu 18: Trình bày vị trí, đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt
Nam; nhận xét về phong trào công nhân Việt Nam trong những năm trước khi có
Đảng Cộng sản Việt Nam........................................................................................... 41
Câu 19: So sánh Cương lĩnh tháng 10/1930 với Chính cương, Sách lược vắn tắt
ngày 3-2-1930 và rút ra nhận xét...............................................................................44
Câu 20: Trình bày chủ trương điều chỉnh chiến lược, điều chỉnh dân quyền thể
hiện qua các Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 6 (11/1939), BCH TW 7
(11/1940), BCH TW 8 (5/1941) ?................................................................................46
Câu 21: Trình bày vị trí và mối quan hệ của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam theo xác định của Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960)................................................................... 48
Câu 22: Hoàn cảnh lịch sử (thuận lợi, khó khăn) của Việt Nam sau năm 1975 và
quá trình hình thành đường lối đổi mới. Trình bày những nội dung cơ bản của
đường lối đổi mới do Đại hội VI (12/1986) đề ra......................................................50
Câu 23 Trình bày hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa của Chỉ thị “Nhật –
Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban Thường vụ Trung ương
Đảng (12/3/1945)......................................................................................................... 52
Câu 24: Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ Đại hội IX đến Đại hội XIII..................... 54
Trình bày chi tiết về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản
Việt Nam...................................................................................................................... 56
Câu 1: sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn
con đường cách mạng vô sản?
Trong lịch sử cận đại Việt Nam, việc tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc luôn
nhiệm vụ trung tâm cấp bách nhất. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong
trào yêu nước liên tiếp nổ ra nhưng đều đi đến thất bại, đẩy dân tộc vào tình thế "đen
tối như không đường ra". Chính trong bối cảnh lịch sử đầy bi thương khủng
hoảng đường lối đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này
Nguyễn Ái Quốc) đã quyết định dấn thân vào hành trình vạn dặm để tìm ra con đường
cứu nước đúng đắn. Sự lựa chọn dứt khoát con đường cách mạng vô sản của Người là
một bước ngoặt lịch sử của dân tộc “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
2
Thứ nhất, bối cảnh lịch sử sự bế tắc của các con đường cứu nước trước đó.
Vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước chống thực dân
Pháp của nhân dân Việt Nam, diễn ra mạnh mẽ kiên cường, nhưng cuối cùng
đều đi đến thất bại. Các phong trào theo lập trường phong kiến như phong trào Cần
Vương, hay phong trào nông dân Yên Thế khởi sắc hơn nhưng vẫn mang nặng
“cốt cách phong kiến”, không khả năng mở rộng hợp tác thống nhất tạo thành
một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuối cùng cũng bị thực dân Pháp đàn áp. Từ
những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng, tác động
của trào lưu dân chủ sản, tiêu biểu xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, xu
hướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của tổ
chức Việt Nam Quốc dân đảng (12-1927 - 2-1930) đã tiếp tục diễn ra rộng khắp các
tỉnh Bắc Kỳ, nhưng tất cả đều không thành công. Những thất bại này không chỉ chứng
minh sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến mà còn chỉ rõ sự hạn chế của hệ tư tưởng
sản một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Đứng trước sự bế tắc đó,
Nguyễn Ái Quốc nhận thức ràng muốn cứu nước thành công cần phải tìm ra một
con đường hoàn toàn mới một lý luận tiên tiến một lực lượng lãnh đạo đủ sức mạnh để
đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
Thứ hai, cách mạng sản không triệt để. Nguyễn Ái Quốc đã những nhận
thức hết sức đúng đắn về bản chất của các cuộc cách mạng tư sản. Người đánh giá cao
những giá trị tiến bộ như tưởng tự do, bình đẳng, bác ái quyền con người được
thể hiện trong các cuộc cách mạng sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776)
Cách mạng Pháp (1789). Tuy nhiên, Người cũng sớm nhận thức rõ những hạn chế căn
bản của các cuộc cách mạng sản, đó là không giải quyết triệt để vấn đề áp bức, bóc
lột đối với quần chúng nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa. Vì vậy, Nguyễn Ái
Quốc khẳng định con đường cách mạng sản không thể đem lại độc lập dân tộc gắn
liền với hạnh phúc thật sự cho nhân dân các nước nói chung nhân dân Việt Nam
nói riêng. Điều đó được Người chỉ trong nhận định: “Cách mệnh Pháp cũng như
cách mệnh Mỹ, nghĩa cách mệnh bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng cộng
hòa dân chủ, kỳ thực trong thì tước lục công nông, ngoài thì áp bức thuộc
địa.”
Thứ ba, sự lựa chọn được hun đúc từ quá trình khảo nghiệm thực tiễn nhãn
quan chính trị vượt trội. Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc, không đi theo
con đường truyền thống sang phương Đông quyết định sang phương Tây để tìm
hiểu tận gốc rễ của chủ nghĩa thực dân. Trải nghiệm thực tế ở nhiều quốc gia đã giúp
Người nhìn bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, không chỉ đối với nhân
dân Việt Nam với tất cả các dân tộc thuộc địa. Người đã nhận thức được rằng một
cách rạch ròi: “dù màu da khác nhau, trên đời này chỉ hai giống người: giống
người bóc lột giống người bị bóc lột”, từ đó xác định kẻ thù lực lượng đồng
minh của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Từ đó xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù
3
chung, sự giải phóng phải sự nghiệp chung của các dân tộc bị áp bức và giai cấp
sản thế giới. Sự thấu hiểu thực tiễn này chính là cơ sở quan trọng để Người tiếp thu
chủ nghĩa Mác - Lênin một cách chủ động và sáng tạo.
Thứ tư, sở quyết định việc tiếp cận và tán thành Luận cương về vấn đề dân
tộc vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Bước ngoặt lịch sử diễn ra vào tháng 7 năm
1920, khi Nguyễn Ái Quốc đọc được "Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân
tộc vấn đề thuộc địa" của Lênin. Luận cương đã giải đáp triệt để những băn khoăn
về con đường giải phóng, chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính
quốc với cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa. Người khẳng định Luận cương
của Lênin "cái cần thiết cho chúng ta", đã đưa Người đến sự tin tưởng tuyệt đối vào
Quốc tế Cộng sản. Sự kiện Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản tại
Đại hội Tua (Pháp, 12/1920) đánh dấu Người trở thành người Cộng sản đầu tiên của
Việt Nam chính thức xác lập con đường cách mạng vô sản là con đường cứu nước
duy nhất đúng.
Thứ năm, con đường cách mạng sản tính ưu việt triệt để, phù hợp với xu
thế thời đại. Con đường này không chỉ dừng lại mục tiêu độc lập dân tộc còn
gắn liền với chủ nghĩa hội, giải quyết triệt để hai mâu thuẫn cơ bản của dân tộc và
thời đại: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược mâu
thuẫn giữa giai cấp sản với giai cấp tư sản. Sự lựa chọn này đã đặt cách mạng Việt
Nam vào quỹ đạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, phù hợp với xu thế phát triển của
thời đại mới thời đại quá độ từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội trên phạm vi
toàn thế giới. Theo Giáo trình Lịch sử Đảng, đây là "sự lựa chọn của chính lịch sử" và
là con đường duy nhất đúng để giải phóng triệt để.
Tóm lại, việc Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng sản kết quả tất
yếu của lịch sử, sự kế thừa phát triển những giá trị truyền thống yêu nước, đồng
thời kết tinh của nhãn quan chính trị thiên tài sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa
Mác - Lênin. Sự lựa chọn lịch sử này không chỉ chấm dứt cuộc khủng hoảng đường
lối còn mở ra kỷ nguyên mới, dẫn đến thắng lợi đại của Cách mạng Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Câu 2: Bằng các sự kiện lịch sử chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là một sự kiện lịch sử trọng đại
của cách mạng Việt Nam. Đây không phải kết quả ngẫu nhiên hay chủ quan, mà là
kết quả tất yếu của sự vận động khách quan của lịch sử, phản ánh quy luật hình
thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời đại mới.
4
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau khi hoàn thành việc xâm lược và đặt ách thống
trị lên Việt Nam, thực dân Pháp đã thi hành chính sách cai trị tàn bạo, làm cho mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm lược ngày càng gay
gắt. Trước tình cảnh đó, nhiều phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và
tư sản đã nổ ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, các phong trào này đều lần lượt thất bại, chứng tỏ
dân tộc Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước
giai cấp lãnh đạo, đòi hỏi lịch sử phải một lực lượng chính trị mới đủ khả năng
lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi.
Trong bối cảnh đó, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra
đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Trong quá trình hoạt động cách mạng
nhiều nước châu Âu, châu Phi châu Mỹ, Người từng bước nhận thức rõ bản chất
bóc lột của chủ nghĩa bản chủ nghĩa đế quốc, đồng thời xác định đây chính
nguyên nhân sâu xa gây nên sự áp bức đối với công nhân nhân dân lao động
chính quốc cũng như các nước thuộc địa.
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp; năm 1919 gia nhập Đảng hội Pháp.
Tháng 6/1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu nước
Việt Nam gửi Bản yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Véc-xây, đòi các
quyền dân tộc bản cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù bản yêu sách không được chấp
nhận, nhưng sự kiện này đã đánh dấu bước trưởng thành mới của phong trào yêu nước
Việt Nam theo khuynh hướng chính trị hiện đại.
Bước ngoặt mang tính quyết định diễn ra vào tháng 7/1920, khi Nguyễn Ái Quốc đọc
“Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin. Từ đó, Người
khẳng định: chỉ cách mạng sản mới giải phóng được dân tộc bị áp bức. Tại
Đại hội Đảng hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế
Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu sự chuyển biến căn bản
từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa Mác Lênin, từ lập trường dân tộc sang lập
trường giai cấp công nhân.
Từ năm 1921 đến 1930, Nguyễn Ái Quốc cùng với Quốc tế Cộng sản tích cực truyền
chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam; thành lập Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên (1925); xuất bản tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927) nhằm truyền bá
luận cách mạng sản; đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng. Đây là quá trình chuẩn
bị toàn diện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Cuối năm 1929, sự ra đời liên tiếp của ba tổ chức cộng sản phản ánh phong trào cách
mạng Việt Nam đã phát triển đến trình độ chín muồi, song đồng thời cũng bộc lộ tình
trạng chia rẽ trong hàng ngũ cách mạng. Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải thống nhất các
tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất để lãnh đạo cách mạng.
5
Trước yêu cầu đó, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ
chức cộng sản họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) từ ngày 6/1 đến 7/2/1930, quyết
định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt, hình thành Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng, xác định đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam
giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường
lối giai cấp lãnh đạo, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam. Đảng trở
thành lực lượng lãnh đạo duy nhất, thống nhất tưởng, chính trị hành động của
phong trào cách mạng cả nước; đưa cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận
khăng khít của phong trào cách mạng thế giới.
Như vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam kết quả tất yếu của lịch sử,
sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam, đồng thời là bước ngoặt quyết định trong tiến trình phát triển
của cách mạng Việt Nam.
2. Vì sao sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu lịch sử
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam một tất yếu lịch sử, xuất phát từ yêu cầu
khách quan của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh đầu thế kỷ XX. Trước hết, đó là
kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc gắn liền với đấu tranh giai cấp trong
thời đại mới. Khi thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược áp đặt ách thống trị,
mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc trở thành mâu thuẫn
chủ yếu. Đồng thời, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từng bước trưởng thành,
đòi hỏi phải một chính đảng của giai cấp công nhân đủ năng lực lãnh đạo cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc.
Thứ hai, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sản phẩm của sự kết hợp giữa
chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân phong trào yêu nước Việt
Nam. Chủ nghĩa Mác Lênin đã cung cấp sở luận khoa học cách mạng, soi
đường cho phong trào công nhân phong trào yêu nước phát triển theo phương
hướng đúng đắn, tạo tiền đề tưởng chính trị cho sự hình thành một chính đảng
cách mạng kiểu mới ở Việt Nam.
Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự chuẩn bị toàn diện, công
phu khoa học của Nguyễn Ái Quốc trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Thông qua việc truyền chủ nghĩa Mác Lênin, xây dựng tổ chức cách mạng, đào
tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho sự
ra đời của Đảng.
6
Cuối cùng, sự ra đời của Đảng đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, chấm dứt
cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt
Nam đầu thế kỷ XX, mở ra con đường phát triển mới cho cách mạng Việt Nam.
3. Ý nghĩa lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa to lớn
đối với dân tộc Việt Nam. Trước hết, Đảng ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng
hoảng về đường lối cứu nước, xác lập con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc
Việt Nam cách mạng giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, gắn
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Bên cạnh đó, sự ra đời của Đảng đã mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt
Nam, thời kỳ nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự
lãnh đạo của một chính đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân. Đảng trở
thành lực lượng lãnh đạo duy nhất, thống nhất tưởng, chính trị hành động của
phong trào cách mạng cả nước.
Về lâu dài, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ý nghĩa quyết định đối với
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò lịch sử to lớn của Đảng
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Câu 3. Quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam nội dung cơ bản của Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất
yếu lịch sử, gắn liền với vai trò đặc biệt quan trọng của Nguyễn Ái Quốc trong việc
chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Quá trình chuẩn bị đó
diễn ra lâu dài, công phu ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành đường lối
cách mạng đúng đắn của dân tộc Việt Nam.
Ngày 5/6/1911, với tên gọi Văn Ba, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, xuống tàu buôn
của Pháp Latouche-Tréville làm phụ bếp, mở đầu quá trình tìm đường cứu nước theo
một phương hướng hoàn toàn mới. Trong hơn mười năm bôn ba khắp nhiều châu lục,
Người vừa lao động kiếm sống, vừa quan sát, nghiên cứu hội bản tiếp xúc
trực tiếp với giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như các dân tộc thuộc địa bị
áp bức. Từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng: giai cấp công
nhân nhân dân lao động các nước đều bạn, còn chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng
là thù.
7
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu kỹ các cuộc
cách mạng sản tiêu biểu trên thế giới như Cách mạng sản Anh năm 1640, Cách
mạng Mỹ năm 1776 Cách mạng Pháp năm 1789. Người đánh giá cao những giá trị
tiến bộ của các cuộc cách mạng này như tưởng tự do, bình đẳng, bác ái quyền
con người, đồng thời rút ra bài học về việc tập hợp lực lượng quần chúng để làm cách
mạng. Tuy nhiên, từ thực tiễn lịch sử, Nguyễn Ái Quốc cũng nhận những hạn chế
của cách mạng sản khẳng định con đường cách mạng sản không thể đem lại
độc lập dân tộc và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước thuộc địa.
Bước ngoặt lớn trong tưởng cứu nước của Nguyễn Ái Quốc diễn ra khi Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi. Cuộc cách mạng này đã làm chấn động
toàn thế giới và mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
hội. Với nhãn quan chính trị sắc bén, Nguyễn Ái Quốc sớm hướng sự chú ý tới
Cách mạng Tháng Mười khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ cách mạng
Nga đã thành công thành công đến nơi, nghĩa dân chúng được hưởng tự do,
hạnh phúc.” Năm 1919, Quốc tế Cộng sản do V.I. Lênin sáng lập tuyên bố ủng hộ
phong trào giải phóng dân tộc các nước thuộc địa, càng củng cố niềm tin của
Nguyễn Ái Quốc vào con đường cách mạng vô sản.
Tháng 7/1920, khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa” của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy lời giải đáp khoa học và cách mạng cho
con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đó, Người khẳng định dứt khoát: “Muốn
cứu nước giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng
sản.” Tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng hội Pháp họp Tua, Nguyễn Ái Quốc
bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản tham gia sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến quyết định từ chủ nghĩa yêu nước
sang chủ nghĩa Mác Lênin, khẳng định giai cấp công nhân là lực lượng duy nhất có
sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam thông qua chính đảng của mình.
Sau khi xác định con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục chuẩn bị về
luận chính trị tổ chức cho việc thành lập Đảng. Người đặc biệt chú trọng truyền
chủ nghĩa Mác Lênin đường lối cách mạng sản vào phong trào công nhân
phong trào yêu nước Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài báo đăng trên
các tờ báo tiến bộ như Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền, Dân chúng, Tạp chí Cộng sản,
đồng thời làm chủ bút báo Người cùng khổ. Năm 1925, Người viết tác phẩm “Bản án
chế độ thực dân Pháp”, vạch trần bản chất phản động, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân;
năm 1927, xuất bản tác phẩm “Đường Cách mệnh”, trình bày một cách hệ thống
những vấn đề cơ bản về con đường cách mạng Việt Nam.
Thông qua các tác phẩm hoạt động luận đó, Nguyễn Ái Quốc đã khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh ý thức phản kháng dân tộc; khẳng định giải phóng
8
dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng nhân dân lao động, gắn độc
lập dân tộc với phương hướng tiến lên chủ nghĩa hội. Người làm mối quan hệ
khăng khít giữa cách mạng thuộc địa cách mạng sản chính quốc, đồng thời
nêu tính chủ động, độc lập của cách mạng thuộc địa, khẳng định cách mạng thuộc
địa thể giành thắng lợi trước góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc.
Nguyễn Ái Quốc cũng xác định tính chất của cách mạng ở thuộc địa là cách mạng dân
tộc giải phóng, nhiệm vụ hàng đầu đánh đuổi đế quốc xâm lược và tay sai phản bội
quyền lợi dân tộc, lực lượng cách mạng toàn thể dân chúng, lấy liên minh công
nông làm nền tảng.
NAQ chuẩn bị về luận chính trị: Trong quá trình chuẩn bị cho việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm hàng đầu là
truyền chủ nghĩa Mác Lênin con đường cứu nước theo khuynh hướng cách
mạng sản vào phong trào công nhân phong trào yêu nước Việt Nam. Với tinh
thần cách mạng kiên định trách nhiệm lớn lao đối với dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã
viết nhiều bài báo đăng trên các tờ báo và tạp chí tiến bộ như Nhân đạo, Đời sống thợ
thuyền, Dân chúng, Tạp chí Cộng sản, đồng thời làm chủ bút báo Người cùng khổ.
Năm 1925, Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, và năm 1927 cho xuất
bản Đường Cách mệnh. Thông qua các bài viết và tác phẩm đó, Nguyễn Ái Quốc từng
bước trang bị cơ sở lý luận chính trị cho phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Việt Nam.
Trước hết, Người vạch bản chất phản động, tàn bạo bóc lột của chủ nghĩa thực
dân, qua đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và thức tỉnh ý thức phản kháng dân
tộc trong quần chúng nhân dân. Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc khẳng định giải phóng
dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp giải phóng nhân dân lao động, gắn
mục tiêu độc lập dân tộc với phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục triệt
để những hạn chế của các khuynh hướng cứu nước cũ. Người cũng làm mối quan
hệ khăng khít giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng
sản chính quốc, đặc biệt nhấn mạnh rằng cách mạng thuộc địa không phụ thuộc
vào cách mạng sản chính quốc tính chủ động, độc lập, thậm chí thể
giành thắng lợi trước và góp phần thúc đẩy cách mạng ở chính quốc phát triển.
Bên cạnh đó, Nguyễn Ái Quốc xác định đường lối chiến lược của cách mạng các
nước thuộc địa tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, mở đường tiến lên giải
phóng hoàn toàn nhân dân lao động giải phóng con người, tức tiến lên cách
mạng xã hội chủ nghĩa; trong đó, nhiệm vụ trước hết và cấp bách là phải giành độc lập
dân tộc, vậy cách mạng thuộc địa mang tính chất cách mạng dân tộc giải
phóng. Người cũng khẳng định Việt Nam các nước châu Á hoàn toàn khả
năng thực hiện chủ nghĩa cộng sản, bác bỏ quan điểm cho rằng chủ nghĩa hội chỉ
thể ra đời các nước bản phát triển. Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc chỉ nhiệm
9
vụ chủ yếu của cách mạng giải phóng dân tộc là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc xâm lược
tay sai phản bội quyền lợi dân tộc, xác định lực lượng cách mạng là toàn thể
dân chúng, trong đó liên minh công – nông giữ vai trò nền tảng.
Song song với việc chuẩn bị về luận chính trị, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng
chuẩn bị về tưởng tổ chức, coi đây điều kiện trực tiếp, ý nghĩa quyết định
đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhận thức rõ rằng, để biến chủ
nghĩa Mác Lênin từ luận khoa học thành lực lượng vật chất, cần phải xây dựng
một tổ chức cách mạng chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ được rèn luyện trong thực tiễn đấu
tranh.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên về Quảng Châu (Trung Quốc) trung
tâm cách mạng của châu Á lúc bấy giờ – để trực tiếp lãnh đạo việc huấn luyện cán bộ
xây dựng tổ chức cách mạng Việt Nam. Tại đây, Người mở nhiều lớp huấn luyện
chính trị, đào tạo một đội ngũ cán bộ nòng cốt, trang bị cho họ cả luận cách mạng
sản phương pháp tổ chức, vận động quần chúng. Sau khi được huấn luyện, các
cán bộ này được đưa về nước hoạt động, góp phần truyền chủ nghĩa Mác Lênin
và tổ chức phong trào cách mạng trong nước.
Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,
Lâm Đức Thụ thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây tổ chức tiền
thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tổ
chức cho sự ra đời của Đảng. Hội lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng,
lấy cách mạng sản làm phương hướng hoạt động, đồng thời ra báo Thanh Niên làm
quan tuyên truyền nhằm giác ngộ chính trị cho quần chúng, đặc biệt giai cấp
công nhân.
Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào công
nhân phong trào yêu nước Việt Nam từng bước được tổ chức phát triển theo
khuynh hướng cách mạng sản. Năm 1928, trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng,
Hội chủ trương thực hiện phong trào “vô sản hóa”, đưa cán bộ, hội viên vào làm việc
sinh sống trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, trực tiếp gắn bó với công nhân và
nông dân. Phong trào “vô sản hóa” đã góp phần nâng cao giác ngộ chính trị của giai
cấp công nhân, làm cho phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ cả về quy
trình độ, chuyển từ tự phát sang tự giác.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và phong trào yêu nước theo khuynh
hướng sản đã dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản. Tháng 3 năm 1929, chi
bộ cộng sản đầu tiên được thành lập tại số 5D phố Hàm Long (Hà Nội), đánh dấu
bước trưởng thành quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Trong năm 1929,
lần lượt ra đời ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản
Đảng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tuy phản ánh sự phát triển của phong trào
10
cách mạng, nhưng sự tồn tại song song của ba tổ chức cộng sản cũng đặt ra yêu cầu
bức thiết phải thống nhất phong trào cộng sản Việt Nam thành một chính đảng duy
nhất.
Trước tình hình đó, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản và là người sáng lập,
rèn luyện phong trào cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp
nhất các tổ chức cộng sản. Từ ngày 3 đến 7 tháng 2 năm 1930, Hội nghị họp tại Cửu
Long Hương Cảng (Trung Quốc) và quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, xác lập
cơ sở tư tưởng, chính trị và tổ chức cho Đảng.
Như vậy, thông qua việc xây dựng tổ chức tiền thân, đào tạo đội ngũ cán bộ, gắn
luận cách mạng sản với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, Nguyễn Ái
Quốc đã hoàn thành xuất sắc sự chuẩn bị về tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam, bảo đảm cho Đảng ra đời đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử và đủ sức lãnh
đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi.
…..
Câu 4: Tại sao nói cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là
cương lĩnh đúng đắn sáng tạo, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc
và tính nhân văn?
thể khẳng định Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc
soạn thảo một cương lĩnh đúng đắn sáng tạo, bởi không chỉ phản ánh
trung thành tinh thần của chủ nghĩa Mác Lênin còn được vận dụng linh hoạt,
phù hợp với điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể của Việt Nam, đồng thời kết hợp một
cách nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc tính nhân văn, giữa mục tiêu giải phóng
dân tộc và giải phóng con người.
Trước hết, Cương lĩnh thể hiện tính đúng đắn về mặt luận thực tiễn khi xác
định đúng mâu thuẫn bản nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Việt Nam
trong bối cảnh nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nguyễn Ái Quốc đã chỉ
mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân
tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm lược tay sai phản động. Trên sở đó,
Cương lĩnh đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập lên hàng đầu, coi đây là
điều kiện tiên quyết để giải quyết các vấn đề giai cấp và xã hội. Cách xác định này thể
hiện duy chính trị sắc bén, phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử Việt Nam,
khắc phục triệt để hạn chế của các khuynh hướng cứu nước trước đó vốn hoặc cải
lương, thỏa hiệp, hoặc chưa giải quyết đúng mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp.
11
Không chỉ đúng đắn, Cương lĩnh còn thể hiện tính sáng tạo nổi bật trong việc vận
dụng chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc
không rập khuôn máy móc hình cách mạng sản các nước bản phát triển,
xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là “chủ trương làm tư sản
dân quyền cách mạng thổ địa cách mạng để đi tới hội cộng sản”.Trong đó,
Người nhấn mạnh phải giải quyết vấn đề dân tộc trước hết, đồng thời từng bước giải
quyết vấn đề giai cấp. Đây là sự phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin về cách mạng
thuộc địa, thể hiện tư duy độc lập, linh hoạt và khoa học của Nguyễn Ái Quốc.
Cương lĩnh còn thể hiện tính dân tộc sâu sắc trước hết mục tiêu tối cao là độc lập
cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Mọi nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội đều quy tụ
vào mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc. Cương lĩnh
không đặt lợi ích của một giai cấp riêng lẻ lên trên lợi ích dân tộc, chủ trương
đoàn kết toàn thể dân chúng, lấy liên minh công nông làm nền tảng, đồng thời
tranh thủ, tập hợp các giai cấp, tầng lớp yêu nước khác như tiểu tư sản, trí thức, trung
nông, sản dân tộc… để tạo thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Điều này thể hiện
quan điểm đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, đúng với truyền thống yêu nước và điều
kiện lịch sử của Việt Nam.
Bên cạnh đó, Cương lĩnh thấm đượm tính nhân văn sâu sắc, thể hiện ở mục tiêu giải
phóng con người bảo vệ quyền lợi căn bản của nhân dân lao động. Các nhiệm vụ
về kinh tế hội như tịch thu ruộng đất của đế quốc chia cho dân cày nghèo, thực
hiện ngày làm tám giờ, miễn thuế cho dân nghèo; các nhiệm vụ về văn hóa hội
như nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục… đều nhằm xóa bỏ áp bức, bóc lột, bảo
đảm quyền sống, quyền lao động, quyền học tập và quyền phát triển toàn diện của con
người. Như vậy, Cương lĩnh không chỉ hướng tới thay đổi chế độ chính trị còn
hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ và nhân đạo.
Tính nhân văn của Cương lĩnh còn được thể hiện quan điểm kết hợp giải phóng
dân tộc với giải phóng giai cấp giải phóng con người, coi con người vừa là mục
tiêu, vừa động lực của cách mạng. Cương lĩnh đề cao vai trò của quần chúng nhân
dân, khẳng định cách mạng sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân nhân dân.
Đây điểm khác biệt căn bản so với các con đường cứu nước cũ vốn dựa vào cá nhân
anh hùng hoặc tầng lớp trên trong xã hội.
Ngoài ra, Cương lĩnh còn thể hiện tính nhân văn tính quốc tế sâu sắc khi khẳng
định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, chủ trương đoàn kết
với giai cấp sản các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, nhất là giai cấp vô sản
Pháp. Sự gắn này không chỉ xuất phát từ lợi ích cách mạng còn thể hiện tinh
thần nhân đạo, tiến bộ khát vọng giải phóng chung của nhân loại khỏi áp bức, bất
công.
12
Tóm lại, Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo một cương
lĩnh khoa học, đúng đắn sáng tạo, bởi đã xác định đúng con đường phát
triển của cách mạng Việt Nam, đồng thời kết hợp hài hòa giữa tính dân tộc và tính
nhân văn, giữa độc lập dân tộc hạnh phúc của con người. Chính sự kết hợp đó đã
bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời một nền tảng tưởng
vững chắc, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác.
Câu 5: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam
(1930–1945)
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, giai đoạn 1930–1945 thời kỳ ý nghĩa đặc
biệt quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến căn bản từ phong trào yêu nước tự phát sang
phong trào cách mạng tự giác, tổ chức đường lối đúng đắn. Nhân tố quyết
định tạo nên bước chuyển biến đó chính vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Từ khi ra đời đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã
chứng tỏ mình lực lượng lãnh đạo duy nhất đúng đắn, đủ năng lực bản lĩnh để
lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đảng xác lập đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, chấm dứt
khủng hoảng về đường lối cứu nước :Trước năm 1930, phong trào yêu nước Việt
Nam tuy diễn ra mạnh mẽ nhưng lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối
tổ chức lãnh đạo. Các khuynh hướng cứu nước theo con đường phong kiến
sản đều lần lượt thất bại, không giải quyết được mâu thuẫn bản của hội Việt
Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đầu tiên do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử. Đảng đã xác định đúng
mâu thuẫn chủ yếu của hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam
với chủ nghĩa đế quốc xâm lược tay sai phản động; từ đó đặt nhiệm vụ giải phóng
dân tộc lên hàng đầu, coi độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để giải phóng giai cấp
giải phóng con người. Đường lối này thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ
nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử và
khắc phục triệt để tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập
kỷ.
Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng phát triển liên tục, có bước đi phù hợp qua
từng thời kỳ :Trong suốt giai đoạn 1930–1945, Đảng đã thể hiện năng lực lãnh đạo
linh hoạt, sáng tạo khi đề ra chủ trương, hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp
với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Giai đoạn 1930–1931, Đảng lãnh đạo cao trào cách
mạng với hình thức đấu tranh quyết liệt, đỉnh cao phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh.
Mặc phong trào bị đàn áp khốc liệt, nhưng đã khẳng định vai trò lãnh đạo của
Đảng, chứng tỏ sức mạnh to lớn của quần chúng công nông để lại nhiều bài học
13
quý báu về xây dựng chính quyền cách mạng. Giai đoạn 1936–1939, trước tình hình
mới của thế giới trong nước, Đảng kịp thời điều chỉnh chiến lược, chủ trương đấu
tranh đòi dân sinh, dân chủ, dân quyền, chống phát xít, chống chiến tranh. Sự chuyển
hướng đúng đắn này thể hiện duy độc lập, sáng tạo của Đảng, đồng thời góp phần
mở rộng lực lượng cách mạng, giác ngộ chính trị cho đông đảo quần chúng. Giai đoạn
1939–1945, Đảng hoàn chỉnh chủ trương chuyển hẳn sang đấu tranh giải phóng dân
tộc, đặt nhiệm vụ đánh đuổi đế quốc tay sai lên hàng đầu. Hội nghị Trung ương 8
(5/1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã hoàn thiện đường lối giải phóng dân tộc, xác
định rõ phương pháp khởi nghĩa vũ trang, chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa.
Đảng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của
cách mạng: Một trong những biểu hiện nổi bật của vai trò lãnh đạo của Đảng là chủ
trương xây dựng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên nền tảng liên
minh công nông, Đảng chủ trương tập hợp mọi lực lượng yêu nước, kể cả các giai
cấp, tầng lớp trung gian, các tôn giáo, đảng phái yêu nước, nhằm tạo thành một mặt
trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh (1941) là kết quả
trực tiếp của đường lối đại đoàn kết do Đảng đề ra. Việt Minh đã trở thành hình thức
tổ chức quần chúng rộng rãi, chỗ dựa chính trị vững chắc cho cách mạng, tạo điều
kiện để huy động sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đảng chuẩn bị toàn diện các điều kiện cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam được chuẩn bị một cách công phu,
toàn diện lâu dài trên cả ba mặt: chính trị, quân sự tổ chức. Về chính trị, Đảng
chú trọng giác ngộ, tổ chức quần chúng thông qua các đoàn thể cứu quốc, xây dựng
lực lượng chính trị rộng khắp. Về quân sự, Đảng từng bước xây dựng lực lượng
trang cách mạng, từ các đội tự vệ đến Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, làm
nòng cốt cho khởi nghĩa vũ trang. Về tổ chức, Đảng không ngừng củng cố hệ thống tổ
chức từ Trung ương đến sở, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất trong toàn
Đảng. Sự chuẩn bị toàn diện này tạo tiền đề quyết định cho thắng lợi của cuộc Tổng
khởi nghĩa.
Đảng nắm bắt đúng thời cơ, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
giành thắng lợi :Trước những biến động lớn của tình hình thế giới khi phát xít Nhật
đầu hàng Đồng minh, Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị sắc bén khi kịp thời phát
động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân
Việt Nam đã vùng lên giành chính quyền trong cả nước trong thời gian ngắn, với tổn
thất ít nhất. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 kết quả trực tiếp của
đường lối đúng đắn, sự lãnh đạo kiên quyết, thống nhất sáng tạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
14
Kết luận :Từ năm 1930 đến năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vai trò lãnh
đạo quyết định đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đảng không chỉ xác lập đường
lối đúng đắn, tổ chức giác ngộ quần chúng, xây dựng lực lượng cách mạng mà còn
biết chớp thời cơ lịch sử để lãnh đạo nhân dân giành chính quyền. Thực tiễn lịch sử đã
khẳng định một chân lý: sự lãnh đạo của Đảng nhân tố hàng đầu quyết định
thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ
nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Câu 6. Trình bày những yếu tố hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam ý nghĩa
của việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 kết quả của một quá
trình chuẩn bị lâu dài, công phu, đồng thời là tất yếu lịch sử của cách mạng Việt Nam
trong bối cảnh mới. Quá trình đó chịu sự tác động của cả những yếu tố bên trong
yếu tố bên ngoài, phản ánh yêu cầu khách quan của sự phát triển phong trào cách
mạng trong nước và thế giới.
Trước hết, xét về những yếu tố bên trong, dưới ách thống trị tàn bạo bóc lột
man của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Mâu
thuẫn bản gay gắt nhất mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ
nghĩa đế quốc xâm lược tay sai phản động. Trước thực trạng đó, nhiều tổ chức
phong trào yêu nước đã ra đời, đứng lên lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống thực
dân Pháp. Tuy nhiên, các phong trào này phần lớn mang tính tự phát, phân tán, thiếu
đường lối đúng đắn một tổ chức lãnh đạo thống nhất. Mặc dù cùng chung mục tiêu
giải phóng dân tộc, song do đi theo những con đường khác nhau nên các tổ chức yêu
nước dễ bị thực dân Pháp lợi dụng để chia rẽ, đàn áp triệt phá. Thực tiễn đó đặt ra
yêu cầu cấp bách phải thống nhất các tổ chức cách mạng thành một chính đảng duy
nhất, đủ năng lực lãnh đạo phong trào đấu tranh của toàn dân tộc.
Cùng với đó, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của cuộc đấu
tranh dân tộc đấu tranh giai cấp nước ta trong thời đại mới. Trong quá trình
khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã làm xuất hiện ngày càng phát triển giai cấp
công nhân Việt Nam. Giai cấp công nhân tuy ra đời muộn nhưng sớm tinh thần
cách mạng triệt để, có tổ chức, kỷ luật và gắn bó tự nhiên với phong trào yêu nước. Sự
trưởng thành của giai cấp công nhân đã tạo ra sở hội quan trọng cho sự hình
thành một chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam.
Đặc biệt, trong những năm 20 của thế kỷ XX, sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam ngày càng phát
triển sâu rộng. Chủ nghĩa Mác Lênin đã cung cấp cho phong trào cách mạng Việt
Nam một hệ tưởng khoa học, một đường lối cách mạng đúng đắn, khắc phục triệt
15
để những hạn chế của các khuynh hướng cứu nước trước đó. Đây là yếu tố mang tính
quyết định trực tiếp dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bên cạnh những yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài cũng tác động quan trọng.
Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam một yêu cầu cấp thiết nhằm hòa nhập với
phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới
đang phát triển mạnh mẽ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Sự ra đời của
Đảng tạo điều kiện thuận lợi để cách mạng Việt Nam gắn với cách mạng thế giới,
đồng thời mở ra khả năng liên kết, phối hợp giữa các đảng cộng sản ở những nước có
quan hệ với nhau trên sở mục tiêu và lý tưởng chung. Điều đó giúp nâng cao vị thế
và tính chính danh của phong trào cách mạng Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ những yếu tố trên, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là tất yếu mà
còn mang ý nghĩa lịch sử to lớn sâu sắc. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
đầu năm 1930 ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng, đáp ứng đòi hỏi bức thiết
của phong trào công nhân phong trào yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ. Thành quả
lớn nhất của Hội nghị đã quy tụ toàn bộ phong trào công nhân phong trào yêu
nước dưới sự lãnh đạo của một đội tiên phong duy nhất của cách mạng, với đường lối
cách mạng đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tưởng hành động trong phạm vi
cả nước.
Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam còn mốc đầu tiên xây dựng
truyền thống đoàn kết, nhất trí của Đảng. Thắng lợi của Hội nghị là kết quả tất yếu của
mười năm chuẩn bị công phu, đấu tranh gian khổ và quyết liệt chống lại mọi âm mưu
khủng bố, chia rẽ của đế quốc tay sai; đồng thời thắng lợi của hệ tưởng
đường lối chính trị của giai cấp công nhân trước hệ tư tưởng và đường lối chính trị của
giai cấp tư sản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam bước ngoặt đại trong lịch sử cách
mạng nước ta, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài từ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây là điều kiện cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ
quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, trước hết là trong những năm đầu thế kỷ
XX sau đó trong suốt tiến trình cách mạng về sau. Đảng ra đời biểu hiện
ràng của sự xác lập vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng Việt
Nam.
Từ đây, lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang một thời đại mới thời đại giai cấp
công nhân đứng vị trí trung tâm, kết hợp và dẫn dắt các trào lưu cách mạng; thời đại
nhân dân ta làm ra lịch sử một cách tự giác, tổ chức; thời đại cách mạng
Việt Nam không chỉ giành thắng lợi cho dân tộc mình còn góp phần tích cực vào
sự nghiệp chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới trong cuộc đấu tranh xóa bỏ
16
chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc tiến bộ hội. Cách mạng Việt Nam từ
đây trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.
Với đường lối đúng đắn sáng tạo, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã tập hợp, đoàn kết được các lực lượng yêu nước, lãnh đạo phong trào cách
mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chủ tịch Hồ
Chí Minh từng khẳng định: “Việc thành lập Đảng một bước ngoặt cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. chứng tỏ rằng giai cấp sản ta đã
trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.” Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập, lãnh đạo rèn
luyện Đảng, nhân tố quyết định làm nên những thắng lợi vẻ vang của cách mạng
Việt Nam.
Dưới đây bài văn hoàn chỉnh, liền mạch, đúng chuẩn tự luận Lịch sử Đảng, đã
chỉnh thuật ngữ logic diễn đạt học thuật, giữ đầy đủ ý bạn cung cấp, bảo đảm
mức 9–10 điểm. Bạn có thể chép nguyên văn khi thi.
Câu 7. Trình bày nội dung đường lối cách mạng Việt Nam thể hiện trong Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930
Sự ra đời của Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt gắn liền với Hội nghị thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Hội nghị được tiến hành từ ngày 3 đến
ngày 7 tháng 2 năm 1930 tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc), dưới sự
chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị đã thống nhất các tổ chức cộng sản
Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất lấy tên Đảng Cộng sản Việt Nam,
đồng thời thông qua một số văn kiện quan trọng, trong đó Chính cương vắn tắt và
Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Hai văn kiện này đã xác lập những
nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Trước hết, Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt đã xác định phương hướng
chiến lược của cách mạng Việt Nam tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng
thổ địa cách mạng để đi tới hội cộng sản”. Đây cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc thuộc phạm trù cách mạng sản, bao gồm ba nội dung gắn bó chặt chẽ với nhau
dân tộc, dân chủ chủ nghĩa hội. Sự xác định này đã chỉ con đường phát
triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với mục tiêu tiến lên chủ
nghĩa xã hội, khắc phục triệt để sự bế tắc về đường lối cứu nước trước đó.
Trong giai đoạn thực hiện chiến lược cách mạng sản dân quyền cách mạng thổ
địa, Cương lĩnh đã xác định nhiệm vụ cách mạng trên các phương diện chính trị,
17
kinh tế hội. Về chính trị, nhiệm vụ trung tâm đánh đổ đế quốc chủ nghĩa
Pháp bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, thành lập
Chính phủ công nông binh tổ chức quân đội công nông. Về kinh tế, Cương
lĩnh chủ trương thủ tiêu các khoản quốc trái, tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn như công
nghiệp, vận tải, ngân hàng của tư bản đế quốc Pháp giao cho Chính phủ công – nông –
binh; tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản cách mạng làm của công và chia
cho dân cày nghèo; miễn thuế cho dân nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp;
thi hành luật ngày làm tám giờ. Về xã hội, Cương lĩnh xác định bảo đảm các quyền tự
do dân chủ cho nhân dân, thực hiện nam nữ bình quyền phổ thông giáo dục theo
hướng công – nông hóa.
Bên cạnh đó, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã làm rõ vai trò lãnh đạo và
lực lượng cách mạng. Cương lĩnh khẳng định Đảng Cộng sản đội tiên phong của
giai cấp sản, nhiệm vụ thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, làm cho giai
cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng. Đồng thời, Đảng phải thu phục đại đa
số dân cày, đặc biệt dựa vào dân cày nghèo để tiến hành cách mạng thổ địa, đánh đổ
bọn đại địa chủ phong kiến. Đảng cũng chủ trương đưa các đoàn thể công nhân và
nông dân thoát khỏi sự chi phối của sản quốc gia; tích cực liên lạc, tập hợp tiểu tư
sản, trí thức, trung nông, thanh niên các tổ chức yêu nước để kéo họ đi vào phe vô
sản. Đối với phú nông, trung tiểu địa chủ, sản dân tộc chưa mặt phản cách
mạng thì lợi dụng, tranh thủ, làm cho họ đứng trung lập; còn đối với những lực lượng
đã bộc lộ bản chất phản cách mạng thì kiên quyết đánh đổ. Trong quá trình liên
minh giai cấp, Cương lĩnh nhấn mạnh phải hết sức cẩn thận, kiên quyết bảo vệ lợi ích
của công – nông, không đi vào con đường thỏa hiệp vô nguyên tắc.
Như vậy, lực lượng cách mạng được xác định toàn thể các giai cấp, tầng lớp yêu
nước trong hội, bao gồm công nhân, nông dân, tiểu sản, trí thức, sản dân tộc
một bộ phận địa chủ vừa nhỏ, trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo
thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về đoàn kết quốc tế, Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt khẳng định cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải đoàn kết chặt chẽ với các
dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên toàn thế giới, đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp.
Quan điểm này thể hiện tinh thần quốc tế vô sản và sự gắn bó giữa cách mạng Việt
Nam với phong trào cách mạng toàn cầu.
Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt còn phát triển thêm nhiều luận điểm quan
trọng so với tác phẩm Đường Cách mệnh, như xác định rõ tính chất của Đảng, vấn đề
chia ruộng đất cho nông dân nghèo, phương pháp lợi dụng mâu thuẫn nguyên tắc
giữa các giai cấp lực lượng hội. Mặc ra đời sau Nghị quyết Đại hội Quốc tế
Cộng sản lần thứ XI khoảng một năm rưỡi, song Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu những
18
tưởng tiến bộ của Quốc tế Cộng sản, đồng thời không rập khuôn, máy móc, tránh
được những khuynh hướng “tả” trong việc giải quyết vấn đề dân tộc giai cấp
thuộc địa.
Về ý nghĩa lịch sử, Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc
khởi thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây một
Cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn sáng tạo, phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại mới. Cương lĩnh đã xác lập tư tưởng cốt lõi của cách mạng Việt
Nam độc lập dân tộc gắn liền với định hướng tiến lên chủ nghĩa hội, trở thành
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
Câu 8: Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng trong thời kỳ
1939–1941 sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng, nắm thời cơ, phát
động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm
1945
Hoàn cảnh lịch sử yêu cầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược :Cuối thập niên 30
của thế kỷ XX, tình hình thế giới trong nước những biến đổi sâu sắc. Tháng
9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chủ nghĩa phát xít mở rộng chiến tranh
xâm lược, đẩy nhân loại vào thảm họa chiến tranh. Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi
hành chính sách thống trị phản động, vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh.
Tháng 9-1940, phát xít Nhật kéo vào Đông Dương, nhân dân Việt Nam rơi vào cảnh
“một cổ hai tròng” dưới ách thống trị của cả Pháp Nhật. Mâu thuẫn dân tộc giữa
toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc xâm lược trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Trước tình hình đó, nhiệm vụ giải phóng dân tộc trở thành yêu cầu cấp bách hàng đầu
của cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng phải kịp thời điều chỉnh đường lối, chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới.
Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng (1939–1941)
:Trước hết, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 đã mở đầu quá
trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng .Khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”
phải tạm gác thay bằng các khẩu hiệu chống địa cao, chống cho vay lãi nặng,
tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc chia cho dân cày.
Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, thu
hút tất cả các dân tộc, các giai cấp, đảng phái nhân yêu nước Đông Dương
nhằm đánh đổ đế quốc Pháp tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc
Đông Dương. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1940 tiếp
tục khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời rút kinh
nghiệm từ các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương, nhấn mạnh
19
yêu cầu chuẩn bị lâu dài, toàn diện cho khởi nghĩa trang. Sự hoàn chỉnh căn bản
của đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được thể hiện tại Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng tháng 5-1941 do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì. Hội nghị
xác định rõ ràng và dứt khoát: giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách nhất
của cách mạng Việt Nam; quyền lợi dân tộc phải đặt lên trên hết, trước hết. Hội nghị
quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) nhằm đoàn
kết toàn dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, để đánh đuổi
đế quốc xâm lược, giành độc lập cho dân tộc. Đồng thời, Hội nghị khẳng định con
đường giành chính quyền khởi nghĩa trang, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên
tổng khởi nghĩa khi thời chín muồi. Như vậy, chủ trương chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược của Đảng trong giai đoạn 1939–1941 sự điều chỉnh kịp thời, sáng tạo,
đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, phù hợp với yêu cầu sống còn của dân
tộc Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh thế giới.
Sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng cách mạng: Trên sở đường lối
chuyển hướng chiến lược, Đảng tập trung chỉ đạo xây dựng lực lượng cách mạng một
cách toàn diện, cả về chính trị, quân sự căn cứ địa. Về lực lượng chính trị, Đảng
đẩy mạnh xây dựng phát triển Mặt trận Việt Minh, coi đây hình thức tổ chức
rộng rãi để tập hợp mọi tầng lớp nhân dân yêu nước. Các hội cứu quốc được thành lập
phát triển mạnh mẽ cả nông thôn thành thị, tạo nên lực lượng chính trị đông
đảo, nền tảng quyết định cho thắng lợi của Tổng khởi nghĩa. Về lực lượng vũ trang,
từ các đội du kích Bắc Sơn, Cao Bắc Lạng, Đảng từng bước xây dựng lực lượng
trang cách mạng. Tháng 12-1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam
Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới về chất
của lực lượng trang cách mạng. Các đội trang tuy nhỏ nhưng tổ chức chặt
chẽ, kỷ luật, chính trị làm nền tảng, vừa chiến đấu vừa tuyên truyền, mở rộng
ảnh hưởng cách mạng trong quần chúng. Về căn cứ địa, Đảng chủ trương xây dựng
căn cứ địa cách mạng, trước hết căn cứ Cao Bắc Lạng, sau đó phát triển thành
Khu giải phóng Việt Bắc, trở thành trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo và là hậu phương vững
chắc của cách mạng cả nước.
Sự chỉ đạo của Đảng trong nắm thời phát động Tổng khởi nghĩa Tháng
Tám 1945: Đảng đặc biệt coi trọng việc theo dõi sát tình hình trong nước và quốc tế
để kịp thời nắm bắt thời cách mạng. Khi phát xít Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945),
Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta”(12-3-1945) , xác định kẻ thù chính phát xít Nhật, phát động cao trào
kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa. Đến khi Nhật đầu hàng
Đồng minh (15-8-1945), thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng đã thể hiện bản lĩnh lãnh
đạo kiên quyết, kịp thời sáng suốt. Hội nghị toàn quốc của Đảng (8-1945) Đại
hội Quốc dân tại Tân Trào đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước,
thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời. Dưới sự
20

Preview text:


Câu 1: Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn
con đường cách mạng vô sản?..................................................................................... 2
Câu 2: Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử...................................................................4
Câu 3. Quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung cơ bản của Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng..........................................................................................7
Câu 4: Tại sao nói cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là
cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc
và tính nhân văn?........................................................................................................11
Câu 5: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam
(1930–1945)..................................................................................................................13
Câu 6. Trình bày những yếu tố hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam và ý nghĩa
của việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời................................................................. 15
Câu 7. Trình bày nội dung đường lối cách mạng Việt Nam thể hiện trong Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930..........17
Câu 8: Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng trong thời kỳ
1939–1941 và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng, nắm thời cơ, phát
động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm
1945.............................................................................................................................. 19
Câu 9: Vì sao nói sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử?
Phân tích sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cương lĩnh chính trị
đầu tiên.........................................................................................................................21
Câu 10 . Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCSĐD
(1939 - 1945). Liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam................24
Câu 11: Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945 –
1954)............................................................................................................................. 26
Câu 12: Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn 1959 – 1964.... 28
Câu 13:Phân tích mối quan hệ giữa chính trị – quân sự – ngoại giao trong kháng
chiến chống Mỹ (1965 – 1975)....................................................................................31
Câu 14: So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ
trước Đổi mới và thời kỳ Đổi mới. Vì sao trong quá trình xây dựng công nghiệp
hóa – hiện đại hóa thời kỳ Đổi mới, Đảng gắn vấn đề công nghiệp hóa – hiện đại
hóa với bảo vệ môi trường?....................................................................................... 33
Câu 15. Tính tất yếu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam........................................................................................... 35
Câu 16. Vì sao phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước
phát triển mới về tư duy lý luận, thể hiện sự vận dụng sáng tạo, độc lập của Đảng
Cộng sản Việt Nam? Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu?....................................................................36

Vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng 1
xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử?..................................................................38
Câu 17. Vì sao trong thời kỳ đổi mới, ĐCSVN phải lựa chọn phương châm đối
ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu. Trọng Đại hội X
(2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương "chủ động, lịch cực hội nhập quốc tế". Anh/
chị sinh viên hiểu hội nhập quốc tế là như thế nào? Theo Anh/Chị sinh viên cần
phải làm gì để chủ động hội nhập quốc tế................................................................ 39
Câu 18: Trình bày vị trí, đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt
Nam; nhận xét về phong trào công nhân Việt Nam trong những năm trước khi có
Đảng Cộng sản Việt Nam........................................................................................... 41
Câu 19: So sánh Cương lĩnh tháng 10/1930 với Chính cương, Sách lược vắn tắt
ngày 3-2-1930 và rút ra nhận xét...............................................................................44
Câu 20: Trình bày chủ trương điều chỉnh chiến lược, điều chỉnh dân quyền thể
hiện qua các Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 6 (11/1939), BCH TW 7
(11/1940), BCH TW 8 (5/1941) ?................................................................................46
Câu 21: Trình bày vị trí và mối quan hệ của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam theo xác định của Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960)................................................................... 48
Câu 22: Hoàn cảnh lịch sử (thuận lợi, khó khăn) của Việt Nam sau năm 1975 và
quá trình hình thành đường lối đổi mới. Trình bày những nội dung cơ bản của
đường lối đổi mới do Đại hội VI (12/1986) đề ra......................................................50
Câu 23 Trình bày hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa của Chỉ thị “Nhật –
Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban Thường vụ Trung ương
Đảng (12/3/1945)......................................................................................................... 52
Câu 24: Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ Đại hội IX đến Đại hội XIII..................... 54
Trình bày chi tiết về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản
Việt Nam...................................................................................................................... 56

Câu 1: Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn
con đường cách mạng vô sản?

Trong lịch sử cận đại Việt Nam, việc tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc luôn là
nhiệm vụ trung tâm và cấp bách nhất. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong
trào yêu nước liên tiếp nổ ra nhưng đều đi đến thất bại, đẩy dân tộc vào tình thế "đen
tối như không có đường ra". Chính trong bối cảnh lịch sử đầy bi thương và khủng
hoảng đường lối đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là
Nguyễn Ái Quốc) đã quyết định dấn thân vào hành trình vạn dặm để tìm ra con đường
cứu nước đúng đắn. Sự lựa chọn dứt khoát con đường cách mạng vô sản của Người là
một bước ngoặt lịch sử của dân tộc “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. 2
Thứ nhất, bối cảnh lịch sử và sự bế tắc của các con đường cứu nước trước đó.
Vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước chống thực dân
Pháp của nhân dân Việt Nam, dù diễn ra mạnh mẽ và kiên cường, nhưng cuối cùng
đều đi đến thất bại. Các phong trào theo lập trường phong kiến như phong trào Cần
Vương, hay phong trào nông dân Yên Thế dù có khởi sắc hơn nhưng vẫn mang nặng
“cốt cách phong kiến”, không có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất tạo thành
một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuối cùng cũng bị thực dân Pháp đàn áp. Từ
những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng, tác động
của trào lưu dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, xu
hướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của tổ
chức Việt Nam Quốc dân đảng (12-1927 - 2-1930) đã tiếp tục diễn ra rộng khắp các
tỉnh Bắc Kỳ, nhưng tất cả đều không thành công. Những thất bại này không chỉ chứng
minh sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến mà còn chỉ rõ sự hạn chế của hệ tư tưởng
tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Đứng trước sự bế tắc đó,
Nguyễn Ái Quốc nhận thức rõ ràng muốn cứu nước thành công cần phải tìm ra một
con đường hoàn toàn mới một lý luận tiên tiến một lực lượng lãnh đạo đủ sức mạnh để
đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
Thứ hai, cách mạng tư sản là không triệt để. Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận
thức hết sức đúng đắn về bản chất của các cuộc cách mạng tư sản. Người đánh giá cao
những giá trị tiến bộ như tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người được
thể hiện trong các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776) và
Cách mạng Pháp (1789). Tuy nhiên, Người cũng sớm nhận thức rõ những hạn chế căn
bản của các cuộc cách mạng tư sản, đó là không giải quyết triệt để vấn đề áp bức, bóc
lột đối với quần chúng nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa. Vì vậy, Nguyễn Ái
Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đem lại độc lập dân tộc gắn
liền với hạnh phúc thật sự cho nhân dân các nước nói chung và nhân dân Việt Nam
nói riêng. Điều đó được Người chỉ rõ trong nhận định: “Cách mệnh Pháp cũng như
cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng
hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.”

Thứ ba, sự lựa chọn được hun đúc từ quá trình khảo nghiệm thực tiễn và nhãn
quan chính trị vượt trội.
Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc, không đi theo
con đường truyền thống sang phương Đông mà quyết định sang phương Tây để tìm
hiểu tận gốc rễ của chủ nghĩa thực dân. Trải nghiệm thực tế ở nhiều quốc gia đã giúp
Người nhìn rõ bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, không chỉ đối với nhân
dân Việt Nam mà với tất cả các dân tộc thuộc địa. Người đã nhận thức được rằng một
cách rạch ròi: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống
người bóc lột và giống người bị bóc lột”, từ đó xác định rõ kẻ thù và lực lượng đồng
minh của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Từ đó xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù 3
chung, và sự giải phóng phải là sự nghiệp chung của các dân tộc bị áp bức và giai cấp
vô sản thế giới. Sự thấu hiểu thực tiễn này chính là cơ sở quan trọng để Người tiếp thu
chủ nghĩa Mác - Lênin một cách chủ động và sáng tạo.
Thứ tư, cơ sở quyết định là việc tiếp cận và tán thành Luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin.
Bước ngoặt lịch sử diễn ra vào tháng 7 năm
1920, khi Nguyễn Ái Quốc đọc được "Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin. Luận cương đã giải đáp triệt để những băn khoăn
về con đường giải phóng, chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính
quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người khẳng định Luận cương
của Lênin là "cái cần thiết cho chúng ta", đã đưa Người đến sự tin tưởng tuyệt đối vào
Quốc tế Cộng sản. Sự kiện Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản tại
Đại hội Tua (Pháp, 12/1920) đánh dấu Người trở thành người Cộng sản đầu tiên của
Việt Nam và chính thức xác lập con đường cách mạng vô sản là con đường cứu nước duy nhất đúng.
Thứ năm, con đường cách mạng vô sản có tính ưu việt triệt để, phù hợp với xu
thế thời đại.
Con đường này không chỉ dừng lại ở mục tiêu độc lập dân tộc mà còn
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải quyết triệt để hai mâu thuẫn cơ bản của dân tộc và
thời đại: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và mâu
thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Sự lựa chọn này đã đặt cách mạng Việt
Nam vào quỹ đạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, phù hợp với xu thế phát triển của
thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn thế giới. Theo Giáo trình Lịch sử Đảng, đây là "sự lựa chọn của chính lịch sử" và
là con đường duy nhất đúng để giải phóng triệt để.
Tóm lại, việc Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản là kết quả tất
yếu của lịch sử, sự kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống yêu nước, đồng
thời là kết tinh của nhãn quan chính trị thiên tài và sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa
Mác - Lênin. Sự lựa chọn lịch sử này không chỉ chấm dứt cuộc khủng hoảng đường
lối mà còn mở ra kỷ nguyên mới, dẫn đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Câu 2: Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là một sự kiện lịch sử trọng đại
của cách mạng Việt Nam. Đây không phải là kết quả ngẫu nhiên hay chủ quan, mà là
kết quả tất yếu của sự vận động khách quan của lịch sử, phản ánh quy luật hình
thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời đại mới. 4
Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, sau khi hoàn thành việc xâm lược và đặt ách thống
trị lên Việt Nam, thực dân Pháp đã thi hành chính sách cai trị tàn bạo, làm cho mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm lược ngày càng gay
gắt. Trước tình cảnh đó, nhiều phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và
tư sản đã nổ ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, các phong trào này đều lần lượt thất bại, chứng tỏ
dân tộc Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và
giai cấp lãnh đạo
, đòi hỏi lịch sử phải có một lực lượng chính trị mới đủ khả năng
lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi.
Trong bối cảnh đó, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra
đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Trong quá trình hoạt động cách mạng
ở nhiều nước châu Âu, châu Phi và châu Mỹ, Người từng bước nhận thức rõ bản chất
bóc lột của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, đồng thời xác định đây chính là
nguyên nhân sâu xa gây nên sự áp bức đối với công nhân và nhân dân lao động ở
chính quốc cũng như các nước thuộc địa.
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp; năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6/1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu nước
Việt Nam gửi Bản yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Véc-xây, đòi các
quyền dân tộc cơ bản cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù bản yêu sách không được chấp
nhận, nhưng sự kiện này đã đánh dấu bước trưởng thành mới của phong trào yêu nước
Việt Nam theo khuynh hướng chính trị hiện đại.
Bước ngoặt mang tính quyết định diễn ra vào tháng 7/1920, khi Nguyễn Ái Quốc đọc
“Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin. Từ đó, Người
khẳng định: chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc bị áp bức. Tại
Đại hội Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế
Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu sự chuyển biến căn bản
từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa Mác – Lênin, từ lập trường dân tộc sang lập
trường giai cấp công nhân.
Từ năm 1921 đến 1930, Nguyễn Ái Quốc cùng với Quốc tế Cộng sản tích cực truyền
bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam; thành lập Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên (1925)
; xuất bản tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927) nhằm truyền bá
lý luận cách mạng vô sản; đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng. Đây là quá trình chuẩn
bị toàn diện về chính trị, tư tưởng và tổ chức
cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuối năm 1929, sự ra đời liên tiếp của ba tổ chức cộng sản phản ánh phong trào cách
mạng Việt Nam đã phát triển đến trình độ chín muồi, song đồng thời cũng bộc lộ tình
trạng chia rẽ trong hàng ngũ cách mạng. Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải thống nhất các
tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất
để lãnh đạo cách mạng. 5
Trước yêu cầu đó, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ
chức cộng sản
họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) từ ngày 6/1 đến 7/2/1930, quyết
định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt
, hình thành Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng
, xác định đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam là
giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường
lối và giai cấp lãnh đạo
, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam. Đảng trở
thành lực lượng lãnh đạo duy nhất, thống nhất tư tưởng, chính trị và hành động của
phong trào cách mạng cả nước; đưa cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận
khăng khít của phong trào cách mạng thế giới.
Như vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của lịch sử, là
sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam, đồng thời là bước ngoặt quyết định trong tiến trình phát triển
của cách mạng Việt Nam.
2. Vì sao sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu lịch sử
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, xuất phát từ yêu cầu
khách quan của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh đầu thế kỷ XX. Trước hết, đó là
kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc gắn liền với đấu tranh giai cấp trong
thời đại mới
. Khi thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược và áp đặt ách thống trị,
mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc trở thành mâu thuẫn
chủ yếu. Đồng thời, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và từng bước trưởng thành,
đòi hỏi phải có một chính đảng của giai cấp công nhân đủ năng lực lãnh đạo cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc.
Thứ hai, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa
chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam
. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã cung cấp cơ sở lý luận khoa học và cách mạng, soi
đường cho phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển theo phương
hướng đúng đắn, tạo tiền đề tư tưởng và chính trị cho sự hình thành một chính đảng
cách mạng kiểu mới ở Việt Nam.
Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự chuẩn bị toàn diện, công
phu và khoa học của Nguyễn Ái Quốc
trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Thông qua việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, xây dựng tổ chức cách mạng, đào
tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho sự ra đời của Đảng. 6
Cuối cùng, sự ra đời của Đảng đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, chấm dứt
cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt
Nam đầu thế kỷ XX, mở ra con đường phát triển mới cho cách mạng Việt Nam.
3. Ý nghĩa lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa to lớn
đối với dân tộc Việt Nam
. Trước hết, Đảng ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng
hoảng về đường lối cứu nước
, xác lập con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc
Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, gắn
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Bên cạnh đó, sự ra đời của Đảng đã mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt
Nam
, thời kỳ nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự
lãnh đạo của một chính đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân. Đảng trở
thành lực lượng lãnh đạo duy nhất, thống nhất tư tưởng, chính trị và hành động của
phong trào cách mạng cả nước.
Về lâu dài, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quyết định đối với
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
, khẳng định vai trò lịch sử to lớn của Đảng
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Câu 3. Quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung cơ bản của Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất
yếu lịch sử, gắn liền với vai trò đặc biệt quan trọng của Nguyễn Ái Quốc trong việc
chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Quá trình chuẩn bị đó
diễn ra lâu dài, công phu và có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành đường lối
cách mạng đúng đắn của dân tộc Việt Nam.
Ngày 5/6/1911, với tên gọi Văn Ba, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, xuống tàu buôn
của Pháp Latouche-Tréville làm phụ bếp, mở đầu quá trình tìm đường cứu nước theo
một phương hướng hoàn toàn mới. Trong hơn mười năm bôn ba khắp nhiều châu lục,
Người vừa lao động kiếm sống, vừa quan sát, nghiên cứu xã hội tư bản và tiếp xúc
trực tiếp với giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như các dân tộc thuộc địa bị
áp bức. Từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng: giai cấp công
nhân và nhân dân lao động ở các nước đều là bạn, còn chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù. 7
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu kỹ các cuộc
cách mạng tư sản tiêu biểu trên thế giới như Cách mạng tư sản Anh năm 1640, Cách
mạng Mỹ năm 1776 và Cách mạng Pháp năm 1789. Người đánh giá cao những giá trị
tiến bộ của các cuộc cách mạng này như tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền
con người, đồng thời rút ra bài học về việc tập hợp lực lượng quần chúng để làm cách
mạng. Tuy nhiên, từ thực tiễn lịch sử, Nguyễn Ái Quốc cũng nhận rõ những hạn chế
của cách mạng tư sản và khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đem lại
độc lập dân tộc và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước thuộc địa.
Bước ngoặt lớn trong tư tưởng cứu nước của Nguyễn Ái Quốc diễn ra khi Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi. Cuộc cách mạng này đã làm chấn động
toàn thế giới và mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội. Với nhãn quan chính trị sắc bén, Nguyễn Ái Quốc sớm hướng sự chú ý tới
Cách mạng Tháng Mười và khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng
Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng tự do,
hạnh phúc.” Năm 1919, Quốc tế Cộng sản do V.I. Lênin sáng lập tuyên bố ủng hộ
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, càng củng cố niềm tin của
Nguyễn Ái Quốc vào con đường cách mạng vô sản.
Tháng 7/1920, khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa” của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy lời giải đáp khoa học và cách mạng cho
con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đó, Người khẳng định dứt khoát: “Muốn
cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng
vô sản.” Tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc
bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến quyết định từ chủ nghĩa yêu nước
sang chủ nghĩa Mác – Lênin, khẳng định giai cấp công nhân là lực lượng duy nhất có
sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam thông qua chính đảng của mình.
Sau khi xác định con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục chuẩn bị về
lý luận chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Người đặc biệt chú trọng truyền
bá chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối cách mạng vô sản vào phong trào công nhân
và phong trào yêu nước Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài báo đăng trên
các tờ báo tiến bộ như Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền, Dân chúng, Tạp chí Cộng sản,
đồng thời làm chủ bút báo Người cùng khổ. Năm 1925, Người viết tác phẩm “Bản án
chế độ thực dân Pháp”, vạch trần bản chất phản động, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân;
năm 1927, xuất bản tác phẩm “Đường Cách mệnh”, trình bày một cách có hệ thống
những vấn đề cơ bản về con đường cách mạng Việt Nam.
Thông qua các tác phẩm và hoạt động lý luận đó, Nguyễn Ái Quốc đã khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh ý thức phản kháng dân tộc; khẳng định giải phóng 8
dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng nhân dân lao động, gắn độc
lập dân tộc với phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người làm rõ mối quan hệ
khăng khít giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc, đồng thời
nêu rõ tính chủ động, độc lập của cách mạng thuộc địa, khẳng định cách mạng thuộc
địa có thể giành thắng lợi trước và góp phần thúc đẩy cách mạng ở chính quốc.
Nguyễn Ái Quốc cũng xác định tính chất của cách mạng ở thuộc địa là cách mạng dân
tộc giải phóng, nhiệm vụ hàng đầu là đánh đuổi đế quốc xâm lược và tay sai phản bội
quyền lợi dân tộc, lực lượng cách mạng là toàn thể dân chúng, lấy liên minh công – nông làm nền tảng.
NAQ chuẩn bị về lý luận chính trị: Trong quá trình chuẩn bị cho việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm hàng đầu là
truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường cứu nước theo khuynh hướng cách
mạng vô sản vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Với tinh
thần cách mạng kiên định và trách nhiệm lớn lao đối với dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã
viết nhiều bài báo đăng trên các tờ báo và tạp chí tiến bộ như Nhân đạo, Đời sống thợ
thuyền
, Dân chúng, Tạp chí Cộng sản, đồng thời làm chủ bút báo Người cùng khổ.
Năm 1925, Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, và năm 1927 cho xuất
bản Đường Cách mệnh. Thông qua các bài viết và tác phẩm đó, Nguyễn Ái Quốc từng
bước trang bị cơ sở lý luận chính trị cho phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Trước hết, Người vạch rõ bản chất phản động, tàn bạo và bóc lột của chủ nghĩa thực
dân, qua đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và thức tỉnh ý thức phản kháng dân
tộc trong quần chúng nhân dân. Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc khẳng định giải phóng
dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng nhân dân lao động, gắn
mục tiêu độc lập dân tộc với phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục triệt
để những hạn chế của các khuynh hướng cứu nước cũ. Người cũng làm rõ mối quan
hệ khăng khít giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng
vô sản ở chính quốc, đặc biệt nhấn mạnh rằng cách mạng thuộc địa không phụ thuộc
vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có tính chủ động, độc lập, thậm chí có thể
giành thắng lợi trước và góp phần thúc đẩy cách mạng ở chính quốc phát triển.
Bên cạnh đó, Nguyễn Ái Quốc xác định đường lối chiến lược của cách mạng ở các
nước thuộc địa là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, mở đường tiến lên giải
phóng hoàn toàn nhân dân lao động và giải phóng con người, tức là tiến lên cách
mạng xã hội chủ nghĩa; trong đó, nhiệm vụ trước hết và cấp bách là phải giành độc lập
dân tộc, vì vậy cách mạng ở thuộc địa mang tính chất là cách mạng dân tộc giải
phóng. Người cũng khẳng định ở Việt Nam và các nước châu Á hoàn toàn có khả
năng thực hiện chủ nghĩa cộng sản, bác bỏ quan điểm cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ
có thể ra đời ở các nước tư bản phát triển. Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ nhiệm 9
vụ chủ yếu của cách mạng giải phóng dân tộc là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc xâm lược
và bè lũ tay sai phản bội quyền lợi dân tộc, xác định lực lượng cách mạng là toàn thể
dân chúng, trong đó liên minh công – nông giữ vai trò nền tảng.
Song song với việc chuẩn bị về lý luận chính trị, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng
chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức, coi đây là điều kiện trực tiếp, có ý nghĩa quyết định
đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhận thức rõ rằng, để biến chủ
nghĩa Mác – Lênin từ lý luận khoa học thành lực lượng vật chất, cần phải xây dựng
một tổ chức cách mạng chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ được rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) – trung
tâm cách mạng của châu Á lúc bấy giờ – để trực tiếp lãnh đạo việc huấn luyện cán bộ
và xây dựng tổ chức cách mạng Việt Nam. Tại đây, Người mở nhiều lớp huấn luyện
chính trị, đào tạo một đội ngũ cán bộ nòng cốt, trang bị cho họ cả lý luận cách mạng
vô sản và phương pháp tổ chức, vận động quần chúng. Sau khi được huấn luyện, các
cán bộ này được đưa về nước hoạt động, góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin
và tổ chức phong trào cách mạng trong nước.
Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,
Lâm Đức Thụ thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây là tổ chức tiền
thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tổ
chức cho sự ra đời của Đảng. Hội lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng,
lấy cách mạng vô sản làm phương hướng hoạt động, đồng thời ra báo Thanh Niên làm
cơ quan tuyên truyền nhằm giác ngộ chính trị cho quần chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân.
Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào công
nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam từng bước được tổ chức và phát triển theo
khuynh hướng cách mạng vô sản. Năm 1928, trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng,
Hội chủ trương thực hiện phong trào “vô sản hóa”, đưa cán bộ, hội viên vào làm việc
và sinh sống trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, trực tiếp gắn bó với công nhân và
nông dân. Phong trào “vô sản hóa” đã góp phần nâng cao giác ngộ chính trị của giai
cấp công nhân, làm cho phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và
trình độ, chuyển từ tự phát sang tự giác.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và phong trào yêu nước theo khuynh
hướng vô sản đã dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản. Tháng 3 năm 1929, chi
bộ cộng sản đầu tiên được thành lập tại số 5D phố Hàm Long (Hà Nội), đánh dấu
bước trưởng thành quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Trong năm 1929,
lần lượt ra đời ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản
Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tuy phản ánh sự phát triển của phong trào 10
cách mạng, nhưng sự tồn tại song song của ba tổ chức cộng sản cũng đặt ra yêu cầu
bức thiết phải thống nhất phong trào cộng sản Việt Nam thành một chính đảng duy nhất.
Trước tình hình đó, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản và là người sáng lập,
rèn luyện phong trào cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp
nhất các tổ chức cộng sản. Từ ngày 3 đến 7 tháng 2 năm 1930, Hội nghị họp tại Cửu
Long – Hương Cảng (Trung Quốc) và quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, xác lập
cơ sở tư tưởng, chính trị và tổ chức cho Đảng.
Như vậy, thông qua việc xây dựng tổ chức tiền thân, đào tạo đội ngũ cán bộ, gắn lý
luận cách mạng vô sản với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, Nguyễn Ái
Quốc đã hoàn thành xuất sắc sự chuẩn bị về tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam, bảo đảm cho Đảng ra đời đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử và đủ sức lãnh
đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. …..
Câu 4: Tại sao nói cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là
cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc và tính nhân văn?

Có thể khẳng định Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc
soạn thảo là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo
, bởi vì nó không chỉ phản ánh
trung thành tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin mà còn được vận dụng linh hoạt,
phù hợp với điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể của Việt Nam
, đồng thời kết hợp một
cách nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc và tính nhân văn
, giữa mục tiêu giải phóng
dân tộc và giải phóng con người.
Trước hết, Cương lĩnh thể hiện tính đúng đắn về mặt lý luận và thực tiễn khi xác
định đúng mâu thuẫn cơ bản và nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Việt Nam
trong bối cảnh nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nguyễn Ái Quốc đã chỉ
rõ mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân
tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm lược và tay sai phản động. Trên cơ sở đó,
Cương lĩnh đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập lên hàng đầu, coi đây là
điều kiện tiên quyết để giải quyết các vấn đề giai cấp và xã hội. Cách xác định này thể
hiện tư duy chính trị sắc bén, phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử Việt Nam,
khắc phục triệt để hạn chế của các khuynh hướng cứu nước trước đó vốn hoặc cải
lương, thỏa hiệp, hoặc chưa giải quyết đúng mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. 11
Không chỉ đúng đắn, Cương lĩnh còn thể hiện tính sáng tạo nổi bật trong việc vận
dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc
không rập khuôn máy móc mô hình cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển,
mà xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là “chủ trương làm tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.Trong đó,
Người nhấn mạnh phải giải quyết vấn đề dân tộc trước hết, đồng thời từng bước giải
quyết vấn đề giai cấp. Đây là sự phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin về cách mạng
thuộc địa, thể hiện tư duy độc lập, linh hoạt và khoa học của Nguyễn Ái Quốc.
Cương lĩnh còn thể hiện tính dân tộc sâu sắc trước hết ở mục tiêu tối cao là độc lập
cho dân tộc, tự do cho nhân dân
. Mọi nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội đều quy tụ
vào mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc. Cương lĩnh
không đặt lợi ích của một giai cấp riêng lẻ lên trên lợi ích dân tộc, mà chủ trương
đoàn kết toàn thể dân chúng, lấy liên minh công – nông làm nền tảng, đồng thời
tranh thủ, tập hợp các giai cấp, tầng lớp yêu nước khác như tiểu tư sản, trí thức, trung
nông, tư sản dân tộc… để tạo thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Điều này thể hiện
rõ quan điểm đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, đúng với truyền thống yêu nước và điều
kiện lịch sử của Việt Nam.
Bên cạnh đó, Cương lĩnh thấm đượm tính nhân văn sâu sắc, thể hiện ở mục tiêu giải
phóng con người và bảo vệ quyền lợi căn bản của nhân dân lao động. Các nhiệm vụ
về kinh tế – xã hội như tịch thu ruộng đất của đế quốc chia cho dân cày nghèo, thực
hiện ngày làm tám giờ, miễn thuế cho dân nghèo; các nhiệm vụ về văn hóa – xã hội
như nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục… đều nhằm xóa bỏ áp bức, bóc lột, bảo
đảm quyền sống, quyền lao động, quyền học tập và quyền phát triển toàn diện của con
người. Như vậy, Cương lĩnh không chỉ hướng tới thay đổi chế độ chính trị mà còn
hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ và nhân đạo.
Tính nhân văn của Cương lĩnh còn được thể hiện ở quan điểm kết hợp giải phóng
dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người
, coi con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Cương lĩnh đề cao vai trò của quần chúng nhân
dân, khẳng định cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đây là điểm khác biệt căn bản so với các con đường cứu nước cũ vốn dựa vào cá nhân
anh hùng hoặc tầng lớp trên trong xã hội.
Ngoài ra, Cương lĩnh còn thể hiện tính nhân văn và tính quốc tế sâu sắc khi khẳng
định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, chủ trương đoàn kết
với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, nhất là giai cấp vô sản
Pháp. Sự gắn bó này không chỉ xuất phát từ lợi ích cách mạng mà còn thể hiện tinh
thần nhân đạo, tiến bộ và khát vọng giải phóng chung của nhân loại khỏi áp bức, bất công. 12
Tóm lại, Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là một cương
lĩnh khoa học, đúng đắn và sáng tạo
, bởi vì nó đã xác định đúng con đường phát
triển của cách mạng Việt Nam, đồng thời kết hợp hài hòa giữa tính dân tộc và tính
nhân văn
, giữa độc lập dân tộc và hạnh phúc của con người. Chính sự kết hợp đó đã
bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời có một nền tảng tư tưởng
vững chắc, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Câu 5: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam (1930–1945)
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, giai đoạn 1930–1945 là thời kỳ có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến căn bản từ phong trào yêu nước tự phát sang
phong trào cách mạng tự giác, có tổ chức và có đường lối đúng đắn. Nhân tố quyết
định tạo nên bước chuyển biến đó chính là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Từ khi ra đời đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã
chứng tỏ mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất đúng đắn, đủ năng lực và bản lĩnh để
lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đảng xác lập đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, chấm dứt
khủng hoảng về đường lối cứu nước
:Trước năm 1930, phong trào yêu nước Việt
Nam tuy diễn ra mạnh mẽ nhưng lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối
và tổ chức lãnh đạo. Các khuynh hướng cứu nước theo con đường phong kiến và tư
sản đều lần lượt thất bại, không giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt
Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đầu tiên do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử. Đảng đã xác định đúng
mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam
với chủ nghĩa đế quốc xâm lược và tay sai phản động; từ đó đặt nhiệm vụ giải phóng
dân tộc lên hàng đầu, coi độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để giải phóng giai cấp
và giải phóng con người. Đường lối này thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ
nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử và
khắc phục triệt để tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập kỷ.
Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng phát triển liên tục, có bước đi phù hợp qua
từng thời kỳ
:Trong suốt giai đoạn 1930–1945, Đảng đã thể hiện năng lực lãnh đạo
linh hoạt, sáng tạo khi đề ra chủ trương, hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp
với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Giai đoạn 1930–1931, Đảng lãnh đạo cao trào cách
mạng với hình thức đấu tranh quyết liệt, đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh.
Mặc dù phong trào bị đàn áp khốc liệt, nhưng đã khẳng định vai trò lãnh đạo của
Đảng, chứng tỏ sức mạnh to lớn của quần chúng công – nông và để lại nhiều bài học 13
quý báu về xây dựng chính quyền cách mạng. Giai đoạn 1936–1939, trước tình hình
mới của thế giới và trong nước, Đảng kịp thời điều chỉnh chiến lược, chủ trương đấu
tranh đòi dân sinh, dân chủ, dân quyền, chống phát xít, chống chiến tranh. Sự chuyển
hướng đúng đắn này thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo của Đảng, đồng thời góp phần
mở rộng lực lượng cách mạng, giác ngộ chính trị cho đông đảo quần chúng. Giai đoạn
1939–1945, Đảng hoàn chỉnh chủ trương chuyển hẳn sang đấu tranh giải phóng dân
tộc, đặt nhiệm vụ đánh đuổi đế quốc và tay sai lên hàng đầu. Hội nghị Trung ương 8
(5/1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã hoàn thiện đường lối giải phóng dân tộc, xác
định rõ phương pháp khởi nghĩa vũ trang, chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa.
Đảng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của
cách mạng:
Một trong những biểu hiện nổi bật của vai trò lãnh đạo của Đảng là chủ
trương xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên nền tảng liên
minh công – nông, Đảng chủ trương tập hợp mọi lực lượng yêu nước, kể cả các giai
cấp, tầng lớp trung gian, các tôn giáo, đảng phái yêu nước, nhằm tạo thành một mặt
trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh (1941) là kết quả
trực tiếp của đường lối đại đoàn kết do Đảng đề ra. Việt Minh đã trở thành hình thức
tổ chức quần chúng rộng rãi, là chỗ dựa chính trị vững chắc cho cách mạng, tạo điều
kiện để huy động sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đảng chuẩn bị toàn diện các điều kiện cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam được chuẩn bị một cách công phu,
toàn diện và lâu dài trên cả ba mặt: chính trị, quân sự và tổ chức. Về chính trị, Đảng
chú trọng giác ngộ, tổ chức quần chúng thông qua các đoàn thể cứu quốc, xây dựng
lực lượng chính trị rộng khắp. Về quân sự, Đảng từng bước xây dựng lực lượng vũ
trang cách mạng, từ các đội tự vệ đến Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, làm
nòng cốt cho khởi nghĩa vũ trang. Về tổ chức, Đảng không ngừng củng cố hệ thống tổ
chức từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất trong toàn
Đảng. Sự chuẩn bị toàn diện này tạo tiền đề quyết định cho thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa.
Đảng nắm bắt đúng thời cơ, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
giành thắng lợi
:Trước những biến động lớn của tình hình thế giới khi phát xít Nhật
đầu hàng Đồng minh, Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị sắc bén khi kịp thời phát
động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân
Việt Nam đã vùng lên giành chính quyền trong cả nước trong thời gian ngắn, với tổn
thất ít nhất. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả trực tiếp của
đường lối đúng đắn, sự lãnh đạo kiên quyết, thống nhất và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 14
Kết luận :Từ năm 1930 đến năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vai trò lãnh
đạo quyết định đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đảng không chỉ xác lập đường
lối đúng đắn, tổ chức và giác ngộ quần chúng, xây dựng lực lượng cách mạng mà còn
biết chớp thời cơ lịch sử để lãnh đạo nhân dân giành chính quyền. Thực tiễn lịch sử đã
khẳng định một chân lý: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định
thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ
nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Câu 6. Trình bày những yếu tố hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam và ý nghĩa
của việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 là kết quả của một quá
trình chuẩn bị lâu dài, công phu, đồng thời là tất yếu lịch sử của cách mạng Việt Nam
trong bối cảnh mới. Quá trình đó chịu sự tác động của cả những yếu tố bên trong và
yếu tố bên ngoài, phản ánh yêu cầu khách quan của sự phát triển phong trào cách
mạng trong nước và thế giới.
Trước hết, xét về những yếu tố bên trong, dưới ách thống trị tàn bạo và bóc lột dã
man của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Mâu
thuẫn cơ bản và gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ
nghĩa đế quốc xâm lược và tay sai phản động. Trước thực trạng đó, nhiều tổ chức và
phong trào yêu nước đã ra đời, đứng lên lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống thực
dân Pháp. Tuy nhiên, các phong trào này phần lớn mang tính tự phát, phân tán, thiếu
đường lối đúng đắn và một tổ chức lãnh đạo thống nhất. Mặc dù cùng chung mục tiêu
giải phóng dân tộc, song do đi theo những con đường khác nhau nên các tổ chức yêu
nước dễ bị thực dân Pháp lợi dụng để chia rẽ, đàn áp và triệt phá. Thực tiễn đó đặt ra
yêu cầu cấp bách phải thống nhất các tổ chức cách mạng thành một chính đảng duy
nhất, đủ năng lực lãnh đạo phong trào đấu tranh của toàn dân tộc.
Cùng với đó, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của cuộc đấu
tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở nước ta trong thời đại mới
. Trong quá trình
khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã làm xuất hiện và ngày càng phát triển giai cấp
công nhân Việt Nam. Giai cấp công nhân tuy ra đời muộn nhưng sớm có tinh thần
cách mạng triệt để, có tổ chức, kỷ luật và gắn bó tự nhiên với phong trào yêu nước. Sự
trưởng thành của giai cấp công nhân đã tạo ra cơ sở xã hội quan trọng cho sự hình
thành một chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam.
Đặc biệt, trong những năm 20 của thế kỷ XX, sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác –
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
ngày càng phát
triển sâu rộng. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã cung cấp cho phong trào cách mạng Việt
Nam một hệ tư tưởng khoa học, một đường lối cách mạng đúng đắn, khắc phục triệt 15
để những hạn chế của các khuynh hướng cứu nước trước đó. Đây là yếu tố mang tính
quyết định trực tiếp dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bên cạnh những yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài cũng có tác động quan trọng.
Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết nhằm hòa nhập với
phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới
đang phát triển mạnh mẽ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Sự ra đời của
Đảng tạo điều kiện thuận lợi để cách mạng Việt Nam gắn bó với cách mạng thế giới,
đồng thời mở ra khả năng liên kết, phối hợp giữa các đảng cộng sản ở những nước có
quan hệ với nhau trên cơ sở mục tiêu và lý tưởng chung. Điều đó giúp nâng cao vị thế
và tính chính danh của phong trào cách mạng Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ những yếu tố trên, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là tất yếu mà
còn mang ý nghĩa lịch sử to lớn và sâu sắc. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
đầu năm 1930 có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng, đáp ứng đòi hỏi bức thiết
của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ. Thành quả
lớn nhất của Hội nghị là đã quy tụ toàn bộ phong trào công nhân và phong trào yêu
nước dưới sự lãnh đạo của một đội tiên phong duy nhất của cách mạng, với đường lối
cách mạng đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong phạm vi cả nước.
Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam còn là mốc đầu tiên xây dựng
truyền thống đoàn kết, nhất trí của Đảng. Thắng lợi của Hội nghị là kết quả tất yếu của
mười năm chuẩn bị công phu, đấu tranh gian khổ và quyết liệt chống lại mọi âm mưu
khủng bố, chia rẽ của đế quốc và tay sai; đồng thời là thắng lợi của hệ tư tưởng và
đường lối chính trị của giai cấp công nhân trước hệ tư tưởng và đường lối chính trị của giai cấp tư sản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách
mạng nước ta
, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài từ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây là điều kiện cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ
quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, trước hết là trong những năm đầu thế kỷ
XX và sau đó là trong suốt tiến trình cách mạng về sau. Đảng ra đời là biểu hiện rõ
ràng của sự xác lập vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng Việt Nam.
Từ đây, lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang một thời đại mới – thời đại mà giai cấp
công nhân đứng ở vị trí trung tâm, kết hợp và dẫn dắt các trào lưu cách mạng; thời đại
mà nhân dân ta làm ra lịch sử một cách tự giác, có tổ chức; thời đại mà cách mạng
Việt Nam không chỉ giành thắng lợi cho dân tộc mình mà còn góp phần tích cực vào
sự nghiệp chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới trong cuộc đấu tranh xóa bỏ 16
chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Cách mạng Việt Nam từ
đây trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.
Với đường lối đúng đắn và sáng tạo, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã tập hợp, đoàn kết được các lực lượng yêu nước, lãnh đạo phong trào cách
mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chủ tịch Hồ
Chí Minh từng khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã
trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.”
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập, lãnh đạo và rèn
luyện Đảng, là nhân tố quyết định làm nên những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam.
Dưới đây là bài văn hoàn chỉnh, liền mạch, đúng chuẩn tự luận Lịch sử Đảng, đã
chỉnh thuật ngữ – logic – diễn đạt học thuật, giữ đầy đủ ý bạn cung cấp, bảo đảm
mức 9–10 điểm. Bạn có thể chép nguyên văn khi thi.
Câu 7. Trình bày nội dung đường lối cách mạng Việt Nam thể hiện trong Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930

Sự ra đời của Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt gắn liền với Hội nghị thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Hội nghị được tiến hành từ ngày 3 đến
ngày 7 tháng 2 năm 1930 tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc), dưới sự
chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị đã thống nhất các tổ chức cộng sản ở
Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam,
đồng thời thông qua một số văn kiện quan trọng, trong đó có Chính cương vắn tắt và
Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Hai văn kiện này đã xác lập những
nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Trước hết, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã xác định phương hướng
chiến lược của cách mạng Việt Nam
là tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc thuộc phạm trù cách mạng vô sản, bao gồm ba nội dung gắn bó chặt chẽ với nhau
là dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Sự xác định này đã chỉ rõ con đường phát
triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với mục tiêu tiến lên chủ
nghĩa xã hội, khắc phục triệt để sự bế tắc về đường lối cứu nước trước đó.
Trong giai đoạn thực hiện chiến lược cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ
địa, Cương lĩnh đã xác định nhiệm vụ cách mạng trên các phương diện chính trị, 17
kinh tế và xã hội. Về chính trị, nhiệm vụ trung tâm là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa
Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, thành lập
Chính phủ công – nông – binh và tổ chức quân đội công – nông. Về kinh tế, Cương
lĩnh chủ trương thủ tiêu các khoản quốc trái, tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn như công
nghiệp, vận tải, ngân hàng của tư bản đế quốc Pháp giao cho Chính phủ công – nông –
binh; tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản cách mạng làm của công và chia
cho dân cày nghèo; miễn thuế cho dân nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp;
thi hành luật ngày làm tám giờ. Về xã hội, Cương lĩnh xác định bảo đảm các quyền tự
do dân chủ cho nhân dân, thực hiện nam nữ bình quyền và phổ thông giáo dục theo
hướng công – nông hóa.
Bên cạnh đó, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã làm rõ vai trò lãnh đạo và
lực lượng cách mạng
. Cương lĩnh khẳng định Đảng Cộng sản là đội tiên phong của
giai cấp vô sản, có nhiệm vụ thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, làm cho giai
cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng. Đồng thời, Đảng phải thu phục đại đa
số dân cày, đặc biệt dựa vào dân cày nghèo để tiến hành cách mạng thổ địa, đánh đổ
bọn đại địa chủ và phong kiến. Đảng cũng chủ trương đưa các đoàn thể công nhân và
nông dân thoát khỏi sự chi phối của tư sản quốc gia; tích cực liên lạc, tập hợp tiểu tư
sản, trí thức, trung nông, thanh niên và các tổ chức yêu nước để kéo họ đi vào phe vô
sản. Đối với phú nông, trung và tiểu địa chủ, tư sản dân tộc chưa rõ mặt phản cách
mạng thì lợi dụng, tranh thủ, làm cho họ đứng trung lập; còn đối với những lực lượng
đã bộc lộ rõ bản chất phản cách mạng thì kiên quyết đánh đổ. Trong quá trình liên
minh giai cấp, Cương lĩnh nhấn mạnh phải hết sức cẩn thận, kiên quyết bảo vệ lợi ích
của công – nông, không đi vào con đường thỏa hiệp vô nguyên tắc.
Như vậy, lực lượng cách mạng được xác định là toàn thể các giai cấp, tầng lớp yêu
nước trong xã hội, bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc
và một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ, trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo
thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về đoàn kết quốc tế, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt khẳng định cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải đoàn kết chặt chẽ với các
dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên toàn thế giới, đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp.
Quan điểm này thể hiện rõ tinh thần quốc tế vô sản và sự gắn bó giữa cách mạng Việt
Nam với phong trào cách mạng toàn cầu.
Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt còn phát triển thêm nhiều luận điểm quan
trọng so với tác phẩm Đường Cách mệnh, như xác định rõ tính chất của Đảng, vấn đề
chia ruộng đất cho nông dân nghèo, phương pháp lợi dụng mâu thuẫn có nguyên tắc
giữa các giai cấp và lực lượng xã hội. Mặc dù ra đời sau Nghị quyết Đại hội Quốc tế
Cộng sản lần thứ XI khoảng một năm rưỡi, song Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu những 18
tư tưởng tiến bộ của Quốc tế Cộng sản, đồng thời không rập khuôn, máy móc, tránh
được những khuynh hướng “tả” trong việc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp ở thuộc địa.
Về ý nghĩa lịch sử, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc
khởi thảo là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một
Cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại mới. Cương lĩnh đã xác lập tư tưởng cốt lõi của cách mạng Việt
Nam là độc lập dân tộc gắn liền với định hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, trở thành
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
Câu 8: Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng trong thời kỳ
1939–1941 và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng, nắm thời cơ, phát
động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược :Cuối thập niên 30
của thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có những biến đổi sâu sắc. Tháng
9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chủ nghĩa phát xít mở rộng chiến tranh
xâm lược, đẩy nhân loại vào thảm họa chiến tranh. Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi
hành chính sách thống trị phản động, vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh.
Tháng 9-1940, phát xít Nhật kéo vào Đông Dương, nhân dân Việt Nam rơi vào cảnh
“một cổ hai tròng” dưới ách thống trị của cả Pháp và Nhật. Mâu thuẫn dân tộc giữa
toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc xâm lược trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Trước tình hình đó, nhiệm vụ giải phóng dân tộc trở thành yêu cầu cấp bách hàng đầu
của cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng phải kịp thời điều chỉnh đường lối, chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới.
Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng (1939–1941)
:Trước hết, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 đã mở đầu quá
trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng .Khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”
phải tạm gác và thay bằng các khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho vay lãi nặng,
tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc chia cho dân cày.
Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, thu
hút tất cả các dân tộc, các giai cấp, đảng phái và cá nhân yêu nước ở Đông Dương
nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc
Đông Dương. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1940 tiếp
tục khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời rút kinh
nghiệm từ các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương, nhấn mạnh 19
yêu cầu chuẩn bị lâu dài, toàn diện cho khởi nghĩa vũ trang. Sự hoàn chỉnh căn bản
của đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được thể hiện tại Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng tháng 5-1941 do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì. Hội nghị
xác định rõ ràng và dứt khoát: giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách nhất
của cách mạng Việt Nam; quyền lợi dân tộc phải đặt lên trên hết, trước hết. Hội nghị
quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) nhằm đoàn
kết toàn dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, để đánh đuổi
đế quốc xâm lược, giành độc lập cho dân tộc. Đồng thời, Hội nghị khẳng định con
đường giành chính quyền là khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên
tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi. Như vậy, chủ trương chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược của Đảng trong giai đoạn 1939–1941 là sự điều chỉnh kịp thời, sáng tạo,
đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, phù hợp với yêu cầu sống còn của dân
tộc Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh thế giới.
Sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng cách mạng: Trên cơ sở đường lối
chuyển hướng chiến lược, Đảng tập trung chỉ đạo xây dựng lực lượng cách mạng một
cách toàn diện, cả về chính trị, quân sự và căn cứ địa. Về lực lượng chính trị, Đảng
đẩy mạnh xây dựng và phát triển Mặt trận Việt Minh, coi đây là hình thức tổ chức
rộng rãi để tập hợp mọi tầng lớp nhân dân yêu nước. Các hội cứu quốc được thành lập
và phát triển mạnh mẽ ở cả nông thôn và thành thị, tạo nên lực lượng chính trị đông
đảo, là nền tảng quyết định cho thắng lợi của Tổng khởi nghĩa. Về lực lượng vũ trang,
từ các đội du kích Bắc Sơn, Cao – Bắc – Lạng, Đảng từng bước xây dựng lực lượng
vũ trang cách mạng. Tháng 12-1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam
Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới về chất
của lực lượng vũ trang cách mạng. Các đội vũ trang tuy nhỏ nhưng có tổ chức chặt
chẽ, có kỷ luật, có chính trị làm nền tảng, vừa chiến đấu vừa tuyên truyền, mở rộng
ảnh hưởng cách mạng trong quần chúng. Về căn cứ địa, Đảng chủ trương xây dựng
căn cứ địa cách mạng, trước hết là căn cứ Cao – Bắc – Lạng, sau đó phát triển thành
Khu giải phóng Việt Bắc, trở thành trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo và là hậu phương vững
chắc của cách mạng cả nước.
Sự chỉ đạo của Đảng trong nắm thời cơ và phát động Tổng khởi nghĩa Tháng
Tám 1945:
Đảng đặc biệt coi trọng việc theo dõi sát tình hình trong nước và quốc tế
để kịp thời nắm bắt thời cơ cách mạng. Khi phát xít Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945),
Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta”(12-3-1945) , xác định kẻ thù chính là phát xít Nhật, phát động cao trào
kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa. Đến khi Nhật đầu hàng
Đồng minh (15-8-1945), thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng đã thể hiện bản lĩnh lãnh
đạo kiên quyết, kịp thời và sáng suốt. Hội nghị toàn quốc của Đảng (8-1945) và Đại
hội Quốc dân tại Tân Trào đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước,
thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam – tức Chính phủ lâm thời. Dưới sự 20