CHƯƠNG 2: SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GCCN
Câu 1: Phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân (3đ). Giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay cần phải làm gì để phát huy vai trò nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất hội hoá cao?
(2đ)
Gợi ý
- Khái niệm GCCN
-ND sứ mệnh lịch sử của GCCN
-Công nhân VN cần phải làm để nâng cao tay nghề, không ngừng hoàn thiện bản thân? Nâng cao khả
năng ngoại ngữ (tại sao phải nâng cao? nâng cao như thế nào?), không ngừng trau dồi tri thức mới, phát
triển chuyên môn, cải thiện tác phong và văn hóa làm việc,.....
Trả lời
Giai cấp công công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát
triển của nền công nghiệp hiện đại; Là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến; lực lượng chủ
yếu của tiến trình lực sử quá độ từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội; các nước bản chủ nghĩa,
giai cấp công nhân những người không hoặc về bản không liệu sản xuất phải làm thuê cho
giai cấp sản bị giai cấp sản bóc lột giá trị thặng dư; các nước hội chủ nghĩa, giai cấp công
nhân cùng nhân dân lao động làm chủ những liệu sản xuất chủ yếu cùng nhau hợp tác lao động
lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của mình.
Sứ mệnh lịch sửa của giai cấp công nhân chia làm 3 nội dung: Kinh tế, chính trị - hội văn hóa
tưởng.
Nội dung kinh tế: Là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao, giai cấp công nhân tạo tiền
đề vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của hội mới, đại biểu cho lợi ích chung của hội. Giai cấp công
nhân đóng vai trò làm nòng cốt trong quá trình giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển để tạo cơ sở cho quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa ra đời.
Nội dung chính trị -hội: tiến hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp sản, xóa
bỏ chế độ bóc lột, áp bức của chủ nghĩa tư bản, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao
động. Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền dân chủ hội chủ
nghĩa, thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ làm chủ hội của tuyệt đại đa số nhân dân
lao động.
Nội dung văn hóa, tưởng: phát triển văn hóa, xây dựng con người mớihội chủ nghĩa, đạo đứclối
sống mới hội chủ nghĩa là một trong những nội dung căn bản mà cách mạng hội chủ nghĩa trên lĩnh
vực văn hóa tư tưởng.
Một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử giai cấp đại diện cho khuynh hướng tiến bộ của thời đại, đứng vị
trí trung tâm. giai cấp có sự phát triển và trưởng thành cả về số lượng và chất lượng có đủ điều kiện để
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
Ý 2:
Để thiết thực xây dựng phát triển giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu cấp bách của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại a hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay, cần đẩy mạnh việc tuyên truyền
giáo dục về sứ mệnh, vai trò của giai cấp công nhân; chăm lo đời sống vật chất tinh thần của công
nhân; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - hội trong các doanh
nghiệp, đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức này phù hợp với tình hình mới.
Để giai cấp công nhân Việt Nam phát triển và trưởng thành, ngày càng xứng đáng là lực lượng quan trọng
nhất để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chế độhội chủ nghĩa, chúng ta cần sớm một
chiến lược quốc gia tổng thể, đồng bộ xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong thời gian
tới. Chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:
Đẩy mạnh phát triển kinh tế - hội một cách hài hòa. Vừa tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, ổn định
vừa bảo đảm phát triển văn hóa - hội hài hòa, lành mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân lao động, đặc biệt giai cấp công nhân; giữ vững ổn định chính trị; bảo đảm an
ninh quốc phòng, trật tự an toàn hội. Một hội ổn định, phát triển toàn diện hài hòa không chỉ
môi trường thuận lợi cho sự phát triển của giai cấp công nhân mà còn của mọi người dân trong xã hội.
Tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quy hoạch nền kinh tế, vùng kinh
tế, khu vực kinh tế, cấu trúc lại nền kinh tế phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường hội nhập
kinh tế quốc tế. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích các tập thể
nhân phát triển sản xuất - kinh doanh, chủ động tích cực tham gia vào thị trường lao động quốc tế,
phát triển cảng biển, hệ thống đường giao thông thủy, bộ, đường sắt, hàng không,
xây dựng những khu công nghiệp, khu chế xuất mới... Đây sẽ quá trình phát triển kinh tế theo hướng
công nghiệp, hiện đại; đồng thời, hướng tới việc tạo ra một thị trường lao động công nghiệp mới, thu hút
nhiều lao động với phong phú về ngành nghề, đa dạng về chủng loại. Quá trình này sẽ phát triển giai cấp
công nhân không chỉ về số lượng mà cả chất lượng.
Đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục đnhận thức hơn về vai trò, vị trí và sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân. Xuất phát tthực trạng đời sống của người công nhân còn nhiều khó khăn, nên trong quan
niệm của xã hội hiện nay, hình ảnh người công nhân chưa phải hình ảnh được đề cao. Trong điều kiện
như thế, để giai cấp công nhân có điều kiện khẳng định được vai trò, vị trí của mình cũng như hoàn thành
được sứ mệnh lịch sử cao quý của mình cần một chiến dịch tuyên truyền, vận động rộng khắp trong xã
hội nhằm đề cao, tôn vinh người công nhân, sao cho cả xã hội nhận thức được vai trò và vị trí quan trọng
của giai cấp công nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa hội nhập quốc
tế; đồng thời, cũng là nhân tố quyết định xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Cải cách triệt để hệ thống giáo dục và đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và tay nghề cho giai cấp công nhân.
Đây là một vấn đề sống còn đối với người công nhân và việc phát triển giai cấp công nhân trong tình hình
mới. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
kinh tế đang tạo ra một nhu cầu mới về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Đặc thù của kinh tế
thị trường tính cạnh tranh cao, lao động việc làm cũng không ngoài tình trạng đó. Sự cạnh tranh
trong sử dụng lao động đòi hỏi lực lượng lao động cần được đào tạo một cách chuyên nghiệp và bản.
Do đó, chất lượng lao động, nguồn nhân lực mới nhân tố quyết định cho sự phát triển tăng trưởng
cao. Đối với người lao động, khi tham gia thị trường lao động nếu chưa được đào tạo cơ bản, đáp ứng nhu
cầu thực tế của thị trường lao động, thì rất khó tìm được việc làm, và nếu có, thì cũng thường là việc làm
không ổn định, lao động giản đơn, nặng nhọc và thu nhập thấp. Tính cạnh tranh cao cùng với sự sôi động
của thị trường lao động đòi hỏi Nhà nước cần một chiến lược xây dựng phát triển nguồn nhân lực
vừa đông đảo, có chất lượng cao vừa phong phú, đa dạng nhằm đáp ứng kịp thời và lâu dài nhu cầu nguồn
lực con người cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thiết thực chăm lo đời sống vật chất tinh thần của giai cấp công nhân. Trong hội hiện nay, cùng
với nông dân, giai cấp công nhân những người nghèo trong hội. Đời sống vật chất tinh thần của
người công nhân lao động còn nghèo nàn. Đây một nghịch rất đáng suy nghĩ. Giai cấp tiên tiến, ưu
tú, nắm quyền lãnh đạo hội lại nghèo. lẽ đó, Đảng và Nhà nước cần cấp thiết có một chiến lược
thiết thực chăm lo đời sống người công nhân, nhất là đội ngũ công nhân trẻ mới vào nghề, tập trung đông
các khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong đó, trước hết, các chính sách mới về việc làm, nhà
tiền lương. Có như thế, giai cấp công nhân mới thoát khỏi những bức bách của đời sống, có điều kiện học
tập, rèn luyện nâng cao tay nghề ý thứchội. Chỉ khi đó, đội ngũ công nhân trẻ này mới gắn sâu
sắc với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, có ý thức giai cấp, có lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng giai cấp công nhân gắn liền với cuộc vận động thực hiện Quy chế Dân chủ sở chống
tham nhũng. Xây dựng và phát triển giai cấp công nhân phải được thực hiện trong một môi trường kinh tế
- xã hội mỗi người công nhân luôn có điều kiện phát huy năng lực của mình và được thụ hưởng thành
quả lao động do chính mình làm ra. Muốn thế, cần thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế Dân chủ trong các
loại hình doanh nghiệp khác nhau. Một khi người công nhân được tôn trọng, được thực sự góp phần vào
quá trình phát triển doanh nghiệp thì sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, công nhân yên tâm
và hăng say làm việc, sáng tạo mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và bản thân.
Cùng với thực hiện nghiêm túc Quy chế Dân chủ trong các doanh nghiệp, đấu tranh chống tham nhũng
cũng một vấn đề gây bức xúc trong không ít các doanh nghiệp, nhất doanh nghiệp nhà nước
doanh nghiệp cổ phần. Tham nhũng đang tạo ra khoảng cách giàu - nghèo giữa công nhân, viên chức
người lãnh đạo doanh nghiệp, gây nên sự bất bình trong dự luận công nhân, mất đoàn kết nội bộ, mâu
thuẫn trong doanh nghiệp. Nếu không kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng sẽ dễ dẫn tới tình trạng bất
ổn, làm sản xuất đình đốn. Kiên quyết đấu tranh loại trừ tệ tham nhũng ra khỏi các doanh nghiệp đó
một việc làm vừa ý nghĩa phát triển sản xuất, kinh doanh vừa ý nghĩa bảo vệ cán bộ công nhân
không bị rơi vào trạng thái mâu thuẫn trên. Đó chính một con đường thiết thực góp phần xây dựng
phát triển giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - hội trong các doanh nghiệp;
đồng thời, đổi mới hoạt động của các tổ chức chính trị - hội trong các doanh nghiệp phù hợp với tình
hình mới. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với c tổ chức chính trị - hội trong c doanh nghiệp
được đề cập đây trong các doanh nghiệp nhà nước doanh nghiệp cổ phần hóa. Trong quá trình
chuyển đổi vừa qua, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với doanh nghiệp cũng như đối với các tổ chức
chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp còn lúng túng, có nhiều bất cập. Chính vì vậy, vị thế, vai trò của
Đảng trong các doanh nghiệp nhất các doanh nghiệp đã cổ phần hóa k mờ nhạt. Các tổ chức chính trị
- xã hội trong nhiều doanh nghiệp hầu như rất lúng túng trong phương hướng hoạt động, không hoạt động
hoặc hoạt động chỉ mang tính nh thức.
Vấn đề đặt ra là, Đảng cần phương thức lãnh đạo mới, một chế mới để vừa thể hiện được vai trò
lãnh đạo của mình vừa thúc đẩy sự hoạt động một cách hiệu quả của các tổ chức chính trị - hội
trong các doanh nghiệp. Trong đó, đặc biệt tạo lập mối quan hệ mới giữa Đảng tổ chức công đoàn,
từng bước góp phần đưa Công đoàn trở thành một tổ chức hùng mạnh, thực sự xứng đáng là tổ chức hoạt
động quyền lợi chính đáng của toàn thể công nhân, lao động. Sự lãnh đạo sát sao của Đảng đối với tổ
chức công đoàn sẽ một sức mạnh mới thiết thực góp phần bảo vệ, chăm sóc và phát triển giai cấp công
nhân trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của công
nhân cũng là một cách xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay.
Ngoại ngữ môn học rất quan trọng trong khung chương trình đào tạo đại học Việt Nam. Trình độ
ngoại ngữ tốt là yếu tố quan trọng góp phần thành công trong phát triển và hội nhập. Mục tiêu của bài viết
nhằm trình bày một số quan điểm và giải pháp thực hiện để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho sinh viên ở
trường đại học. Đồng thời cũng đề xuất một số biện pháp dạy tiếng Anh nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội
về trình độ tiếng Anh, giúp tăng hội du học của sinh viên Việt Nam, hội phát triển nghề nghiệp
trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay. Xu hướng phát triển giáo dục để đáp ứng nhu cầu hội hội
nhập quốc tế đòi hỏi nội dung chương trình đào tạo phải thay đổi theo thị trường lao động trong nước
ngoài nước. Nội dung môn học cần phải được soát cập nhật để theo kịp sự phát triển của hội,
không nên có tham vọng dạy tất cả kiến thức nhân loại mà cần chắt lọc dạy những gì người học và xã
hội đương đại cần. Vấn đề cần thảo luận là thiết kế bổ sung các môn học nào để người học rèn luyện thêm
kỹ năng sống hội nhập, trong đó không thể thiếu kỹ năng về ngoại ngữ. Người học sẽ không tiếp cận
được kiến thức mới của thế giới liên quan đến ngành học nếu kỹ năng về ngoại ngữ kém. Du học sinh
đi học nước ngoài cũng không thành công nếu kém về ngoại ngữ.
Câu 2: Phân tích điều kiện quy định thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp ng nhân. Sinh viên Việt
Nam hiện nay cần chuẩn bị những gì để trở thành giai cấp công nhân hiện đại, chất lượng cao?
Gợi ý
-Khái niệm GCCN giống câu 1
-Điều kiện khách quan, điều kiện chủ quan
-Nâng cao khả năng ngoại ngữ (tại sao phải nâng cao? nâng cao như thế nào?), không ngừng trau dồi tri
thức mới, phát triển chuyên môn bằng cách tham gia các lớp tập huấn do cty tổ chức, cải thiện tác phong
và văn hóa làm việc,...
Những điều kiện quy định sứ mệnh lích sử của giai cấp công nhân:
Điều kiện khách quan gồm:
Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân quy định.
Giai cấp công nhân con đẻ, sản phẩm của nền đại công nghiệp, tính hội hóa cao, chủ thể của
quá trình sản xuất vật chất hiện đại.Vì thế, giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến
lực lượng sản xuất hiện đại. Điều kiện khách quan này nhân tố kinh tế, quy định giai cấp công nhân
lực lượng phá vỡ quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai cấp
“tự do” thành giai cấp “vì nó”.
Thứ hai, do địa vị chính trị - hội của giai cấp công nhân quy định.
giai cấp sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu cho hội, nhưng trong chủ nghĩa bản giai cấp công
nhân không sở hữu liệu sản xuất chủ yếu, phải bán sức lao động để kiếm sống, bị bóc lột nặng nề,
vậy lợi ích bản của họ đối lập trực tiếp với lợi ích bản của giai cấp sản và thống nhất với lợi ích
cơ bản ucả đa số nhân dân lao động.
Giai cấp công nhân được những phẩm chất của một giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng: tính tổ chức
kỉ luật , tự giác và đoàn kết trong cuộc đấu tranh và tự giải phóng mình và giải phóng xã hội. Giai cấp
công nhân được trang bị luận tiên tiến chủ nghĩa Mác-Lênin, đội tiền phong Đảng Cộng sản
dẫn dắt.
Điều kiện chủ quan gồm:
Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng chất lượng. Thông qua sự phát triển này
có thể thấy sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng với quy phát triển của nền sản xuất vật chất hiện
đại trên nền tảng của công nghiệp, của kỹ thuật và công nghệ.
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng giai cấp công nhân hin đại, đảm
bảo cho giai cấp công nhân thực hin được sứ mệnh lịch sử của mình. Chất lượng giai cấp công nhân phải
thể hin trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của mt giai cấp cách mạng, tức tự giác nhn thức
được vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ
về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Để phát triển giai cấp công nhân về số lượng chất lượng, theo chủ nghĩa Mác-Lênin phải đặc biệt chú ý
đến hai biện pháp cơ bản: 1) Phát triển công nghiệp-“tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” ; 2) Sự trưởng
thành của Đảng Cộng sản-hạt nhân chính trị quan trọng của GCCN.
Đảng Cộng sản nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh
lịch sử của mình.
Đảng Cng sản đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời đảm nhn vai trò lãnh đạo cuc cách
mạng dấu hiu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng.
Quy lut chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cng sản sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hi khoa học,
tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hi nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng, làm cho Đảng
mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, b tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng
Cng sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và xã hi.
Ngoài hai điều kiện thuộc nhân tố chủ quan nêu trên, chủ nghĩa Mac-Lênin còn chỉ rõ: để cuộc cách mạng
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đi tới thắng lợi, phải sự liên minh giai cấp giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân các tầng lớp lao động khác do giai cấp công nhân thông qua đội
tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây cũng là một đk không ththiếu để thực hiện sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân.
*Vận dụng: Trau dồi vốn ngoại ngữ yêu cầu mang tính cần thiết. Khả năng sử dụng ngoại ngữ sẽ tạo
hội cho chúng ta tiếp cận với các tin tức, sách báo, tài liệu nước ngoài, giao tiếp được với bạn quốc tế
nhằm giao lưu, học hỏi văn hóa của các miền đất trên Thế giới và tiếp thu tri thức nhân loại.
Nâng cao khả năng ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ và thực tiễn: các quốc gia muốn tiến vào
cuộc cách mạng công nghiệp này đòi hỏi phải mt nguồn nhân lực chất lượng cao khả năng ứng
dụng những tiến bộ khoa học công nghệ của cuộc cách mạng vào thực tiễn sản xuất để thể đáp ứng
được yêu cầu phát triển đặt ra. Vì thế, ngay từ trên giảng đường đại học, sinh viên phải chủ động tích lũy
tri thức về công nghệ thông tin, chủ động cập nhật kịp thời và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
mới nhất của thế giới vào cuộc sống thì chúng ta mới hội cạnh tranh việc làm, mở ra cánh cửa để
bước vào sân chơi toàn cầu hóa.
không ngừng trau dồi tri thức mới, phát triển chuyên môn bằng cách tham gia các lớp tập huấn do cty tổ
chức, cải thiện tác phong và văn hóa làm việc,...
Câu 3: Phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên thế giới hiện nay. Giai cấp công
nhân Việt Nam cần làm gì để phát huy sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn hiện nay?
Gợi ý
-Khái niệm GCCN giống câu 1
-Sứ mệnh ls GCCN trên tg hiện nay (Kinh tế, chính trị, văn hóa - ởng)
-Gợi ý: Phát huy vai trò đi đầu trong tiến trình CNH - HĐH, phát huy vai trò lãnh đạo cách mạng của
mình, liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức cùng với các giai tầng khác trong xã hội,....
Sứ mệnh lịch sử của GCCN trên thế giới hiện nay bao gm:
Nội dung kinh tế:
Thông qua vai trog của GCCN trong quá trình sx với công nghệ hiện đại, năng suất, chất lượng cao, bảo
đảm cho pt bền vững, sứ mệnh lịch sử của GCCN đối với sự pt xh ngày càng thể hiện rõ, bởi sự pt sx của
chủ nghĩa bản trong TG ngày nay với sự tham gia trực tiếp của GCCN các lực lượng lao động-dịch
vụ trình độ cao lại chính nhân tố kt-xh thúc đẩy sự chính muồi các tiền đề của CNXH trong lòng của
chủ nghĩa bản. Đó điều kiện để phát huy vai trò chủ thể của GCCN trong cuộc đấu tranh vì dân, dân
chủ, tiến bộ xh và CNXH.
Mặt khác, mâu thuẫn lợi ích bản giữa GCCN với giai cấp tư sản cũng ngày càng sâu sắc từng quốc
gia trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hóa hiện này vẫn mang đậm tính chất tư bản chủ nghĩa với những bất
công bất bình đẳng xh lại thúc đẩy cuộc đấu tranh chống chế độ bóc lột giá trị thặng trên phạm vi
TG, phấn đấu cho việc xác lập một trật tự xh mới công bằng bình đẳng, đó từng bước thực hiện sứ
mệnh lịch sử của GCCN trong kt-xh.
Nội dung chính trị-xh: các nước bản chủ nghĩa, mục tiêu đấu tranh trực tiếp của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động là chống bất côngbất bình đẳng xh; mục tiêu lâu dài giành chính quyền về tay
GCCN nhân dân lao động, được nêu trong Cương lĩnh chính trị của các Đảng Cộng sản trong các
nước bản chủ nghĩa. Đối với các nước XHCN, nơi các Đảng Cộng sản đã trở thành đảng cầm quyền,
sứ mnh lịch sử của GCCN lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, giải quyết thành công các nhiệm
vụ trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đặc biệt xd Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước pt nhanh và bền vững.
Nội dung văn hóa, tư tưởng:
Trước hết cuộc đấu tranh ý thức hệ, đó cuộc đấu tranh giữa CNXH với chủ nghĩa bản. Cuộc đấu
tranh này đang diễn ra phức tạp và quyết liệt , nhất là trong nền kinh tế thị trường phát triển với những tác
động mặt trái của nó. Mặt khác, khi hệ thống XHCN TG đang tan rã, phong trào cách mạng TG đang phải
vượt qua những thoái trào tạm thời thì niềm tin vào tưởng XHCN cũng đứng trước những thử thách
càng làm cho cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận giữa chủ nghĩa tư bản với
CNXH trở nên phức tạp gay gắt hơn. Song các giá trị đặc trưng cho bản chất khoa học cách mạng
của GCCN, của CNXH vẫn mang ý nghĩa chỉ đạo, định hướng trong cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động chống chủ nghĩa tư bản và lựa chọn con đường XHCN của sự pt xh.
Các giá trị như lao động, sáng tạo , công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do vẫn những giá trị được nhân
loại thừa nhận và phấn đấu thực hiện.
Đấu tranh bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng Cộng sản, giáo dục nhận thứccủng cố niềm tin khoa học
đối với tưởng, mục tiêu của CNXH cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, giáo dục và thực hiện
chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân trên cơ sở phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần
dân tộc.
*Vận dụng: Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, để giai cấp cấp công nhân phát huy
sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn hiện nay giai cấp công nhân cần:
-Công nhân Việt Nam chủ động tham gia giải quyết các vấn đề thu hút sự quan tâm hàng đầu của Việt
Nam i riêng và thế giới nói chung. Các vấn đề đó có tính thời sự cao như dân số, môi trường, văn hóa,
năng lượng, lương thực,…
-Giai cấp công nhân lực lượng kiên định bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ hội chủ nghĩa, không chấp nhận
chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị.
-Giai cấp công nhân tham gia đông đảo vào các thành phần kinh tế, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
hội công bằng dân chủ văn minh để phấn đấu.
-Giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, tệ nạn xã
hội, lực lượng chính trị hội quan trọng trong việc bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự
hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
Câu 4: Phân tích đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam. Giai cấp công nhân Việt Nam cần làm
để xây dựng đất nước trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0?
Gợi ý
-Khái niệm GCCN VN
-Đặc điểm của GCCN VN
-Những biến đổi của GCCN VN hiện nay
Giai cấp công nhân Việt Nam một lực lượng hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao
động chân tay trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh dịch vụ công
nghiệp hoặc xản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
Giai cấp công nhân VN ra đời pt gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp VN.
Giai cấp công nhân VN mang những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Ra đời trước giai cấp sản, vào đầu thế kỷ XX, giai cấp trực tiếp đối kháng với bản thực dân Pháp
tay sai của chúng. GCCN VN pt chậm sinh ra lớn lên ở một nước thuộc địa, nửa phong
kiến, dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
Trong cuộc đấu tranh trống thực dân tư bản đế quốc và phong kiến để dành lại độc lập chủ quyền, xóa bỏ
ách thống trị và bóc lột thực dân, GCCN đã tự thể hiện mình một lực lượng chính trị tiên phong để lãnh
đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải quyết mâu thuẫn bản giữa dân tộc VN với đế quốc thực dân
phong kiến thống trị, mở đường cho sự pt của dân tộc trong thời đại cách mạng sản. GCCN VN
không chỉ thể hiện đặc tính cách mạng của mình ở ý thức giai cấp và lập trường chính trị mà còn thể hiện
tinh thần dân tộc, GCCN VN gắn mật thiết với nhân dân, dân tộc, truyền thống yêu nước, đoàn kết
và bất khuất chống xâm lược.
GCCN VN gắnmật thiết với các tầng lớp nhân dân trong xh. Lợi ích của GCCNlợi ích dân tộc gắn
chặt với nhau, tạo thành động lực tc đẩy đoàn kết dân tộc trong mọi thời kỳ đấu tranh cách mạng, từ
cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, trong xây dựng CNXH và trong sự nghiệp đổi mới
hiện nay.
Ngày nay, nhất là trong 35 đổi mới đất nước, những đặc điểm đó của GCCN đã có những biến đổi do tác
động của tình hình kt-xh trong nước và những tác động của tình hình quốc tế và TG. Bản thân GCCN VN
cũng có những biến đổi từ cơ cấu xh- nghề ngiệp, trình độ học vấn và tay nghề bậc thợ, đến đời sống, lối
sống, tâm lý, ý thức. Đội tiên phong của GCCN Đảng Cộng sản đã một quá trình trường thành, trở
thành Đảng cầm quyền duy nhất VN, đnag nỗ lực tự đổi mưới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiếnđấu của Đảng, làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ.
Những biến đổi đó thể hiện trên những nét chính sau đây:
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đã tăng nhanh về số lượng chất lượng, giai cấp đi đầu trong
công sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với pt kt tri thức, bảo vệ tài nguyên môi
trường.
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đa dạng về cấu nghề nghiệp, mặt trong mọi thành phần kinh
tế nhưng trong đội n công nhân trong khu vực kinh tế nhà nước tiêu biểu, đóng vai trò nòng cốt, chủ
đạo.
Công nhân tri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến công nhân trẻ được đào tạo nghề theo
chuẩn nghề nghiệp, có học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội là lực
lượng chủ đạo trong cơ cấu GCCN, trong lao động và phong trào công đoàn.
*Vận dụng: nước ta, giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của
mình Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình đổi mới mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển giai cấp công nhân Việt Nam.
Việc cấu trúc lại nền kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu của nước ngoài,
thành lập doanh nghiệp mới của các thành phần kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và lao động, nhập -
chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế
xuất..., đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động với tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời tạo ra hàng
triệu việc làm mới cho các lao động công nghiệp. Quá trình này đã đưa lại những tích cực rệt, một mặt,
phát triển giai cấp công nhân về số lượng; mặt khác, cũng tạo ra những hội để người công nhân học
hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề.
Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam những biến chuyển tích cực, cụ thể:
Giai cấp công nhân nước ta phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về cấu thành phần ngành nghề.
Trong quá trình đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã
tạo nên sự chuyển biến trong cấu lực lượng lao độnghội. Giai cấp công nhân nước ta đang tiếp tục
tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cấu theo ngành nghề thành phần kinh tế. Trong đó, số công
nhân trong khu vực kinh tế nhân khu vực kinh tế vốn đầu nước ngoài tăng mạnh chiếm t
trọng ngày càng lớn. Đồng thời, xuất hiện ngày càng đông bộ phận công nhân làm việc trong các ngành
dịch vụ.
Giai cấp công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác phong
kỷ luật lao động theo hướng hiện đại.
Quá trình hội nhập quốc tế đã tiếp nhận những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản
xuất, tạo động lực để giai cấp công nhân nước ta ngày càng phát triển cao về trình độ chuyên môn nghề
nghiệp. Hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức (có trình độ cao đẳng, đại học trở lên)
làm công tác quản lý sản xuất kinh doanh, nghiên cứu và quản lý khoa học kỹ thuật gắn với sản xuất kinh
doanh hoặc trực tiếp sản xuất.
Giai cấp công nhân nước ta nhiều hội việc làm, đời sống vật chất tinh thần ngày càng được cải
thiện.
CHƯƠNG 3: CNXH THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
Câu 1: Phân tích đặc trưng bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩahội. Chứng minh những thành tựu
nổi bật về kinh tế, xã hội mà Việt Nam đạt được trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay?
-Quan điểm về thời kỳ quá độ của Marx Lenin
-Đặc điểm: Kinh tế, chính trị, văn hóa - tưởng hội (Dẫn chứng tới tình hình Việt Nam)
-Nêu các thành tựu về kinh tế hội ở VN hiện nay: “Thành tựu của VN sau 35 năm đổi mới”
Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩahội là thời cải biến cách mạng từ hội tiền bản chủ
nghĩa bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội của thời kì quá độ là xã hội có sự đan xen
của nhiều tàn về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần của chủ nghĩa bản va những yếu tố
mới mang tính chất hội chủ nghĩa của chủ nghĩa xã hội mới phát sinh chưa phải là chủ nghĩa xã hội đã
phát triên trên cơ sở của chính nó.
Đặc điểm bản thời quá độ lên chủ nghĩahội thời cải tạo cách mạng sâu sắc, triệt đểhội
bản chủ nghĩa trên tất cả lĩnh vực, kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội, xây dựng từng bước cơ sở vật chất- kĩ
thuật đời sống tinh thần của chủ nghĩa hội. Đó thời lâu dài, gian khổ bắt đầu từ khi giai cấp
công nhân và nhân dân lao dộng giành được chính quyền đến khi xây dựng thánh công chủ nghĩa hội.
Có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH như sau:
-Trên lĩnh vực kinh tế: Thời quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa hội, về phương diện kinh tế,
tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thành phần đối lập. Tương ứng với nước Nga,
V.I. Lênin cho rằng thời kì qua độ tồn tại 5 thành phần kinh tế: Kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hóa, kinh
tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nươc, kinh tế xã hội chủ nghĩa. Còn Vn, Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng
ta nhấn mạnh đến 4 thành phần kinh tế sau: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể;
Thành phần kinh tế nhân (gồm kinh tế thể, tiểu chủ, bản nhân) Thành phần kinh tế vốn
đầu tư nước ngoài.
-Trên lĩnh vực chính trị: Thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội về phương diện chính trị,
việc thiết lập, tăng cường chuyên chính sản thực chất của việc gia cấp công nhân nắm
sử dụng quyền lực nhà nước trấn áp giai cấp tư sản, tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp.Đây là
sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân với chức năng thực hiện dân chủ đối với nhân dân, tổ
chức xây dựng và bảo vệ chế độ mới, chuyên chính với những thành phần thù địch, chống lại nhân dân;
tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấpsản đã chiến thắng nhưng chưa phải đã toàn thắng với giai
cấp sản đã thất bại nhưng chưa phải thất bại hoàn toàn. Cuộc đấu tranh diễn ra trong điều kiện mới-
xây dựng toàn diện xã hội mới, trọng tâm là xây dựng nhà nước có tính kinh tế, và hình thức mới- cơ bản
là hòa bình tổ chức xây dựng.
-Trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa: Thời quá độ tchủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội còn tồn tại
nhiều tưởng khác nhau, chủ yếu tưởng sản tưởng sản. Giai cấp công nhân thông qua
đội tiền phong của mình Đảng Cộng sản từng bước xây dựng văn hóa sản, nền văn hóa mới hội
chủ nghĩa, tiếp thu giá trị văn hóa dân tộc tinh hoa văn hóa nhân loại, đảm bảo đáp ứng nhu cầu văn
hóa- tinh thần ngày càng tăng của nhân dân.
-Trên lĩnh vực xã hội:Do kết cấu của nền kinh tế nhiều thành phần quy định nên trong thời quá độ còn
tồn tại nhiều giai cấp tầng lớp hội, tầng lớp sự khác biệt giữa các giai cấp tầng lớp hội, các giai
cấp, tầng lớp vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Trong xã hội của thời kì quá độ còn tồn tại sự khác biệt
giữa nông thôn, thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Bởi vậy thời quá độ từ chủ nghĩa
bản lên chủ nghĩa hội, về phương diện hội thời đấu tranh giai cấp chống áp bức, bất công,
xóa bỏ tệ nạn xã hội và những tàn dư của xã hội cũ để lại, thiết lập công bằng xã hội trên cơ sở thực hiện
nguyên tắc phân phối theo lao động là chủ đạo.
*Vận dụng:
Quy nền kinh tế tăng nhanh
Trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai
đoạn đầu đổi mới (1986
1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991 - 1995, GDP bình quân
đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016 -
2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-
19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế
giới.
Qua 35 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên
thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ
sản phẩm từ gỗ... luôn duy trì mức cao. Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng bước tiến lớn. Đặc
biệt, trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 khiến hoạt động thương mại đầu thế
giới suy giảm, thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2020 vẫn đạt 543,9 tỷ
USD, tăng 5,1% so với năm 2019; xuất siêu 19,1 tỷ USD - cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ
năm 2016. Với kim ngạch xuất nhập khẩu ấn tượng đã đưa Việt Nam xếp thứ 22 thế giới về quy mô kim
ngạch và năng lực xuất khẩu, đứng thứ 26 về quy mô thương mại quốc tế.
Phát triển gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa - hội
Trong suốt quá trình 35 năm đổi mới, việc tăng trưởng kinh tế đã bản gắn kết hài hòa với phát triển
văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Tăng trưởng
kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Từ chỗ Nhà nước
bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần chuyển trọng tâm sang thiết lập chế, chính sách
để các thành phần kinh tế người lao động đều tham gia tạo việc làm; từ chỗ không chấp nhận sự
phân hóa giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói
giảm nghèo. Công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo
trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010, 7% năm 2015 còn
dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều).
Bên cạnh đó, công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện. Đến nay,
diện thụ hưởng chính sách an sinh hội ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên, đời sống vật chất
và tinh thần của người dân, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
Hội nhập quốc tế sâu rộng, vị thế ngày càng được nâng cao
35 năm đổi mới cũng một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về
hình thức. Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế; tích cực xây dựng
Cộng đồng ASEAN 2015 hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO. Đến nay,
đã 71 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam nền kinh tế thị trường, trong đó các đối tác
thương mại lớn của Việt Nam. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhận 3 trọng trách: Ủy viên
không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Trong bối cảnh
cùng khó khăn của đại dịch Covid-19 những thiệt hại nặng nề do thiên tai bão lũ... song Việt Nam
đã hoàn thành tốt cả ba trọng trách, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trong khu vực trên thế
giới.
Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của
Đảng ta đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của
Đảng nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩahội của nước ta phù hợp với thực tiễn
Việt Nam xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng nhân tố hàng
đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Câu 2:Phân tích đặc điểm quá độ lên chủ nghĩa hội Việt Nam. Trách nhiệm của sinh viên trong việc
góp phần xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?
-Quan điểm về thời k quá độ của Marx Lenin giống câu 1
-Đặc điểm (tình hình) của VN khi xây dựng CNXH
-Quan điểm của Đảng Cộng sản VN về thời kỳ quá độ Đại hội IX
-Phân tích quan điểm với 4 ý chính
-“Vai trò của thanh niên VN đối với sự nghiệp xây dựng đất nước bảo vệ Tổ quốc”
Việt Nam tiến lên chủ nghĩa hội trong điều kiện vừa thuận lợi vừa khó khăn đan xen, những đặc
trưng bản:
Xuất phát từ một hội vốn thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua
chiến tranh ác liệt , kéo dài nửa thập kỉ, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn thực dân, phong kiến
còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ hội chủ nghĩa nền độc lập
dân tộc của nhân dân ta.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút các nước mức độ
khác nhau. Nền sản xuất vật chất đời sốnghội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng
lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời phát triển
nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt.
Thời đại ngày nay vẫn thời đại quá độ từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội, cho chế độ hội
chủ nghĩa Liên Đông Âu sụp đổ. Các nước với chế độ hội trình độ phát triển khác nhau
cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh
của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó
khăn, thách thức, song theo quy tuật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Quá độ lên chủ nghĩahội bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa sự lựa chọn duy nhất đúng, khoa học, phản
ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng VN trong thời đại ngày nay.
Quá độ lên chủ nghĩa hội bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa, như Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định: Con đường đi lên củai nước ta sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa hội bỏ qua chế độ
bản chủ nghĩa, tức bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất kiến trúc thượng tầng
bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu nhân loại đã đạt được dưới chế độ bản
chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh
tế hiện đại.
Đây tưởng mới, phản ánh nhận thức mới, duy mới của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng này cần được hiểu đầy đủ với những nội dung sau đây:
Thứ nhất, quá độ lên chủ nghĩa hội bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa con đường cách mạng tất yếu
khách quan, con đường xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thứ hai, quá độ lên chủ nghĩa hội bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa, tức bỏ qua việc xác lập vị trí
thống trị của quan hệ sản xuất kiến trúc thượng tầng bản chủ nghĩa. Điều đó nghĩa trong thời
kỳ quá độ còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, song sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và
thành phần kinh tế nhân tư bản chủ nghĩa không chiếm vai trò chủ đạo; thời kỳ quá độ còn nhiều hình
thức phân phối, ngoài phân phối theo lao động vẫn chủ đạo còn phân phối theo mức độ đóng góp
quỹ phúc lợihội; thờiquá độ vẫn còn quan hệ bóc lột bị bóc lột, song quan hệ c lột bản chủ
nghĩa không giữ vai trò thống trị.
Thứ ba, quá độ lên chủ nghĩa hội bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa đòi hỏi phải tiếp thu, kế thừa những
thành tựu nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa bản, đặc biệt những thành tựu về khoa học
công nghệ, thành tựu về quản để phát triển hội, quản phát triển hội, đặc biệt xây dựng nền
kinh tế hiện đại, phát triển nhanh lực lượng sản xuất.
Thứ tư, quá độ lên chủ nghĩa hội bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa tạo ra sự biến đổi về chất của
hội trên tất cả các lĩnh vực, sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình
thức tổ chức kinh tế, hội nh chất quá độ đòi hỏi phải quyết tâm chính trị cao khát vọng lớn
của toàn Đảng, toàn dân.
*Vận dụng: “Vai trò của thanh niên VN đối với sự nghiệp xây dựng đất nước bảo vệ Tổ quốc”
Tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường hội lành mạnh môi trường sinh thái trong lành,
sạch đẹp; chủ động tích cực hội nhập quốc tế. Tích cực tham gia phòng, chống ô nhiễm môi trường
ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Tích cực học tập tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, tay nghề để
thích ứng với thị trường lao động trong nướcthị trường lao động quốc tế. Làm theo tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng và nhân rộng được nhiều cá nhân
Phát huy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, phát huy tính tích cực chính trị của thanh
niên để họ quan tâm các vấn đề, các sự kiện chính trị của đất nước.
Rèn luyện các kỹ năng xã hội, tham gia xây dựng đời sống vh; tham gia giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, văn thể mỹ, phát triển thể lực; phát huy tính tích cực hội của thanh niên; sống trung thực trách
nhiệm, xây dựng gia đình hạnh phúc; tham gia giám sát phản biện xã hội
Xung kích đi đầu trong sự nghiệp pt kt-xh, bảo đảm quốc phòng an ninh. Tích cực tham gia các chương
trình, dự án pt kt- xh hội của địa phương; tự nguyện tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các
hoạt động bảo vệ Tổ quốc giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội.
Câu 3:Phân tích điều kiện ra đời chủ nghĩa hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa hội bỏ qua thời kỳ bản
chủ nghĩa phù hợp với điều kiện ra đời của chủ nghĩa xã hội không? Vì sao?
-Quan điểm về CNXH dựa trên 4 cách tiếp cận (CNXH được hiểu với 4 nga)
-Phân tích điều kiện kinh tế điều kiện chính trị hội Vai trò của CNTB đối với sự ra đời của CNXH
-Phù hợp. Giải thích do:
+Sau cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Việt Nam bước vào cách mạng hội chủ nghĩa đến nay
đã bước phát triển vượt bậc về lực lượng sản xuất nền kt phát triển không đi qua thời kỳ
TBCN (chứng minh bằng thành tựu kinh tế VN).
+Có sự giúp đỡ từ các nước tiến b.
+Chính quyền được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN ra đời từ năm 1930, kinh nghiệm dày
dặn trong quá trình lãnh đạo đất nước.
+Sự tin tưởng của nhân n vào chế độ XHCN
Chủ nghĩa hội được tiếp cận từ các góc độ sau đây:
phong trào thực tiễn, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chống lại áp bức, bất công, chống các
giai cấp thống trị;
trào lưu tưởng, luận phản ánh tưởng giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, bất
công;
một khoa học - Chủ nghĩahội khoa học, khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân;
một chế độ hội tốt đẹp, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa.
V.I.Lênin cho rằn: C.Mác xuất phát t chỗ chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa bản, phát
triển lên t chủ nghĩa bản kết quả tác động của một lực lượng hội do chủ nghĩa bản sinh ra
giai cấp sản, giai cấp công nhân hiện đại. Sự ra đời của CNXH theo chủ nghĩa mac-lênin hai điều
kiện chủ yếu sau đây
Điều kiện kinh tế: sự ra đời của chủ nghãi bản một giai đoạn mới trong lịch sự phát triển mới của
nhân loại. Nhờ những bước tiến to lớn của lực lượng sản xuất, biểu hiện tập trung nhất sự ra đời của
công nghiệp khí (Cách mạng công nghiệp lần thứ 2), chủ nghĩa bản đã tạo ra bước phát triển vượt
bậc của lực lượng sản xuất. Trong vòng chưa đầy một thế kỷ, chủ nghĩa bản đã tạo ra được một lực
lượng sản xuất nhiều hơn đồ sộ hơn lực lượng sản xuất nhân loại tạo ra đến lúc đó. Tuy nhiên,
trong hội bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất càng được khí hóa, hiện đại hóa càng mang tính
hội hóa cao, thì càng mâu thuẫn với quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu nhân
bản chủ nghĩa. Quan hệ sản xuất từ chỗ đóng vai trò mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, thì
ngày càng trở nên lõi thời, xiềng xích của lực lượng sản xuất.
Điều kiện chính trị- xh:Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất trở thành mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản,
biểu hiện về mặt hội là mẫu thuần giữa giai cấp công nhân hiện đại giai cấp tư sản lỗi thời. Cuộc
đấu tranh giữa giai cấp công nhân giai cấp sản xuất hiện ngay từ đầu ngày càng trở nên gay gắt
tính chính trị nét. C.Mác Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Từ chỗ những hình thức phát triển của các lực
lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó
bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng”.
Hơn nữa cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền đại công nghiệp khí sự trưởng thành vượt bậc cả về
số lượng chất lượng giai cấp công nhân, con để của nền đại công nghiệp. Chính sự phát triển về lực
lượng sản xuất sự trưởng thành của giai cấp công nhân tiền đề kinh tế - hội dẫn tới sự sụp đổ
không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản.. Sự trưởng thành vượt bậc và thực sự của giai cấp công nhân được
đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng cộng sản, đội tiền phong của giai cấp công nhận, trực tiếp lãnh đạo
cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân chống giai cấp sản.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xusự trưởng thành thực sự của giai cấp công nhân tiền đề,
điều kiện cho sự ra đợi của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tuy nhiên, do khác nhau về bản
chất với tất cả các hình thái kinh hội trước đó, nên hình thái kinh tế - hội cộng sản chủ nghĩa
không tự nhiên ra đời, trái lại, chỉ được hình thành thông qua cách mạng sản dưới sự lãnh đạo của
đảng của giai cấp công nhân Đảng Cộng sản, thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Cách mạng sản cuộc cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản, trên thực tế được thực hiện bằng con đường bạo lực cách mạng nhằm lật đổ chế độ
bản chủ nghĩa, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, thực hiện sự nghiệp cải tạohội cũ, xây dựng
hội mưới,hội hội chủ nghĩa cộng sản chủ nghĩa.
Do tính sâu sắc và triệt để của nó, cách mạng vô sản chỉ có thể thành công, hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa chỉ có thể được thiết lậpphát triển trên sở của chính nó, một khi tính tích cực chính trị
của giai cấp công nhân được khơi dậy phát huy trong liên minh với các giai cấp tầng lớp những
người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Câu 4:Phân tích đặc trưng bản của chủ nghĩahội. Chứng minh đặc trưng quan hệ hữu nghị
hợp tác với các nước trên thế giới bằng những thành tựu đối ngoại ở VN.
-Quan điểm về CNXH dựa trên 4 cách tiếp cận (CNXH được hiểu với 4 nghĩa) giống cấu 3
-Phân tích 6 đặc trưng.
-Những thành tựu trong công tác đối ngoại VN
Khi nghiên cứu về hình thái kinh tế - hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa hội khoa
học rất quan tâm dự báo những đặc trưng của từng giai đoạn, đặc biệt giai đoạn đầu (giai đoạn thấp)
của hội cộng sản nhằm định hướng phát triển cho phong trào công nhân quốc tế. Những đặc trưng
bản của giai đoạn đầu, phản ánh bản chấttính ưu việt của chủ nghĩa xã hội từng bước được bộc lộ đầy
đủ cùng với quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa. Căn cứ vào những dự báo của C.Mác và Ph.Ăngghen và
những quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa hội nước Nga viết, thể khái quát những đặc
trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:
Một là, chủ nghĩa hôi giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng hội, giải phóng con
người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện.
Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa so với các hình thái kinh tế -
xã hội thời trước, thể hiện ở bản chất nhân văn, nhân đạo, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã
hội, giải phóng con người. Đương nhiên, để đạt được mục tiêu tổng quát đó C.Mác Ph.Ăngghen cho
rằng, cách mạng hội chủ nghĩa phải tiến hành triệt để, trước hết giải phóng giai cấp, xóa bỏ tình
trạng giai cấp này bốc lột, áp bức giai cấp kia, một khi tình trạng người áp bức, bốc lột người bị xóa bỏ
thì tình trạng dân tộc này đi bốc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”.
V.I.Lênin cũng khẳng định mục đích cao nhất của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia xã
hội thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong hội thành người lao động, tiêu diệt sở của mọi tình
trạng người bốc lột người. V.I.Lênin còn chỉ trong quá trình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai
cấp công nhân, chính Đảng cộng sản phảo hoàn thành nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa
hội – tạo ra các điều kiện về sở vật chất – kỹ thuật đời sống tinh thần để thiết lập xã hội cộng sản.
Hai là, chủ nghĩa hội hội do nhân dân lao động làm chủ.
Đây đặc trưng thể hiện thuộc tính bản chất của chủ nghĩa hội,hội con người do con người;
nhân dân nòng cốt là nhân dân lao động là chủ thể củahội thực hiện quyền làm chủ ngày càng rộng
rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ chính
trị dân chủ, nhà nước hội chủ nghĩa với hệ thống pháp luật hệ thống tổ chức ngày càng ngày càng
hoàn thiện sẽ quản lý xã hội ngày một hiệu quả.
Ba là, chủ nghĩa hội nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện tại chế độ công
hữu về liệu sản xuất chủ yếu.
Đây đặc trưng về phương tiện kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa hội
giải phóng con người trên sở điều kiện kinh tế - hội phát triển, xét đến cùng trình độ phát
triển cao của lực lượng sản xuất.Chủ nghĩa hội hội nền kinh tế phất triển cao, với lực lượng sx
hiện đại, quan hệ sx dựa trên chế độ conng hữu về liệu sx,được tổ chức,quản hiệu quả,năng suất
lao động cao và phân phối chủ yếu theo lao động. Cùng với việc từng bước xác lập chế độ công hữu về
liệu sản xuất, để nâng cao năng suất lao động cần phải tổ chức lao động theo một trình độ cao hơn, tổ chức
chặt chẽ và kỷ luật lao động nghiêm, nghĩa là phải tạo ra quan hệ sản xuất tiến bộ, thích ứng với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất
Bốn là, chủ nghĩa hội nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp nhân, đại biểu cho lợi ích,
quyền lực ý chỉ của nhân dân lao động.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa hội khoa học đã khăng định trong chủ nghĩa hội phải thiết lập nhà nước
chuyên chính sản, nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích,
quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Theo V.l.Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành
được duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp nhân. Chính quyền đó chính nhà nước kiểu mới thực
hiện dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân trấn áp bằng lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, thực
chất của sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản
2
.
Nhà nước chuyên chính sản đồng thời coi việc mrộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến
thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu -
chuyên chính sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc
lột, bọn bản.
Năm là, chủ nghĩa hội nển văn hóa phát triển cao, kể thừa phát này những giá trị của văn hóa
dân tộc tinh hoa văn nhân loại.
Trong chủ nghĩa hội, văn hóa là nền tảng tinh thần của hội, mục tiêu,động lực của phát triển xã hội,
trọng tâm là phát triển kinh tế; văn hóa đã hun đúc nên tâm hôn, khí phách, bản lĩnh con người, biến con
người thành con người chân,thiện mỹ.Do vậy, quá trình xây dựng nên văn hóa xã hội chủ nghĩa phải biết
kế thừa những giá trị văn hóa dân tộc tinh hoa văn nhân loại, đồng thời, cần chống tưởng, văn hóa
phi sân, trái với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc của loài người, trái với phương
hướng đi lên chủ nghĩa.
Thứu, chứ nghĩa hội bảo đảm bình đằng, đoàn kết giữa các dân tộc quan hệ hữu nghị, hợp tác
với nhân dân các nước trên thế giới.
trong chủ nghĩahội, cộng đồng dân tộc, giai cấp nh đẳng, đoàn kếthợp tác trên sở sở chính
trị - pháp lý, đặc biệt sở kinh tế - hội văn hóa sẽ từng bước xây dựng củng cố phát triển.
Đây sự khác biệt căn bản về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
quan điểm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi hoặc chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. V.I.Lênin
khẳng định: “… chỉ chế độ viết chế độ thể thật sự đảm bảo quyền nh đẳng giữa các dân
tộc, bằng cách thực hiện trước hết sự đoàn kết tất cả những người vô sản, rồi đến toàn thể quần chúng lao
động, trong việc đấu tranh chống giai cấp tư sản”.
Chủ nghĩa hội, với bản chất tốt đẹp do con người, con người luôn bảo đảm cho các dân tộc bình
đẳng, đoàn kết và hợp tác hữu nghị; đồng thời có quan hệ với nhân dân tất cả các nước trên thế giới, điều
kiện chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
*Vận dụng:Về ngoại giao chính trị, ngành Ngoại giao Việt Nam đã tích cực thúc đẩy mối quan hệ song
phương và đa phương giữa Việt Nam với các đối tác, góp phần củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc
tế. Mối quan hệ song phương giữa Việt Nam với các đối tác đang ngày càng sâu sắcthực chất hơn, mở
đường cho những hội hợp tác sâu rộng hơn trên nhiều lĩnh vực.
Về ngoại giao kinh tế, ngành Ngoại giao Việt Nam đã chủ động đóng góp tích cực trong quá trình ký kết
thực thi các hiệp định thương mại tự do, góp phần giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường và sản phẩm,
đưa hàng hóa Việt Nam ra thế giới.
Về ngoại giao văn hóa. Các quan đại diện Việt Nam đã tích cực phối hợp với các đơn vị trong nước
cũng như chính quyền, người dân sở tại để tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao văn hóa với sự đa dạng về
nội dung, hình thức, góp phần giới thiệu, quảnghiệu quả về đường lối, chính sách, tiềm năng, thế mạnh
cũng như về lịch sử, vẻ đẹp văn hóa, đất nước và con người Việt Nam.
Nhờ vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài các quan trong
nước, công tác bảo hộ công dân tại nước ngoài thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Cụ thể,
thời gian qua, trước thông tin về việc người lao động Việt Nam tại một số quốc gia bị bóc lột, phải làm
việc trong điều kiện không đáp ứng an toàn, các cơ quan đại diện Việt Nam đã chủ động xác minh các sự
việc liên hệ với các quan chức năng để hành động cần thiết bảo vệ bảo đảm quyền lợi của
người lao động Việt Nam.
Câu 5: Phân tích những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa hội Việt Nam. Sinh viên VN cần phải làm
để góp phần xây dựng CNXH ở VN hiện nay.
-Tầm quan trọng của xây dựng CNXH ở VN (có thể thay thế bằng 4 cách hiểu về CNXH) => giống ý 3
-Quá trình nhận thức về CNXH của Đảng Cộng sản VN (Đại hội IV, Đại hội VII, Đại hội XI) - được thể
hiện trong các văn kiện nào
-Các đặc trưng bản chất của CNXH VN (8 đặc trưng)
-Giống vận dụng câu b
Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mac - Lênin vào điền kiện cụ thể của Việt Nam, tổng kết thực
tiễn quá trình cách mạng Việt Nam, nhất qua hơn 35 năm đổi mới, nhận thức của Đảng nhân dân ta
về chủ nghĩa hội con đường đi lên chủ nghĩa hội ngày càng sáng rõ. Đại hội IV (1976), nhận
thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển của cách mạng nước ta mới dừng ở mức độ
định hướng. Đến Đại hội VII, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa đã sáng tỏ hơn, không chỉ dừng nhận thức định hướng, định tính từng bước đạt tới
trình độ định hình, định lượng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội
(1991), đã xác định hình chủ nghĩa hội nước ta với sáu đặc trưng: 1) Do nhân dân lao động m
chủ; 2) một nền kt pt cao dựa trên lực lượng sx hiện đạivà chế độ công hữu về các liệu sản xuất chủ
yếu; 3) nền văn a tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 4) Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc
lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no,tự do, hạnh phúc, có đk pt toàn
diện cá nhân; 5) Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; 6) Có quan
hệ hữu ngh và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên TG. Đến Đại hội XI, trên sở tổng kết 25 năm
đổi mới, nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã có bước phát
triển mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội (bổ sung, phát triển
năm 2011) đã phát triển hình chủ nghĩa hội Việt Nam với tám đặc trưng bản, trong đó đặc
trưng về mục tiêu, bản chất, nội dung của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, đó là:
Một là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hai là: Do nhân dân làm chủ.
Ba là: nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại quan hệ sản xuất tiến bộ phù
hợp. Bốn là: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Năm: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
Sáu là: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát
triển.
Bảy là: Nhà nước pháp quyềnhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, nhân dân do Đảng Cộng
sản lãnh đạo. Tám là: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới1.
*Vận dụng: giốngu 2
CHƯƠNG 4: DÂN CHỦ XHCN NHÀ C XHCN
Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa. Những hành tựu Đảng, Nhà nước nhân dân Việt
Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa?
-Khái quát quá trình ra đờiphát triển của nền dân chủ XHCN (2 sự kiện: Công xã Paris 1871 và Cách
mạng tháng 10 Nga năm 1917) Khái niệm dân chủ XHCN
-Bản chất (Chính trị, kinh tế, văn hóa - ởng)
-Nêu thành tựu VN:
+Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu ớc ngoài.
+Người dân được cầm phiếu bầu cử cho những đại biểu mình tin tưởng trong các kỳ bầu cử.
+Người dân ngày càng tham gia tích cực hơno quá trình quản xây dựng đất ớc.
...v...v...
Phân tích bản chất của nhà nước hội chủ nghĩa. Sv cần phải làm để góp phần xây dựng thành
công nhà nước XHCN VN trong thời đại hiện nay?
-Điều kiện ra đời của Nhà nước XHCN, khái niệm Nhà nước XHCN.
-Bản chất nhà nước (Kinh tế, chính trị, văn hóa tưởng)
-“Vai trò của thanh niên VN đối với sự nghiệp xây dựng đất nước bảo vệ Tổ quốc”
Anh (chị) hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ hội chủ nghĩa nhà nước hội chủ
nghĩa. Theo anh (chị) hiểu rõ và thực hiện đúng quy định của pháp luật có ý nghĩa như thế nào trong thực
hiện quyền dân chủ của bản thân?
-Khái niệm dân chủ XHCN
-Khái niệm Nhà nước XHCN
-Mối quan hệ
-Gợi ý:
+Hiểu được quyềnnghĩa vụ của bản thân
+Biết được giới hạn quyền lực của bản thân đâu
+Giúp tỉnh táo trước những âm mưu kích động nhân dân chống phá đất ớc dưới con bài dân chủ
+Nhận thức được và lên án những hành vi vi phạm dân chủ xuyên tạc dân ch
.......
Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam. Những thành tựu ĐCSVN đã đạt
được trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở VN.
-Sự ra đời phát triển của nền dân chủ XHCN ở VN (1945, 1986)
-Quan điểm của HCM về dân chủ
-6 Nội dung dân chủ XHCN VN. Dân chủ gián tiếp, dân chủ trực tiếp (cho dụ dẫn chứng).
-Giống vận dụng câu a
Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò của bản thân sinh viên trong
việc phát huy dân chủ XHCN ở VN
Phân tích đặc điểm nhà ớc pháp quyềnhội chủ nghĩa Việt Nam. Sinh viên cần phải làm để góp
phần hoàn thiện nhà nước pháp quyền VN?
-Quan điểm về Nhà nước Pháp quyền
-Đặc điểm (6 đặc điểm)
CHƯƠNG 4: DÂN CHỦ XHCN NHÀ NƯỚC XHCN
A) Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa. Những hành tựu Đảng, N nước nhân
dân Việt Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa?
*QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA NỀN DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA
Trên sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành phát triển các nền dân chủ trong lịch sửtrực tiếp
nhất nền dân chủ sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng, đấu tranh cho dân chủ
một quá trình lâu dài, phức tạp giá trị của nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó chính
nền dân chủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được phôi phai từ thực tiễn đấu tranh giai cấp ở Pháp và ng xã Pari 1871,
tuy nhiên, chỉ đến khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công với sự ra đời của nhà nước hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới (1917), nền dân chủ hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập. Sự ra đời
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu sự phát triển mới về chất của dân chủ. Quá trình phát triển của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Trong đó, sự
thừa kế những giá trị của nền dân chủ trước đó, đồng thời bổ sung làm sâu sắc thêm những giá trị của
nền dân chủ mới.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin; Giai cấp sản không thể hoàn thành cuộc cách mạnghội chủ nghĩa, nếu
họ không thực hiện cuộc đấu tranh cho dân chủ. Rằng chủ nghĩa xã hội không thể duy trì và thắng lợi, nếu
không thực hiện đầy đủ dân chủ.
Quá trình phát triển của nền dân chủhội chủ nghĩa từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Nguyên tắc bản của nền dân chủ hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ
giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản nhà nước, quản
xã hội. Càng hoàn thiện bao nhiêu, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực
chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên sở không
ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền của nhân dân, tạo điều kiện để họ
tham gia ngày càng đông đảo ngày càng ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản
hội. Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt hội… để đến
lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.
Với tất cả những đặc trưng đó, dân chủ hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân
chủ tư sản, là nền dân chủ đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân chủ và dân làm chủ; dân chủ
pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền hội chủ
nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
*BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA
Với cách đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của dân chủ, dân chủ hội chủ nghĩa bản chất
bản:
Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công nhân (đảng Mác - Lênin)
trên mọi lĩnh vực hội đều thực hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện các quyền dân chủ, làm chủ,
quyền con người, thỏan ngày càng cao hơn các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: bản chất chính trị của nền dân chủhội chủ nghĩa sự lãnh đạo chính trị
của giai cấp công nhân thông qua đảng của đối với toàn hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện
quyền lực lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, chủ yếu để thực hiện quyền lực lợi ích của
toàn thể nhân dân, trong đó giai cấp công nhân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo - yếu
tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, đảng Cộng sản đại biểu cho trí tuệ,
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu hội về những liệu sản xuất
chủ yếu của toàn hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên sở khoa
học công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể
nhân dân lao động
Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất
nâng cao đời sống của toàn hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác Lênin về quản nền dân chủ chủ
nghĩa khác về bản chất kinh tế của các chế độ hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nhưng cũng như toàn
bộ nền kinh tế hội chủ nghĩa, không hình thành từ “hư vô” theo mong muốn của bất kỳ ai. Kinh tế
hội chủ nghĩa cũng sự kế thừa phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng
thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực,kìm hãm... của các chế độ kinh tế trước đó, hướng dẫn, giúp
đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Khác với nền dân chủ sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ hội chủ nghĩa thực hiện chế độ công
hữu về liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu
Bản chất tưởng văn hóa hội: Nền dân chủ hội chủ nghĩa lấy hệ tưởng Mác Lênin - hệ
tưởng giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức hội khác trong hội mới. Trong
nền dân chủ hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa nhân, tập thểlợi ích của toàn
hội. Nền dân chủ hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực hội
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Trong nền dân chủ hội chủ nghĩa sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa nhân, tập thể lợi ích toàn
hội .Nền dân chủ hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực
hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Nhà nước nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu trong quá trình xây dựng nền dân
chủ hội chủ nghĩa tiêu biểu như sau:
Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế nhân, thu hút vốn đầu nước ngoài. Cụ thể, số doanh
nghiệp ngoài Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng tăng từ 69 công ty trong năm 2010 lên 777
công ty vào năm 2019. Đối với lĩnh vực môi trường, số doanh nghiệp nhân t693 công ty trong năm
2010 đã tăng đến 2.713 công ty vào năm 2019.
Người dân được cầm phiếu bầu cử cho những đại biểu mình tin tưởng trong các kỳ bầu cử. Theo quy
định của Hiến pháp pháp luật hiện hành, công dân nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18
tuổi trở lên quyền bầu cử đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp. Quyền bầu cử ứng cử của công dân, quyền được hiến định việc thực hiện các quyền này
phải theo quy định của pháp luật.
Người dân ngày càng tham gia tích cực hơn vào quá trình quản xây dựng đất nước. Như dân chủ đại
diện nhấn mạnh việc người dân thông qua bầu cử để hình thành nên cơ quan đại diện và người đại diện để
thực thi chức năng quản hội;người dân thông qua hộp t điện tử, điện thoại, bảng hỏi, mạng
internet, cổng thông tin điện tử, trao đổi trực tiếp với chính phủ để tìm hiểu, nắm bắt thái độ và quan điểm
của người dân đối với các vấn đề liên quan đến chính sách cũng như ý kiến, kiến nghị của người dân đối
với chất lượng phục vụ công ở địa phương. Phương thức này còn được sử dụng để tìm hiểu và nắm bắt ý
kiến của người dân đối với chất lượng cuộc sống của người dân ở khu dân cũng như mức độ hài lòng
của người dân đối với sự phục vụ của quan hành chính nhà nước; sự tham gia của người dân góp phần
tăng cường sự ủng hộ và niềm tin của người dân đối với các quan hành chính nhà nước bởilàm tăng
lên độ công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
B. Phân tích bản chất của nhà nước hội chủ nghĩa. Sv cần phải làm để góp phần xây dựng
thành công nhà nước XHCN VN trong thời đại hiện nay?
ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC XHCN, KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC XHCN:
Trên sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành phát triển các nền dân chủ trong lịch sửtrực tiếp
nhất nền dân chủ sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng, đấu tranh cho dân chủ
một quá trình lâu dài, phức tạp giá trị của nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó chính
nền dân chủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được phôi phai từ thực tiễn đấu tranh giai cấp ở Pháp và ng xã Pari 1871,
tuy nhiên, chỉ đến khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công với sự ra đời của nhà nước hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới (1917), nền dân chủ hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập. Sự ra đời
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu sự phát triển mới về chất của dân chủ. Quá trình phát triển của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Trong đó, sự
thừa kế những giá trị của nền dân chủ trước đó, đồng thời bổ sung làm sâu sắc thêm những giá trị của
nền dân chủ mới.
dân chủ hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ sản, là nền dân chủ mà ở
đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân chủ n làm chủ;n chủ pháp luật nằm trong sự thống
nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản.
*BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA
Với cách đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của dân chủ, dân chủ hội chủ nghĩa bản chất
bản:
Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công nhân (đảng Mác - Lênin)
trên mọi lĩnh vực hội đều thực hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện các quyền dân chủ, làm chủ,
quyền con người, thỏan ngày càng cao hơn các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: bản chất chính trị của nền dân chủhội chủ nghĩa sự lãnh đạo chính trị
của giai cấp công nhân thông qua đảng của đối với toàn hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện
quyền lực lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, chủ yếu để thực hiện quyền lực lợi ích của
toàn thể nhân dân, trong đó giai cấp công nhân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo - yếu
tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, đảng Cộng sản đại biểu cho trí tuệ,
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu hội về những liệu sản xuất
chủ yếu của toàn hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên sở khoa
học công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể
nhân dân lao động
Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất
nâng cao đời sống của toàn hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác Lênin về quản nền dân chủ chủ
nghĩa khác về bản chất kinh tế của các chế độ hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nhưng cũng như toàn
bộ nền kinh tế hội chủ nghĩa, không hình thành từ “hư vô” theo mong muốn của bất kỳ ai. Kinh tế
hội chủ nghĩa cũng sự kế thừa phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng
thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực,kìm hãm... của các chế độ kinh tế trước đó, hướng dẫn, giúp
đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Khác với nền dân chủ sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ hội chủ nghĩa thực hiện chế độ công
hữu về liệu sản xuất chủ yếu thực hiện chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động chủ yếu.
Bản chất tưởng văn hóa hội: Nền dân chủ hội chủ nghĩa lấy hệ tưởng Mác Lênin - hệ
tưởng giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức hội khác trong hội mới. Trong
nền dân chủ hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa nhân, tập thểlợi ích của toàn
hội. Nền dân chủ hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực hội
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Trong nền dân chủ hội chủ nghĩa sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa nhân, tập thể lợi ích toàn
hội .Nền dân chủ hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực
hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
BẢO VỆ TỔ QUỐC
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Thanh niên là rường cột nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước,
đâu cần thanh niên có, đâu khó thanh niên", khẳng định vai tcủa thanh niên cùng to lớn bao
trùm rất nhiều lĩnh vực. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc, các cấp, các
ngành cần phát huy tốt vai trò của thanh niên; Đồng thời, thanh niên cũng cần tiếp tục tự khẳng định mình
thực sự lực lượng xung kích, sáng tạo trong đời sống hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong sự nghiệp xây dựngbảo vệ Tổ quốc hiện nay, đại bộ phận thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng; trung thành, kiên định mục tiêu độc lập dân tộcchủ nghĩa hội; nêu cao tinh thần yêu
nước, sẵn sàng hy sinh độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Bên cạnh đó, thanh niên luôn
khát vọng, ý chí vươn lên, tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, cộng đồng lợi ích
quốc gia nên đã luôn mặt những nơi khó khăn, gian khổ, xung kích hoàn thành mọi nhiệm vụ
Đảng và nhân dân giao.
Những việc làm hoạt động của thanh niên được thể hiện nhất các phong trào hành động Cách
mạng, các chương trình hành động, tiêu biểu, như: “Tuổi trẻ Việt Nam học tập làm theo lời Bác”;
Cuộc vận động “Nghĩa tình biên giới hải đảo”, với các hoạt động như: “Hành trình tuổi trẻ biển đảo
quê hương”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Góp đá xây Trường Sa”… đã để lại những dấu ấn
sâu đậm trong lòng thế hệ trẻ nhân dân cả nước; góp phần làm thay đổi thái độ nhận thức chính trị
của thanh niên.
Qua đó ta thấy được vai trò của thanh niên Việt nam đối với sự nghiệp xây dựng đất nước bảo bộ Tổ
quốc vô vùng quan trọng. Để thực hiện tốt vai tcủa mình trong sự nghiệp xây dựngbảo vệ tổ quốc
hơn, thanh niên VN cần thanh niên Việt Nam cần:
Phát huy truyền thống dựng nước giữ nước của dân tộc; xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc
đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, thống nhất toàn vẹn
lãnh thổ; đảm nhận công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc yêu cầu.
Đấu tranh với các âm mưu, hoạt động gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tc.
Gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện nghĩa vụ công dân.
Tham gia giữ gìn trật tự, an toàn hội, quốc phòng, an ninh quốc gia.
Chủ động đề xuất ý tưởng, sáng kiến trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; tham gia quản nhà
nước hội.
Tích cực tham gia tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.
Xây dựng các hình sản xuất, kinh doanh tạo việc làm; tham gia bảo vệ môi trường và các hoạt động
lợi ích của cộng đồng, xã hội.
Tích cực tham gia hoạt động chămc, giáo dục bảo vệ tr em.
c. Anh (chị) hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ hội chủ nghĩa nhà nước
hội chủ nghĩa. Theo anh (chị) hiểu thực hiện đúng quy định của pháp luật ý nghĩa như thế
nào trong thực hiện quyền dân chủ của bản thân?
- Dân chủ hội chủ nghĩa nền dân chủ cao n về chất so với nền dân chủ trong lịch sử nhân loại,
nền dân chủ đó, mọi quyền lịch thuộc về nhân dân, dân chủ dân làm chủ; dân chủ pháp
luật nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.
Nhà nước hội chủ nghĩa một kiểu nhà nước đó, sự thống trị chính trị thuộc về giai cấp công
nhân, do cách mạng hội chủ nghĩa sản sinh ra sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa hội,
đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả c mặt của đời sống hội trong một hội phát
triển cao – xã hội xã hội chủ nghĩa.
=> Dân chủ hội chủ nghĩa và nhà nướchội chủ nghĩa mối quan hệ mật thiết với nhau.
Thứ nhất, dân chủ XHCN là sở, nền tảng cho việc xây dựng hoạt động của nhà nước XHCN
+ Trong XHCN, người dân mới đầy đủ các điều kiện cho việc thực hiện ý chí của mình thông qua việc
lựa chọn công bằng, bình đẳng những người đại diện cho quyền lợi chính đáng của mình vào bộ máy nhà
nước.
+ Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động quản nhà nước.
+ Phát huy tốt sức mạnh trí tuệ của nhân dân cho hoạt động của nhà nước.
=> Với những tính ưu việt đó, nền dân chủ XHCN sẽ kiểm soát 1 cách hiệu quả quyền lực của nhà
nước, ngăn chặn được sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Ngược lại nếu các nguyên tắc bị vi phạm thì
việc xây dựng nhà ớc XHCN cũng sẽ không thực hiện được.
Thứ hai, Nhà nước XHCN trở thành công cụ quan trọng cho việc thực thi quyềnm chủ của người dân.
+ Bằng việc thể chế hóa ý chí của nhân dân thành các hành lang pháp lý, phân định quyền trách
nhiệm của mỗi công dân, sở để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời ngăn chặn
hiệu quả các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của dân.
+ Con đườngphát triển nhà nước hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện, lôi cuốn đông đảo nhân dân
tham gia quản nhà nước hội. Thông qua hoạt động này, nguồn lực hội được tập hợp, tổ chức
và phát huy hướng đến lợi ích của nhân dân. Ngược lại, nếu nhà nước XHCN đánh mất bản chất của mình
sẽ dẫn đến việc xâm phạm quyền làm chủ của người dân.
Nhà nước có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện những yêu cầu dân chủ
chân chính của nhân dân. công cụ sắc bén nhất trong cuộc đấu tranh với mọi mưu đồ đi ngược lại với
lợi ích của nhân dân. Chính vậy Đảng ta đã xem nhà nước là trụ cột của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
nghĩa của việc hiểu và thực hiện đúng quy định của pháp luật trong thực hiện quyền dân chủ của bản
thân:
+ Hiểu được quyền nghĩa vụ của bản thân
+ Biết được giới hạn quyền lực của bản thân đâu
+ Giúp tỉnh táo trước những âm mưu kích động nhân dân chống phá đất nước dưới những con bài dân chủ
+ Nhận thức được lên án những hành vi vi phạm dân chủ và xuyên tạc dân chủ
d. Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam. Những thành tựu ĐCSVN đã
đạt được trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN Việt Nam.
-Sự ra đời của nền dân chủ XHCN: Trên sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành và phát triển các nền
dân chủ trong lịch sử trực tiếp nhất nền dân chủ sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lenin cho
rằng, dấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài, phức tạp gtrị của nền dân chủ sản chưa phải
hoàn thiện nhất, do đó tất yếu xuất hiện một nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó là nền
dân chủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
-Chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta được xác lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đến năm 1976,
tên nước được đổi thành Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng trong các văn kiện Đảng hầu như
chưa sử dụng cụm từ “dân chủhội chủ nghĩa” mà thường nêu quan điểm “xây dựng chế độ làm chủ tập
thể hội chủ nghĩa” gắn với “nắm vững chuyên chính sản”. Bản chất của dân chủ hội chủ nghĩa
cũng như mối quan hệ giữa dân chủ hội chủ nghĩa nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa chưa
được xác định ràng. Việc xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa, đặc biệt thực hiện dân chủ trong
thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa hội ở Việt Nam như thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, hội, văn hóa, đạo đức của
hội Việt Nam, gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa được đặt ra một cách cụ thể,
thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ hội chủ nghĩa như dân sinh, dân trí, dân
quyền... chưa được đặt đúng vị trí giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây dựng nền dân chủ hội chủ
nghĩa.
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó nhấn mạnh phát
huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng phát huy quyền làm
chủ của nhân dân lao động”; Bài học “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng.
Thực tiễnch mạng chứng minh rằng: đâu, nhân dân lao động ý thức làm chủ được làm chủ thật
sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”.
-Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân ch:
Dân chủ mục tiêu của chế độ hội chủ nghĩa (dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh).
Dân chủ bản chất của chế độ hội chủ nghĩa (do nhân dân làm chủ, quyền lực thuộc về nhân dân).
Dân chủ động lực xây dựng chủa nghĩa hội (phát huy sức mạnh của nhân dân, của toàn dân tộc).
Dân chủ gắn với pháp luật (phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương).
Dân chủ phải được thực hiện trong đời sống thực tiễn tất cả các cấp, mọi lĩnh vực của đời sống hội về
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
-Bản chất dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ gián tiếp
và dân chủ trực tiếp.
+ Hình thức dân chủ gián tiếp hình thức dân chủ đại diện, được thực hiện do nhân dân “ủy quyền”, giao
quyền lực của mình cho tổ chức nhân dân trực tiếp bầu ra. Những con người tchức ấy đại diện
cho nhân dân, thực hiện quyền làm chủ cho nhân dân. Nhân dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội quan
quyền lực nhà nước cao nhất hoạt động theo nhiệm kỳ 5 năm. Quyền lực nhà nước ta là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp kiểm soát giữa các quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp.
Vd: Trưởng thôn ý kiến lên cấp xã xin phí 80% tiền tông để đổ đường cho người dân trong thôn.
+Hình thức dân chủ trực tiếp hình thức thông qua đó, nhân dân bằng hành động trực tiếp của mình thực
hiện quyền làm chủ nhà nước hội. Hình thức đó thể hiện các quyền được thông tin về hoạt động
của nhà nước, được bàn bạc về công việc của nhà nước cộng đồng dân cư; được bàn đến những quyết
định về dân chủ sở, nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của quan nhà nước từ Trung ương cho
đến sở. Dân chủ ngày càng được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã hội, trở thành quy chế, cách
thức làm việc của mọi tổ chức trong xã hội.
Vd: Tất cả công dân đủ điều kiện trực tiếp đi bỏ phiếu bầu ra ban lãnh đạo Hội đồng nhân dân các cấp.
-Những thành tựu ĐCSVN đạt được trong quá trình xây dựng nềnn chủ XHCN Việt Nam:
+ ĐCS lãnh đạo quần chúng nhân dân kiên cường dấu tranh vượt qua những khó khan, gian khổ.
+ Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế nhân, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
+Nhân dân thực sự làm chủ, tự xây dựng, tổ chức, quản hội.
+Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân từ chính trị, kinh tế, văn hóa, hội; phát huy tích cực, sáng tạo
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
f. Phân tích đặc điểm nhà nước pháp quyềnhội chủ nghĩa Việt Nam. Sinh viên cần phải làmđể góp
phần hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở VN?
Theo quan niệm chung, nhà nước pháp quyền nhà nước thượng tôn pháp luật, nhà nước hướng tới
những vấn đề về phúc lợi cho mọi người, tạo điều kiện cho nhân được tự do, bình đẳng, phát huy hết
năng lực của chính mình. Trong hoạt động của nhà nước được phân quyền ràng được mọi người
chấp nhận trên nguyên tắc bình đẳng của các thế lực, giai cấp tầng lớp trong hội.Nhà nước pháp
quyền được hiểu một kiểu nhà nước đó, tất cả mọi công dân đều được giáo dục pháp luật phải
hiểu biết pháp luật, tuân thủ pháp luật, pháp luật phải đảm bảo tính nghiêm minh; trong hoạt động của các
quan nhà nước; phải sự phân công, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau, tất cả mục tiêu phục vụ nhân
dân.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
đưa ra những nội dung khái quát về xây dựng nhà nước pháp quyền: đề cao vai trò tối thượng của Hiến
pháp và pháp luật; đề cao quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền con người; tổ chức bộ máy
vừa đảm bảo tập trung, thống nhất, vừa sự phân công giữa các nhánh quyền lực, phân cấp quyền hạn
trách nhiệm giữa các giai cấp chính quyền nhằm đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, tránh lạm
quyền. Nhà nước mối quan hệ thường xuyên chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng lắng nghe ý kiến
của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ
quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công nhân. Tổ chức
hoạt động của bộ máy quản nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có phân
công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương.
Từ thực tiễn nhận thứcxây dựng Nhà nước pháp quyềnhội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, thể thấy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, đó nhà nước của nhân dân, do dân, vì dân.
Thứ hai, Nhà nước được tổ chức hoạt động dựa trên sở của Hiến pháp và pháp luật. Trong tất cả các
hoạt động củahội, pháp luật được đặt ở vị trí tối thượng để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Thứ ba, quyền lực nhà nước thống nhất, sự phân công ràng, chế phối hợp nhịp nhành
kiểm soát giữa các quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN phải do Đảng Cộng sản VN lãnh đạo, phù hợp với
Điều 4 Hiến pháp năm 2013. Hoạt động của nhà nước được giám sát bởi nhân dân với phương châm:
Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra thông qua các tổ chức cá nhân ủy nhiệm.
Thứ năm, nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa VN tôn trọng quyền con người, con người là chủ thể,
trung tâm của sự phát triển. Quyền dân chủ của nhân dân được thựcnh một cách rộng rãi; Nhân dân
quyền bầu bãi miễn những đại biểu không xứng đáng”; đồng thời tăng cường thực hiện sự nghiêm
minh của pháp luật.
Thứ sáu, tổ chứchoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tạp trung dân chủ, sự phân công ,
phân cấp, phối hợp kiểm soát lẫn nhau, nhưng bảo đảm quyền lực thống nhất sự chỉ đạo thống
nhất của Trung ương.
Như vậy, những đặc điểm của nhà nước pháp quyềnhội chủ nghĩa VN đangy dựng đã thể hiện được
các tinh thần bản của một nhà nước pháp quyền nói chung. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện sự khác biệt
so với các nhà nước pháp quyền khác. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN mang bản chất giai cấp
công nhân, phục vụ lợi ích cho nhân dân;nhà nước là công cụ chủ yếu để Đảng Cộng sản VN định hướng
đi lên chủ nghĩa xã hội
Vận dụng
+ Gương mẫu thực hiện và tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà ớc.
+ Tích cực tham gia các hoạt động: xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền, giữn trật tự…
+ Phê phán, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật
+Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá các thế lực thù
địch.
CHƯƠNG 5: CẤU XH-GIAI CẤP LIÊN MINH GIAI CẤP, TẦNG LỚP TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
Phân tích nội dung của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội Việt
Nam. Sinh viên có thể làm gì để củng cố cơ cấu xã hội - giai cấp ở VN?
Đáp án
Quan điểm về liên minh giai cấp - tầng lớp của Marx - Lenin (tầm quan trọng của liên minh)
Nội dung liên minh VN (Kinh tế, chính trị, văn hóa - tưởng)
Gợi ý vận dụng: Luôn ý thức giữ gìn đoàn kết trong tập thể, trong lớp học; Luôn đặt mình trong tập thể,
phải tôn trọng nguyên tắc chung, không chia kéo phái để làm ri loạn gây mất đoàn kết nội bộ; Phê
phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân;.....
Phân tích nội dung của liên minh, giai cấp tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Trách
nhiệm của thế hệ trẻ trong việc phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với công cuộc xây
dựng liên minh giai cấp, tầng lớp ở Việt Nam hiện nay?
Đáp án
Quan điểm về liên minh giai cấp - tầng lớp của Marx - Lenin (tầm quan trọng của liên minh)
Nội dung liên minh (Kinh tế, chính trị)
“Chống lại âm mưu phoại khối đoàn kết của dân tộc VN”
Phân tích vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội Việt
Nam. Sinh viên trách nhiệm như thế nào đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xây dựng chủ
nghĩa hội?
Đáp án
Khái niệm cơ cấu hội - giai cấp
Quy luật biến đổi của cấuhội - giai cấp VN Biến đổi vừa tuân theo quy luật nói chung nhưng
cũng có những nét riêng
Vị trí vai trò của các giai tầng VN (Công nhân, nông dân, trí thức doanh nhân)
Anh (chị) hãy phân tích nội dung của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
hội Việt Nam? Sinh viên trách nhiệm như thế nào trong việc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?
Phân tích phương hướng bản để xây dựng cấu hội - giai cấp tăng cường liên minh giai cấp
tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trước những thông tin xuyên tạc nhằm
phá vỡ liên minh giai cấp, tầng lớp, sinh viên VN cần phải làm để chống lại các thế lực thù địch
không ngừng củng cố khối liên minh.
Đáp án
Khái niệm cơ cấu hội - giai cấp
Tầm quan trọng của liên minh
Một số phương hướng bản
Giống vận dụng câu b
CHƯƠNG 6: VẤN ĐỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO
Câu hỏi ôn tập (Khi gặp câu hỏi về dân tộc phần mở đầu: trình bày khái niệm dân tộc theo nghĩa
rộng nghĩa hẹp) (Khi gặp câu hỏi về tôn giáo phần mở đầu: trình bày quan niệm về tôn giáo/ khái
niệm theo chủ nghĩa Marx - Lenin)
Anh (chị) hãy phân tích hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc. Liên hệ sự biểu hiện
của hai xu hướng trên trong phạm vi nước Việt Nam hiện nay.
Phân tích nội dung cương lĩnh dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Marx - Lenin. Đảng Nhà nước
Việt Nam đã làm để thực hiện bình đẳng dân tc VN.
Một là, cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về chính
sách dân tộc của Đảng Nhà nước ta, về vị trí, vai trò của các dân tộc trong phát triển kinh tế, văn hóa,
hội, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại. Khẳng định tính nhất quán
của chính sách dân tộc của Đảng Nhà nước ta qua các thời kỳ cách mạng bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp nhau để cùng phát triển. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, làm cho đồng bào các dân
tộc tin tưởng vào đường li đổi mới của Đảng, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cho đồng bào các dân tộc được bình đẳng về quyền
làm chủ đất nước; bình đẳng về quyền lợi nghĩa vụ, được thực hiện quyền tham chính của mình thông
qua thực hiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp qua bầu cử và ứng cử. Công dân người các dân tộc
không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về quyền lợi nghĩa
vụ trong mọi lĩnh vực của đời sống, như chính trị, kinh tế, văn hóa, hội, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại, tạo điều kiện cho đồng bào có cơ hội thuận lợi phát triển về mọi mặt.
Ba là, Nhà nước cần tích cực hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, xóa đói, giảm
nghèo, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa các vùng; hằng năm, Nhà nước cần dành tỷ lệ thích đáng
về ngân sách đầu cho vùng u, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây, vùng dân tộc thiểu số,
vùng khó khăn. Nhà nước cần khuyến khích đầu vào vùng dân tộc thiểu số và địa bàn khó khăn, hỗ trợ
tạo điều kiện để phát triển kết cấu hạ tầng các địa bàn điều kiện kinh tế - hội đặc biệt khó khăn
phục vụ sản xuất đời sống, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là việc đi lại, học
hành, chữa bệnh... của đồng bào.
Bốn là, cần bảo đảm cho mọing dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc
gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế… được bình đẳng về hội học tập. Nhà nước tạo điều kiện đ
người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc và được ởng các chính sách ưu tiên đặc biệt nhằm tăng hội tiếp cận về giáo dục cho
con em vùng dân tộc thiểu số. Nhà nước cần bảo đảm cho người dân tộc thiểu số được hưởng các quyền
ưu tiên về chăm sóc sức khỏe, y tế, an sinh xã hội...
Năm là, chăm lo giữ gìn, phát huy phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc; bảo đảm cho các dân tộc
được phát triển hài hòa trong một nền văn hóa đa dân tộc; bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của c
dân tộc được trân trọng, giữ gìn, phát huy phát triển. Đồng bào dân tc ai cũng quyền tham gia vào
các hoạt động văn hóa của dân tộc mình, của cộng đồng, hội được hưởng các chính sách về phát
triển văn hóa.

Preview text:

CHƯƠNG 2: SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GCCN
Câu
1: Phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân (3đ). Giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay cần phải làm gì để phát huy vai trò nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất hội hoá cao? (2đ) Gợi ý - Khái niệm GCCN
-ND sứ mệnh lịch sử của GCCN
-Công nhân VN cần phải làm gì để nâng cao tay nghề, không ngừng hoàn thiện bản thân? Nâng cao khả
năng ngoại ngữ (tại sao phải nâng cao? nâng cao như thế nào?), không ngừng trau dồi tri thức mới, phát
triển chuyên môn, cải thiện tác phong và văn hóa làm việc,..... Trả lời
Giai cấp công công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát
triển của nền công nghiệp hiện đại; Là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến; là lực lượng chủ
yếu của tiến trình lực sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; ở các nước tư bản chủ nghĩa,
giai cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho
giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công
nhân cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì
lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của mình.
Sứ mệnh lịch sửa của giai cấp công nhân chia làm 3 nội dung: Kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa tư tưởng.
Nội dung kinh tế: Là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao, giai cấp công nhân tạo tiền
đề vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới, là đại biểu cho lợi ích chung của xã hội. Giai cấp công
nhân đóng vai trò làm nòng cốt trong quá trình giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển để tạo cơ sở cho quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa ra đời.
Nội dung chính trị - xã hội: tiến hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, xóa
bỏ chế độ bóc lột, áp bức của chủ nghĩa tư bản, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao
động. Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã hội của tuyệt đại đa số nhân dân lao động.
Nội dung văn hóa, tư tưởng: phát triển văn hóa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đạo đức và lối
sống mới xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung căn bản mà cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng.
Một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử là giai cấp đại diện cho khuynh hướng tiến bộ của thời đại, đứng ở vị
trí trung tâm. Là giai cấp có sự phát triển và trưởng thành cả về số lượng và chất lượng có đủ điều kiện để
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Ý 2:
Để thiết thực xây dựng và phát triển giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu cấp bách của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay, cần đẩy mạnh việc tuyên truyền
và giáo dục về sứ mệnh, vai trò của giai cấp công nhân; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của công
nhân; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh
nghiệp, đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức này phù hợp với tình hình mới.
Để giai cấp công nhân Việt Nam phát triển và trưởng thành, ngày càng xứng đáng là lực lượng quan trọng
nhất để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần sớm có một
chiến lược quốc gia tổng thể, đồng bộ xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong thời gian
tới. Chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:
Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội một cách hài hòa. Vừa tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, ổn định
vừa bảo đảm phát triển văn hóa - xã hội hài hòa, lành mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân lao động, đặc biệt là giai cấp công nhân; giữ vững ổn định chính trị; bảo đảm an
ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Một xã hội ổn định, phát triển toàn diện và hài hòa không chỉ là
môi trường thuận lợi cho sự phát triển của giai cấp công nhân mà còn của mọi người dân trong xã hội.
Tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quy hoạch nền kinh tế, vùng kinh
tế, khu vực kinh tế, cấu trúc lại nền kinh tế phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích các tập thể
cá nhân phát triển sản xuất - kinh doanh, chủ động và tích cực tham gia vào thị trường lao động quốc tế,
phát triển cảng biển, hệ thống đường giao thông thủy, bộ, đường sắt, hàng không,
xây dựng những khu công nghiệp, khu chế xuất mới... Đây sẽ là quá trình phát triển kinh tế theo hướng
công nghiệp, hiện đại; đồng thời, hướng tới việc tạo ra một thị trường lao động công nghiệp mới, thu hút
nhiều lao động với phong phú về ngành nghề, đa dạng về chủng loại. Quá trình này sẽ phát triển giai cấp
công nhân không chỉ về số lượng mà cả chất lượng.
Đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục để nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí và sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân. Xuất phát từ thực trạng đời sống của người công nhân còn nhiều khó khăn, nên trong quan
niệm của xã hội hiện nay, hình ảnh người công nhân chưa phải là hình ảnh được đề cao. Trong điều kiện
như thế, để giai cấp công nhân có điều kiện khẳng định được vai trò, vị trí của mình cũng như hoàn thành
được sứ mệnh lịch sử cao quý của mình cần có một chiến dịch tuyên truyền, vận động rộng khắp trong xã
hội nhằm đề cao, tôn vinh người công nhân, sao cho cả xã hội nhận thức được vai trò và vị trí quan trọng
của giai cấp công nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế; đồng thời, cũng là nhân tố quyết định xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Cải cách triệt để hệ thống giáo dục và đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và tay nghề cho giai cấp công nhân.
Đây là một vấn đề sống còn đối với người công nhân và việc phát triển giai cấp công nhân trong tình hình
mới. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
kinh tế đang tạo ra một nhu cầu mới về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Đặc thù của kinh tế
thị trường là tính cạnh tranh cao, lao động và việc làm cũng không ngoài tình trạng đó. Sự cạnh tranh
trong sử dụng lao động đòi hỏi lực lượng lao động cần được đào tạo một cách chuyên nghiệp và cơ bản.
Do đó, chất lượng lao động, nguồn nhân lực mới là nhân tố quyết định cho sự phát triển và tăng trưởng
cao. Đối với người lao động, khi tham gia thị trường lao động nếu chưa được đào tạo cơ bản, đáp ứng nhu
cầu thực tế của thị trường lao động, thì rất khó tìm được việc làm, và nếu có, thì cũng thường là việc làm
không ổn định, lao động giản đơn, nặng nhọc và thu nhập thấp. Tính cạnh tranh cao cùng với sự sôi động
của thị trường lao động đòi hỏi Nhà nước cần có một chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
vừa đông đảo, có chất lượng cao vừa phong phú, đa dạng nhằm đáp ứng kịp thời và lâu dài nhu cầu nguồn
lực con người cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thiết thực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân. Trong xã hội hiện nay, cùng
với nông dân, giai cấp công nhân là những người nghèo trong xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của
người công nhân lao động còn nghèo nàn. Đây là một nghịch lý rất đáng suy nghĩ. Giai cấp tiên tiến, ưu
tú, nắm quyền lãnh đạo xã hội mà lại nghèo. Vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước cần cấp thiết có một chiến lược
thiết thực chăm lo đời sống người công nhân, nhất là đội ngũ công nhân trẻ mới vào nghề, tập trung đông
ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong đó, trước hết, là các chính sách mới về việc làm, nhà ở và
tiền lương. Có như thế, giai cấp công nhân mới thoát khỏi những bức bách của đời sống, có điều kiện học
tập, rèn luyện nâng cao tay nghề và ý thức xã hội. Chỉ khi đó, đội ngũ công nhân trẻ này mới gắn bó sâu
sắc với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, có ý thức giai cấp, có lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng giai cấp công nhân gắn liền với cuộc vận động thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và chống
tham nhũng. Xây dựng và phát triển giai cấp công nhân phải được thực hiện trong một môi trường kinh tế
- xã hội mà mỗi người công nhân luôn có điều kiện phát huy năng lực của mình và được thụ hưởng thành
quả lao động do chính mình làm ra. Muốn thế, cần thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế Dân chủ trong các
loại hình doanh nghiệp khác nhau. Một khi người công nhân được tôn trọng, được thực sự góp phần vào
quá trình phát triển doanh nghiệp thì sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, công nhân yên tâm
và hăng say làm việc, sáng tạo mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và bản thân.
Cùng với thực hiện nghiêm túc Quy chế Dân chủ trong các doanh nghiệp, đấu tranh chống tham nhũng
cũng là một vấn đề gây bức xúc trong không ít các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp cổ phần. Tham nhũng đang tạo ra khoảng cách giàu - nghèo giữa công nhân, viên chức và
người lãnh đạo doanh nghiệp, gây nên sự bất bình trong dự luận công nhân, mất đoàn kết nội bộ, mâu
thuẫn trong doanh nghiệp. Nếu không kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng sẽ dễ dẫn tới tình trạng bất
ổn, làm sản xuất đình đốn. Kiên quyết đấu tranh loại trừ tệ tham nhũng ra khỏi các doanh nghiệp đó là
một việc làm vừa có ý nghĩa phát triển sản xuất, kinh doanh vừa có ý nghĩa bảo vệ cán bộ và công nhân
không bị rơi vào trạng thái mâu thuẫn trên. Đó chính là một con đường thiết thực góp phần xây dựng và
phát triển giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp;
đồng thời, đổi mới hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp phù hợp với tình
hình mới. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp
được đề cập ở đây là trong các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa. Trong quá trình
chuyển đổi vừa qua, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với doanh nghiệp cũng như đối với các tổ chức
chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp còn lúng túng, có nhiều bất cập. Chính vì vậy, vị thế, vai trò của
Đảng trong các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp đã cổ phần hóa khá mờ nhạt. Các tổ chức chính trị
- xã hội trong nhiều doanh nghiệp hầu như rất lúng túng trong phương hướng hoạt động, không hoạt động
hoặc hoạt động chỉ mang tính hình thức.
Vấn đề đặt ra là, Đảng cần có phương thức lãnh đạo mới, một cơ chế mới để vừa thể hiện được vai trò
lãnh đạo của mình vừa thúc đẩy sự hoạt động một cách có hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội
trong các doanh nghiệp. Trong đó, đặc biệt tạo lập mối quan hệ mới giữa Đảng và tổ chức công đoàn,
từng bước góp phần đưa Công đoàn trở thành một tổ chức hùng mạnh, thực sự xứng đáng là tổ chức hoạt
động vì quyền lợi chính đáng của toàn thể công nhân, lao động. Sự lãnh đạo sát sao của Đảng đối với tổ
chức công đoàn sẽ là một sức mạnh mới thiết thực góp phần bảo vệ, chăm sóc và phát triển giai cấp công
nhân trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của công
nhân cũng là một cách xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay.
Ngoại ngữ là môn học rất quan trọng trong khung chương trình đào tạo đại học ở Việt Nam. Trình độ
ngoại ngữ tốt là yếu tố quan trọng góp phần thành công trong phát triển và hội nhập. Mục tiêu của bài viết
nhằm trình bày một số quan điểm và giải pháp thực hiện để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho sinh viên ở
trường đại học. Đồng thời cũng đề xuất một số biện pháp dạy tiếng Anh nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội
về trình độ tiếng Anh, giúp tăng cơ hội du học của sinh viên Việt Nam, cơ hội phát triển nghề nghiệp
trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay. Xu hướng phát triển giáo dục để đáp ứng nhu cầu xã hội và hội
nhập quốc tế đòi hỏi nội dung chương trình đào tạo phải thay đổi theo thị trường lao động trong nước và
ngoài nước. Nội dung môn học cần phải được rà soát và cập nhật để theo kịp sự phát triển của xã hội,
không nên có tham vọng dạy tất cả kiến thức nhân loại có mà cần chắt lọc dạy những gì người học và xã
hội đương đại cần. Vấn đề cần thảo luận là thiết kế bổ sung các môn học nào để người học rèn luyện thêm
kỹ năng sống và hội nhập, trong đó không thể thiếu kỹ năng về ngoại ngữ. Người học sẽ không tiếp cận
được kiến thức mới của thế giới có liên quan đến ngành học nếu kỹ năng về ngoại ngữ kém. Du học sinh
đi học nước ngoài cũng không thành công nếu kém về ngoại ngữ.
Câu 2: Phân tích điều kiện quy định và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sinh viên Việt
Nam hiện nay cần chuẩn bị những gì để trở thành giai cấp công nhân hiện đại, chất lượng cao? Gợi ý
-Khái niệm GCCN giống câu 1
-Điều kiện khách quan, điều kiện chủ quan
-Nâng cao khả năng ngoại ngữ (tại sao phải nâng cao? nâng cao như thế nào?), không ngừng trau dồi tri
thức mới, phát triển chuyên môn bằng cách tham gia các lớp tập huấn do cty tổ chức, cải thiện tác phong và văn hóa làm việc,...
Những điều kiện quy định sứ mệnh lích sử của giai cấp công nhân:
Điều kiện khách quan gồm:
Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân quy định.
Giai cấp công nhân là con đẻ, sản phẩm của nền đại công nghiệp, có tính xã hội hóa cao, là chủ thể của
quá trình sản xuất vật chất hiện đại.Vì thế, giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến
và lực lượng sản xuất hiện đại. Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế, quy định giai cấp công nhân
là lực lượng phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai cấp
“tự do” thành giai cấp “vì nó”.
Thứ hai, do địa vị chính trị - hội của giai cấp công nhân quy định.
Là giai cấp sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội, nhưng trong chủ nghĩa tư bản giai cấp công
nhân không sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu, phải bán sức lao động để kiếm sống, bị bóc lột nặng nề, vì
vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập trực tiếp với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản và thống nhất với lợi ích
cơ bản ucả đa số nhân dân lao động.
Giai cấp công nhân có được những phẩm chất của một giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng: tính tổ chức
và kỉ luật , tự giác và đoàn kết trong cuộc đấu tranh và tự giải phóng mình và giải phóng xã hội. Giai cấp
công nhân được trang bị lý luận tiên tiến là chủ nghĩa Mác-Lênin, có đội tiền phong là Đảng Cộng sản dẫn dắt.
Điều kiện chủ quan gồm:
Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng chất lượng. Thông qua sự phát triển này
có thể thấy sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng với quy mô phát triển của nền sản xuất vật chất hiện
đại trên nền tảng của công nghiệp, của kỹ thuật và công nghệ.
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng giai cấp công nhân hiện đại, đảm
bảo cho giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình. Chất lượng giai cấp công nhân phải
thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của một giai cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức
được vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ
về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Để phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng, theo chủ nghĩa Mác-Lênin phải đặc biệt chú ý
đến hai biện pháp cơ bản: 1) Phát triển công nghiệp-“tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” ; 2) Sự trưởng
thành của Đảng Cộng sản-hạt nhân chính trị quan trọng của GCCN.
Đảng Cộng sản nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh
lịch sử của mình.
Đảng Cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai trò lãnh đạo cuộc cách
mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng.
Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học,
tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng, làm cho Đảng
mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng
Cộng sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và xã hội.
Ngoài hai điều kiện thuộc nhân tố chủ quan nêu trên, chủ nghĩa Mac-Lênin còn chỉ rõ: để cuộc cách mạng
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đi tới thắng lợi, phải có sự liên minh giai cấp giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác do giai cấp công nhân thông qua đội
tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây cũng là một đk không thể thiếu để thực hiện sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân.
*Vận dụng: Trau dồi vốn ngoại ngữ là yêu cầu mang tính cần thiết. Khả năng sử dụng ngoại ngữ sẽ tạo cơ
hội cho chúng ta tiếp cận với các tin tức, sách báo, tài liệu nước ngoài, giao tiếp được với bạn bè quốc tế
nhằm giao lưu, học hỏi văn hóa của các miền đất trên Thế giới và tiếp thu tri thức nhân loại.
Nâng cao khả năng ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ và thực tiễn: các quốc gia muốn tiến vào
cuộc cách mạng công nghiệp này đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng ứng
dụng những tiến bộ khoa học công nghệ của cuộc cách mạng vào thực tiễn sản xuất để có thể đáp ứng
được yêu cầu phát triển đặt ra. Vì thế, ngay từ trên giảng đường đại học, sinh viên phải chủ động tích lũy
tri thức về công nghệ thông tin, chủ động cập nhật kịp thời và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
mới nhất của thế giới vào cuộc sống thì chúng ta mới có cơ hội cạnh tranh việc làm, mở ra cánh cửa để
bước vào sân chơi toàn cầu hóa.
không ngừng trau dồi tri thức mới, phát triển chuyên môn bằng cách tham gia các lớp tập huấn do cty tổ
chức, cải thiện tác phong và văn hóa làm việc,...
Câu 3: Phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên thế giới hiện nay. Giai cấp công
nhân Việt Nam cần làm gì để phát huy sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn hiện nay? Gợi ý
-Khái niệm GCCN giống câu 1
-Sứ mệnh ls GCCN trên tg hiện nay (Kinh tế, chính trị, văn hóa - tưởng)
-Gợi ý: Phát huy vai trò đi đầu trong tiến trình CNH - HĐH, phát huy vai trò lãnh đạo cách mạng của
mình, liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức cùng với các giai tầng khác trong xã hội,....
Sứ mệnh lịch sử của GCCN trên thế giới hiện nay bao gồm: Nội dung kinh tế:
Thông qua vai trog của GCCN trong quá trình sx với công nghệ hiện đại, năng suất, chất lượng cao, bảo
đảm cho pt bền vững, sứ mệnh lịch sử của GCCN đối với sự pt xh ngày càng thể hiện rõ, bởi sự pt sx của
chủ nghĩa tư bản trong TG ngày nay với sự tham gia trực tiếp của GCCN và các lực lượng lao động-dịch
vụ trình độ cao lại chính là nhân tố kt-xh thúc đẩy sự chính muồi các tiền đề của CNXH trong lòng của
chủ nghĩa tư bản. Đó là điều kiện để phát huy vai trò chủ thể của GCCN trong cuộc đấu tranh vì dân, dân
chủ, tiến bộ xh và CNXH.
Mặt khác, mâu thuẫn lợi ích cơ bản giữa GCCN với giai cấp tư sản cũng ngày càng sâu sắc ở từng quốc
gia trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hóa hiện này vẫn mang đậm tính chất tư bản chủ nghĩa với những bất
công và bất bình đẳng xh lại thúc đẩy cuộc đấu tranh chống chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên phạm vi
TG, phấn đấu cho việc xác lập một trật tự xh mới công bằng và bình đẳng, đó là từng bước thực hiện sứ
mệnh lịch sử của GCCN trong kt-xh.
Nội dung chính trị-xh: Ở các nước tư bản chủ nghĩa, mục tiêu đấu tranh trực tiếp của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động là chống bất công và bất bình đẳng xh; mục tiêu lâu dài là giành chính quyền về tay
GCCN và nhân dân lao động, được nêu rõ trong Cương lĩnh chính trị của các Đảng Cộng sản trong các
nước tư bản chủ nghĩa. Đối với các nước XHCN, nơi các Đảng Cộng sản đã trở thành đảng cầm quyền,
sứ mệnh lịch sử của GCCN là lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, giải quyết thành công các nhiệm
vụ trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đặc biệt là xd Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước pt nhanh và bền vững.
Nội dung văn hóa, tư tưởng:
Trước hết là cuộc đấu tranh ý thức hệ, đó là cuộc đấu tranh giữa CNXH với chủ nghĩa tư bản. Cuộc đấu
tranh này đang diễn ra phức tạp và quyết liệt , nhất là trong nền kinh tế thị trường phát triển với những tác
động mặt trái của nó. Mặt khác, khi hệ thống XHCN TG đang tan rã, phong trào cách mạng TG đang phải
vượt qua những thoái trào tạm thời thì niềm tin vào lý tưởng XHCN cũng đứng trước những thử thách
càng làm cho cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận giữa chủ nghĩa tư bản với
CNXH trở nên phức tạp và gay gắt hơn. Song các giá trị đặc trưng cho bản chất khoa học và cách mạng
của GCCN, của CNXH vẫn mang ý nghĩa chỉ đạo, định hướng trong cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động chống chủ nghĩa tư bản và lựa chọn con đường XHCN của sự pt xh.
Các giá trị như lao động, sáng tạo , công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do vẫn là những giá trị được nhân
loại thừa nhận và phấn đấu thực hiện.
Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản, giáo dục nhận thức và củng cố niềm tin khoa học
đối với lý tưởng, mục tiêu của CNXH cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, giáo dục và thực hiện
chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân trên cơ sở phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc.
*Vận dụng: Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, để giai cấp cấp công nhân phát huy
sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn hiện nay giai cấp công nhân cần:
-Công nhân Việt Nam chủ động tham gia giải quyết các vấn đề là thu hút sự quan tâm hàng đầu của Việt
Nam nói riêng và thế giới nói chung. Các vấn đề đó có tính thời sự cao như dân số, môi trường, văn hóa,
năng lượng, lương thực,…
-Giai cấp công nhân là lực lượng kiên định bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận
chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị.
-Giai cấp công nhân tham gia đông đảo vào các thành phần kinh tế, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng dân chủ văn minh để phấn đấu.
-Giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, tệ nạn xã
hội, là lực lượng chính trị – xã hội quan trọng trong việc bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự
xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
Câu 4: Phân tích đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam. Giai cấp công nhân Việt Nam cần làm gì
để xây dựng đất nước trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0? Gợi ý -Khái niệm GCCN VN -Đặc điểm của GCCN VN
-Những biến đổi của GCCN VN hiện nay
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao
động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công
nghiệp hoặc xản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
Giai cấp công nhân VN ra đời và pt gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở VN.
Giai cấp công nhân VN mang những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Ra đời trước giai cấp tư sản, vào đầu thế kỷ XX, là giai cấp trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp
và bè lũ tay sai của chúng. GCCN VN pt chậm vì nó sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa, nửa phong
kiến, dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
Trong cuộc đấu tranh trống thực dân tư bản đế quốc và phong kiến để dành lại độc lập chủ quyền, xóa bỏ
ách thống trị và bóc lột thực dân, GCCN đã tự thể hiện mình là một lực lượng chính trị tiên phong để lãnh
đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộc VN với đế quốc thực dân
và phong kiến thống trị, mở đường cho sự pt của dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản. GCCN VN
không chỉ thể hiện đặc tính cách mạng của mình ở ý thức giai cấp và lập trường chính trị mà còn thể hiện
tinh thần dân tộc, GCCN VN gắn bó mật thiết với nhân dân, dân tộc, có truyền thống yêu nước, đoàn kết
và bất khuất chống xâm lược.
GCCN VN gắn bó mật thiết với các tầng lớp nhân dân trong xh. Lợi ích của GCCN và lợi ích dân tộc gắn
chặt với nhau, tạo thành động lực thúc đẩy đoàn kết dân tộc trong mọi thời kỳ đấu tranh cách mạng, từ
cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, trong xây dựng CNXH và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Ngày nay, nhất là trong 35 đổi mới đất nước, những đặc điểm đó của GCCN đã có những biến đổi do tác
động của tình hình kt-xh trong nước và những tác động của tình hình quốc tế và TG. Bản thân GCCN VN
cũng có những biến đổi từ cơ cấu xh- nghề ngiệp, trình độ học vấn và tay nghề bậc thợ, đến đời sống, lối
sống, tâm lý, ý thức. Đội tiên phong của GCCN là Đảng Cộng sản đã có một quá trình trường thành, trở
thành Đảng cầm quyền duy nhất ở VN, đnag nỗ lực tự đổi mưới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiếnđấu của Đảng, làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ.
Những biến đổi đó thể hiện trên những nét chính sau đây:
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đã tăng nhanh về số lượng và chất lượng, là giai cấp đi đầu trong
công sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với pt kt tri thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đa dạng về cơ cấu nghề nghiệp, có mặt trong mọi thành phần kinh
tế nhưng trong đội ngũ công nhân trong khu vực kinh tế nhà nước là tiêu biểu, đóng vai trò nòng cốt, chủ đạo.
Công nhân tri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến và công nhân trẻ được đào tạo nghề theo
chuẩn nghề nghiệp, có học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội là lực
lượng chủ đạo trong cơ cấu GCCN, trong lao động và phong trào công đoàn.
*Vận dụng: Ở nước ta, giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của
mình là Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình đổi mới mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển giai cấp công nhân Việt Nam.
Việc cấu trúc lại nền kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư của nước ngoài,
thành lập doanh nghiệp mới của các thành phần kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và lao động, nhập -
chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế
xuất..., đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động với tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời tạo ra hàng
triệu việc làm mới cho các lao động công nghiệp. Quá trình này đã đưa lại những tích cực rõ rệt, một mặt,
phát triển giai cấp công nhân về số lượng; mặt khác, cũng tạo ra những cơ hội để người công nhân học
hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề.
Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam có những biến chuyển tích cực, cụ thể:
Giai cấp công nhân nước ta phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu thành phần và ngành nghề.
Trong quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã
tạo nên sự chuyển biến trong cơ cấu lực lượng lao động xã hội. Giai cấp công nhân nước ta đang tiếp tục
tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu theo ngành nghề và thành phần kinh tế. Trong đó, số công
nhân trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh và chiếm tỷ
trọng ngày càng lớn. Đồng thời, xuất hiện ngày càng đông bộ phận công nhân làm việc trong các ngành dịch vụ.
Giai cấp công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác phong
và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại.
Quá trình hội nhập quốc tế đã tiếp nhận những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản
xuất, tạo động lực để giai cấp công nhân nước ta ngày càng phát triển cao về trình độ chuyên môn nghề
nghiệp. Hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức (có trình độ cao đẳng, đại học trở lên)
làm công tác quản lý sản xuất kinh doanh, nghiên cứu và quản lý khoa học kỹ thuật gắn với sản xuất kinh
doanh hoặc trực tiếp sản xuất.
Giai cấp công nhân nước ta có nhiều cơ hội việc làm, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện.
CHƯƠNG 3: CNXH THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
Câu 1: Phân tích đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chứng minh những thành tựu
nổi bật về kinh tế, xã hội mà Việt Nam đạt được trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay?
-Quan điểm về thời kỳ quá độ của Marx – Lenin
-Đặc điểm: Kinh tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng và xã hội (Dẫn chứng tới tình hình ở Việt Nam)
-Nêu các thành tựu về kinh tế và xã hội ở VN hiện nay: “Thành tựu của VN sau 35 năm đổi mới”
Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải biến cách mạng từ xã hội tiền tư bản chủ
nghĩa và tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội của thời kì quá độ là xã hội có sự đan xen
của nhiều tàn dư về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần của chủ nghĩa tư bản va những yếu tố
mới mang tính chất xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa xã hội mới phát sinh chưa phải là chủ nghĩa xã hội đã
phát triên trên cơ sở của chính nó.
Đặc điểm cơ bản thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải tạo cách mạng sâu sắc, triệt để xã hội tư
bản chủ nghĩa trên tất cả lĩnh vực, kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội, xây dựng từng bước cơ sở vật chất- kĩ
thuật và đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hội. Đó là thời kì lâu dài, gian khổ bắt đầu từ khi giai cấp
công nhân và nhân dân lao dộng giành được chính quyền đến khi xây dựng thánh công chủ nghĩa xã hội.
Có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH như sau:
-Trên lĩnh vực kinh tế: Thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về phương diện kinh tế,
tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần đối lập. Tương ứng với nước Nga,
V.I. Lênin cho rằng thời kì qua độ tồn tại 5 thành phần kinh tế: Kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hóa, kinh
tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nươc, kinh tế xã hội chủ nghĩa. Còn ở Vn, Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng
ta nhấn mạnh đến 4 thành phần kinh tế sau: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể;
Thành phần kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
-Trên lĩnh vực chính trị: Thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội về phương diện chính trị,
là việc thiết lập, tăng cường chuyên chính vô sản mà thực chất của nó là việc gia cấp công nhân nắm và
sử dụng quyền lực nhà nước trấn áp giai cấp tư sản, tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp.Đây là
sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân với chức năng thực hiện dân chủ đối với nhân dân, tổ
chức xây dựng và bảo vệ chế độ mới, chuyên chính với những thành phần thù địch, chống lại nhân dân; là
tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản đã chiến thắng nhưng chưa phải đã toàn thắng với giai
cấp tư sản đã thất bại nhưng chưa phải thất bại hoàn toàn. Cuộc đấu tranh diễn ra trong điều kiện mới-
xây dựng toàn diện xã hội mới, trọng tâm là xây dựng nhà nước có tính kinh tế, và hình thức mới- cơ bản
là hòa bình tổ chức xây dựng.
-Trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa: Thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại
nhiều tư tưởng khác nhau, chủ yếu là tư tưởng vô sản và tư tưởng tư sản. Giai cấp công nhân thông qua
đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản từng bước xây dựng văn hóa vô sản, nền văn hóa mới xã hội
chủ nghĩa, tiếp thu giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đảm bảo đáp ứng nhu cầu văn
hóa- tinh thần ngày càng tăng của nhân dân.
-Trên lĩnh vực xã hội:Do kết cấu của nền kinh tế nhiều thành phần quy định nên trong thời kì quá độ còn
tồn tại nhiều giai cấp tầng lớp xã hội, tầng lớp và sự khác biệt giữa các giai cấp tầng lớp xã hội, các giai
cấp, tầng lớp vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Trong xã hội của thời kì quá độ còn tồn tại sự khác biệt
giữa nông thôn, thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Bởi vậy thời kì quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về phương diện xã hội là thời kì đấu tranh giai cấp chống áp bức, bất công,
xóa bỏ tệ nạn xã hội và những tàn dư của xã hội cũ để lại, thiết lập công bằng xã hội trên cơ sở thực hiện
nguyên tắc phân phối theo lao động là chủ đạo. *Vận dụng:
Quy
nền kinh tế tăng nhanh
Trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai
đoạn đầu đổi mới (1986
1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991 - 1995, GDP bình quân
đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016 -
2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc dù năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-
19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới.
Qua 35 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên
thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ
và sản phẩm từ gỗ... luôn duy trì ở mức cao. Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng có bước tiến lớn. Đặc
biệt, trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 khiến hoạt động thương mại và đầu tư thế
giới suy giảm, thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2020 vẫn đạt 543,9 tỷ
USD, tăng 5,1% so với năm 2019; xuất siêu 19,1 tỷ USD - cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ
năm 2016. Với kim ngạch xuất nhập khẩu ấn tượng đã đưa Việt Nam xếp thứ 22 thế giới về quy mô kim
ngạch và năng lực xuất khẩu, đứng thứ 26 về quy mô thương mại quốc tế.
Phát triển gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa - hội
Trong suốt quá trình 35 năm đổi mới, việc tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển
văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Tăng trưởng
kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Từ chỗ Nhà nước
bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách
để các thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm; từ chỗ không chấp nhận có sự
phân hóa giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói
giảm nghèo. Công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo
trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010, 7% năm 2015 và còn
dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều).
Bên cạnh đó, công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện. Đến nay,
diện thụ hưởng chính sách an sinh xã hội ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên, đời sống vật chất
và tinh thần của người dân, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
Hội nhập quốc tế sâu rộng, vị thế ngày càng được nâng cao
35 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về
hình thức. Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế; tích cực xây dựng
Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO. Đến nay,
đã có 71 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác
thương mại lớn của Việt Nam. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhận 3 trọng trách: Ủy viên
không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Trong bối cảnh
vô cùng khó khăn của đại dịch Covid-19 và những thiệt hại nặng nề do thiên tai bão lũ... song Việt Nam
đã hoàn thành tốt cả ba trọng trách, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của
Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của
Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn
Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng
đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Câu 2:Phân tích đặc điểm quá độ lên chủ nghĩa hội Việt Nam. Trách nhiệm của sinh viên trong việc
góp phần xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?
-Quan điểm về thời kỳ quá độ của Marx – Lenin giống câu 1
-Đặc điểm (tình hình) của VN khi xây dựng CNXH
-Quan điểm của Đảng Cộng sản VN về thời kỳ quá độ ở Đại hội IX
-Phân tích quan điểm với 4 ý chính
-“Vai trò của thanh niên VN đối với sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”
Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa thuận lợi vừa khó khăn đan xen, có những đặc trưng cơ bản:
Xuất phát từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua
chiến tranh ác liệt , kéo dài nửa thập kỉ, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến
còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập
dân tộc của nhân dân ta.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút các nước ở mức độ
khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng
lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển
nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt.
Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cho dù chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau
cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh
của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó
khăn, thách thức, song theo quy tuật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng, khoa học, phản
ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng VN trong thời đại ngày nay.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, như Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định: Con đường đi lên củai nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản
chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Đây là tư tưởng mới, phản ánh nhận thức mới, tư duy mới của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng này cần được hiểu đầy đủ với những nội dung sau đây:
Thứ nhất, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường cách mạng tất yếu
khách quan, con đường xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thứ hai, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí
thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là trong thời
kỳ quá độ còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, song sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và
thành phần kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa không chiếm vai trò chủ đạo; thời kỳ quá độ còn nhiều hình
thức phân phối, ngoài phân phối theo lao động vẫn là chủ đạo còn phân phối theo mức độ đóng góp và
quỹ phúc lợi xã hội; thời kì quá độ vẫn còn quan hệ bóc lột và bị bóc lột, song quan hệ bóc lột tư bản chủ
nghĩa không giữ vai trò thống trị.
Thứ ba, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải tiếp thu, kế thừa những
thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là những thành tựu về khoa học và
công nghệ, thành tựu về quản lý để phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội, đặc biệt là xây dựng nền
kinh tế hiện đại, phát triển nhanh lực lượng sản xuất.
Thứ tư, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là tạo ra sự biến đổi về chất của xã
hội trên tất cả các lĩnh vực, là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình
thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị cao và khát vọng lớn
của toàn Đảng, toàn dân.
*Vận dụng: “Vai trò của thanh niên VN đối với sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”
Tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành,
sạch đẹp; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Tích cực tham gia phòng, chống ô nhiễm môi trường và
ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, tay nghề để
thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng và nhân rộng được nhiều cá nhân
Phát huy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, phát huy tính tích cực chính trị của thanh
niên để họ quan tâm các vấn đề, các sự kiện chính trị của đất nước.
Rèn luyện các kỹ năng xã hội, tham gia xây dựng đời sống vh; tham gia giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, văn thể mỹ, phát triển thể lực; phát huy tính tích cực xã hội của thanh niên; sống trung thực trách
nhiệm, xây dựng gia đình hạnh phúc; tham gia giám sát phản biện xã hội
Xung kích đi đầu trong sự nghiệp pt kt-xh, bảo đảm quốc phòng – an ninh. Tích cực tham gia các chương
trình, dự án pt kt- xh hội của địa phương; tự nguyện tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các
hoạt động bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội.
Câu 3:Phân tích điều kiện ra đời chủ nghĩa xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua thời kỳ tư bản
chủ nghĩa có phù hợp với điều kiện ra đời của chủ nghĩa xã hội không? Vì sao?
-Quan điểm về CNXH dựa trên 4 cách tiếp cận (CNXH được hiểu với 4 nghĩa)
-Phân
tích điều kiện kinh tế điều kiện chính trị hộiVai trò của CNTB đối với sự ra đời của CNXH
-Phù
hợp. Giải thích do:
+Sau
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Việt Nam bước vào cách mạng hội chủ nghĩa đến nay
đã bước phát triển vượt bậc về lực lượng sản xuất nền kt phát triển không đi qua thời kỳ
TBCN (chứng minh bằng thành tựu kinh tế VN).
+Có
sự giúp đỡ từ các nước tiến bộ.
+Chính
quyền được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN ra đời từ năm 1930, kinh nghiệm dày
dặn trong quá trình lãnh đạo đất nước.
+Sự
tin tưởng của nhân dân vào chế độ XHCN
Chủ nghĩa xã hội được tiếp cận từ các góc độ sau đây:
là phong trào thực tiễn, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chống lại áp bức, bất công, chống các giai cấp thống trị;
là trào lưu tư tưởng, lý luận phản ánh lý tưởng giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, bất công;
là một khoa học - Chủ nghĩa xã hội khoa học, khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân;
là một chế độ xã hội tốt đẹp, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa.
V.I.Lênin cho rằn: C.Mác xuất phát từ chỗ là chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa tư bản, phát
triển lên từ chủ nghĩa tư bản là kết quả tác động của một lực lượng xã hội do chủ nghĩa tư bản sinh ra –
giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại. Sự ra đời của CNXH theo chủ nghĩa mac-lênin có hai điều kiện chủ yếu sau đây
Điều kiện kinh tế: sự ra đời của chủ nghãi tư bản là một giai đoạn mới trong lịch sự phát triển mới của
nhân loại. Nhờ những bước tiến to lớn của lực lượng sản xuất, biểu hiện tập trung nhất là sự ra đời của
công nghiệp cơ khí (Cách mạng công nghiệp lần thứ 2), chủ nghĩa tư bản đã tạo ra bước phát triển vượt
bậc của lực lượng sản xuất. Trong vòng chưa đầy một thế kỷ, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra được một lực
lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất mà nhân loại tạo ra đến lúc đó. Tuy nhiên,
trong xã hội tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất càng được cơ khí hóa, hiện đại hóa càng mang tính xã
hội hóa cao, thì càng mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa. Quan hệ sản xuất từ chỗ đóng vai trò mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, thì
ngày càng trở nên lõi thời, xiềng xích của lực lượng sản xuất.
Điều kiện chính trị- xh:Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất trở thành mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản,
biểu hiện về mặt xã hội là mẫu thuần giữa giai cấp công nhân hiện đại và giai cấp tư sản lỗi thời. Cuộc
đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản xuất hiện ngay từ đầu và ngày càng trở nên gay gắt
có tính chính trị rõ nét. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực
lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó
bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng”.
Hơn nữa cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền đại công nghiệp cơ khí là sự trưởng thành vượt bậc cả về
số lượng và chất lượng giai cấp công nhân, con để của nền đại công nghiệp. Chính sự phát triển về lực
lượng sản xuất và sự trưởng thành của giai cấp công nhân là tiền đề kinh tế - xã hội dẫn tới sự sụp đổ
không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản.. Sự trưởng thành vượt bậc và thực sự của giai cấp công nhân được
đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng cộng sản, đội tiền phong của giai cấp công nhận, trực tiếp lãnh đạo
cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuấ và sự trưởng thành thực sự của giai cấp công nhân là tiền đề,
điều kiện cho sự ra đợi của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tuy nhiên, do khác nhau về bản
chất với tất cả các hình thái kinh tê – xã hội trước đó, nên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
không tự nhiên ra đời, trái lại, nó chỉ được hình thành thông qua cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của
đảng của giai cấp công nhân – Đảng Cộng sản, thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản, trên thực tế được thực hiện bằng con đường bạo lực cách mạng nhằm lật đổ chế độ tư
bản chủ nghĩa, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, thực hiện sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã
hội mưới, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Do tính sâu sắc và triệt để của nó, cách mạng vô sản chỉ có thể thành công, hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa chỉ có thể được thiết lập và phát triển trên cơ sở của chính nó, một khi tính tích cực chính trị
của giai cấp công nhân được khơi dậy và phát huy trong liên minh với các giai cấp và tầng lớp những
người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Câu 4:Phân tích đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Chứng minh đặc trưng quan hệ hữu nghị
hợp tác với các nước trên thế giới bằng những thành tựu đối ngoại ở VN.
-Quan điểm về CNXH dựa trên 4 cách tiếp cận (CNXH được hiểu với 4 nghĩa) giống cấu 3
-Phân tích 6 đặc trưng.
-Những thành tựu trong công tác đối ngoại ở VN
Khi nghiên cứu về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa
học rất quan tâm dự báo những đặc trưng của từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn đầu (giai đoạn thấp)
của xã hội cộng sản nhằm định hướng phát triển cho phong trào công nhân quốc tế. Những đặc trưng cơ
bản của giai đoạn đầu, phản ánh bản chất và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội từng bước được bộc lộ đầy
đủ cùng với quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa. Căn cứ vào những dự báo của C.Mác và Ph.Ăngghen và
những quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô – viết, có thể khái quát những đặc
trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:
Một là, chủ nghĩa hôi giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng hội, giải phóng con
người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện.
Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa so với các hình thái kinh tế -
xã hội thời trước, thể hiện ở bản chất nhân văn, nhân đạo, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã
hội, giải phóng con người. Đương nhiên, để đạt được mục tiêu tổng quát đó C.Mác và Ph.Ăngghen cho
rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa phải tiến hành triệt để, trước hết là giải phóng giai cấp, xóa bỏ tình
trạng giai cấp này bốc lột, áp bức giai cấp kia, và một khi tình trạng người áp bức, bốc lột người bị xóa bỏ
thì tình trạng dân tộc này đi bốc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”.
V.I.Lênin cũng khẳng định mục đích cao nhất của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia xã
hội thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình
trạng người bốc lột người. V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai
cấp công nhân, chính Đảng cộng sản phảo hoàn thành nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã
hội – tạo ra các điều kiện về cơ sở vật chất – kỹ thuật và đời sống tinh thần để thiết lập xã hội cộng sản.
Hai là, chủ nghĩa hội hội do nhân dân lao động làm chủ.
Đây là đặc trưng thể hiện thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội, xã hội vì con người và do con người;
nhân dân mà nòng cốt là nhân dân lao động là chủ thể của xã hội thực hiện quyền làm chủ ngày càng rộng
rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ chính
trị dân chủ, nhà nước xã hội chủ nghĩa với hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức ngày càng ngày càng
hoàn thiện sẽ quản lý xã hội ngày một hiệu quả.
Ba là, chủ nghĩa hội nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện tại chế độ công
hữu về liệu sản xuất chủ yếu.
Đây là đặc trưng về phương tiện kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là
giải phóng con người trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, mà xét đến cùng là trình độ phát
triển cao của lực lượng sản xuất.Chủ nghĩa xã hội là xã hội có nền kinh tế phất triển cao, với lực lượng sx
hiện đại, quan hệ sx dựa trên chế độ conng hữu về tư liệu sx,được tổ chức,quản lí có hiệu quả,năng suất
lao động cao và phân phối chủ yếu theo lao động. Cùng với việc từng bước xác lập chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất, để nâng cao năng suất lao động cần phải tổ chức lao động theo một trình độ cao hơn, tổ chức
chặt chẽ và kỷ luật lao động nghiêm, nghĩa là phải tạo ra quan hệ sản xuất tiến bộ, thích ứng với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất
Bốn là, chủ nghĩa hội nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp nhân, đại biểu cho lợi ích,
quyền lực ý chỉ của nhân dân lao động.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã khăng định trong chủ nghĩa xã hội phải thiết lập nhà nước
chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích,
quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Theo V.l.Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành
được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư nhân. Chính quyền đó chính là nhà nước kiểu mới thực
hiện dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, thực
chất của sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản2.
Nhà nước chuyên chính vô sản đồng thời coi việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến
thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu -
chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản.
Năm là, chủ nghĩa hội nển văn hóa phát triển cao, kể thừa phát này những giá trị của văn hóa
dân tộc tinh hoa văn nhân loại.
Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu,động lực của phát triển xã hội,
trọng tâm là phát triển kinh tế; văn hóa đã hun đúc nên tâm hôn, khí phách, bản lĩnh con người, biến con
người thành con người chân,thiện mỹ.Do vậy, quá trình xây dựng nên văn hóa xã hội chủ nghĩa phải biết
kế thừa những giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn nhân loại, đồng thời, cần chống tư tưởng, văn hóa
phi vô sân, trái với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của loài người, trái với phương
hướng đi lên chủ nghĩa.
Thứ sáu, chứ nghĩa xã hội bảo đảm bình đằng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hữu nghị, hợp tác
với nhân dân các nước trên thế giới.
trong chủ nghĩa xã hội, cộng đồng dân tộc, giai cấp bình đẳng, đoàn kết và hợp tác trên cơ sở cơ sở chính
trị - pháp lý, đặc biệt là cơ sở kinh tế - xã hội và văn hóa sẽ từng bước xây dựng củng cố và phát triển.
Đây là sự khác biệt căn bản về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
và quan điểm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi hoặc chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. V.I.Lênin
khẳng định: “… chỉ có chế độ xô – viết là chế độ có thể thật sự đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân
tộc, bằng cách thực hiện trước hết sự đoàn kết tất cả những người vô sản, rồi đến toàn thể quần chúng lao
động, trong việc đấu tranh chống giai cấp tư sản”.
Chủ nghĩa xã hội, với bản chất tốt đẹp do con người, vì con người luôn là bảo đảm cho các dân tộc bình
đẳng, đoàn kết và hợp tác hữu nghị; đồng thời có quan hệ với nhân dân tất cả các nước trên thế giới, điều
kiện chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
*Vận dụng:Về ngoại giao chính trị, ngành Ngoại giao Việt Nam đã tích cực thúc đẩy mối quan hệ song
phương và đa phương giữa Việt Nam với các đối tác, góp phần củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc
tế. Mối quan hệ song phương giữa Việt Nam với các đối tác đang ngày càng sâu sắc và thực chất hơn, mở
đường cho những cơ hội hợp tác sâu rộng hơn trên nhiều lĩnh vực.
Về ngoại giao kinh tế, ngành Ngoại giao Việt Nam đã chủ động đóng góp tích cực trong quá trình ký kết
và thực thi các hiệp định thương mại tự do, góp phần giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường và sản phẩm,
đưa hàng hóa Việt Nam ra thế giới.
Về ngoại giao văn hóa. Các cơ quan đại diện Việt Nam đã tích cực phối hợp với các đơn vị trong nước
cũng như chính quyền, người dân sở tại để tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao văn hóa với sự đa dạng về
nội dung, hình thức, góp phần giới thiệu, quảng bá hiệu quả về đường lối, chính sách, tiềm năng, thế mạnh
cũng như về lịch sử, vẻ đẹp văn hóa, đất nước và con người Việt Nam.
Nhờ vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài và các cơ quan trong
nước, công tác bảo hộ công dân tại nước ngoài thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Cụ thể,
thời gian qua, trước thông tin về việc người lao động Việt Nam tại một số quốc gia bị bóc lột, phải làm
việc trong điều kiện không đáp ứng an toàn, các cơ quan đại diện Việt Nam đã chủ động xác minh các sự
việc và liên hệ với các cơ quan chức năng để có hành động cần thiết bảo vệ và bảo đảm quyền lợi của
người lao động Việt Nam.
Câu 5: Phân tích những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sinh viên VN cần phải làm
gì để góp phần xây dựng CNXH ở VN hiện nay.
-Tầm quan trọng của xây dựng CNXH ở VN (có thể thay thế bằng 4 cách hiểu về CNXH) => giống ý 3
-Quá trình nhận thức về CNXH của Đảng Cộng sản VN (Đại hội IV, Đại hội VII, Đại hội XI) - được thể
hiện trong các văn kiện nào
-Các đặc trưng bản chất của CNXH ở VN (8 đặc trưng) -Giống vận dụng câu b
Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mac - Lênin vào điền kiện cụ thể của Việt Nam, tổng kết thực
tiễn quá trình cách mạng Việt Nam, nhất là qua hơn 35 năm đổi mới, nhận thức của Đảng và nhân dân ta
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng rõ. Đại hội IV (1976), nhận
thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển của cách mạng nước ta mới dừng ở mức độ
định hướng. Đến Đại hội VII, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa đã sáng tỏ hơn, không chỉ dừng ở nhận thức định hướng, định tính mà từng bước đạt tới
trình độ định hình, định lượng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(1991), đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta với sáu đặc trưng: 1) Do nhân dân lao động làm
chủ; 2) Có một nền kt pt cao dựa trên lực lượng sx hiện đạivà chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ
yếu; 3) Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 4) Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc
lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no,tự do, hạnh phúc, có đk pt toàn
diện cá nhân; 5) Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; 6) Có quan
hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên TG. Đến Đại hội XI, trên cơ sở tổng kết 25 năm
đổi mới, nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã có bước phát
triển mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011) đã phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với tám đặc trưng cơ bản, trong đó có đặc
trưng về mục tiêu, bản chất, nội dung của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, đó là:
Một là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hai là: Do nhân dân làm chủ.
Ba là: Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù
hợp. Bốn là: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Năm là: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
Sáu là: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.
Bảy là: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng
sản lãnh đạo. Tám là: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới1.
*Vận dụng: giống câu 2
CHƯƠNG 4: DÂN CHỦ XHCN NHÀ NƯỚC XHCN
Phân tích bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những hành tựu Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt
Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa?
-Khái quát quá trình ra đời và phát triển của nền dân chủ XHCN (2 sự kiện: Công xã Paris 1871 và Cách
mạng tháng 10 Nga năm 1917) ⇒ Khái niệm dân chủ XHCN
-Bản chất (Chính trị, kinh tế, văn hóa - tư tưởng) -Nêu thành tựu ở VN:
+Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
+Người dân được cầm lá phiếu bầu cử cho những đại biểu mình tin tưởng trong các kỳ bầu cử.
+Người dân ngày càng tham gia tích cực hơn vào quá trình quản lý và xây dựng đất nước. ...v...v...
Phân tích bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Sv cần phải làm để góp phần xây dựng thành
công nhà nước XHCN VN trong thời đại hiện nay?
-Điều kiện ra đời của Nhà nước XHCN, khái niệm Nhà nước XHCN.
-Bản chất nhà nước (Kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng)
-“Vai trò của thanh niên VN đối với sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”
Anh (chị) hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Theo anh (chị) hiểu rõ và thực hiện đúng quy định của pháp luật có ý nghĩa như thế nào trong thực
hiện quyền dân chủ của bản thân? -Khái niệm dân chủ XHCN
-Khái niệm Nhà nước XHCN -Mối quan hệ -Gợi ý:
+Hiểu được quyền và nghĩa vụ của bản thân
+Biết được giới hạn quyền lực của bản thân ở đâu
+Giúp tỉnh táo trước những âm mưu kích động nhân dân chống phá đất nước dưới con bài dân chủ
+Nhận thức được và lên án những hành vi vi phạm dân chủ và xuyên tạc dân chủ .......
Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam. Những thành tựu ĐCSVN đã đạt
được trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở VN.
-Sự ra đời và phát triển của nền dân chủ XHCN ở VN (1945, 1986)
-Quan điểm của HCM về dân chủ
-6 Nội dung dân chủ XHCN ở VN. Dân chủ gián tiếp, dân chủ trực tiếp (cho ví dụ dẫn chứng). -Giống vận dụng câu a
Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò của bản thân sinh viên trong
việc phát huy dân chủ XHCN ở VN
Phân tích đặc điểm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sinh viên cần phải làm để góp
phần hoàn thiện nhà nước pháp quyền VN?
-Quan điểm về Nhà nước Pháp quyền
-Đặc điểm (6 đặc điểm)
CHƯƠNG 4: DÂN CHỦ XHCN NHÀ NƯỚC XHCN
A)
Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa. Những hành tựu Đảng, Nhà nước nhân
dân Việt Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa?
*QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành và phát triển các nền dân chủ trong lịch sử và trực tiếp
nhất là nền dân chủ tư sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, đấu tranh cho dân chủ là
một quá trình lâu dài, phức tạp và giá trị của nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó chính là
nền dân chủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được phôi phai từ thực tiễn đấu tranh giai cấp ở Pháp và Công xã Pari 1871,
tuy nhiên, chỉ đến khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công với sự ra đời của nhà nước xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới (1917), nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập. Sự ra đời
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu sự phát triển mới về chất của dân chủ. Quá trình phát triển của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Trong đó, có sự
thừa kế những giá trị của nền dân chủ trước đó, đồng thời bổ sung và làm sâu sắc thêm những giá trị của nền dân chủ mới.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin; Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nếu
họ không thực hiện cuộc đấu tranh cho dân chủ. Rằng chủ nghĩa xã hội không thể duy trì và thắng lợi, nếu
không thực hiện đầy đủ dân chủ.
Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ
giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản
lý xã hội. Càng hoàn thiện bao nhiêu, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực
chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không
ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền của nhân dân, tạo điều kiện để họ
tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội… để đến
lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.
Với tất cả những đặc trưng đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân
chủ tư sản, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ
và pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
*BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa có bản chất cơ bản:
Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công nhân (đảng Mác - Lênin)
mà trên mọi lĩnh vực xã hội đều thực hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện các quyền dân chủ, làm chủ,
quyền con người, thỏa mãn ngày càng cao hơn các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự lãnh đạo chính trị
của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đối với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện
quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, mà chủ yếu là để thực hiện quyền lực và lợi ích của
toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo - yếu
tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, đảng Cộng sản đại biểu cho trí tuệ,
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất
chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa
học – công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động
Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và
nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác – Lênin về quản nền dân chủ xã chủ
nghĩa dù khác về bản chất kinh tế của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nhưng cũng như toàn
bộ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nó không hình thành từ “hư vô” theo mong muốn của bất kỳ ai. Kinh tế
xã hội chủ nghĩa cũng là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng
thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực,kìm hãm... của các chế độ kinh tế trước đó, hướng dẫn, giúp
đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Khác với nền dân chủ tư sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực hiện chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu
Bản chất tư tưởng – văn hóa – xã hội: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác – Lênin - hệ tư
tưởng giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Trong
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và lợi ích của toàn xã
hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã hội
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và lợi ích toàn
xã hội .Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã
hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Nhà nước nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu trong quá trình xây dựng nền dân
chủ hội chủ nghĩa tiêu biểu như sau:
Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể, số doanh
nghiệp ngoài Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng tăng từ 69 công ty trong năm 2010 lên 777
công ty vào năm 2019. Đối với lĩnh vực môi trường, số doanh nghiệp tư nhân từ 693 công ty trong năm
2010 đã tăng đến 2.713 công ty vào năm 2019.
Người dân được cầm lá phiếu bầu cử cho những đại biểu mình tin tưởng trong các kỳ bầu cử. Theo quy
định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18
tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp. Quyền bầu cử và ứng cử là của công dân, là quyền được hiến định và việc thực hiện các quyền này
phải theo quy định của pháp luật.
Người dân ngày càng tham gia tích cực hơn vào quá trình quản lý và xây dựng đất nước. Như dân chủ đại
diện nhấn mạnh việc người dân thông qua bầu cử để hình thành nên cơ quan đại diện và người đại diện để
thực thi chức năng quản lý xã hội;người dân thông qua hộp thư điện tử, điện thoại, bảng hỏi, mạng
internet, cổng thông tin điện tử, trao đổi trực tiếp với chính phủ để tìm hiểu, nắm bắt thái độ và quan điểm
của người dân đối với các vấn đề liên quan đến chính sách cũng như ý kiến, kiến nghị của người dân đối
với chất lượng phục vụ công ở địa phương. Phương thức này còn được sử dụng để tìm hiểu và nắm bắt ý
kiến của người dân đối với chất lượng cuộc sống của người dân ở khu dân cư cũng như mức độ hài lòng
của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; sự tham gia của người dân góp phần
tăng cường sự ủng hộ và niềm tin của người dân đối với các cơ quan hành chính nhà nước bởi nó làm tăng
lên độ công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
B. Phân tích bản chất của nhà nước hội chủ nghĩa. Sv cần phải làm để góp phần xây dựng
thành công nhà nước XHCN VN trong thời đại hiện nay?
ĐIỀU
KIỆN RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC XHCN, KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC XHCN:
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành và phát triển các nền dân chủ trong lịch sử và trực tiếp
nhất là nền dân chủ tư sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, đấu tranh cho dân chủ là
một quá trình lâu dài, phức tạp và giá trị của nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó chính là
nền dân chủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được phôi phai từ thực tiễn đấu tranh giai cấp ở Pháp và Công xã Pari 1871,
tuy nhiên, chỉ đến khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công với sự ra đời của nhà nước xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới (1917), nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập. Sự ra đời
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu sự phát triển mới về chất của dân chủ. Quá trình phát triển của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Trong đó, có sự
thừa kế những giá trị của nền dân chủ trước đó, đồng thời bổ sung và làm sâu sắc thêm những giá trị của nền dân chủ mới.
dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ tư sản, là nền dân chủ mà ở
đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống
nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
*BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA
Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa có bản chất cơ bản:
Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công nhân (đảng Mác - Lênin)
mà trên mọi lĩnh vực xã hội đều thực hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện các quyền dân chủ, làm chủ,
quyền con người, thỏa mãn ngày càng cao hơn các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự lãnh đạo chính trị
của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đối với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện
quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, mà chủ yếu là để thực hiện quyền lực và lợi ích của
toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo - yếu
tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, đảng Cộng sản đại biểu cho trí tuệ,
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất
chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa
học – công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động
Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và
nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác – Lênin về quản nền dân chủ xã chủ
nghĩa dù khác về bản chất kinh tế của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nhưng cũng như toàn
bộ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nó không hình thành từ “hư vô” theo mong muốn của bất kỳ ai. Kinh tế
xã hội chủ nghĩa cũng là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng
thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực,kìm hãm... của các chế độ kinh tế trước đó, hướng dẫn, giúp
đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Khác với nền dân chủ tư sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực hiện chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu.
Bản chất tư tưởng – văn hóa – xã hội: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác – Lênin - hệ tư
tưởng giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Trong
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và lợi ích của toàn xã
hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã hội
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và lợi ích toàn
xã hội .Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã
hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
BẢO VỆ TỔ QUỐC
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Thanh niên là rường cột nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước,
đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên", khẳng định vai trò của thanh niên vô cùng to lớn và bao
trùm rất nhiều lĩnh vực. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp, các
ngành cần phát huy tốt vai trò của thanh niên; Đồng thời, thanh niên cũng cần tiếp tục tự khẳng định mình
thực sự là lực lượng xung kích, sáng tạo trong đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đại bộ phận thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng; trung thành, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nêu cao tinh thần yêu
nước, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bên cạnh đó, thanh niên luôn có
khát vọng, ý chí vươn lên, có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, vì cộng đồng và lợi ích
quốc gia nên đã luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ, xung kích hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao.
Những việc làm và hoạt động của thanh niên được thể hiện rõ nhất ở các phong trào hành động Cách
mạng, các chương trình hành động, tiêu biểu, như: “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”;
Cuộc vận động “Nghĩa tình biên giới hải đảo”, với các hoạt động như: “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo
quê hương”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Góp đá xây Trường Sa”… đã để lại những dấu ấn
sâu đậm trong lòng thế hệ trẻ và nhân dân cả nước; góp phần làm thay đổi thái độ và nhận thức chính trị của thanh niên.
Qua đó ta thấy được vai trò của thanh niên Việt nam đối với sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo bộ Tổ
quốc là vô vùng quan trọng. Để thực hiện tốt vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
hơn, thanh niên VN cần thanh niên Việt Nam cần:
Phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc; xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc
đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ; đảm nhận công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc yêu cầu.
Đấu tranh với các âm mưu, hoạt động gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện nghĩa vụ công dân.
Tham gia giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh quốc gia.
Chủ động đề xuất ý tưởng, sáng kiến trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
Tích cực tham gia tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.
Xây dựng các mô hình sản xuất, kinh doanh tạo việc làm; tham gia bảo vệ môi trường và các hoạt động vì
lợi ích của cộng đồng, xã hội.
Tích cực tham gia hoạt động chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.
c. Anh (chị) hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ hội chủ nghĩa nhà nước
hội chủ nghĩa. Theo anh (chị) hiểu thực hiện đúng quy định của pháp luật ý nghĩa như thế
nào trong thực hiện quyền dân chủ của bản thân?
- Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ có trong lịch sử nhân loại,
là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lịch thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp
luật nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mà ở đó, sự thống trị chính trị thuộc về giai cấp công
nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội,
đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội trong một xã hội phát
triển cao – xã hội xã hội chủ nghĩa.
=> Dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Thứ nhất, dân chủ XHCN là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng và hoạt động của nhà nước XHCN
+ Trong XHCN, người dân mới có đầy đủ các điều kiện cho việc thực hiện ý chí của mình thông qua việc
lựa chọn công bằng, bình đẳng những người đại diện cho quyền lợi chính đáng của mình vào bộ máy nhà nước.
+ Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động quản lý nhà nước.
+ Phát huy tốt sức mạnh trí tuệ của nhân dân cho hoạt động của nhà nước.
=> Với những tính ưu việt đó, nền dân chủ XHCN sẽ kiểm soát 1 cách có hiệu quả quyền lực của nhà
nước, ngăn chặn được sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Ngược lại nếu các nguyên tắc bị vi phạm thì
việc xây dựng nhà nước XHCN cũng sẽ không thực hiện được.
Thứ hai, Nhà nước XHCN trở thành công cụ quan trọng cho việc thực thi quyền làm chủ của người dân.
+ Bằng việc thể chế hóa ý chí của nhân dân thành các hành lang pháp lý, phân định rõ quyền và trách
nhiệm của mỗi công dân, là cơ sở để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời ngăn chặn
hiệu quả các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của dân.
+ Con đường và phát triển nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện, lôi cuốn đông đảo nhân dân
tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Thông qua hoạt động này, nguồn lực xã hội được tập hợp, tổ chức
và phát huy hướng đến lợi ích của nhân dân. Ngược lại, nếu nhà nước XHCN đánh mất bản chất của mình
sẽ dẫn đến việc xâm phạm quyền làm chủ của người dân.
Nhà nước có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện những yêu cầu dân chủ
chân chính của nhân dân. Là công cụ sắc bén nhất trong cuộc đấu tranh với mọi mưu đồ đi ngược lại với
lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy Đảng ta đã xem nhà nước là trụ cột của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
-Ý nghĩa của việc hiểu rõ và thực hiện đúng quy định của pháp luật trong thực hiện quyền dân chủ của bản thân:
+ Hiểu được quyền và nghĩa vụ của bản thân
+ Biết được giới hạn quyền lực của bản thân ở đâu
+ Giúp tỉnh táo trước những âm mưu kích động nhân dân chống phá đất nước dưới những con bài dân chủ
+ Nhận thức được và lên án những hành vi vi phạm dân chủ và xuyên tạc dân chủ
d. Phân tích bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam. Những thành tựu ĐCSVN đã
đạt được trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN Việt Nam.
-Sự ra đời của nền dân chủ XHCN: Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành và phát triển các nền
dân chủ trong lịch sử và trực tiếp nhất là nền dân chủ tư sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lenin cho
rằng, dấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài, phức tạp và giá trị của nền dân chủ tư sản chưa phải
là hoàn thiện nhất, do đó tất yếu xuất hiện một nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó là nền
dân chủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
-Chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta được xác lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đến năm 1976,
tên nước được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng trong các văn kiện Đảng hầu như
chưa sử dụng cụm từ “dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà thường nêu quan điểm “xây dựng chế độ làm chủ tập
thể xã hội chủ nghĩa” gắn với “nắm vững chuyên chính vô sản”. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa
cũng như mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa
được xác định rõ ràng. Việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thực hiện dân chủ trong
thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức của xã
hội Việt Nam, gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa được đặt ra một cách cụ thể,
thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ xã hội chủ nghĩa như dân sinh, dân trí, dân
quyền... chưa được đặt đúng vị trí và giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó nhấn mạnh phát
huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân lao động”; Bài học “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng.
Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu, nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật
sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”.
-Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ:
Dân chủ là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa (dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh).
Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa (do nhân dân làm chủ, quyền lực thuộc về nhân dân).
Dân chủ là động lực xây dựng chủa nghĩa xã hội (phát huy sức mạnh của nhân dân, của toàn dân tộc).
Dân chủ gắn với pháp luật (phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương).
Dân chủ phải được thực hiện trong đời sống thực tiễn ở tất cả các cấp, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội về
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
-Bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp.
+ Hình thức dân chủ gián tiếp là hình thức dân chủ đại diện, được thực hiện do nhân dân “ủy quyền”, giao
quyền lực của mình cho tổ chức mà nhân dân trực tiếp bầu ra. Những con người và tổ chức ấy đại diện
cho nhân dân, thực hiện quyền làm chủ cho nhân dân. Nhân dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất hoạt động theo nhiệm kỳ 5 năm. Quyền lực nhà nước ta là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Vd: Trưởng thôn ý kiến lên cấp xã xin phí 80% tiền bê tông để đổ đường cho người dân trong thôn.
+Hình thức dân chủ trực tiếp là hình thức thông qua đó, nhân dân bằng hành động trực tiếp của mình thực
hiện quyền làm chủ nhà nước và xã hội. Hình thức đó thể hiện ở các quyền được thông tin về hoạt động
của nhà nước, được bàn bạc về công việc của nhà nước và cộng đồng dân cư; được bàn đến những quyết
định về dân chủ cơ sở, nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước từ Trung ương cho
đến cơ sở. Dân chủ ngày càng được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã hội, trở thành quy chế, cách
thức làm việc của mọi tổ chức trong xã hội.
Vd: Tất cả công dân đủ điều kiện trực tiếp đi bỏ phiếu bầu ra ban lãnh đạo Hội đồng nhân dân các cấp.
-Những thành tựu ĐCSVN đạt được trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam:
+ ĐCS lãnh đạo quần chúng nhân dân kiên cường dấu tranh vượt qua những khó khan, gian khổ.
+ Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
+Nhân dân thực sự làm chủ, tự xây dựng, tổ chức, quản lý xã hội.
+Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; phát huy tích cực, sáng tạo
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
f. Phân tích đặc điểm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sinh viên cần phải làm gì để góp
phần hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở VN?
Theo quan niệm chung, nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật, nhà nước hướng tới
những vấn đề về phúc lợi cho mọi người, tạo điều kiện cho cá nhân được tự do, bình đẳng, phát huy hết
năng lực của chính mình. Trong hoạt động của nhà nước được phân quyền rõ ràng và được mọi người
chấp nhận trên nguyên tắc bình đẳng của các thế lực, giai cấp và tầng lớp trong xã hội.Nhà nước pháp
quyền được hiểu là một kiểu nhà nước mà ở đó, tất cả mọi công dân đều được giáo dục pháp luật và phải
hiểu biết pháp luật, tuân thủ pháp luật, pháp luật phải đảm bảo tính nghiêm minh; trong hoạt động của các
cơ quan nhà nước; phải có sự phân công, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau, tất cả vì mục tiêu phục vụ nhân dân.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
đưa ra những nội dung khái quát về xây dựng nhà nước pháp quyền: đề cao vai trò tối thượng của Hiến
pháp và pháp luật; đề cao quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền con người; tổ chức bộ máy
vừa đảm bảo tập trung, thống nhất, vừa có sự phân công giữa các nhánh quyền lực, phân cấp quyền hạn
và trách nhiệm giữa các giai cấp chính quyền nhằm đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, tránh lạm
quyền. Nhà nước có mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến
của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ
quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công nhân. Tổ chức và
hoạt động của bộ máy quản lí nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có phân
công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương.
Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, có thể thấy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, đó là nhà nước của nhân dân, do dân, vì dân.
Thứ hai, Nhà nước được tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật. Trong tất cả các
hoạt động của xã hội, pháp luật được đặt ở vị trí tối thượng để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Thứ ba, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, có cơ chế phối hợp nhịp nhành và
kiểm soát giữa các cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở VN phải do Đảng Cộng sản VN lãnh đạo, phù hợp với
Điều 4 Hiến pháp năm 2013. Hoạt động của nhà nước được giám sát bởi nhân dân với phương châm: “
Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ” thông qua các tổ chức cá nhân ủy nhiệm.
Thứ năm, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở VN tôn trọng quyền con người, con người là chủ thể,
là trung tâm của sự phát triển. Quyền dân chủ của nhân dân được thực hành một cách rộng rãi; “ Nhân dân
có quyền bầu vã bãi miễn những đại biểu không xứng đáng”; đồng thời tăng cường thực hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Thứ sáu, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tạp trung dân chủ, có sự phân công ,
phân cấp, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, nhưng bảo đảm quyền lực là thống nhất và sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương.
Như vậy, những đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN đang xây dựng đã thể hiện được
các tinh thần cơ bản của một nhà nước pháp quyền nói chung. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện sự khác biệt
so với các nhà nước pháp quyền khác. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN mang bản chất giai cấp
công nhân, phục vụ lợi ích cho nhân dân;nhà nước là công cụ chủ yếu để Đảng Cộng sản VN định hướng
đi lên chủ nghĩa xã hội Vận dụng
+ Gương mẫu thực hiện và tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước.
+ Tích cực tham gia các hoạt động: xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền, giữ gìn trật tự…
+ Phê phán, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật
+Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá các thế lực thù địch.
CHƯƠNG 5: CẤU XH-GIAI CẤP LIÊN MINH GIAI CẤP, TẦNG LỚP TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
Phân tích nội dung của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội Việt
Nam. Sinh viên có thể làm gì để củng cố cơ cấu xã hội - giai cấp ở VN? Đáp án
Quan điểm về liên minh giai cấp - tầng lớp của Marx - Lenin (tầm quan trọng của liên minh)
Nội dung liên minh ở VN (Kinh tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng)
Gợi ý vận dụng: Luôn có ý thức giữ gìn đoàn kết trong tập thể, trong lớp học; Luôn đặt mình trong tập thể,
phải tôn trọng nguyên tắc chung, không chia bè kéo phái để làm rối loạn gây mất đoàn kết nội bộ; Phê
phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân;.....
Phân tích nội dung của liên minh, giai cấp tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Trách
nhiệm của thế hệ trẻ trong việc phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với công cuộc xây
dựng liên minh giai cấp, tầng lớp ở Việt Nam hiện nay? Đáp án
Quan điểm về liên minh giai cấp - tầng lớp của Marx - Lenin (tầm quan trọng của liên minh)
Nội dung liên minh (Kinh tế, chính trị)
“Chống lại âm mưu phá hoại khối đoàn kết của dân tộc VN”
Phân tích vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Sinh viên trách nhiệm như thế nào đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xây dựng chủ
nghĩa hội? Đáp án
Khái niệm cơ cấu xã hội - giai cấp
Quy luật biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp ở VN ⇒ Biến đổi vừa tuân theo quy luật nói chung nhưng cũng có những nét riêng
Vị trí vai trò của các giai tầng ở VN (Công nhân, nông dân, trí thức và doanh nhân)
Anh (chị) hãy phân tích nội dung của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
hội Việt Nam? Sinh viên có trách nhiệm như thế nào trong việc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?
Phân tích phương hướng cơ bản để xây dựng cơ cấu xã hội - giai cấp và tăng cường liên minh giai cấp
tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trước những thông tin xuyên tạc nhằm
phá vỡ liên minh giai cấp, tầng lớp, sinh viên VN cần phải làm để chống lại các thế lực thù địch
không ngừng củng cố khối liên minh. Đáp án
Khái niệm cơ cấu xã hội - giai cấp
Tầm quan trọng của liên minh
Một số phương hướng cơ bản Giống vận dụng câu b
CHƯƠNG 6: VẤN ĐỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO
Câu
hỏi ôn tập (Khi gặp câu hỏi về dân tộc ⇒ ở phần mở đầu: trình bày khái niệm dân tộc theo nghĩa
rộng và nghĩa hẹp) (Khi gặp câu hỏi về tôn giáo ⇒ ở phần mở đầu: trình bày quan niệm về tôn giáo/ khái
niệm theo chủ nghĩa Marx - Lenin)
Anh (chị) hãy phân tích hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc. Liên hệ sự biểu hiện
của hai xu hướng trên trong phạm vi nước Việt Nam hiện nay.
Phân tích nội dung cương lĩnh dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Marx - Lenin. Đảng Nhà nước
Việt Nam đã làm để thực hiện bình đẳng dân tộc VN.
Một là, cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, về vị trí, vai trò của các dân tộc trong phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại. Khẳng định tính nhất quán
của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ cách mạng là bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp nhau để cùng phát triển. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, làm cho đồng bào các dân
tộc tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cho đồng bào các dân tộc được bình đẳng về quyền
làm chủ đất nước; bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, được thực hiện quyền tham chính của mình thông
qua thực hiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp qua bầu cử và ứng cử. Công dân là người các dân tộc
không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ trong mọi lĩnh vực của đời sống, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại, tạo điều kiện cho đồng bào có cơ hội thuận lợi phát triển về mọi mặt.
Ba là, Nhà nước cần tích cực hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, xóa đói, giảm
nghèo, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa các vùng; hằng năm, Nhà nước cần dành tỷ lệ thích đáng
về ngân sách đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây, vùng dân tộc thiểu số,
vùng khó khăn. Nhà nước cần khuyến khích đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số và địa bàn khó khăn, hỗ trợ
tạo điều kiện để phát triển kết cấu hạ tầng ở các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
phục vụ sản xuất và đời sống, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là việc đi lại, học
hành, chữa bệnh... của đồng bào.
Bốn là, cần bảo đảm cho mọi công dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc
gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế… được bình đẳng về cơ hội học tập. Nhà nước tạo điều kiện để
người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc và được hưởng các chính sách ưu tiên đặc biệt nhằm tăng cơ hội tiếp cận về giáo dục cho
con em vùng dân tộc thiểu số. Nhà nước cần bảo đảm cho người dân tộc thiểu số được hưởng các quyền
ưu tiên về chăm sóc sức khỏe, y tế, an sinh xã hội...
Năm là, chăm lo giữ gìn, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc; bảo đảm cho các dân tộc
được phát triển hài hòa trong một nền văn hóa đa dân tộc; bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các
dân tộc được trân trọng, giữ gìn, phát huy và phát triển. Đồng bào dân tộc ai cũng có quyền tham gia vào
các hoạt động văn hóa của dân tộc mình, của cộng đồng, xã hội và được hưởng các chính sách về phát triển văn hóa.