TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BỘ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM
-----------***-----------
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT THỨ HAI
VẤN ĐỀ:
Kết hôn, - Hủy kết hôn trái pháp lut
- Giải quyết hậu quả việc chung sống như v chồng
Lớp TMQT47.2
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Th Mận
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
STT
HỌ N
MSSV
1
Minh Phương Uyên
2253801090104
2
Đình Phương Trâm
2253801090091
3
Trương Chu Uyên
2253801090103
4
Nguyễn Minh Phương
2253801090075
5
Trần Ánh Nhi
2253801090061
6
Huỳnh Ngọc Thảo Nhi
2253801090060
7
Trung Nguyên
2253801090057
8
Lâm Hoài Phúc
2253801090072
9
Nguyễn Thanh Phước
2253801090074
Thành ph H Chí Minh, ngày 08 tháng 9 năm 2023
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 9 m 2023
Trường: Đại học Luật TP.HCM
Khoa: Luật Quốc tế
Bộ môn: Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam
BÁO CÁO PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC VÀ KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
Buổi thảo luận thứ nhất: Kết hôn, - Hủy kết hôn trái pháp lut
- Giải quyết hậu quả việc chung sống như vợ chồng
Lớp: TMQT47.2
STT
HỌ VÀ N
MSSV
NHIỆM VỤ
TỶ LỆ ĐÓNG
P
1
Minh Phương Uyên
225380109010
4
Tình huống
2.2; Mục III
100%
2
Đình Phương Trâm
225380109009
1
5 (Lý thuyết);
Tình huống
2.6; Mục III
100%
3
Trương Chu Uyên
225380109010
3
2 (Lý thuyết);
Tình huống
2.1; Mục III
100%
4
Nguyễn Minh Phương
225380109007
5
3 (Lý thuyết);
Tình huống
2.6; Mục III
100%
5
Trần Ánh Nhi
225380109006
1
1 (Lý thuyết);
Tình huống
2.5; Mục III
100%
6
Huỳnh Ngọc Thảo Nhi
225380109006
0
Tổng hợp
100%
7
Trung Nguyên
225380109005
7
6 (Lý thuyết);
Tình huống
2.3; Mục III
100%
8
Lâm Hoài Phúc
225380109007
2
Tình huống
2.4; Mục III
100%
9
Nguyễn Thanh Phước
225380109007
4
4 (Lý thuyết);
Tình huống
2.4
100%
Nhận xét của giảng viên: .........................................................................................
Nhóm trưởng
(Ký ghi họ n)
MỤC LỤC
I. THUYẾT: TRẢ LỜI/ PHÂN TÍCH/ LÀM SÁNG TỎ CÁC NỘI DUNG SAU.1
1.1. Phân tích “khái niệm gia đình” đối sánh pháp luật một số quốc gia. Nhận diện
thành viên gia đình và cho biết hình gia đình được Luật Hôn nhân gia đình hiện nh
khuyến khích phát triển? Quan điểm nhân về việc bảo vệ c giá tr truyền thống của
gia đình Việt Nam khi nhiều thế hệ ng sống chung?.................................................... 1
1.2. Tóm ợc các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành nêu một số vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng...........................................................................................................2
1.3. Xác định người đang có vợ, chồng. Cho dụ về các trường hợp người chưa đăng
kết hôn cũng được xác định “đang vợ, chồng” theo quy định của pháp luật 5
1.4. c định cơ quan thẩm quyền đăng kết n......................................................... 5
1.5. Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết n trái pháp luật? Phân tích các trường hợp
ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên sở pháp ................................................. 6
1.6. Quy định của pháp luật về c trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ
chồng mà không đăng kết hôn và hậu quả pháp của hành vi chung sống như vợ
chồng? Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đồng thời vi
phạm điều kiện kết hôn trách nhiệm dân sự, hình sự hành chính thể được xác
định .........................................................................................................................................7
1.7. Phân tích một số câu nhận định.....................................................................................11
II. TÌNH HUỐNG...............................................................................................................12
2 1. Theo anh chị, quan chức năng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào, tại sao? 12
2.2. Theo các anh (chị), Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?...................12
2.3. Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan điểm của anh (chị) về pháp luật áp dụng
đường lối giải quyết u cầu của Anh theo tình huống trên...........................................13
2.4. Anh chị hãy cho biết, Tòa án thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội phụ nữ như
thế o cho phù hợp tinh thần pháp luật?.............................................................................13
2.5. Hỏi, Tòa án thẩm quyền giải quyết yêu cầu (hủy việc kết hôn giữa ông Ngon
Mùi) của bà Bông như thế nào, sao? Nếu ông Ngon Mùi tranh chấp tài sản
không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì Tòa án phải giải quyết các vấn đề y
ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật, biết rằng ông Ngon Mùi con chung
Quang, sinh ngày 04.12.2013 hai bên có khối động sản chung trị giá 1 tỷ 900 triệu
đồng?.................................................................................................................................... 14
2.6. Từ góc độ pháp lý, anh, chị y phân tích giải đường hướng xử của Tòa án
thẩm quyền trước yêu cầu của Hội Phụ nữ thành phố H biết rằng trong quá trình tố tụng,
chị Trà nguyện vọng công nhận hôn nhân còn anh Tâm đề ngh giải quyết cho ly n.
.............................................................................................................................................. 15
III. ĐỌC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM..........................18
3.1. Đọc Bản án số 04/2019/HNGĐ-ST về “Hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc
nuôi con chung” ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh C
bình luận đường lối giải quyết vụ án của Tòa án các cấp trên sở áp dụng pháp luật về
căn cứ hủy hôn, chủ thể yêu cầu hủy hôn, thẩm quyền giải quyết và hậu quả pháp việc
hủy kết hôn trái pháp luật về nhân thân con chung.........................................................18
3.2. Đọc Quyết định giám đốc thẩm Số: 04/2021/HNGĐ-GĐT về Yêu cầu hủy việc kết
hôn trái pháp luật” ngày 07/7/22021 của Tòa án nhân dân Tối cao bình luận về việc áp
dụng pháp luật, tiêu chí xác định hôn nhân thực tế cũng như đường lối giải quyết quan h
nhân thân, con chung trong phán quyết của Tòa án các cấp................................................19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. THUYẾT: TR LỜI/ PHÂN TÍCH/ M SÁNG TỎ CÁC NỘI
DUNG SAU
1.1. Phân ch “khái niệm gia đình” đối sánh pháp luật một số quốc gia. Nhận
diện thành viên gia đình cho biết mô hình gia đình được Luật Hôn nhân gia
đình hiện hành khuyến khích phát triển? Quan điểm cá nhân về việc bảo vệ các
giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi nhiều thế hệ ng sống chung?
Khái niệm gia đình
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân Gia đình 2014: “Gia đình tập hợp
những người gắn với nhau do n nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ
nuôi dưỡng, m phát sinh các quyền nghĩa v giữa họ với nhau theo quy định
của Luật này.”
Gia đình thiết chế hội, trong đó những người quan hệ ruột thịt (hoặc đặc
biệt) cùng chung sống. Những người trong gia đình tồn tại một mối quan hệ được
gắn bó liên kết chặt chẽ.
Giữa các thành viên trong gia đình đều trách nhiệm các mối quan hệ ràng
buộc với nhau, quyền nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đều được bảo
đảm phù hợp về mặt pháp đạo lý. Quan hệ hôn nhân nền tảng hình thành
nên các mối quan hệ, sở pháp cho sự tồn tại của mỗi gia đình. Quan hệ
huyết thống là quan hệ quan hệ giữa những người cùng chung một dòng máu, nảy
sinh t quan hệ hôn nhân, đây mối quan hệ tự nhiên, yếu tố mạnh mẽ nhất
gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau.
Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng
sống chung ngân sách chung. phương Tây, những năm gần đây xuất hiện
nhiều dạng gia đình biến thái khiến cho định nghĩa v gia đình đều trở nên bất
cập. Chẳng hạn: c tác giả Jame W. Vander Zanden - cho biết: “Một cuộc thăm
mới đây cho thấy 45% người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi khôn gcần kết
hôn cùng chung sống với nhau thì được coi một gia đình đích thực, 33% coi
các đôi cùng giới tính nuôi nấng con cái gia đình, còn 20% thì coi các cặp
đồng giới tính chung sống với nhau một gia đình”. Đối với người á Đông nói
chung người Việt Nam nói riêng, gia đình một giá trị hội quan trọng vào
bậc nhất. Nếu châu Âu gia đình nhiều khi đơn giản ch được coi một nhóm
hội thì ta, gia đình được coi một tế bào hội tính sản sinh với đầy đủ các
yếu t cấu thành của như vợ - chồng - con cái.
Thành viên trong gia đình
Theo khoản 16 Điều 3 Luật Hôn nhân Gia đình 2014, “Thành viên gia đình
bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha
mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh,
1
chị, em ng cha mẹ, anh, chị, em ng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng m khác
cha, anh rể, em rể, ch dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác
mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì,
chú, cậu, bác ruột cháu ruột.”
Hiện nay, hai loại hình gia đình gia đình hiện đại (gia đình hạt nhân)
gia đình truyền thống (gia đình 3 thế h trở lên). Loại hình gia đình được Luật
Hôn nhân gia đình khuyến khích phát triển gia đình truyền thống nhằm giữ
gìn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, phát huy tối đa nghĩa vụ của
các thành viên trong gia đình.
Bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ cùng
sống chung
Việc bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi nhiều thế h
cùng chung sống vai trò cùng quan trọng trong việc phát triển của gia đình
hội. Gia đình tế bào, nền tảng của hội, sở để xã hội tồn tại và
phát triển. Việc chung sống nhiều thế hệ trong một gia đình giúp lan tỏa tình yêu
thương giữa các thành viên được trở nên dễ dàng, các giá trị truyền thống hay
phong tục truyền thống tốt đẹp được gi gìn phát huy một cách dễ ng hơn.
Nề nếp, lễ nghĩa đều được các thế hệ lớn dạy dỗ, chỉ dẫn cho thế hệ trẻ một cách
lưỡng khiến cho truyền thống yêu thương con người của dân tộc ta ngày ng
phát triển. Tuy nhiên, sự cách biệt về khoảng cách thế hệ tuổi tác giữa c
thành viên trong gia đình thể dẫn đến các mâu thuẫn do vậy c thành viên
trong gia đình đều cần phải cố gắng, n lực để vun đắp tình cảm gia đình, vượt
qua khoảng cách.
1.2. Tóm lược c điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành nêu một số
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Các điều kiện bao gồm:
Theo điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình 2014 qui định:
1. Nam, nữ kết n với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại c
điểm a, b, c d khoản 2 Điều 5 của Luật này
2.
Nhà ớc không thừa nhận giữa những người ng giới tính
Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng:
2
§ Về tuổi kết hôn.
Việc Luật Hôn nhân gia đình quy định tuổi kết hôn của nữ đủ 18 tuổi, tuổi kết
hôn của nam đủ 20 tuổi về bản sự kế thừa của pháp luật hôn nhân gia đình Việt
Nam, góp phần làm cho việc kết hôn quan hệ hôn nhân được lành mạnh, góp phần thực
hiện tốt chức năng hội của hôn nhân.
Tuy nhiên, việc quy định tuổi kết hôn chênh lệch của nam nữ cũng đặt ra vấn đề về
bảo đảm bình đẳng giới, về sự đồng bộ với năng lực hành vi n s của người thành niên
trong Bộ luật Dân sự. Thực tiễn áp dụng quy định về tuổi kết hôn cho thấy tình trạng tảo
hôn vẫn diễn ra phổ biến khu vực miền núi, dân tộc thiểu số. con vùng đồng bào dân
tộc hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào
cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, c gia đình thường dựng v gả chồng cho con từ
rất sớm, nên mặc việc kết hôn không được đăng tại quan nhà nước có thẩm
quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán, họ hàng
hai bên, cộng đồng dân của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó một cặp vợ chồng.
§ Điều kiện về sự tự nguyện của nam, nữ:
Trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản ớng dẫn cũng ớng dẫn
về những trường hợp bị coi một bên lừa dối nhưng ới dạng liệt nh vi như: lừa
dối nếu kết hôn sẽ xin việc cho, nếu kết n thì bảo lãnh ra ớc ngoài, ...chứ không
những tiêu chí như thế nào "lừa dối", không khái quát được hết các trường hợp lừa dối
khiến cho việc xác định hành vi lừa dối trong hôn nhân nhiều vướng mắc.
Trên thực tế sự tự nguyện chỉ thể được xác định thông qua hành vi thể hiện ý chí
của người kết hôn trước quan nhà nước thẩm quyền công nhận việc kết hôn. Bản
thân yếu tố chủ quan bên trong như nh cảm, mong muốn, nguyện vọng của người kết
hôn như thế nào thì lại khó thể biết. Bên cạnh đó vấn đề thẩm định sự tự nguyện kết
hôn yếu tố nước ngoài n nhiều hạn chế, nhất trong cách tiến hành phỏng vấn. Một
số quan nhà nước vẫn tiến hành phỏng vấn một cách hời hợt cho qua, chưa m đúng
với tinh thần tầm quan trọng của thủ tục phỏng vấn, cán bộ biết tiếng ớc ngoài cũng
không nhiều nên nhiều khi cán bộ phỏng vấn không hiểu được c đương sự i gì.
§ Về năng lực hành vi dân sự trong kết n.
Theo quy định của Luật n nhân gia đình thì người bị mất năng lực hành vi dân
sự không được kết hôn và theo Điều 22 B luật Dân sự thì một người chỉ bị mất năng lực
hành vi dân sự khi a án tuyên bố. Do đó, trong thực tiễn áp dụng vẫn còn ý kiến cho
rằng, người chưa bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự mặc mắc bệnh tâm
thần hay bệnh khác không làm chủ được hành vi thì vẫn được kết hôn, nhưng khi giải
quyết quan hệ nhân thân liên quan, một số tòa án lại tuyên bố việc kết hôn trái pháp
luật.
§ Những trường hợp cấm kết hôn.
3
Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những
người họ trong phạm vi ba đời không nh khả thi khi áp dụng tại c vùng dân tộc
thiểu số. (Ví dụ như: đồng o dân tộc Xinh Mun trên địa n huyện Mai Sơn tỉnh n La
còn có hôn nhân cận huyết nhiều)
Kết hôn trái pháp luật được hiểu: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng
kết hôn tại quan nhà nước thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều
kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. Như vậy trong Điều 8 dẫn chiếu
đến các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 của Luật quy định các hành vi bị cấm. Trong đó tại
điểm c quy định cấm “Người đang vợ, chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ
chồng với người khác hoặc chưa vợ, chưa chồng kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người đang có chồng, vợ”. Những trường hợp người đang vợ,
chồng chung sống như vợ chồng với người khác trên thực tế xảy ra khá nhiều, ảnh
hưởng không nhỏ đến danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ nói riêng, phá vỡ hạnh phúc
gia đình vốn đang tốt đẹp, nhưng rất khó giải quyết. Muốn xác định chung sống như vợ
chồng với nhau phải đáp ứng nhiều khía cạnh pháp lý, do vậy đường lối giải quyết của địa
phương đa phần vận động, giải thích pháp luật để các n chấm dứt quan hệ sai trái.
Về việc xác định thế nào người đang vợ, chồng. Trên thực tế việc xác định
tình trạng hôn nhân của các bên không phải lúc nào cũng đơn giản. Tuy nhiên rất khó xác
định họ chung sống với nhau t thời điểm nào, thế nào chung sống với như vợ chồng,
đặc biệt đối với những cặp không sống chung thường xuyên tại một địa phương. vậy
dẫn đến tình trạng người đang vợ hoặc chồng vẫn được quan thẩm quyền
chấp nhận yêu cầu đăng kết hôn.
§ Về vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới nh.
Luật Hôn nhân Gia đình không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới
tính nhưng đồng thời không can thiệp vào việc sống chung giữa họ, pháp luật về xử vi
phạm hành chính cũng đã bãi bỏ việc xử vi phạm hành chính đối với những hành vi tổ
chức lễ cưới, việc chung sống giữa những người cùng giới nh. Đây sự tiến bộ lớn
trong c trong nhận thức trong áp dụng pháp luật về tôn trọng quyền, lợi ích chính
đáng, hợp pháp của người đồng tính nói riêng, cộng đồng người yếu thế nói chung.
Tuy nhiên, để thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích của những nhân này, thể chế
về các vấn đề liên quan cũng cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hơn trên nguyên
tắc tôn trọng, bảo đảm sự bình đẳng, chống phân biệt đối xử, chế pháp phù hợp
với quan hệ sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, hạn chế được
những nguy , rủi ro pháp phát sinh với họ những quan h hội khác liên quan.
Để giải quyết vấn đề này, hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn giải pháp công
nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhằm bảo đảm quyền con người, quyền
bình đẳng, mong muốn được kết hôn với những người cùng giới tính để đồng cảm,
chia sẻ, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình.
4
1.3. Xác định người đang vợ, chồng. Cho dụ về các trường hợp người
chưa đăng kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, chồng” theo quy định
của pháp luật.
Việc xác định mối quan hệ vợ, chồng ý nghĩa quan trọng để xác định quyền
nghĩa vụ trong thời kỳ n nhân. Tuy nhiên không phải tất c các trường hợp phải đăng
kết hôn t mới được công nhận vợ, chồng. Tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP xác
định người đang vợ hoặc chồng là:
- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân gia
đình nhưng chưa ly hôn;
- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 đang
chung sống với nhau như vợ chồng không đăng kết hôn;
- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày
01/01/2001 đang chung sống với nhau như vợ chồng đủ điều kiện kết hôn nhưng
không đăng kết n (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết y có hiệu lực
cho đến trước ngày 01/01/2003).
dụ về các trường hợp người đang vợ, chồng không được kết hôn hoặc sống
chung như vợ chồng với người khác: A B vợ chồng hợp pháp từ năm 2000. Đến
năm 2013, A đi công c Nội quen biết C sống chung như vợ chồng với C. Như
vậy, trong trường hợp này, A đã vợ B chưa ly hôn thì không được sống chung
như v chồng với C.
1.4. Xác định quan thẩm quyền đăng kết hôn.
Theo điều 13 Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam, hiệu lực từ ngày 01/01/2015,
việc kết hôn được đăng tại quan hộ tịch không đúng thẩm quyền thể không
hiệu lực. Do vậy việc đăng kết hôn tại quan hộ tịch đúng thẩm quyền đặc biệt
quan trọng. Thẩm quyền đăng kết hôn được quy định như sau:
Nếu cả hai bên nam nữ người Việt Nam trú tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân
cấp xã, phường nơi trú của một trong hai bên thẩm quyền đăng kết hôn
Đối với trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài, tức là một trong hai bên nam nữ
người ớc ngoài, công n Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài hoặc
công n Việt Nam định ớc ngoài, thì thẩm quyền đăng kết hôn được
quy định như sau:
Từ ngày 31/12/2015 trở về trước: Sở pháp (cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh) thẩm quyền đăng kết hôn yếu tố nước ngoài. (Trường
hợp ngoại lệ: Những người chỉ u trú thời hạn tại nước ngoài, ví dụ: sinh viên
đi du học tại nước ngoài, nhân viên của công ty Việt Nam được cử đi làm việc
5
thời hạn tại chi nhánh của công ty nước ngoài (ví dụ: Vietnam Airlines) th
kết hôn tại y ban nhân dân cấp xã, phường.)
Từ ngày 01/01/2016: Ủy ban nhân dân cấp huyện thẩm quyền đăng kết hôn
yếu t nước ngoài. (Trường hợp ngoại lệ: Không có)
1.5. Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Phân ch các
trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên sở pháp lý.
Hủy việc kết n trái pháp luật biện pháp chế tài được áp dụng đối với trường hợp
kết hôn trái pháp luật, thể hiện thái độ của Nhà nước về việc không thừa nhận giá trị
pháp của quan hệ hôn nhân.
Theo quy định của pháp luật, Tòa án quan thẩm quyền hủy việc kết hôn trái
pháp luật. Khi Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Giấy chứng nhận
kết hôn hai bên được cấp trước đó không giá trị pháp lý. Do đó, hai bên nam nữ
không phải vợ chồng của nhau, họ buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng
trái pháp luật. vậy, Tòa án phải gửi cho quan đã thực hiện việc đăng kết hôn cho
hai bên nam nữ bản sao quyết định của a án về hủy việc kết hôn trái pháp luật để
quan này ghi vào Sổ hộ tịch.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 5 Điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình quy định
các trường hợp: kết hôn vi phạm về tuổi; sự tự nguyện của hai bên; giữa người mất năng
lực hành vi dân sự; thuộc trường hợp bị cấm giữa những người cùng giới tính.
Căn cứ quy định nêu trên, việc công nhận quan h vợ chồng khi kết hôn trái luật được
hướng dẫn tại khoản 2 Điều 11 Luật n nhân Gia đình như sau:
Trong trường hợp
tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên kết
hôn đã đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật y hai n yêu
cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án ng nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong
trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết
hôn theo quy định của Luật này.”
Kết hôn vi phạm về tuổi
Theo quy định điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình, điều kiện về tuổi để
nam, n được đăng kết hôn là: Nam từ đủ 20 tuổi trở n, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”
Trong đó, việc xác định “đủ” căn cứ theo ngày, tháng, năm sinh. dụ, người nữ sinh
ngày 10/01/1997 thì đến ngày 10/01/2015 người nữ sẽ được tính đủ 18 tuổi.
Như vậy, nếu nam, nữ kết hôn khi chưa đủ các điều kiện về tuổi thì được xác định kết
hôn trái luật tại thời điểm Tòa án giải quyết việc hủy kết hôn trái luật nam, nữ đã
đủ tuổi, cùng u cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì nam, nữ này vẫn được
công nhận vợ, chồng hợp pháp.
6
Lừa dối, cưỡng ép… kết n
Trường hợp này, điểm d.2 khoản d Điều 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn sau
khi bị ép buộc, lừa dối hoặc cưỡng ép bên bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép đã biết, thông
cảm tiếp tục chung sống hòa thuận thì không hủy việc kết hôn trái luật này.
Do đó, trong trường hợp này, kết hôn trái luật nhưng thì vẫn không bị hủy quan hệ
hôn nhân vẫn được công nhận vợ chồng hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện nêu trên.
Kết hôn với người mất năng lực hành vi n sự
Theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự, khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất
năng lực nh vi dân sự t khi nhận được yêu cầu, Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ việc
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, với trường hợp y, nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự được Tòa án ra
quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ đáp ứng điều
kiện kết hôn tại Luật Hôn nhân Gia đình nên sẽ vẫn được công nhận vợ chồng khi
đáp ứng đủ điều kiện kết hôn.
Nói tóm lại, khi nam, nữ vi phạm các điều kiện kết hôn về độ tuổi, về s tự nguyện
với người mất ng lực hành vi n sự thì tại thời điểm Tòa án giải quyết hủy kết hôn trái
luật nếu đáp ứng đủ điều kiện kết hôn thì vẫn th được công nhận vợ chồng
1.6. Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng kết hôn hậu qu pháp của hành vi chung sống
như vợ chồng? Phân tích c trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ
chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn trách nhiệm dân sự, hình sự
hành chính thể được xác định.
Khái niệm về việc chung sống với nhau như vợ chồng được quy định tại Khoản 7 Điều
3 Luật Hôn nhân Gia đình 2014: Chung sống như vợ chồng việc nam, nữ tổ chức
cuộc sống chung coi nhau vợ chồng.”
Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không được pháp luật thừa
nhận hay thể hiểu nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không giá trị
pháp lý, bao gồm các trường hợp cụ thể sau:
Nam, nữ đủ điều kiện đăng kết hôn nhưng không đăng kết hôn: Trường hợp
nam, nữ chung sống như vợ chồng, hai bên đủ điều kiện kết hôn (Điều 8
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về các điều kiện kết hôn), nhưng
xuất phát từ một vài do các bên không tiến hành kết hôn, như các tỉnh
miền núi, do phong tục tập quán, kết hôn chỉ cần sự chứng kiến của già làng nên
việc đăng kết hôn chưa được người dân quan tâm hoặc với nhiều đôi nam, nữ
7
sống không muốn ràng buộc chỉ cần “góp gạo thổi cơm chung” không cần đăng
kết hôn.
Nam, nữ không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật: Nam nữ
không đủ điều kiện đăng kết hôn nhưng chung sống với nhau n vợ chồng (kể
từ ngày 03/01/1987 trở về sau) không đăng kết hôn. Trường hợp y
nghĩa một trong hai bên hay c hai bên nam nữ không đủ điều kiện kết hôn,
nên họ không thể đăng kết hôn nhưng vẫn chung sống với nhau như vợ chồng.
dụ, trường hợp hai n nam nữ đều đủ 16 tuổi, có i sản riêng, chung sống
với nhau như vợ chồng, thậm chí quan hệ tình dục với nhau một cách tự nguyện
thì hành vi chung sống này cũng không bị xem vi phạm pháp luật.
Chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính: Về nguyên tắc, Luật
Hôn nhân Gia đình m 2014 quy định: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân
giữa những người cùng giới tính”, tuy nhiên, trên thực tế, pháp luật không cấm
những người cùng giới tính được chung sống với nhau. Do đó, việc những người
cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng không bị xem vi phạm pháp
luật.
Những hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên hoàn toàn không vi phạm pháp
luật. Về hình thức, nam, nữ chung sống như vợ chồng không giấy chứng nhận đăng
kết hôn do quan có thẩm quyền đăng kết n cấp. Ðiều đó nghĩa là giữa họ trong
quan hệ hôn nhân không chứng cứ về mặt pháp để khẳng định họ vợ chồng. Vậy,
khi h xin “ly hôn”, quyền lợi của họ sẽ được bảo đảm như thế nào?
Lần đầu tiên, Luật Hôn nhân gia đình m 2014 đã quy định về giải quyết hậu quả
pháp của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng kết hôn.
Về nhân thân: Giữa họ không phát sinh quan hệ n nhân, theo đó, khi nam, nữ có
đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau như vợ chồng không đăng kết hôn thì
“không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng”10, điều này đúng với cả trường
hợp nam, nữ không đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng.
Quy định này được nhắc lại một lần nữa thông qua thủ tục t tụng: “Trong trường
hợp không đăng kết hôn yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ tuyên bố không
công nhận quan hệ vợ chồng. Tức là quyền nghĩa vụ v chồng của họ theo ý nghĩa
pháp chưa từng phát sinh, nên Tòa án sẽ không tuyên bố quan hệ đó chấm dứt.
Về tài sản: Cần khẳng định rằng, việc ưu tiên giải quyết quan hệ i sản, nghĩa vụ
hợp đồng của các n nam, nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như v chồng
không đăng kết hôn theo thỏa thuận giữa các bên là rất hợp . Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể như sau: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ hợp đồng
của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng kết hôn được giải
8
quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không thỏa thuận thì giải quyết
theo quy định của Bộ luật Dân sự các quy định khác của pháp luật liên quan”.
Thế nhưng, trong Luật Hôn nhân gia đình m 2014 lại không đề cập đến trường
hợp thỏa thuận hiệu, trong khi trường hợp giữa các bên không thỏa thuận trường
hợp giữa các n thỏa thuận nhưng thỏa thuận hiệu hai vấn đề hoàn toàn khác
nhau. Chẳng hạn, giữa các bên nam, nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống như vợ chồng
thỏa thuận với nhau về quan hệ tài sản, nhưng thỏa thuận đó giả tạo nhằm mục đích trốn
tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì bị xem thỏa thuận hiệu.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Việc
giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ con; công
việc nội trợ công việc khác liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao
động thu nhập”. Quy định như vậy không chỉ bảo đảm tính nhân văn, bảo đảm quyền
lợi ích hợp pháp của phụ nữ con sâu xa hơn còn phù hợp với l công bằng, bảo vệ
quyền tài sản của các bên liên quan. Thừa nhận công việc nội trợ các công việc khác
liên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao động thu nhập quy định tiến bộ
nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người phụ nữ trong quá trình chung sống. Tuy
nhiên, do tồn tại quy định mang tính tùy nghi các công việc khác liên quan” n nếu
không được giải thích ràng áp dụng thống nhất thì bảo đảm pháp y sẽ bị giới hạn
trên thực tế.
Việc chung sống giữa những người cùng giới tính quyền mỗi người với ch
nhân của họ. Nhà nước thông qua pháp luật có quyền không công nhận n nhân của họ.
Về bản chất thì quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính sự thỏa thuận của
hai bên chung sống, như một quan hệ dân sự. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc
chung sống giữa họ được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự. Vậy nên, khi có
tranh chấp xảy ra giữa họ về tài sản c quyền, nghĩa vụ thì áp dụng quy định của Bộ
luật Dân sự để giải quyết thì sẽ hợp phù hợp với thực tế n.
nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện ợng này, tuy nhiên trong khuôn khổ bải làm của
nhóm, nhóm em chỉ xin đưa ra một s những nguyên nhân nổi bật dẫn đến hiện tượng
nam nữ chung sống như vợ chồng trái pháp luật như sau:
Thứ nhất, do tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu hóa: xu hướng toàn cầu a
tác động đến hàng loạt các lĩnh vực như chính trị, văn hóa, hội… do đó, sự ảnh
hưởng của lối sống của các nước phương Tây như: sống thử, sống thực dụng, sống buông
thả….tất yếu sẽ xâm nhập vào cuộc sống hội của nước ta. Cùng với đó sự phát triển
nhanh chóng của công nghệ thông tin với những trò chơi online, chat webcam. Các
website tìm bạn, m người yêu qua mạng… đã tạo điều kiện cho nam nữ tiếp cận nhanh
hơn, dễ dàng hơn, do đó đã thúc đầy nhanh số lượng nam nữ chung sống với nhau như vợ
chống. Bên cạnh đó không th phủ nhạn được do tính ch, nhu cầu thích tự lập, không
muốn bị bố mẹ can thiệp của thế hệ trẻ, cùng với bản tính thích mò… đã khiến cho một
lượng lớn thanh niên tiếp cận chấp nhận cách sống như vậy.
9
Thứ hai do ảnh hưởng của phong tục tập quan, những hủ tục lạc hậu: mặc công
tác giáo dục, tuyên truyền vẫn được diễn ra hàng ngày trên thực tế, nhưng do đồng bào
các dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức được hết vai trò, ý nghĩa của việc đăng kết
hôn, cùng với bản sắc văn hóa đã khiến cho tình trạng này vẫn diễn ra trên thực tế.
Thứ ba do xuất phát từ yếu tố tâm chủ quan của hai bên nam, nữ: thể do
xuất phát từ s e ngại đối với những người đã từng trải qua một cuộc sống n nhân, hoặc
sự tự tin về một tình yêu vĩnh cửu nên không cần đăng kết hôn, do sự mò, muốn
chạy theo xu hướng để được bằng bạn, bằng bè, hoặc tâm lý không muốn bị chói buộc,
nên việc lựa chọn chung sống như vợ chồng với người khác không đăng kết hôn
được họ ưu tiên lựa chọn.
Thứ do các quy định của pháp luật sự quản của các quan thẩm quyền
còn chưa thực sự hiệu quả.
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kết hôn thể xảy ra
các hậu qu pháp như sau:
Trường hợp nam, nữ đủ điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn mà
chung sống với nhau như vợ chồng thì không đăng kết hôn thì không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nếu nam, nữ sau đó thực hiện việc đăng kết hôn
theo quy định của pháp luật thì quan h hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng kết
n.
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng con được giải
quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ con. Quan hệ tài sản,
nghĩa vụ hợp đồng của nam, n chung sống với nhau như vợ chồng không đăng
kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không thỏa
thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật n sự các quy định khác của pháp luật
liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ
con; công việc nội trợ ng việc khác liên quan để duy trì đời sống chung được coi
như lao động thu nhập.
Trường hợp nam, nữ đang vợ, chồng kết hôn hoặc chung sống với người
khác hoặc người chưa vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người nh biết
đang có chồng, v một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt
chung như một gia đình thì thể bị xử phạt vi phạm nh chính theo Điều 48, Nghị định
110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính ph xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bổ trợ pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình (được sửa đổi, bổ sung bởi
Nghị định 67/2015/NĐ-CP với mức phạt tiền t 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng hoặc
bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội “Vi phạm chế độ một vợ một chồng” theo quy
định tại Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 với hình phạt cao nhất 03 năm tù.
10
được quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân Gia đình 2014 giải quyết hậu quả
của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng kết hôn:
Nam, nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng không đăng
kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng con được giải
quyết theo quy định của Luật n nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ con.
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng
không đăng kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp
không thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác
của pháp luật liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ
con; công việc nội trợ ng việc khác liên quan để duy trì đời sống chung được coi
như lao động thu nhập.
Trong trường hợp nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ
chồng không đăng kết hôn nhưng sau đó thực hiện việc đăng kết hôn theo quy
định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng kết hôn.
Việc nam nữ chung sống như vợ chồng hiện nay không đăng kết hôn, ngày
càng trở nên phổ biến. Trong những trường hợp này họ không được công nhận vợ
chồng, quyền lợi của họ không được đảm bảo, khi họ bị xâm phạm đến quyền lợi pháp
luật không bảo vệ họ, ...Vì vậy, cần phải tuyên truyền khuyến khích nam nữ đ độ
tuổi kết hôn muốn sống chung như vợ chồng thì cần phải đi đăng kết hôn. Phải cần
những quy định mềm dẻo hơn nhằm bảo vệ một số quyền trong những trường hợp như
vậy.
1.7. Phân tích một số câu nhận định.
11
II. TÌNH HUỐNG
2.1. Theo anh chị, quan chức ng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào,
tại sao?
Căn c pháp :
Bộ Luật Dân sự năm 2015
Luật Hộ tịch m 2014
Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014
Thẩm quyền giải quyết: a án nhân dân cấp huyện i vợ hoặc chồng cư trú.
Căn cứ Điều 37 BLDS năm 2015 hiệu lực ngày 1/1/2017 quy định về Chuyển đổi
giới tính: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. nhân đã
chuyển đổi giới quyền, nghĩa vụ đăng thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật
về hộ tịch; quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã chuyển đổi theo quy định tại Bộ
luật này luật khác liên quan”.
Từ ngày 1/1/2017 đối với những người chuyển giới, luật quy định họ quyền xác
định lại giới tính theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014.
Pháp luật của Việt Nam hiện hành đã quy định chấp nhận việc xác định lại giới
tính cho những người chuyển giới. Mặc chị Lâm đã đi chuyển giới nhưng nếu chưa
làm thủ tục xác định lại giới tính, thì trên các giấy tờ nhân thân của chị vẫn nữ, pháp luật
vẫn thừa nhận chị Lâm giới tính Nữ.
Do đó nếu muốn ly hôn, anh Tuấn vẫn thực hiện các quy định v ly hôn theo pháp
luật của Luật n nhân gia đình năm 2014. Anh Tuấn thể thỏa thuận với ch Lâm
để thuận tình ly hôn hoặc ly hôn theo yêu cầu một bên.
Trường hợp thuận tình ly hôn: Hai bên sẽ cùng tên vào Đơn thuận tình ly hôn; thỏa
thuận thống nhất về các vấn đề liên quan đến chia tài sản, nuôi con, cấp dưỡng.
2.2. Theo các anh (chị), Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?
Năm 2017, anh Thuận 39 tuổi (sinh năm 1978) chị Nga 17 tuổi (sinh năm 2000)
kết hôn.
Xét điểm a Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, chị Nga chưa đủ 18
tuổi, chưa đạt đến độ tuổi kết hôn theo luật định. Do đó, việc kết hôn này trái pháp luật do
vi phạm về điều kiện độ tuổi “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.”
Xét về chủ thể quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật: con đẻ của
anh Thuận với người v trước: hợp pháp (khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân Gia đình
năm 2014)
12
Theo quan điểm của nhóm, Tòa án nên hủy việc kết n của anh Thuận chị Nga với
do việc kết n này là trái pháp luật theo yêu cầu của con ruột anh Thuận.
2.3. Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan điểm của anh (chị) về pháp luật áp
dụng và đường lối giải quyết yêu cầu của Anh theo tình huống trên.
Căn cứ pháp lý: khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình m 2000
Xét thấy: Ông Hoàng Xuân đăng kết hôn tại xã H sai với quy định tại
Khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 vào thời điểm đăng kết
hôn tại H thì Ông Hoàng Anh vẫn vợ chồng hợp pháp nên ông Hoàng
đối tượng rơi o trường hợp cấm hết hôn “Người đang vợ hoặc có chồng
Đường lối giải quyết: Theo điểm a khoản 3 Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2000, Anh là vợ hợp pháp của ông Hoàng quyền yêu cầu hủy việc kết
hôn trái pháp luật
2.4. Anh chị hãy cho biết, Tòa án thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội phụ
nữ như thế o cho phù hợp tinh thần pháp luật?
Giải quyết về nhân thân:
Căn cứ pháp lý:
khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.
Điều 1; khoản 1 Điều 6 NĐ số 24/2013/NĐ-CP.
(1)
: Tại thời điểm kết hôn với Tuyết, ông Giang vẫn chưa tiến hành ly hôn với
Duyên và Tòa án chưa các phán quyết liên quan nên ông Giang vẫn được xem
quan hệ vợ chồng với Duyên. Do đó, ông Giang không thể kết hôn với người khác.
(2)
: Thẩm quyền đăng kết hôn không thuộc về UBND mà phải UBND
tỉnh.
(1)
, (2) Qua đó, thể thấy hôn s của ông Giang Tuyết không hợp pháp, hai
người sẽ không được công nhận quan hệ vợ chồng.
Giải quyết về tài sản:
Căn cứ pháp lý:
Điều 6 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014.
Điêu 209, Điều 219 BLDS 2015.
Tài sản chung theo phần của ông Giang Tuyết là 24 chỉ vàng 9999 sẽ được
chia đôi theo luật. Ngôi nhà do ông Giang đứng tên tài sản riêng sẽ không phải chia.
13
2.5. Hỏi, Tòa án thẩm quyền giải quyết yêu cầu (hủy việc kết hôn giữa ông
Ngon Mùi) của bà Bông như thế nào, sao? Nếu ông Ngon Mùi
tranh chấp tài sản và không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì a án
phải giải quyết các vấn đề này ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật, biết
rằng ông Ngon Mùi có con chung Quang, sinh ngày 04.12.2013 hai
bên có khối động sản chung trị giá 1 tỷ 900 triệu đồng?
Giải quyết về nhân thân:
Ông Ngon Bông đủ điều kiện kết hôn theo Luật HNGĐ năm 1959 nhưng cả
hai chỉ sống chung như vợ chồng từ năm 1982 tại phường 5, quận 6 thành phố TH
không đăng kết n. Căn cứ theo điểm a khoản 3 NQ 35/2000, quan hệ vợ
chồng của ông Ngon Bông được xác lập từ năm 1982 (trước khi Luật HNGĐ
1986 hiệu lực). Đây thể được công nhận hôn nhân thực tế.
Tháng 8/1999, do không thể sinh con, Bông đồng thuận cho ông Ngon
cưới Mùi (11/11/1985). Mùi tại thời điểm này, xét theo điểm a khoản 1 Điều
8 Luật Hôn nhân Gia đình, bà Mùi chưa đủ 18 tuổi, chưa đạt đến độ tuổi kết hôn
theo luật định, cụ thể lúc này Mùi chưa được 14 tuổi.
Năm 2002, ông Ngon Mùi đăng kết hôn. Ngày 12/11/2002, UBND KL,
huyện NĐ, tỉnh NA nơi Mùi đăng tạm trú đã cấp Giấy chứng nhận kết n
cho hai người. Theo điểm 1 khoản B Mục I thông 12/1999/TT-BTP nơi đăng
kết hôn phải là Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng h khẩu thường trú của một
trong hai n nam nữ. Về mặt hình thức, việc đăng kết hôn của ông Ngon
Mùi vi phạm thẩm quyền đăng kết hôn. Căn c theo điểm a khoản 1 Điều 9 Luật
Hôn nhân Gia đình 2000 thì Mùi vẫn chưa đạt đến độ tuổi kết hôn theo luật
định, cụ thể từ đủ 18 tuổi trở lên.
Do đó, việc kết hôn này trái pháp luật vi phạm điều kiện về độ tuổi theo
khoản a điểm 1 Điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình 2014. Bên cạnh đó, xét về chủ
thể thẩm quyền u cầu a án hủy việc kết hôn trái pháp luật Bông
hợp pháp quan hệ vợ chồng của ng ông Ngon đã được công nhận từ
năm 1982 căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ 2014
Như vậy theo quan điểm của nhóm, Tòa án nên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa
ông Ngon Mùi với do vi phạm điều kiện kết hôn căn cứ theo điểm 1 Điều 2
khoản 4 Điều 2 TTLT 01/2016 theo yêu cầu của Bông.
Giải quyết về tài sản:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 3 của TTLT 01/2016, Tòa án sẽ giải quyết quan hệ về i
sản giữa các bên theo quy định tại Điều 15 Điều 16 của Luật Hôn nhân Gia
đình các bộ luật liên quan.
14
Dựa vào khoản 1 Điều 16 Luật HNGĐ 2014 thì hôn nhân giữa ông Ngon
Mùi quan hệ n nhân trái pháp luật nên các quan hệ về tài sản không được giải
quyết theo bộ luật này căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015. Xét Điều 219 BLDS
thể thấy ông Ngon bà Mùi sở hữu chung một động sản trị giá 1 tỷ 900 triệu
đồng. Tòa án thể phân chia khối tài sản y theo thỏa thuận giữa các bên; trong
trường hợp không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của BLDS các
quy định khác liên quan. Tuy i sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng
cần tính đến các yếu tố được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 16 luật này để lưu
tâm bảo vệ quyền lợi ích của con trẻ phụ nữ.
Cụ thể n, hai bên khối động sản chung trị giá 1 tỷ 900 triệu đồng nhưng do
không thỏa thuận được nên sẽ được chia đôi. Vậy ông Ngon Mùi sẽ được
chia tài sản trị giá 950 triệu đồng mỗi người. Ngoài ra, theo quan điểm của nhóm,
Tòa án cần u tâm đến con chung giữa ông Ngon và Mùi là bé Quang mới 6
tuổi, do đó cần nên cân nhắc chia i sản nhiều hơn về phía người nuôi dưỡng để
chăm sóc được tốt hơn.
Giải quyết về con chung:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 3 của TTLT 01/2016, Tòa án sẽ giải quyết quan hệ về tài
sản giữa các bên theo quy định tại Điều 15 Điều 16 của Luật Hôn nhân Gia
đình.
Theo điểm 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 quy định vợ, chồng thỏa thuận v người
trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường
hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp
nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. đây, tính đến ngày 20/9/2019 thì
con chung của ông Ngon Bông Quang (04/12/2013) dưới 7 tuổi nên a
án sẽ xem t quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dựa trên một số yếu
tố như kinh tế, thời gian chăm sóc, đạo đức, lối sống. Ngoài việc căn cứ vào các
điều kiện của từng người, Tòa án đồng thời nên xem xét nguyện vọng tình cảm của
Quang rồi ra quyết định cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, bên còn lại nghĩa
vụ cấp ỡng, thăm nom.
Nhưng theo quan điểm của nhóm, độ tuổi của Quang vẫn còn nhỏ, thiết nghĩ
trong thực tế Tòa án nên xem xét giao quyền nuôi con cho người mẹ Mùi để thể
nhận được sự nuôi ỡng chu đáo nhất đồng thời tránh cho khỏi những mâu thuẫn vốn
tồn tại từ trước giữa ông Ngon Bông (quan hệ hôn nhân từ trước) nếu phát sinh.
2.6. T góc độ pháp lý, anh, chị hãy phân tích giải đường hướng xử của Tòa
án thẩm quyền trước yêu cầu của Hội Phụ nữ thành phố H biết rằng trong
quá trình tố tụng, ch Trà nguyện vọng công nhận hôn nhân còn anh Tâm đề
nghị giải quyết cho ly hôn.
15

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BỘ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
-----------***-----------
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI
VẤN ĐỀ: Kết hôn, - Hủy kết hôn trái pháp luật
- Giải quyết hậu quả việc chung sống như vợ chồng Lớp TMQT47.2
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Lê Thị Mận
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM STT HỌ VÀ TÊN MSSV 1 Vũ Minh Phương Uyên 2253801090104 2 Lê Đình Phương Trâm 2253801090091 3 Trương Bá Chu Uyên 2253801090103 4 Nguyễn Lê Minh Phương 2253801090075 5 Lê Trần Ánh Nhi 2253801090061 6
Huỳnh Ngọc Thảo Nhi 2253801090060 7 Lê Trung Nguyên 2253801090057 8 Lâm Hoài Phúc 2253801090072 9 Nguyễn Thanh Phước 2253801090074
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 9 năm 2023
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 9 năm 2023
Trường: Đại học Luật TP.HCM Khoa: Luật Quốc tế
Bộ môn: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
BÁO CÁO PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC VÀ KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
Buổi thảo luận thứ nhất: Kết hôn, - Hủy kết hôn trái pháp luật
- Giải quyết hậu quả việc chung sống như vợ chồng Lớp: TMQT47.2 STT HỌ VÀ TÊN MSSV NHIỆM VỤ TỶ LỆ ĐÓNG GÓP 1 Vũ Minh Phương Uyên 225380109010 Tình huống 4 2.2; Mục III 100% 5 (Lý thuyết); 2 Lê Đình Phương Trâm 225380109009 1 Tình huống 100% 2.6; Mục III 2 (Lý thuyết); 3 Trương Bá Chu Uyên 225380109010 3 Tình huống 100% 2.1; Mục III 3 (Lý thuyết); 4 Nguyễn Lê Minh Phương 225380109007 5 Tình huống 100% 2.6; Mục III 1 (Lý thuyết); 5 Lê Trần Ánh Nhi 225380109006 1 Tình huống 100% 2.5; Mục III 6
Huỳnh Ngọc Thảo Nhi 225380109006 0 Tổng hợp 100% 6 (Lý thuyết); 7 Lê Trung Nguyên 225380109005 7 Tình huống 100% 2.3; Mục III 8 Lâm Hoài Phúc 225380109007 Tình huống 2 2.4; Mục III 100% 4 (Lý thuyết); 9 Nguyễn Thanh Phước 225380109007 4 Tình huống 100% 2.4
Nhận xét của giảng viên: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Giảng viên Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
(Ký và ghi rõ họ tên) MỤC LỤC
I. LÝ THUYẾT: TRẢ LỜI/ PHÂN TÍCH/ LÀM SÁNG TỎ CÁC NỘI DUNG SAU.1
1.1. Phân tích “khái niệm gia đình” có đối sánh pháp luật một số quốc gia. Nhận diện
thành viên gia đình và cho biết mô hình gia đình được Luật Hôn nhân gia đình hiện hành
khuyến khích phát triển? Quan điểm cá nhân về việc bảo vệ các giá trị truyền thống của
gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ cùng sống chung?. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
1.2. Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .2
1.3. Xác định người đang có vợ, có chồng. Cho ví dụ về các trường hợp người chưa đăng
ký kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật 5
1.4. Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.5. Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Phân tích các trường hợp
ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.6. Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống như vợ
chồng? Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đồng thời vi
phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chính có thể được xác
định . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .7
1.7. Phân tích một số câu nhận định. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .11
II. TÌNH HUỐNG. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .12
2 1. Theo anh chị, cơ quan chức năng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào, tại sao? 12
2.2. Theo các anh (chị), Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?. . . . . . . . . .12
2.3. Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan điểm của anh (chị) về pháp luật áp dụng và
đường lối giải quyết yêu cầu của bà Anh theo tình huống trên. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.4. Anh chị hãy cho biết, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội phụ nữ như
thế nào cho phù hợp tinh thần pháp luật?. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .13
2.5. Hỏi, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu (hủy việc kết hôn giữa ông Ngon và bà
Mùi) của bà Bông như thế nào, vì sao? Nếu ông Ngon và bà Mùi tranh chấp tài sản và
không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì Tòa án phải giải quyết các vấn đề này
ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật, biết rằng ông Ngon và bà Mùi có con chung là
Quang, sinh ngày 04.12.2013 và hai bên có khối động sản chung trị giá 1 tỷ 900 triệu
đồng?. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.6. Từ góc độ pháp lý, anh, chị hãy phân tích và lý giải đường hướng xử của Tòa án có
thẩm quyền trước yêu cầu của Hội Phụ nữ thành phố H biết rằng trong quá trình tố tụng,
chị Trà có nguyện vọng công nhận hôn nhân còn anh Tâm đề nghị giải quyết cho ly hôn.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
III. ĐỌC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH VÀ TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM. . . . . . . . . . . . . 18
3.1. Đọc Bản án số 04/2019/HNGĐ-ST về “Hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc
nuôi con chung” ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh C và
bình luận đường lối giải quyết vụ án của Tòa án các cấp trên cơ sở áp dụng pháp luật về
căn cứ hủy hôn, chủ thể yêu cầu hủy hôn, thẩm quyền giải quyết và hậu quả pháp lý việc
hủy kết hôn trái pháp luật về nhân thân và con chung. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .18
3.2. Đọc Quyết định giám đốc thẩm Số: 04/2021/HNGĐ-GĐT về “Yêu cầu hủy việc kết
hôn trái pháp luật” ngày 07/7/22021 của Tòa án nhân dân Tối cao và bình luận về việc áp
dụng pháp luật, tiêu chí xác định hôn nhân thực tế cũng như đường lối giải quyết quan hệ
nhân thân, con chung trong phán quyết của Tòa án các cấp. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. LÝ THUYẾT: TRẢ LỜI/ PHÂN TÍCH/ LÀM SÁNG TỎ CÁC NỘI DUNG SAU
1.1. Phân tích “khái niệm gia đình” có đối sánh pháp luật một số quốc gia. Nhận
diện thành viên gia đình và cho biết mô hình gia đình được Luật Hôn nhân gia
đình hiện hành khuyến khích phát triển? Quan điểm cá nhân về việc bảo vệ các
giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ cùng sống chung?
Khái niệm gia đình
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Gia đình là tập hợp
những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ
nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.”
Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc
biệt) cùng chung sống. Những người trong gia đình tồn tại một mối quan hệ được
gắn bó và liên kết chặt chẽ. •
Giữa các thành viên trong gia đình đều có trách nhiệm và các mối quan hệ ràng
buộc với nhau, quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đều được bảo
đảm phù hợp về mặt pháp lý và đạo lý. Quan hệ hôn nhân là nền tảng hình thành
nên các mối quan hệ, là cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của mỗi gia đình. Quan hệ
huyết thống là quan hệ quan hệ giữa những người cùng chung một dòng máu, nảy
sinh từ quan hệ hôn nhân, đây là mối quan hệ tự nhiên, là yếu tố mạnh mẽ nhất
gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau. •
Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng
sống chung và có ngân sách chung. Ở phương Tây, những năm gần đây xuất hiện
nhiều dạng gia đình biến thái khiến cho định nghĩa về gia đình đều trở nên bất
cập. Chẳng hạn: Các tác giả Jame W. Vander Zanden - cho biết: “Một cuộc thăm
dò mới đây cho thấy 45% người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi khôn gcần kết
hôn mà cùng chung sống với nhau thì được coi là một gia đình đích thực, 33% coi
các đôi cùng giới tính có nuôi nấng con cái là gia đình, còn 20% thì coi các cặp
đồng giới tính chung sống với nhau là một gia đình”. Đối với người á Đông nói
chung và người Việt Nam nói riêng, gia đình là một giá trị xã hội quan trọng vào
bậc nhất. Nếu ở châu Âu gia đình nhiều khi đơn giản chỉ được coi là một nhóm xã
hội thì ở ta, gia đình được coi là một tế bào xã hội có tính sản sinh với đầy đủ các
yếu tố cấu thành của nó như vợ - chồng - con cái.
Thành viên trong gia đình
Theo khoản 16 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, “Thành viên gia đình
bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha
mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, 1
chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác
cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác
mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì,
chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.”
Hiện nay, có hai loại mô hình gia đình là gia đình hiện đại (gia đình hạt nhân) và
gia đình truyền thống (gia đình 3 thế hệ trở lên). Loại mô hình gia đình được Luật
Hôn nhân và gia đình khuyến khích phát triển là gia đình truyền thống nhằm giữ
gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, phát huy tối đa nghĩa vụ của
các thành viên trong gia đình.
Bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ cùng sống chung
Việc bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ
cùng chung sống có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển của gia đình
và xã hội. Gia đình là tế bào, nền tảng của xã hội, là cơ sở để xã hội tồn tại và
phát triển. Việc chung sống nhiều thế hệ trong một gia đình giúp lan tỏa tình yêu
thương giữa các thành viên được trở nên dễ dàng, các giá trị truyền thống hay
phong tục truyền thống tốt đẹp được giữ gìn và phát huy một cách dễ dàng hơn.
Nề nếp, lễ nghĩa đều được các thế hệ lớn dạy dỗ, chỉ dẫn cho thế hệ trẻ một cách
kĩ lưỡng khiến cho truyền thống yêu thương con người của dân tộc ta ngày càng
phát triển. Tuy nhiên, sự cách biệt về khoảng cách thế hệ và tuổi tác giữa các
thành viên trong gia đình có thể dẫn đến các mâu thuẫn do vậy các thành viên
trong gia đình đều cần phải cố gắng, nỗ lực để vun đắp tình cảm gia đình, vượt qua khoảng cách.
1.2. Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Các điều kiện bao gồm:
Theo điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 qui định:
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các

điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này
2.Nhà nước không thừa nhận giữa những người cùng giới tính”

Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng: 2
§ Về tuổi kết hôn.
Việc Luật Hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôn của nữ là đủ 18 tuổi, tuổi kết
hôn của nam là đủ 20 tuổi về cơ bản là sự kế thừa của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam, góp phần làm cho việc kết hôn và quan hệ hôn nhân được lành mạnh, góp phần thực
hiện tốt chức năng xã hội của hôn nhân.
Tuy nhiên, việc quy định tuổi kết hôn chênh lệch của nam và nữ cũng đặt ra vấn đề về
bảo đảm bình đẳng giới, về sự đồng bộ với năng lực hành vi dân sự của người thành niên
trong Bộ luật Dân sự. Thực tiễn áp dụng quy định về tuổi kết hôn cho thấy tình trạng tảo
hôn vẫn diễn ra phổ biến ở khu vực miền núi, dân tộc thiểu số. Bà con vùng đồng bào dân
tộc hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào
cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ
rất sớm, nên mặc dù việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán, họ hàng
hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng.
§ Điều kiện về sự tự nguyện của nam, nữ:
Trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản hướng dẫn cũng hướng dẫn
về những trường hợp bị coi là một bên lừa dối nhưng là dưới dạng liệt kê hành vi như: lừa
dối là nếu kết hôn sẽ xin việc cho, nếu kết hôn thì bảo lãnh ra nước ngoài, . .chứ không có
những tiêu chí như thế nào là "lừa dối", không khái quát được hết các trường hợp lừa dối
khiến cho việc xác định hành vi lừa dối trong hôn nhân có nhiều vướng mắc.
Trên thực tế sự tự nguyện chỉ có thể được xác định thông qua hành vi thể hiện ý chí
của người kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc kết hôn. Bản
thân yếu tố chủ quan bên trong như tình cảm, mong muốn, nguyện vọng của người kết
hôn như thế nào thì lại khó có thể biết. Bên cạnh đó vấn đề thẩm định sự tự nguyện kết
hôn có yếu tố nước ngoài còn nhiều hạn chế, nhất là trong cách tiến hành phỏng vấn. Một
số cơ quan nhà nước vẫn tiến hành phỏng vấn một cách hời hợt cho qua, chưa làm đúng
với tinh thần và tầm quan trọng của thủ tục phỏng vấn, cán bộ biết tiếng nước ngoài cũng
không nhiều nên nhiều khi cán bộ phỏng vấn không hiểu được các đương sự nói gì.
§ Về năng lực hành vi dân sự trong kết hôn.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì người bị mất năng lực hành vi dân
sự không được kết hôn và theo Điều 22 Bộ luật Dân sự thì một người chỉ bị mất năng lực
hành vi dân sự khi tòa án tuyên bố. Do đó, trong thực tiễn áp dụng vẫn còn có ý kiến cho
rằng, người chưa bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự mặc dù mắc bệnh tâm
thần hay bệnh khác không làm chủ được hành vi thì vẫn được kết hôn, nhưng khi giải
quyết quan hệ nhân thân có liên quan, một số tòa án lại tuyên bố là việc kết hôn trái pháp luật.
§ Những trường hợp cấm kết hôn. 3
Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những
người có họ trong phạm vi ba đời không có tính khả thi khi áp dụng tại các vùng dân tộc
thiểu số. (Ví dụ như: đồng bào dân tộc Xinh Mun trên địa bàn huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
còn có hôn nhân cận huyết nhiều)
Kết hôn trái pháp luật được hiểu: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký
kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều
kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. Như vậy trong Điều 8 có dẫn chiếu
đến các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 của Luật quy định các hành vi bị cấm. Trong đó tại
điểm c quy định cấm “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ
chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Những trường hợp người đang có vợ, có
chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác trên thực tế xảy ra khá nhiều, ảnh
hưởng không nhỏ đến danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ nói riêng, phá vỡ hạnh phúc
gia đình vốn đang tốt đẹp, nhưng rất khó giải quyết. Muốn xác định chung sống như vợ
chồng với nhau phải đáp ứng nhiều khía cạnh pháp lý, do vậy đường lối giải quyết của địa
phương đa phần là vận động, giải thích pháp luật để các bên chấm dứt quan hệ sai trái.
Về việc xác định thế nào là người đang có vợ, có chồng. Trên thực tế việc xác định
tình trạng hôn nhân của các bên không phải lúc nào cũng đơn giản. Tuy nhiên rất khó xác
định họ chung sống với nhau từ thời điểm nào, thế nào là chung sống với như vợ chồng,
đặc biệt đối với những cặp không sống chung thường xuyên tại một địa phương. Vì vậy
dẫn đến tình trạng người đang có vợ hoặc có chồng vẫn được cơ quan có thẩm quyền
chấp nhận yêu cầu đăng kí kết hôn.
§ Về vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Luật Hôn nhân và Gia đình không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới
tính nhưng đồng thời không can thiệp vào việc sống chung giữa họ, pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính cũng đã bãi bỏ việc xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi tổ
chức lễ cưới, việc chung sống giữa những người cùng giới tính. Đây là sự tiến bộ lớn
trong cả trong nhận thức và trong áp dụng pháp luật về tôn trọng quyền, lợi ích chính
đáng, hợp pháp của người đồng tính nói riêng, cộng đồng người yếu thế nói chung.
Tuy nhiên, để thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích của những cá nhân này, thể chế
về các vấn đề liên quan cũng cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hơn trên nguyên
tắc tôn trọng, bảo đảm sự bình đẳng, chống phân biệt đối xử, có cơ chế pháp lý phù hợp
với quan hệ sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, hạn chế được
những nguy cơ, rủi ro pháp lý phát sinh với họ và những quan hệ xã hội khác liên quan.
Để giải quyết vấn đề này, hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn giải pháp công
nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhằm bảo đảm quyền con người, quyền
bình đẳng, mong muốn được kết hôn với những người có cùng giới tính để đồng cảm,
chia sẻ, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. 4
1.3. Xác định người đang có vợ, có chồng. Cho ví dụ về các trường hợp người
chưa đăng ký kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật.
Việc xác định mối quan hệ vợ, chồng có ý nghĩa quan trọng để xác định quyền và
nghĩa vụ trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp phải đăng
ký kết hôn thì mới được công nhận là vợ, chồng. Tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP xác
định người đang có vợ hoặc có chồng là:
- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn;
- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang
chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;
- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày
01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng
không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực
cho đến trước ngày 01/01/2003).
Ví dụ về các trường hợp người đang có vợ, có chồng không được kết hôn hoặc sống
chung như vợ chồng với người khác: A và B là vợ chồng hợp pháp từ năm 2000. Đến
năm 2013, A đi công tác ở Hà Nội quen biết C và sống chung như vợ chồng với C. Như
vậy, trong trường hợp này, A đã có vợ là B và chưa ly hôn thì không được sống chung
như vợ chồng với C.
1.4. Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn.
Theo điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015,
việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan hộ tịch không đúng thẩm quyền có thể không có
hiệu lực. Do vậy việc đăng ký kết hôn tại cơ quan hộ tịch đúng thẩm quyền là đặc biệt
quan trọng. Thẩm quyền đăng ký kết hôn được quy định như sau:
• Nếu cả hai bên nam nữ là người Việt Nam cư trú tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân
cấp xã, phường nơi cư trú của một trong hai bên có thẩm quyền đăng ký kết hôn
• Đối với trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài, tức là một trong hai bên nam nữ
là người nước ngoài, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài hoặc
công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, thì thẩm quyền đăng ký kết hôn được quy định như sau:
• Từ ngày 31/12/2015 trở về trước: Sở Tư pháp (cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. (Trường
hợp ngoại lệ: Những người chỉ lưu trú có thời hạn tại nước ngoài, ví dụ: sinh viên
đi du học tại nước ngoài, nhân viên của công ty Việt Nam được cử đi làm việc có 5
thời hạn tại chi nhánh của công ty ở nước ngoài (ví dụ: Vietnam Airlines) có thể
kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường.)
• Từ ngày 01/01/2016: Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký kết hôn
có yếu tố nước ngoài. (Trường hợp ngoại lệ: Không có)
1.5. Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Phân tích các
trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài được áp dụng đối với trường hợp
kết hôn trái pháp luật, thể hiện thái độ của Nhà nước về việc không thừa nhận giá trị
pháp lý của quan hệ hôn nhân.
Theo quy định của pháp luật, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền hủy việc kết hôn trái
pháp luật. Khi Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Giấy chứng nhận
kết hôn mà hai bên được cấp trước đó không có giá trị pháp lý. Do đó, hai bên nam nữ
không phải là vợ chồng của nhau, họ buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng
trái pháp luật. Vì vậy, Tòa án phải gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn cho
hai bên nam nữ bản sao quyết định của Tòa án về hủy việc kết hôn trái pháp luật để cơ
quan này ghi vào Sổ hộ tịch.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 5 và Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định rõ
các trường hợp: kết hôn vi phạm về tuổi; sự tự nguyện của hai bên; giữa người mất năng
lực hành vi dân sự; thuộc trường hợp bị cấm và giữa những người cùng giới tính.
Căn cứ quy định nêu trên, việc công nhận quan hệ vợ chồng khi kết hôn trái luật được
hướng dẫn tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình như sau: “Trong trường hợp
tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết
hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu
cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong
trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết
hôn theo quy định của Luật này.”
Kết hôn vi phạm về tuổi
Theo quy định điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện về tuổi để

nam, nữ được đăng ký kết hôn là: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”
Trong đó, việc xác định “đủ” căn cứ theo ngày, tháng, năm sinh. Ví dụ, người nữ sinh

ngày 10/01/1997 thì đến ngày 10/01/2015 người nữ sẽ được tính là đủ 18 tuổi.
Như vậy, nếu nam, nữ kết hôn khi chưa đủ các điều kiện về tuổi thì được xác định là kết

hôn trái luật và tại thời điểm Tòa án giải quyết việc hủy kết hôn trái luật mà nam, nữ đã
đủ tuổi, cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì nam, nữ này vẫn được
công nhận là vợ, chồng hợp pháp. 6
Lừa dối, cưỡng ép… kết hôn
Trường hợp này, điểm d.2 khoản d Điều 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn sau

khi bị ép buộc, lừa dối hoặc cưỡng ép mà bên bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép đã biết, thông
cảm và tiếp tục chung sống hòa thuận thì không hủy việc kết hôn trái luật này.
Do đó, trong trường hợp này, dù kết hôn trái luật nhưng thì vẫn không bị hủy quan hệ

hôn nhân và vẫn được công nhận là vợ chồng hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện nêu trên.
Kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự
Theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự, khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất

năng lực hành vi dân sự thì khi nhận được yêu cầu, Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ việc
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, với trường hợp này, nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự được Tòa án ra

quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ đáp ứng điều
kiện kết hôn tại Luật Hôn nhân và Gia đình nên sẽ vẫn được công nhận là vợ chồng khi
đáp ứng đủ điều kiện kết hôn.
Nói tóm lại, khi nam, nữ vi phạm các điều kiện kết hôn về độ tuổi, về sự tự nguyện và
với người mất năng lực hành vi dân sự thì tại thời điểm Tòa án giải quyết hủy kết hôn trái
luật nếu đáp ứng đủ điều kiện kết hôn thì vẫn có thể được công nhận là vợ chồng
1.6. Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống
như vợ chồng? Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ
chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự và
hành chính có thể được xác định.
Khái niệm về việc chung sống với nhau như vợ chồng được quy định tại Khoản 7 Điều
3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức
cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.”
Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không được pháp luật thừa
nhận hay có thể hiểu nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có giá trị
pháp lý, bao gồm các trường hợp cụ thể sau: •
Nam, nữ đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn: Trường hợp
nam, nữ chung sống như vợ chồng, dù hai bên có đủ điều kiện kết hôn (Điều 8
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về các điều kiện kết hôn), nhưng
xuất phát từ một vài lý do mà các bên không tiến hành kết hôn, như ở các tỉnh
miền núi, do phong tục tập quán, kết hôn chỉ cần sự chứng kiến của già làng nên
việc đăng ký kết hôn chưa được người dân quan tâm hoặc với nhiều đôi nam, nữ 7
sống không muốn ràng buộc mà chỉ cần “góp gạo thổi cơm chung” không cần đăng ký kết hôn. •
Nam, nữ không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật: Nam và nữ
không đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng (kể
từ ngày 03/01/1987 trở về sau) mà không đăng ký kết hôn. Trường hợp này có
nghĩa là một trong hai bên hay cả hai bên nam và nữ không đủ điều kiện kết hôn,
nên họ không thể đăng ký kết hôn nhưng vẫn chung sống với nhau như vợ chồng.
Ví dụ, trường hợp hai bên nam và nữ đều đủ 16 tuổi, có tài sản riêng, chung sống
với nhau như vợ chồng, thậm chí có quan hệ tình dục với nhau một cách tự nguyện
thì hành vi chung sống này cũng không bị xem là vi phạm pháp luật. •
Chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính: Về nguyên tắc, Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân
giữa những người cùng giới tính”, tuy nhiên, trên thực tế, pháp luật không cấm
những người cùng giới tính được chung sống với nhau. Do đó, việc những người
cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng không bị xem là vi phạm pháp luật.
Những hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên hoàn toàn không vi phạm pháp
luật. Về hình thức, nam, nữ chung sống như vợ chồng không có giấy chứng nhận đăng ký
kết hôn do cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp. Ðiều đó có nghĩa là giữa họ trong
quan hệ hôn nhân không có chứng cứ về mặt pháp lý để khẳng định họ là vợ chồng. Vậy,
khi họ xin “ly hôn”, quyền lợi của họ sẽ được bảo đảm như thế nào?
Lần đầu tiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định về giải quyết hậu quả
pháp lý của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
Về nhân thân: Giữa họ không phát sinh quan hệ hôn nhân, theo đó, khi nam, nữ có
đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì
“không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”10, điều này đúng với cả trường
hợp nam, nữ không đủ điều kiện kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
Quy định này được nhắc lại một lần nữa thông qua thủ tục tố tụng: “Trong trường
hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không
công nhận quan hệ vợ chồng”. Tức là quyền và nghĩa vụ vợ chồng của họ theo ý nghĩa
pháp lý chưa từng phát sinh, nên Tòa án sẽ không tuyên bố quan hệ đó chấm dứt.
Về tài sản: Cần khẳng định rằng, việc ưu tiên giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và
hợp đồng của các bên nam, nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn theo thỏa thuận giữa các bên là rất hợp lý. Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể như sau: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng
của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải 8
quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết
theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Thế nhưng, trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lại không đề cập đến trường
hợp thỏa thuận vô hiệu, trong khi trường hợp giữa các bên không có thỏa thuận và trường
hợp giữa các bên có thỏa thuận nhưng thỏa thuận vô hiệu là hai vấn đề hoàn toàn khác
nhau. Chẳng hạn, giữa các bên nam, nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống như vợ chồng có
thỏa thuận với nhau về quan hệ tài sản, nhưng thỏa thuận đó là giả tạo nhằm mục đích trốn
tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì bị xem là thỏa thuận vô hiệu.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc
giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công
việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao
động có thu nhập”. Quy định như vậy không chỉ bảo đảm tính nhân văn, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con mà sâu xa hơn còn phù hợp với lẽ công bằng, bảo vệ
quyền tài sản của các bên liên quan. Thừa nhận công việc nội trợ và các công việc khác có
liên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập là quy định tiến bộ
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ trong quá trình chung sống. Tuy
nhiên, do tồn tại quy định mang tính tùy nghi “các công việc khác có liên quan” nên nếu
không được giải thích rõ ràng và áp dụng thống nhất thì bảo đảm pháp lý này sẽ bị giới hạn trên thực tế.
Việc chung sống giữa những người cùng giới tính là quyền mỗi người với tư cách cá
nhân của họ. Nhà nước thông qua pháp luật có quyền không công nhận hôn nhân của họ.
Về bản chất thì quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính là sự thỏa thuận của
hai bên chung sống, như một quan hệ dân sự. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc
chung sống giữa họ được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự. Vậy nên, khi có
tranh chấp xảy ra giữa họ về tài sản và các quyền, nghĩa vụ thì áp dụng quy định của Bộ
luật Dân sự để giải quyết thì sẽ hợp lý và phù hợp với thực tế hơn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, tuy nhiên trong khuôn khổ bải làm của
nhóm, nhóm em chỉ xin đưa ra một số những nguyên nhân nổi bật dẫn đến hiện tượng
nam nữ chung sống như vợ chồng trái pháp luật như sau:
Thứ nhất, là do tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu hóa: xu hướng toàn cầu hóa
tác động đến hàng loạt các lĩnh vực như chính trị, văn hóa, xã hội… và do đó, sự ảnh
hưởng của lối sống của các nước phương Tây như: sống thử, sống thực dụng, sống buông
thả….tất yếu sẽ xâm nhập vào cuộc sống xã hội của nước ta. Cùng với đó là sự phát triển
nhanh chóng của công nghệ thông tin với những trò chơi online, chat webcam. Các
website tìm bạn, tìm người yêu qua mạng… đã tạo điều kiện cho nam nữ tiếp cận nhanh
hơn, dễ dàng hơn, do đó đã thúc đầy nhanh số lượng nam nữ chung sống với nhau như vợ
chống. Bên cạnh đó không thể phủ nhạn được do tính cách, nhu cầu thích tự lập, không
muốn bị bố mẹ can thiệp của thế hệ trẻ, cùng với bản tính thích tò mò… đã khiến cho một
lượng lớn thanh niên tiếp cận và chấp nhận cách sống như vậy. 9
Thứ hai là do ảnh hưởng của phong tục tập quan, những hủ tục lạc hậu: mặc dù công
tác giáo dục, tuyên truyền vẫn được diễn ra hàng ngày trên thực tế, nhưng do đồng bào
các dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức được hết vai trò, ý nghĩa của việc đăng ký kết
hôn, cùng với bản sắc văn hóa đã khiến cho tình trạng này vẫn diễn ra trên thực tế.
Thứ ba là do xuất phát từ yếu tố tâm lý chủ quan của hai bên nam, nữ: có thể là do
xuất phát từ sự e ngại đối với những người đã từng trải qua một cuộc sống hôn nhân, hoặc
sự tự tin về một tình yêu vĩnh cửu nên không cần đăng ký kết hôn, do sự tò mò, muốn
chạy theo xu hướng để được bằng bạn, bằng bè, hoặc tâm lý không muốn bị chói buộc,
nên việc lựa chọn chung sống như vợ chồng với người khác mà không đăng ký kết hôn
được họ ưu tiên lựa chọn.
Thứ tư là do các quy định của pháp luật và sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền
còn chưa thực sự hiệu quả.
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có thể xảy ra
các hậu quả pháp lý như sau:
Trường hợp nam, nữ đủ điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn mà
chung sống với nhau như vợ chồng thì mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nếu nam, nữ sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn
theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải
quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Quan hệ tài sản,
nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký
kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa
thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và
con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi
như lao động có thu nhập.
Trường hợp nam, nữ đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống với người
khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ
là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt
chung như một gia đình thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 48, Nghị định
110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình (được sửa đổi, bổ sung bởi
Nghị định 67/2015/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng hoặc
bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ở tội “Vi phạm chế độ một vợ một chồng” theo quy
định tại Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 với hình phạt cao nhất là 03 năm tù. 10
Và được quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 giải quyết hậu quả
của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:
Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng
ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải
quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp
không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và
con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi
như lao động có thu nhập.
Trong trường hợp nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy
định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Việc nam nữ chung sống như vợ chồng hiện nay mà không đăng ký kết hôn, ngày
càng trở nên phổ biến. Trong những trường hợp này họ không được công nhận là vợ
chồng, quyền lợi của họ không được đảm bảo, khi họ bị xâm phạm đến quyền lợi pháp
luật không bảo vệ họ, . .Vì vậy, cần phải tuyên truyền và khuyến khích nam nữ có đủ độ
tuổi kết hôn và muốn sống chung như vợ chồng thì cần phải đi đăng ký kết hôn. Phải cần
có những quy định mềm dẻo hơn nhằm bảo vệ một số quyền trong những trường hợp như vậy.
1.7. Phân tích một số câu nhận định. 11 II. TÌNH HUỐNG
2.1. Theo anh chị, cơ quan chức năng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào, tại sao? Căn cứ pháp lý:
• Bộ Luật Dân sự năm 2015
• Luật Hộ tịch năm 2014
• Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ hoặc chồng cư trú.
Căn cứ Điều 37 BLDS năm 2015 có hiệu lực ngày 1/1/2017 quy định về Chuyển đổi
giới tính: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã
chuyển đổi giới có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật
về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã chuyển đổi theo quy định tại Bộ
luật này và luật khác có liên quan”.
Từ ngày 1/1/2017 đối với những người chuyển giới, luật quy định họ có quyền xác
định lại giới tính theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014.
Pháp luật của Việt Nam hiện hành đã có quy định chấp nhận việc xác định lại giới
tính cho những người chuyển giới. Mặc dù chị Lâm đã đi chuyển giới nhưng nếu chưa
làm thủ tục xác định lại giới tính, thì trên các giấy tờ nhân thân của chị vẫn nữ, pháp luật
vẫn thừa nhận chị Lâm có giới tính Nữ.
Do đó nếu muốn ly hôn, anh Tuấn vẫn thực hiện các quy định về ly hôn theo pháp
luật của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh Tuấn có thể thỏa thuận với chị Lâm
để thuận tình ly hôn hoặc ly hôn theo yêu cầu một bên.
Trường hợp thuận tình ly hôn: Hai bên sẽ cùng ký tên vào Đơn thuận tình ly hôn; thỏa
thuận thống nhất về các vấn đề liên quan đến chia tài sản, nuôi con, cấp dưỡng.
2.2. Theo các anh (chị), Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?
Năm 2017, anh Thuận 39 tuổi (sinh năm 1978) và chị Nga 17 tuổi (sinh năm 2000) kết hôn.
Xét điểm a Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị Nga chưa đủ 18
tuổi, chưa đạt đến độ tuổi kết hôn theo luật định. Do đó, việc kết hôn này trái pháp luật do
vi phạm về điều kiện độ tuổi “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.”
Xét về chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật: con đẻ của
anh Thuận với người vợ trước: là hợp pháp (khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) 12
Theo quan điểm của nhóm, Tòa án nên hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga với
lý do việc kết hôn này là trái pháp luật theo yêu cầu của con ruột anh Thuận.
2.3. Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan điểm của anh (chị) về pháp luật áp
dụng và đường lối giải quyết yêu cầu của bà Anh theo tình huống trên.
Căn cứ pháp lý: khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 •
Xét thấy: Ông Hoàng và bà Xuân đăng kí kết hôn tại xã H là sai với quy định tại
Khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 vì vào thời điểm đăng kí kết
hôn tại xã H thì Ông Hoàng và bà Anh vẫn là vợ chồng hợp pháp nên ông Hoàng
là đối tượng rơi vào trường hợp cấm hết hôn là “Người đang có vợ hoặc có chồng” •
Đường lối giải quyết: Theo điểm a khoản 3 Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000, bà Anh là vợ hợp pháp của ông Hoàng có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
2.4. Anh chị hãy cho biết, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội phụ
nữ như thế nào cho phù hợp tinh thần pháp luật?
Giải quyết về nhân thân: Căn cứ pháp lý:
• khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
• Điều 1; khoản 1 Điều 6 NĐ số 24/2013/NĐ-CP.
(1): Tại thời điểm kết hôn với bà Tuyết, ông Giang vẫn chưa tiến hành ly hôn với
bà Duyên và Tòa án chưa có các phán quyết liên quan nên ông Giang vẫn được xem là có
quan hệ vợ chồng với bà Duyên. Do đó, ông Giang không thể kết hôn với người khác.
(2): Thẩm quyền đăng ký kết hôn không thuộc về UBND xã mà phải là UBND tỉnh.
(1), (2) Qua đó, có thể thấy hôn sự của ông Giang và bà Tuyết không hợp pháp, hai
người sẽ không được công nhận quan hệ vợ chồng.
Giải quyết về tài sản: Căn cứ pháp lý:
• Điều 6 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
• Điêu 209, Điều 219 BLDS 2015.
Tài sản chung theo phần của ông Giang và bà Tuyết là 24 chỉ vàng 9999 sẽ được
chia đôi theo luật. Ngôi nhà do ông Giang đứng tên là tài sản riêng và sẽ không phải chia. 13
2.5. Hỏi, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu (hủy việc kết hôn giữa ông
Ngon và bà Mùi) của bà Bông như thế nào, vì sao? Nếu ông Ngon và bà Mùi
tranh chấp tài sản và không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì Tòa án
phải giải quyết các vấn đề này ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật, biết
rằng ông Ngon và bà Mùi có con chung là Quang, sinh ngày 04.12.2013 và hai
bên có khối động sản chung trị giá 1 tỷ 900 triệu đồng?
Giải quyết về nhân thân:
Ông Ngon và bà Bông đủ điều kiện kết hôn theo Luật HNGĐ năm 1959 nhưng cả
hai chỉ sống chung như vợ chồng từ năm 1982 tại phường 5, quận 6 thành phố TH
mà không đăng ký kết hôn. Căn cứ theo điểm a khoản 3 NQ 35/2000, quan hệ vợ
chồng của ông Ngon bà Bông được xác lập từ năm 1982 (trước khi Luật HNGĐ
1986 có hiệu lực). Đây có thể được công nhận là hôn nhân thực tế. •
Tháng 8/1999, vì lý do không thể sinh con, bà Bông đồng thuận cho ông Ngon
cưới bà Mùi (11/11/1985). Bà Mùi tại thời điểm này, xét theo điểm a khoản 1 Điều
8 Luật Hôn nhân và Gia đình, bà Mùi chưa đủ 18 tuổi, chưa đạt đến độ tuổi kết hôn
theo luật định, cụ thể lúc này bà Mùi chưa được 14 tuổi. •
Năm 2002, ông Ngon và bà Mùi đăng ký kết hôn. Ngày 12/11/2002, UBND xã KL,
huyện NĐ, tỉnh NA nơi bà Mùi đăng ký tạm trú đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn
cho hai người. Theo điểm 1 khoản B Mục I thông tư 12/1999/TT-BTP nơi đăng ký
kết hôn phải là Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một
trong hai bên nam nữ. Về mặt hình thức, việc đăng ký kết hôn của ông Ngon và bà
Mùi vi phạm thẩm quyền đăng ký kết hôn. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 9 Luật
Hôn nhân và Gia đình 2000 thì bà Mùi vẫn chưa đạt đến độ tuổi kết hôn theo luật
định, cụ thể là từ đủ 18 tuổi trở lên. •
Do đó, việc kết hôn này là trái pháp luật vì vi phạm điều kiện về độ tuổi theo
khoản a điểm 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Bên cạnh đó, xét về chủ
thể có thẩm quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật là bà Bông là
hợp pháp vì quan hệ vợ chồng của bà Bông và ông Ngon đã được công nhận từ
năm 1982 căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ 2014
Như vậy theo quan điểm của nhóm, Tòa án nên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa
ông Ngon và bà Mùi với lý do vi phạm điều kiện kết hôn căn cứ theo điểm 1 Điều 2 và
khoản 4 Điều 2 TTLT 01/2016 theo yêu cầu của bà Bông.
Giải quyết về tài sản:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 3 của TTLT 01/2016, Tòa án sẽ giải quyết quan hệ về tài
sản giữa các bên theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và Gia
đình và các bộ luật liên quan. 14 •
Dựa vào khoản 1 Điều 16 Luật HNGĐ 2014 thì hôn nhân giữa ông Ngon và bà
Mùi là quan hệ hôn nhân trái pháp luật nên các quan hệ về tài sản không được giải
quyết theo bộ luật này mà căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015. Xét Điều 219 BLDS có
thể thấy ông Ngon và bà Mùi sở hữu chung một động sản trị giá 1 tỷ 900 triệu
đồng. Tòa án có thể phân chia khối tài sản này theo thỏa thuận giữa các bên; trong
trường hợp không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của BLDS và các
quy định khác có liên quan. Tuy tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng
cần tính đến các yếu tố được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 16 luật này để lưu
tâm bảo vệ quyền và lợi ích của con trẻ và phụ nữ. •
Cụ thể hơn, hai bên có khối động sản chung trị giá 1 tỷ 900 triệu đồng nhưng do
không thỏa thuận được nên sẽ được chia đôi. Vậy ông Ngon và bà Mùi sẽ được
chia tài sản trị giá 950 triệu đồng mỗi người. Ngoài ra, theo quan điểm của nhóm,
Tòa án cần lưu tâm đến con chung giữa ông Ngon và bà Mùi là bé Quang mới 6
tuổi, do đó cần nên cân nhắc chia tài sản nhiều hơn về phía người nuôi dưỡng bé để
chăm sóc bé được tốt hơn.
Giải quyết về con chung:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 3 của TTLT 01/2016, Tòa án sẽ giải quyết quan hệ về tài
sản giữa các bên theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và Gia đình. •
Theo điểm 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 quy định vợ, chồng thỏa thuận về người
trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường
hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp
nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Ở đây, tính đến ngày 20/9/2019 thì
con chung của ông Ngon và bà Bông là Quang (04/12/2013) dưới 7 tuổi nên Tòa
án sẽ xem xét quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dựa trên một số yếu
tố như kinh tế, thời gian chăm sóc, đạo đức, lối sống. Ngoài việc căn cứ vào các
điều kiện của từng người, Tòa án đồng thời nên xem xét nguyện vọng tình cảm của
bé Quang rồi ra quyết định cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, bên còn lại có nghĩa
vụ cấp dưỡng, thăm nom.
Nhưng theo quan điểm của nhóm, vì độ tuổi của bé Quang vẫn còn nhỏ, thiết nghĩ
trong thực tế Tòa án nên xem xét giao quyền nuôi con cho người mẹ là bà Mùi để có thể
nhận được sự nuôi dưỡng chu đáo nhất đồng thời tránh cho bé khỏi những mâu thuẫn vốn
tồn tại từ trước giữa ông Ngon và bà Bông (quan hệ hôn nhân từ trước) nếu có phát sinh.
2.6. Từ góc độ pháp lý, anh, chị hãy phân tích và lý giải đường hướng xử của Tòa
án có thẩm quyền trước yêu cầu của Hội Phụ nữ thành phố H biết rằng trong
quá trình tố tụng, chị Trà có nguyện vọng công nhận hôn nhân còn anh Tâm đề
nghị giải quyết cho ly hôn. 15