


Preview text:
ĐỀ BÀI: Hiện nay, khi tìm kiếm trên các trang web về giai đoạn 1954 -
1975, quá nửa số trang đó có nhận định rằng giai đoạn này ở Việt Nam có
nội chiến. Là sinh viên Việt Nam, em có suy nghĩ gì về nhận định trên? Hãy
chứng minh cho ý kiến của mình. BÀI LÀM
Là một sinh viên Việt Nam, em cho rằng, nhận định trên là hoàn toàn sai lầm,
dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc trong nhận thức lịch sử Việt Nam bởi giai đoạn
này không phải có nội chiến ở Việt Nam mà là nước ta kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Nội chiến là chiến tranh giữa các thành phần trong một nước hay quốc gia, giữa
những người đồng bào cùng ngôn ngữ nhưng tranh chấp nhau vì nhiều lý do
khác nhau như tôn giáo, chính trị, kinh tế… Trong lịch sử, trên thế giới đã xảy
ra nhiều cuộc nội chiến ở các quốc gia như nội chiến ở Anh 1642 – 1651, nội
chiến ở Mỹ 1861 – 1865… Bên cạnh đó, một số cuộc nội chiến trong lịch sử
Việt Nam có thể kể đến như thời loạn 12 sứ quân, thời Trịnh – Nguyễn phân
tranh, hay cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn với nhà Nguyễn ở Đàng Trong và nhà
Trịnh ở Đàng Ngoài…. Chính vì vậy, giai đoạn 1954 - 1975 không thể coi là
Việt Nam có nội chiến bởi lẽ bản thân nước Mỹ đã đem hơn nửa triệu quân đến
Việt Nam cùng nhiều lính đồng minh từ các nước.
Sau khi chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, Mỹ nhanh
chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến
hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam vào đầu năm 1955, lập ra cái gọi là
chính thể “Việt Nam Cộng hoà” với âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam,
biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ. Mỹ
không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới mà còn nhằm thực
hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, đàn áp phong trào giải
phóng dân tộc. Ngoài ra, Mỹ còn tính toán tới lợi ích kinh tế mà các tập đoàn tư
bản công nghiệp, tài chính hùng mạnh của Mỹ thu được qua cuộc chiến này,
đồng thời tính toán tới sự răn đe đối với Liên Xô, Trung Quốc và phong trào
giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu và lợi ích của giới tư bản Mỹ
là các nhân tố quyết định hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo
thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Mỹ đã chuẩn bị những trang thiết bị tối
tân nhất, hiện đại nhất, sử dụng khối lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học, chất
độc da cam tiến hành càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều dân thường. Mỹ lập ra
Việt Nam Cộng hòa, sử dụng lực lượng Việt Nam Cộng hòa và chỉ huy Việt
Nam Cộng hòa chứ không phải mối quan hệ đồng minh. Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Mỹ là lực lượng chính của chiến tranh, Việt Nam Cộng hòa chỉ đóng vai trò hỗ trợ.
Bên cạnh đó, Mỹ còn ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ở giai đoạn từ sau chiến dịch Tết Mậu Thân (1968) đến Hiệp định Paris (1973).
Nếu giai đoạn này, Việt Nam có nội chiến thì Mỹ chẳng có lý do và tư cách gì
để ngồi vào bàn đàm phán đó.
Mỹ đã viện trợ ồ ạt cho chính quyền Sài Gòn, đề ra kế hoạch quân sự 6 năm
(1974-1979) để tinh nhuệ hóa lực lượng Việt Nam Cộng hòa. Toàn bộ lực lượng
chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ đều do Mỹ bảo đảm trang bị về lực lượng,
súng ống. Không những thế, sau khi Hiệp định Paris (1973) được ký kết, Mỹ rút
quân khỏi Việt Nam thì giai đoạn 1973 - 1975 cũng không được tính là nội chiến.
Có thể thấy rằng, Mỹ đem quân vào Việt Nam, áp đặt chế độ thống trị thuộc địa
kiểu mới ở miền Nam, gây chiến tranh tàn phá toàn đất nước là cuộc chiến tranh
xâm lược đối với một quốc gia có độc lập, chủ quyền. Nguồn gốc của cuộc
chiến tranh, sâu xa xuất phát từ mưu đồ chính trị của Mỹ và trực tiếp là từ hành
động đem quân đến xâm lược Việt Nam của Mỹ. Tất cả những điều đó đã chứng
tỏ rằng, cuộc chiến tranh xảy ra không phải bắt nguồn từ mâu thuẫn trong nội bộ
dân tộc Việt Nam. Do đó, giai đoạn 1954 - 1975 không phải là Việt Nam có nội
chiến mà đây là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm nhằm thống nhất đất nước
của dân tộc Việt Nam. Đây có thể coi là một bộ phận của cuộc đấu tranh của
các dân tộc bị áp bức, khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết, độc lập, toàn vẹn của dân tộc.