



Preview text:
THỬ NGHIỆM HÓA CHẤT TRÊN ĐỘNG VẬT
Nguyễn Quảng Hà, Nguyễn Trang Minh, Trần Thị Thảo, Võ Minh Quân, Lê Phương Thảo,
Nguyễn Phương Linh, Trần Thị Thanh Ngọc, Mạc Thị Minh Châu, Nguyễn Khánh Huyền, Nguyễn Huyền Vi. Ngày 11 tháng 04 năm 2022
Preprint DOI: https://osf.io/6wphy
Trong cuộc sống ngày nay, hóa chất đóng vai trò thiết yếu và vô cùng quan trọng với những lợi
ích to lớn. Người ta nghiên cứu, sử dụng hóa chất trong mọi lĩnh vực của đời sống như: nông
nghiệp, y học, công nghiệp, địa chất, nghiên cứu khoa học, sản xuất đồ gia dụng,…. Việc nghiên
cứu, sản xuất số lượng lớn nghiễm nhiên đặt ra yêu cầu thử nghiệm vô cùng lớn, và khi các loại
hóa chất chưa đảm bảo chất lượng và an toàn để thử nghiệm trên con người, người ta sẽ chọn cách
sử dụng các loài động vật làm vật thí nghiệm. Thí nghiệm động vật đã đưa đến thành tựu to lớn
cho khoa học, mang đến nhiều tiện ích cho nhân loại. Song việc sử dụng động vật để thử nghiệm
hóa chất đã và đang làm dấy lên những câu hỏi về tính nhân văn và những tác hại đến môi trường sinh thái.
Theo ước tính từ trang Human Sociaty International hằng năm có hơn 115 triệu cá thể động vật
được sử dụng với mục đính thí nghiệm. Nhưng số liệu này có thể lớn hơn rất nhiều do chỉ có một
vài quốc gia thống kê mà thôi (BBT, 2012). Mặc dù có một vài quốc gia đã cấm hoàn toàn việc sử
dụng động vật trong phòng thí nghiệm như bang California (Mỹ), Ấn Độ,.. song số lượng động
vật sử dụng để thử nghiệm sản phẩm vẫn còn rất lớn. Ví dụ như Hàn Quốc, dù đã áp dụng lệnh
cấm thử nghiệm trên động vật nhưng trong năm 2019 chính phủ Hàn Quốc đã công bố số cá thể
sử dụng trong phòng thí nghiệm lên đến 3,712,380 cá thể, chủ yếu ở lĩnh vực thuốc trừ sâu và các
ngành công nghệ hóa chất (BBT, 2020b). Theo
thống kê tại Mỹ, hàng năm có khoảng hơn 100 triệu
cá thể thuộc các loài chó chuột, mèo, thỏ,.… chết
do bị đem ra làm thí nghiệm các chất hóa học tại
phòng thí nghiệm. Trước khi chết chúng thường bị
bỏng, dính độc, gây tê liệt hàng giờ, bị bạo hành,
cắt bỏ các bộ phận hoặc kinh khủng hơn là bị khoan
các lỗ trên cơ thể. Nhưng điều đáng nhấn mạnh là
95% số thí nghiệm trên động vật không đạt chuẩn
cho con người. Điều này đồng nghĩa với việc 95%
số động vật đem ra làm thí nghiệm phải hi sinh một cách vô ích (BBT, 2022b).
Ảnh 1: Số lượng đông vật dùng làm thí nghiệm tại Mỹ năm 2019 (Nguồn:
https://speakingofresearch.com/facts/statistics/)
Để nói về hậu quả của việc thử nghiệm hóa chất trên động vật, có thể nhận thấy rõ ràng chính các
loài động vật được đem ra thì nghiệm là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng nhất. Tuy
nhiên, con người và môi trường cũng gián tiếp trở thành những nạn nhân của những mặt trái của
việc thử nghiệm. Đối với con người, thứ nhất cơ thể của con người và động vật có những nét khác
nhau về giải phẫu, trao đổi chất và tế bào,… nên chúng không thể được coi là một “mô hình mô tả
chính xác” của con người được. Giáo sư Paul Furlong tại Đại học Aston (Vương quốc Anh), nói
rằng: “Rất khó để tạo ra một mô hình động vật gần giống con người”. Thomas Hartung, Giáo sư
về chất độc học cũng cho rằng động vật không thể được dùng để thử nghiệm cho tất cả thuốc cho
con người bởi: “chúng ta đâu phải là những con chuột 70kg” (BBT, 2020). Thuốc vượt qua các
thử nghiệm trên động vật không có nghĩa rằng nó sẽ an toàn. Bởi trên thực tế cho thấy “95 trong
số 100 loại thuốc vượt qua thử nghiệm trên động vật không đạt ở người” (BBT, 2022b). Vào những
năm 1950, thuốc ngủ Thalidomide dù đã được thử nghiệm trên động vật trước khi phát hành rộng
rãi, các xét nghiệm của thuốc trên chuột, mèo,… cũng không cho thấy kết quả dị tật bẩm sinh trừ
khi thuốc được dùng với liều cực cao nhưng chính thuốc này đã khiến 10.000 trẻ sơ sinh bị dị tật
nghiêm trọng. Thí nghiệm trên động vật về thuốc viêm khớp Vioxx cũng cho thấy nó có tác dụng
bảo vệ tim ở chuột, tuy nhiên loại thuốc này lại gây ra hơn 27.000 cơn đau tim và đột tử ở người
(BBT, 2020). Thứ hai, các thí nghiệm trên động vật gây ra sự lãng phí về thời gian và tiền bạc.
Chúng thường kéo dài hàng tháng, hàng năm, thậm chí hàng thập kỉ và có thể tốn hàng trăm nghìn
đô la để có thể tìm ra kết quả. Bất chấp nhiều thập kỉ nghiên cứu các bệnh như ung thư, bệnh
Alzheimer, bệnh Parkinson, tiểu đường, đột quỵ và AIDS ở động vật, chúng ta vẫn chưa có phương
pháp chữa trị hiệu quả và đáng tin cậy. Các thí nghiệm trên động vật vô giá trị đến mức có đến
một nửa trong số chúng thậm chí không bao giờ được công bố (BBT, 2022b).
Đối với môi trường, những hậu quả gây ra bởi những thí nghiệm hóa chất trên động vật
cũng vô cùng đáng kể. “500.000 loài vật chịu đựng và chết hàng năm trên toàn thế giới trong các
cuộc kiểm tra mỹ phẩm”(BBT, 2022). Vậy câu hỏi đặt ra là số lượng xác chết động vật ấy sẽ đi
đâu sau các cuộc thử nghiệm đó? Đây sẽ là gánh nặng rất lớn lên môi trường. Bởi không một ai
trong số chúng ta biết rằng trước khi thải ra môi trường, số lượng xác động vật đó có được xử lý
đúng quy trình hay không. Trong quá trình phân hủy, xác động vật sẽ sản sinh ra rất nhiều các loại
vi trùng, vi - rút và ký sinh trùng. Việc xử lý đòi hỏi phải có quy mô lớn và phải sử dụng đến những
hóa chất chuyên dụng, những công cụ tân tiến. Nếu không đảm bảo được xử lý theo những điều
kiện trên thì xác động vật rất có thể sẽ sản sinh ra một lượng chất độc cực lớn vào môi trường
(nguồn nước, đất và không khí). Lâu dài, việc tích tụ các chất độc này cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến nhân loại. Chính vì những hậu quả mà thí nghiệm hóa chất trên động vật ảnh hưởng đến môi
trường, từ cách đây nhiều thập kỷ, con người đã có những nỗ lực để hạn chế việc thí nghiệm hóa
chất trên động vật để giảm thiểu những thiệt hại nó đem lại.
Thí nghiệm phi động vật: Thực tế cho thấy thử nghiệm phi động vật mang lại nhiều lợi
ích hơn: tiết kiệm chi phí, thời gian. Để có tính thích hợp với con người hơn và không tác động
xấu đến môi trường, thử nghiệm phi động vật đang được tuyên truyền rộng rãi. Chúng ta thực hiện
thí nghiệm phi động vật bằng cách sử dụng dữ liệu lớn hay còn gọi là Mô hình máy tính. Việc này
thay thế động vật bằng thuật toán máy tính. Nếu không sử dụng Big Data, việc đưa ra kết luận cho
một hợp chất sẽ cần kiểm tra vô số lần trên động vật, ảnh hưởng môi trường và đạo đức. Nhưng
thuật toán này sẽ giúp giảm bớt lượng nghiên cứu động vật bởi nó là thuật toán tốc độ cao, trích
xuất các nguồn thông tin từ cơ sở dữ liệu hóa học trực tuyến để so sánh hàng nghìn hợp chất hóa
học đã đưuọc thửu nghiệm với các hợp chất chưa kiểm tra, bằng cách xác định sự tương đồng về
cấu trúc giữa chúng, từ đó đưa ra những dựu đoán đáng tin cậy về độc tính các chất mới. Thứ hai,
các nhà khoa học thí nghiệm trong ống nghiệm (in vitro). Tức là phát triển tế bào người trên
“khung” của chip nhựa rồi sau đó thí nghiệm trên chip, gọi là “nội tạng trên vi mạch” (organ-on-
chip). Nhóm nhà khoa học từ Viện Wyss, thuộc đại học Harvard - Dan Dongeun Huh và Donal
Ingber - đã thiết kế thành công chip bán dẫn có thể mô phỏng chức năng của các cơ qua nội tạng
người (T.T., 2015). Thử nghiệm trên da động vật từ lâu là cơ sở để tìm hiểu tác dụng của các hợp
chất mới, kiểm tra độc tính của các hóa chất đối với cơ thể người. Thử nghiệm trên các chip này
có thể mang lại kết quả phù hợp với con người hơn so với các thí nghiệm trên động vật, loại bỏ
việc sử dụng động vật để thử nghiệm chế tạo thuốc, mỹ phẩm hay chửa trị bệnh cho con người.
Thứ ba, nghiên cứu trên người (điển hình là phương pháp microdosing), còn được gọi là thử
nghiệm lâm sàng. Để chống lại thử nghiệm trên động vật, một ý tưởng đã được đưa ra - chính là
nghiên cứu trên người. Trên thực tế, luật pháp yêu cầu thử nghiệm thuốc trên động vật trước khi
áp dụng lên người. Nên để thực hiện phương pháp này, chỉ có thể áp dụng trên tình nguyện viên
muốn hưởng phúc lợi từ việc điều trị bệnh, thuốc và các nghiên cứu mới – tiếp nhận thuốc ở liều
lượng nhỏ để không tác động sinh lý nguy hiểm nhưng vẫn đủ lưu thông trong hệ thống để đo
lường tác động của nó lên tế bào. Từ đó xem xét cách mới để ngăn ngừa, phát hiện hoặc điều trị
bệnh bằng thuốc hoặc thủ thuật phẫu thuật mới. Mục tiêu của phương pháp này là có thể giúp loại
bỏ các loại thuốc không có tác dụng ở giai đoạn đầu, mà không cần thử nghiệm trên hàng nghìn
con vật như trước. Cách thử nghiệm này đã được chứng minh đủ an toàn và hiệu quả đến mức
nhiều công ty dược phẩm lớn hiện sử dụng microdosing để tinh giản quá trình phát triển thuốc nên
có thể bác bỏ ý kiến thử nghiệm phi động vật là phi nhân đạo đối với con người và gây ra nhiều hệ lụy sau này.
Hiện nay, những phong trào về quyền động vật đang được lan truyền tích cực. Để bảo vệ hệ sinh
thái, animal rights là một luật vô cùng quan trọng. Ngay từ thế kỉ XVIII, các tác giả như Humphrey
Primatt (năm 1776), John Lawrence (năm 1796)… đã viết các tác phẩm về sự cần thiết phải tôn
trọng các quyền của động vật. Các nhà hoạt động vì quyền động vật tìm cách ngăn chặn việc thử
nghiệm trên động vật bằng cách gây áp lực đối với những phòng thí nghiệm sử dụng động vật để
phát triển thuốc và vacxin, kêu gọi họ ngừng các thí nghiệm để phát triển thuốc và phương pháp
điều trị. Các nhà nghiên cứu khẳng định rằng, nghiên cứu trên động vật tại Mỹ được bao trùm bởi
hàng loạy nguyên tắc và quy định để đảm bảo rằng, những con vật dùng trong thí nghiệm được
đối xử nhân đạo. Nghị viện châu Âu (EP) ngày 16/9/2021 thông qua Nghị quyết yêu cầu Liên minh
châu Âu (EU) nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng sử dụng động vật trong các nghiên cứu khoa học.
(Bích Liên (TTXVN), 2021). EU đã cấm thí nghiệm mỹ phẩm trên động vật từ năm 2009 và có
các quy định nhằm bảo vệ các loài động vật thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Có
những trường hợp thí nghiệm phi động vật không khả thi thì sẽ được thực hiện trong các điều kiện
giảm thiểu sự đau đớn và chịu đựng của con vật thí nghiệm. Những năm gần đây, nhiều quốc gia
bắt đầu ban hành lệnh cấm tương tự lệnh cấm buôn bán những loại mỹ phẩm có qua quá trình thử
nghiệm trên động vật. Ước tính có 40 quốc gia thông qua quy định này (Hoàng Thi, 2021). 11
thương hiệu mỹ phẩm tiêu biểu không thử nghiêm trên động vật: Paula’s choice, Urban Decay,
The Body Shop, L’Oréal,…. Đặc biệt, L’Oréal đã hoàn thành ngừng thử nghiệm các sản phẩm của
mình trên động vật từ 14 năm trước và không chấp nhận bất kỳ ngoại lệ nào đối với quy tắc này.
Tóm lại, thử nghiệm hóa chất trên động vật cần được nghiêm túc xem xét trong thời gian tới do
những hệ lụy nhiều mặt. Văn hóa môi trường có thể là gốc giải pháp cho vấn đề thử nghiệm hóa
chất trên động vật. Muốn thay đổi văn hóa môi trường cần dựa vào hệ quản trị tri thức (Q. H. et
al. Vuong, 2022), khung chuyển đổi văn hóa (Q Van Khuc, 2021) gắn với đầu tư tập trung cho
khoa học công nghệ (Q. H. Vuong, 2018), các tư tưởng văn hóa môi trường gắn với nguyên lý bán
dẫn giá trị (Quy Van Khuc, 2021; Q. H. Vuong, 2021).
Danh mục tài liệu tham khảo:
BBT. (2012, October). About Animal Testing. The Humane Society of The United States.
BBT. (2020a, March). Animal Testing. ProCon.
BBT. (2020b, December). HSI/Korea welcomes historic bill to prioritize technologies that
replace animal testing in South Korea. Humane Society International / South Korea.
BBT. (2022a). Ending Cosmetics Animal Testing. The Humane Society of The United States.
BBT. (2022b). https://www.peta.org/blog/top-five-reasons-stop-animal-testing/. PETA.
Bích Liên (TTXVN). (2021, September). Nghị viện châu Âu yêu cầu chấm dứt thí nghiệm khoa
học trên động vật. Báo Tin Tức Thông Tấn Xã Việt Nam.
Hoàng Thi. (2021, March). 'Làn sóng’ cấm thử nghiệm mỹ phẩm trên động vật. Báo Tuổi Trẻ.
Khuc, Q Van. (2021). Khucc tower: from cultural values to practical solutions. OSF Preprints.
https://doi.org/10.31219/osf.io/stbj4
Khuc, Quy Van. (2021). Environmental culture thoughts to make a better world for our nature
and children. OSF Preprints. https://doi.org/10.31219/osf.io/g5zex
T.T. (2015, June). Chế tạo thành công chip hoạt động như nội tạng người. Tạp Chí Nghe Nhìn Kinh Tế Việt Nam.
Vuong, Q. H. (2018). The (ir)rational consideration of the cost of science in transition
economies. Nature Human Behaviour, 2(1), 5. https://doi.org/10.1038/s41562-017-0281-4
Vuong, Q. H. (2021). The semiconducting principle of monetary and environmental values
exchange. Economics and Business Letters, 10(3), 284–290.
https://doi.org/10.17811/ebl.10.3.2021.284-290
Vuong, Q. H. et al. (2022). Covid-19 vaccines production and societal immunization under the
serendipity-mindsponge-3D knowledge management theory and conceptual framework.
Humanities and Social Sciences Communications, 9(1), 1–12.
https://doi.org/10.1057/s41599-022-01034-6