





Preview text:
Thủ tục từ con đẻ thực hiện như thế nào? Cha mẹ có quyền từ con?
Ảnh hưởng tới cuộc sống của 2 ông bà năm nay đã gần 80 tuôi. Tôi xin hỏi
luât sư là ông tôi có được từ con không. Nêu được thì làm như thê nào ? Xin cảm ơn.
Người gửi : Lê Văn Dũng Luật sư trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đên Công ty Luât Minh Khuê
của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:
1. Quy định về nghĩa vụ của cha mẹ đối với con
Theo quy định của pháp luât Việt Nam cụ thể là trong Luât hôn nhân và gia
đình năm 2014 thì cha mẹ có quyền và nghĩa vụ phải yêu thương con, chăm
lo việc học tâp và giáo dục con, tôn trọng con, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ
con. Vì tôn trọng quyền và nghĩa vụ này của cha mẹ đối với con nên pháp
luât không cho phép và không quy định về vấn đề cha mẹ đẻ từ con của mình, cụ thể:
Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ
1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiên của con; chăm lo việc học
tâp, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ,
đạo đức, trở thành người con hiêu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực
hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có
tài sản để tự nuôi mình.
3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luât dân sự cho
con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc
theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng
sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất
năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động;
không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luât, trái đạo đức xã hội.
Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm
sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất
năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ,
đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già
yêu, khuyêt tât; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con
phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
Pháp luât mới chỉ công nhân quyền được chấm dứt quan hệ
cha mẹ và con nuôi trong trường hợp con nuôi có hành vi sau:
nuôi bị kêt án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi,
hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;
Tuy nhiên việc bố mẹ bạn không được quyền yêu cầu từ con, nhưng nêu có
căn cứ việc người thành viên này vay tiền để sử dụng ma túy hoặc các chất
kích thích khác thì bố mẹ bạn có gửi đơn yêu cầu ra tòa án tuyên bố người
này bị hạn chê năng lực hành vi dân sự, thì các giao dịch được xác lâp thực
hiện bằng tài sản của người đó đều cần sự đồng ý của gia đình bạn cụ thể là
người đại diện theo pháp luât của người đó, cụ thể:
Điều 24, Bộ luật dân sự năm 2015 về hạn chế năng lực hành vi dân sự:
1. Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn
đên phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có
quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tô chức hữu quan,
Tòa án có thể ra quyêt định tuyên bố người này là người bị hạn
chê năng lực hành vi dân sự.
Tòa án quyêt định người đại diện theo pháp luât của người bị
hạn chê năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
2. Việc xác lâp, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đên tài sản
của người bị Tòa án tuyên bố hạn chê năng lực hành vi dân sự
phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luât, trừ giao
dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luât liên quan có quy định khác.
2. Thủ tục xác định quan hệ giữa cha mẹ và con
Theo Điều 101 Luât Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thủ tục xác định cha,
mẹ, con gồm thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp.
- Thủ tục khai sinh cho con trong trường hợp cha mẹ có hôn nhân hợp pháp
. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh là ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư
trú của người mẹ hoặc nơi cư trú của người cha nêu không xác định được
nơi cư trú của người mẹ hoặc nơi trẻ em sinh sống trên thực tê nêu không
xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha*.
Thời hạn đăng ký khai sinh là sáu mươi ngày, người có trách nhiệm đăng ký
khai sinh là cha, mẹ hoặc ông bà hoặc người thân thích khác. Nêu những
người này không thể trực tiêp đi đăng ký khai sinh thì có thể ủy quyền bằng
văn bản có công chứng hoặc chứng thực hợp lệ (Điều 13 - Nghị định số
158/2Ọ05/NĐ-CP và Điều 10 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP).
Người đi đăng ký khai sinh phải xuất trình những giấy tờ sau: Giấy chứng
sinh do cơ sở y tê cấp, nêu trẻ em sinh ra ngoài cơ sợ y tê thì Giấy chứng
sinh được thay thê bằng văn bản của người làm chứng. Trong trường hợp
không có người làm chứng thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về
việc sinh là có thực; Giấy chứng nhân kêt hôn của cha mẹ đứa trẻ. Trong
trường họp cán bộ tư pháp hộ tịch biêt rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ
đứa trẻ thì người đi đăng ký khai sinh không bắt buộc phải xuất trình Giấy
chứng nhân kêt hôn (Khoản 1, Điêu 15 - Nghị định 158/2005/NĐ-CP ).
- Thủ tục khai sinh cho con khi cha mẹ không cỏ hôn nhân hợp pháp
Thủ tục đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú cũng tương tự như trường
hợp khai sinh cho con trong giá thú. Chỉ có sự khác biệt là ngoài ủy ban nhân
dân cấp xã nơi cư trú của người mẹ có thẩm quyền đăng ký khai sinh còn là
ủy ban nhân dân nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tê nêu không xác định
được nơi cư trú của người mẹ, hoặc nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi
dưỡng hoặc nơi cư trú của tô chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó nêu
trẻ em đó bị bỏ rơi (Điều 13 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ). Phần họ tên
cha trong giấy khai sinh của người con bị bỏ trống. Nêu tại thời điểm đăng ký
khai sinh mà có người nhân con thì ủy ban nhân dân sẽ kêt hợp giải quyêt
việc nhân con với đăng ký khai sinh (Khoản 3, Điều 15 - Nghị định số
158/2005/NĐ-CP ). Đối với trẻ em bị bỏ rơi có thể không có giấy tờ gì, do đó,
sau khi lâp biên bản với những thông số cần thiêt, ủy ban nhân dân phải
thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm kiêm cha mẹ đẻ. Khi hêt
thời hạn luât định không tìm thấy cha mẹ đẻ thì người hoặc tô chức đang tạm
thời nuôi dưỡng đứa trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh (Điều 16 - Nghị
định số i 58/2005/NĐ-CP ), phần khai họ tên cha mẹ, dân tộc của đứa trẻ phải
để trống. Nêu có người nhân nuôi và có đủ điều kiện nhân nuôi thì ghi tên cha
mẹ nuôi vào giấy khai sinh cho đứa trẻ nhưng trong sô đăng ký khai sinh phải
ghi rõ là cha mẹ nuôi và thông tỉn này được giữ bí mât. Như vây, trong trường
họp này, trẻ em vẫn được khai sinh nhưng lại chưa xác định được cha mẹ.
- Đăng ký nhận cha, mẹ, con
+ Thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con: Đối với việc nhân cha, mẹ, con
trong nước do ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhân hoặc người
được nhân cha, mẹ, con thực hiện. Đối với việc nhân cha, mẹ, con có yêu tố
nước ngoài do ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú của người nhân hoặc
người được nhân cha, mẹ, con thực hiện (Điều 32 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP).
+ Điều kiện đăng ký nhận cha, mẹ, con': Theo Luât Hôn nhân và gia đình năm
2014 thì điều kiện không thể thiêu trong việc đăng ký nhân cha, mẹ, con là
phải có sự tự nguyện và không có tranh chấp. Bên được nhân là cha, mẹ,
con phải còn sống vào thời điểm đăng ký nhân cha, mẹ, con. Các bên phải
trực tiêp làm thủ tục đăng ký nhân cha, mẹ, con mà không được ủy quyền
cho người khác. Đồng thời, “Con đã thành niên nhân cha, không cần phải có
sự đồng ý của mẹ; nhân mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha” (Điều 90);
“Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhân con thì việc nhân con
không cần phải có sự đồng ý của người kia” (Điều 91).
+ Thủ tục tiến hành đăng ký nhận cha, mẹ, con:
- Giấy tờ cần thiêt cho việc nhân cha, mẹ, con bao gồm: tờ khai đăng ký nhân
cha, mẹ, con; Giấy khai sinh (bản chính . hoặc bản sao) của người con; Các
giấy tờ, đồ vât hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con, mẹ
con (nêu có). Đây là loại tài liệu không bắt buộc phải có khỉ đăng ký nhân cha,
mẹ, con mà điều quan trọng nhất trong việc đăng ký nhân cha, mẹ, con là sự
tự nguyện của các chủ thể trong mối quan hệ đó.
Trong tờ khai đăng ký nhân cha, mẹ, con nêu cha hoặc mẹ nhân con chưa
thành niên thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc là cha, trừ
trường hợp người đó đã chêt, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc
hạn chê năng lực hành vi dân sự (Điều 34 - Nghị định số 158/2005/NĐ-CP).
Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kêt hôn.
Sau khi sinh con, người mẹ để con lại cho người cha và bỏ đi mà không xác
định được địa chỉ thì khi người cha đăng ký nhân con, không cần phải có ý
kiên của người mẹ. Khi đăng ký khai sinh, phần khai về người mẹ trong giấy
khai sinh và sô đăng ký khai sinh được ghi theo giấy chứng sinh, nêu không
có giấy chứng sinh thì ghi theo lời khai của người cha, nêu người cha không
khai các thông tin về người mẹ thì bỏ trống phần khai về người mẹ trong giấy
khai sinh và sô đàng ký khai sinh (Mục 4 – phần II - Thông tư số 01/2008/TT- BTP).
- Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhân đủ giấy tờ họp lệ, nêu xét thấy
việc nhân cha, mẹ, con là đúng sự thât và không có tranh chấp thì ủy ban
nhân dân cấp xã đăng ký việc nhân cha, mẹ, con. Nêu cần phải xác minh
thêm thì thời hạn không kéo dài thêm quá 5 ngày (Khoản 2, Điều 34 - Nghị
định số 158/2005/NĐ-CP ).
3. Thủ tục xác định cha, mẹ, con tại Toà án
Luât Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tõà án có thẩm quyền giải
quyêt việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người
được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chêt và trường hợp quy định tại
Điều 92 của Luât này” (Điều 101). Trường hợp theo quy định tại Điều 92 là
khi người đang có yêu cầu xác định cha, mẹ, con cho mình thì bị chêt, những
người thân thích của họ sẽ được yêu cầu xác định cha, mẹ, con cho người đó. + Quyền khởi kiện
- Người hiện là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu xác định người đó
không phải là con của mình.
- Người đang không phải là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu xác
định người đó là con của mình.
- Người đang không phải là con của một người có quyền yêu cầu xác định
người đó là cha, mẹ của mình.
- Nêu những chủ thể trên chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị mất
năng lực hành vi dân sự thì quyền khởi kiện sẽ thuộc về người giám hộ của
họ hoặc một số cơ quan, tô chức khác.
+ Chứng cứ chứng minh trong vụ án xác định lại quan hệ cha mẹ và con khi
cha mẹ có hôn nhăn hợp pháp
Người có quyền khởi kiện phải nộp đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 164 -
Bộ luât Tố tụng dân sự năm 2015, kèm theo đó là những tài liệu, chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Theo quy
định của pháp luât Tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự:
“Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của
mình là có căn cứ và hợp pháp...” - Điều 79 - Bộ luât Tố tụng dân sự năm 2015.
Document Outline
- Thủ tục từ con đẻ thực hiện như thế nào? Cha mẹ có
- 1. Quy định về nghĩa vụ của cha mẹ đối với con
- 2. Thủ tục xác định quan hệ giữa cha mẹ và con
- 3. Thủ tục xác định cha, mẹ, con tại Toà án