



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC VŨ THÁI PHƯƠNG NAM
THỰC TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC – ĐHQGHN NĂM HỌC 2021-2022
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH Y ĐA KHOA Hà Nội - 2022
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Người thực hiện: VŨ THÁI PHƯƠNG NAM
THỰC TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC – ĐHQGHN NĂM HỌC 2021-2022
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH Y ĐA KHOA Khóa: QH.2016.Y Người hướng dẫn:
1. ThS. Mạc Đăng Tuấn
2. ThS. BSNT. Nguyễn Viết Chung Hà Nội - 2022 LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, em đã
nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc,
em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
Ban chủ nhiệm, Thầy cô giáo Bộ môn Y Dược Cộng đồng & Y dự phòng,
Bộ môn Tâm thần & Tâm lý học lâm sàng, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy/Cô Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ
trong hội đồng khoa học thông qua đề cương, hội đồng khoa học bảo vệ khóa
luận đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong quá trình nghiên cứu, hoàn
chỉnh khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành y đa khoa.
Em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới:
ThS. Mạc Đăng Tuấn, người thầy kính yêu đã tận tâm dìu dắt, giúp đỡ,
hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
ThS. BSNT. Nguyễn Viết Chung, thầy đã luôn quan tâm, hết lòng giúp
đỡ, chỉ bảo ân cần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới cha mẹ, anh chị em trong gia
đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ với em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2022 Sinh viên Vũ Thái Phương Nam LỜI CAM ĐOAN
Em là Vũ Thái Phương Nam, sinh viên khoá QH.2016.Y, ngành y đa
khoa, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:
Đây là luận văn do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của ThS. Mạc Đăng Tuấn và ThS. BSNT. Nguyễn Viết Chung.
Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam.
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2022 Tác giả
Vũ Thái Phương Nam MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chương 1: TỔNG QUAN ............................................................................... 3
1.1. Một số khái niệm ......................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm về trầm cảm ................................................................... 3
1.1.2. Khái niệm về lo âu .......................................................................... 3
1.1.3. Khái niệm về stress ......................................................................... 4
1.2. Rối loạn trầm cảm – lo âu – stress của sinh viên Y Dược .......................... 5
1.2.1. Đặc điểm, dịch tễ ............................................................................ 5
1.2.2. Các yếu tố liên quan ....................................................................... 5
1.2.3. Sơ đồ tổng hợp một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và
stress của sinh viên Y Dược .......................................................... 15
1.2.4. Giới thiệu về thang đo lường trầm cảm, lo âu, stress DASS 21 của
Lovibond ....................................................................................... 16
1.3. Các nghiên cứu về trầm cảm – lo âu – stress của sinh viên Y Dược ........ 17
1.3.1. Trên thế giới .................................................................................. 17
1.3.2. Tại Việt Nam ................................................................................. 20
1.4. Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu ............................................................ 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 24
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................... 24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 24
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................ 24
2.2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu ............................................ 24
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................... 24
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu ........................... 24
2.2.3. Công cụ thu thập số liệu ............................................................... 26
2.2.4. Các biến số nghiên cứu ................................................................. 26
2.3. Xử lý số liệu .............................................................................................. 30
2.4. Đạo đức nghiên cứu .................................................................................. 31
2.5. Hạn chế của nghiên cứu, sai số ................................................................. 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 32
3.1. Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên Trường Đại học Y
Dược - ĐHQGHN năm học 2021-2022 .................................................... 32
3.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .................................... 32
3.1.2. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên Trường Đại học Y Dược -
ĐHQGHN năm học 2021-2022 .................................................... 38
3.2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm, lo âu, stress ở sinh
viên trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021 – 2022 ........... 40
3.2.1. Mối liên quan với biểu hiện trầm cảm của sinh viên .................... 40
3.2.2. Mối liên quan với biểu hiện lo âu của sinh viên ........................... 47
3.2.3. Mối liên quan với biểu hiện stress của sinh viên .......................... 53
Chương 4: BÀN LUẬN ................................................................................. 60
4.1. Thực trạng trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên Trường Đại học Y
Dược – ĐHQGHN năm học 2021 – 2022 ................................................ 60
4.2. Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress của sinh
viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021 – 2022 .......... 64
4.3. Bàn luận về hạn chế của nghiên cứu ......................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
1. Thực trạng trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên Trường Đại học Y Dược
– ĐHQGHN năm học 2021 - 2022 ................................................................. 73
2. Các yếu tố liên quan đến thực trạng trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên
Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021 - 2022 ............................... 73
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CDC
: Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh ĐHQGHN
: Đại học Quốc Gia Hà Nội SV : Sinh viên WHO
: World Health Organization (Tổ chức Y Tế thế giới) YTCC : Y tế công cộng DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1. Phân loại thang đánh giá Trầm cảm, lo âu và stress 21................. 16
Bảng 2. 1. Bảng phân bố cỡ mẫu khảo sát theo khối ...................................... 25
Bảng 2. 2. Bảng phân bố tỷ lệ sinh viên tham gia khảo sát theo khối ............ 26
Bảng 3. 1. Bảng phân bố sinh viên theo dân tộc, tôn giáo .............................. 33
Bảng 3. 2. Đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu ................................ 35
Bảng 3. 3. Đặc điểm về học tập của đối tượng nghiên cứu ............................ 37
Bảng 3. 4. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress chung của sinh viên ..................... 38
Bảng 3. 5. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với trầm cảm ................ 41
Bảng 3. 6. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố học tập với trầm cảm ................. 42
Bảng 3. 7. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố gia đình, bạn bè xã hội với trầm
cảm .................................................................................................................. 44
Bảng 3. 8. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với lo âu ....................... 47
Bảng 3. 9. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố học tập với lo âu ........................ 48
Bảng 3. 10. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố gia đình, bạn bè xã hội với lo âu
......................................................................................................................... 50
Bảng 3. 11. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với stress .................... 53
Bảng 3. 12. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố học tập với stress ..................... 54
Bảng 3. 13. Mô tả mối liên quan giữa yếu tố gia đình, bạn bè xã hội với stress
......................................................................................................................... 56
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3. 1. Biểu đồ phân bố sinh viên theo giới tính ................................... 32
Biểu đồ 3. 2. Biểu đồ phân bố sinh viên theo năm học ................................... 32
Biểu đồ 3. 3. Biểu đồ phân bố sinh viên theo nơi sinh .................................... 33
Biểu đồ 3. 4. Biểu đồ phân bố sinh viên theo nơi ở hiện tại ........................... 34
Biểu đồ 3. 5. Biểu đồ phân bố sinh viên theo cảm nhận tài chính cá nhân .... 34
Biểu đồ 3. 6. Đặc điểm các mối quan hệ của sinh viên với gia đình, bạn bè, xã
hội .................................................................................................................... 36
Biểu đồ 3. 7. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên theo giới tính ............. 39
Biểu đồ 3. 8. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên theo năm học ............. 40 DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1. 1. Sơ đồ tổng hợp yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress của
sinh viên Y Dược. ........................................................................................... 15
Sơ đồ 2. 1. Sơ đồ nghiên cứu .......................................................................... 29 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, rối loạn tâm thần là khá phổ biến, gây ảnh hưởng đến 25% dân
số thế giới tại một thời điểm nhất định trong cuộc đời của họ. Các rối loạn tâm
thần thường gặp nhất bao gồm trầm cảm, lo âu và stress [1]. Ước tính của Tổ
chức y tế thế giới (WHO) năm 2012, trên thế giới có khoảng 350 triệu người
chịu ảnh hưởng của trầm cảm [2]. Từ năm 1990 đến năm 2013, số người bị
trầm cảm và/hoặc rối loạn lo âu tăng gần 50% từ 416 triệu lên 615 triệu người
[3]. Ước tính đến năm 2030, trầm cảm sẽ là nguyên nhân hàng đầu trong gánh
nặng bệnh tật toàn cầu [4]. Rối loạn lo âu và trầm cảm có mối liên hệ mật thiết
với nhau. Khoảng 85% bệnh nhân trầm cảm có các biểu hiện lo âu [5]. Trên thế
giới, tỷ lệ trầm cảm và lo âu lần lượt là 4,4% và 3,6%. Ở Việt Nam, tỷ lệ trầm
cảm và lo âu là trên toàn dân số là 4,0% và 2,2% [6].
Với sinh viên, lứa tuổi bắt đầu có những thay đổi điều kiện sống, học tập,
thay đổi môi trường giao tiếp, môi trường xã hội, ... kết hợp với đặc điểm tâm
lý như bồng bột, thiếu kinh nghiệm thì nguy cơ bị trầm cảm, lo âu và stress ở
nhóm đối tượng này lại càng cao hơn [7]. Một nghiên cứu tại Malaysia năm
2013 trên sinh viên các trường công lập cho kết quả khoảng 23,7% sinh viên bị
stress vừa và nặng; 63% sinh viên có dấu hiệu của lo âu ở mức độ vừa, nặng và
rất nặng; 39,2% sinh viên có dấu hiệu của trầm cảm ở mức độ vừa, nặng và rất
nặng [8]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Minh Thuận năm 2011 trên sinh
viên Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 77% sinh viên có dấu
hiệu của stress, 75% sinh viên có dấu hiệu của lo âu và 75% có dấu hiệu trầm
cảm ở các mức độ khác nhau từ nhẹ đến rất nặng [9]. Tình trạng rối loạn sức
khỏe tâm thần ở sinh viên đang rất cần được quan tâm, trong số đó phải kể đến
sinh viên ngành Y Dược – nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc các rối loạn
trầm cảm, lo âu, stress. Năm 2015, tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên 8 trường Đại học
Y dược Việt Nam là 43,2%, tỷ lệ lệ sinh viên Y dược có ý tưởng tự sát là 8,7%,
lên kế hoạch tự sát là 3,9% và thực hiện hành vi tự sát là 0,9% [10].
Sinh viên Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội
(ĐHQGHN) cũng không nằm ngoài nhóm có nguy cơ biểu hiện trầm cảm, lo
âu và stress. Trường Đại học Y Dược - ĐHQGHN là trường y đầu ngành của 1
khu vực phía Bắc, đảm nhiệm việc tuyển chọn và đảo tạo đội ngũ cán bộ y tế
chủ yếu cho xã hội, nên môi trường học tập tại trường Đại học Y Dược -
ĐHQGHN rất kỷ luật và nghiêm khắc. Sinh viên Y Dược với khối lượng kiến
thức lớn, thời gian học tập dài và các đặc thù của nghề nghiệp như thực hành
lâm sàng hay trực tại bệnh viện là một đối tượng cần được đánh giá. Với số
lượng không nhỏ các sinh viên ngoại tỉnh học tập tại trường, họ phải đối mặt
với môi trường tự lập, phải tự quản lý tài chính, sinh hoạt của bản thân, phải
thích nghi với hoàn cảnh sống tập thể. Những yếu tố này có thể gây nên áp lực,
ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và học tập của sinh viên. Các nghiên cứu trên
thế giới đã chỉ ra rằng sinh viên Y có tỷ lệ cao các dấu hiệu của trầm cảm, lo
âu và stress trong suốt những năm đại học [11], [12], [13]. Các nghiên cứu trước
đây chủ yếu tập trung vào hoặc trầm cảm hoặc lo âu như nghiên cứu của Đỗ
Đình Quyên năm 2007 về trầm cảm ở sinh viên Y tại trường Đại học Y Dược
thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Trần Kim Trang năm 2012 về rối loạn
lo âu và trầm cảm trên sinh viên trưởng Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh và Nguyễn Thị Huyền Anh năm 2017 trên sinh viên Trường Đại học Y
Hà Nội [14], [15], [16]. Gần đây, có nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung năm
2017 về trầm cảm, lo âu và stress nhưng thực hiện trên sinh viên YTCC [17].
Trong khi đó, chưa có nhiều các nghiên cứu đánh giá cùng lúc trầm cảm lo âu
và stress trên sinh viên y dược trong cùng một thời điểm. Chính vì vậy, em tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress và một số yếu
tố liên quan ở sinh viên Trường Đại học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2021
- 2022" với 2 mục tiêu cụ thể sau:
1. Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên Trường Đại
học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2021-2022
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên
trường Đại học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2021-2022 2 Chương 1 TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá
trinh ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần. Chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư
duy và ức chế vận động. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10), trầm
cảm đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng
dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian cần
thiết ít nhất là 2 tuần [18]. Những triệu chứng khác như giảm sự tập trung, giảm
tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương
lai ảm đạm bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát cũng là các triệu
chứng phổ biến. Ngoài ra còn các triệu chứng cơ thể khác như thức giấc sớm
hơm ít nhất 2 giờ, trầm cảm nặng lên vào buổi sáng, sút cân (≥ 5% trọng lượng
cơ thể so với tháng trước...)
− Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD - 10 (F32.-):
+ Lần đầu tiên xuất hiện ở bệnh nhân các triệu chứng lâm sàng đặc
trưng, phổ biến và sinh học của trầm cảm.
+ Giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần.
+ Không có đủ các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giai
đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30) ở bất kỳ thời điểm nào trong đời.
+ Giai đoạn này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần
(F10 - F19) hoặc bất cứ rối loạn thực tổn nào (F00 – F09).
1.1.2. Khái niệm về lo âu
Năm 1621, tác giả Robert Burton đã mô tả các triệu chứng lo âu ở những
người lo lắng về xã hội: “Nỗi sợ là nguyên nhân gây ra một số hiệu ứng đáng
phàn nàn ở con người, ví dụ như đỏ mặt, xanh xao, run rẩy, đồ mồ hôi; nó còn
làm lạnh và nóng đột ngột khắp cơ thể, đánh trống ngực, ngất xỉu.... [19]. Trước
đó, Hippocrates đã mô tả một trong các bệnh nhân của ông, những người dường
như đã mắc chứng bệnh mà ngày nay chúng ta gọi là "rối loạn lo âu xã hội": 3
"Anh ta không dám vào nơi làm việc vì sợ rằng mình bị lạm dụng, bị chán ghét,
rằng anh ấy phải luôn vượt qua chính mình từ cử chỉ đến lời nói, hoặc sợ mình
sẽ bị bệnh; anh ấy nghĩ rằng tất cả mọi người đang quan sát mình".
Ngày nay, Tổ chức Y tế thế giới đã phân loại rối loạn lo âu nằm trong
các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể [18], là sự sợ
hãi quá mức, không có nguyên nhân, do chủ quan của người bệnh và không thể
giải thích được do một bệnh tâm thần khác hoặc do một bệnh cơ thể. Đây là rối
loạn mà bệnh nhân không thể kiểm soát được, biểu hiện vững chắc, mạn tính
và có thể xảy ra dưới dạng kịch phát. Các dạng rối loạn lo âu thường gặp bao
gồm rối loạn lo âu lan tỏa (GAD), rối loạn lo âu xã hội (SAD) và ám ảnh sự biệt định [20].
1.1.3. Khái niệm về stress
Năm 1914, W. B. Cannon lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ stress trong
các nghiên cứu về y sinh học. Tuy nhiên, người có công lớn trong việc đưa ra
khái niệm stress một cách khoa học đó là Hans Selye (nhà sinh lý học người
Canada). Ông đã sử dụng thuật ngữ stress để mô tả triệu chứng của quá trình
thích nghi với mọi loại bệnh tật (GAG) [21]. Ông đã đưa ra định nghĩa: stress
là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống
căng thẳng. Về sau, trong các nghiên cứu của mình, H. Selye nhấn mạnh: Stress
có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý.
Từ phát hiện của H. Selye, rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu
về stress. Nhà tâm lý học Richard Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay
cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ
bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân
và xã hội mà họ có thể huy động được [21], [22].
Như vậy, có thể thấy stress từ các góc độ khác nhau sẽ được hiểu dưới
những định nghĩa khác nhau. Trong nghiên cứu này, định nghĩa về stress trên
khía cạnh tâm lý của Richard Lazarus được chúng tôi sử dụng để định nghĩa
tình trạng stress ở sinh viên do định nghĩa này phù hợp với điều kiện, định
hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu. 4
1.2. Rối loạn trầm cảm – lo âu – stress của sinh viên Y Dược
1.2.1. Đặc điểm, dịch tễ
Hầu hết các vấn đề về sức khỏe tâm thần xuất hiện vào giai đoạn đầu của
tuổi trưởng thành, vì những người trẻ tuổi hiếm khi nhận được bất kỳ sự hỗ trợ
nào cho sức khỏe tâm thần của họ [23]. Hơn nữa, các vấn đề sức khỏe tâm thần
ở nhóm người này có liên quan đến tỷ lệ mắc các vấn đề về thể chất và cảm xúc
trong một thời gian vừa hoặc dài hạn, bị gạt ra khỏi thị trường lao động, chất
lượng giấc ngủ kém hơn và các mối quan hệ bị rạn nứt. Sinh viên đại học là
nhóm đối tượng có nguy cơ bị trầm cảm, lo âu và stress, nó sẽ gây ra căng thẳng
về tâm lý và có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập của họ. Trên toàn thế giới,
người ta ước tính rằng 12% – 50% sinh viên đại học có ít nhất một tiêu chuẩn
chẩn đoán cho một hoặc nhiều rối loạn tâm thần [24]. Nguyên nhân của stress
trong cuộc sống đại học bao gồm áp lực học tập xuất phát từ các yếu tố như thi
cử và khối lượng công việc, thiếu thời gian giải trí, cạnh tranh, lo lắng về việc
không đáp ứng được kỳ vọng của cha mẹ, thiết lập các mối quan hệ cá nhân
mới và chuyển đến một địa điểm xa lạ; các yếu tố nhân khẩu học như tuổi và
giới, cụ thể là nữ; và gánh nặng tài chính.
Trên toàn cầu, các nghiên cứu được thực hiện trên các mẫu sinh viên đại
học khác nhau đã xác định được tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và căng thẳng từ trung
bình đến cao ở nhóm dân số này [25], [23]. Chẩn đoán sớm và kiểm soát các
rối loạn tâm lý đem lại kết quả tốt hơn cho bệnh nhân. Vì vậy, cần phải xác
định những sinh viên có nguy cơ cao mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần trong
cuộc sống đại học. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Minh Thuận năm 2011
sinh viên cho thấy 77% sinh viên có dấu hiệu của stress, 75% sinh viên có dấu
hiệu của lo âu và 75% có dấu hiệu trầm cảm ở các mức độ khác nhau từ nhẹ đến rất nặng [9].
1.2.2. Các yếu tố liên quan
Để đánh giá chính xác yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress ở
sinh viên không phải là vấn đề đơn giản. Trên thực tế, một cá nhân bị stress có
thể do nhiều yếu tố khác nhau cùng tích hợp lại. Ví dụ như một sinh viên bị
stress, nguyên nhân có thể xuất phát từ việc sinh viên này gặp áp lực trong học 5
tập. Tuy nhiên, áp lực học tập đã có thể không trở thành yếu tố gây stress nếu
như phân bổ thời gian sinh hoạt một cách hợp lý hoặc có được sự chia sẻ, động
viên của bạn bè, gia đình. Do đó, việc phân chia các yếu tố liên quan đến trầm
cảm, lo âu, stress chỉ mang tính tương đối. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm,
lo âu và stress của sinh viên có thể chia thành yếu tố cá nhân, môi trường học
tập và mối quan hệ xã hội.
1.2.2.1. Yếu tố cá nhân • Tuổi
Những sinh viên có độ tuổi lớn hơn thường có nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress cao hơn.
Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự (2016) đã tiến
hành điều tra trên 442 sinh viên y khoa từ năm nhất đến năm tư của trường đại
học Fayoum, Ai cập và cho thấy stress và lo âu ở mức cao có mối liên quan với
các yếu tố tuổi. Những sinh viên trên 20 tuổi có mức độ stress và lo âu cao hơn
sinh viên dưới 20 tuổi. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trầm cảm ở
mức cao có liên quan với yếu tố tuổi, mức độ trầm cảm ở những sinh viên trên
20 tuổi cao hơn sinh viên ở lứa tuổi nhỏ hơn [26].
Nghiên cứu của Lu Chen và cộng sự năm 2013 trên trên 5245 sinh viên
đại học ở Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc đã cho thấy yếu tố tuổi cá nhân liên quan
đến trầm cảm ở sinh viên. Những sinh viên trên 25 tuổi có nguy cơ trầm cảm
cao gấp 1,8 lần so với những sinh viên nhỏ hơn 25 tuổi [27].
Nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm 2013 trên 506
sinh viên tuổi từ 18-24 thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley,
Malaysia cho thấy mức độ trầm cảm, lo âu và stress ở nhóm sinh viên trên 20
tuổi cao hơn nhóm sinh viên nhỏ tuổi [8]. • Năm học
Các nghiên cứu tại Việt Nam đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa năm
học và trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên. Nguy cơ stress giảm dần theo từng
năm học, trừ năm cuối. Nguy cơ lo âu và trầm cảm tăng dần theo các năm, năm sau cao hơn năm trước. 6
Nghiên cứu Nguyễn Hữu Thụ trên 829 sinh viên từ K50 đến K53 của
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra các nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân
được xếp hàng thứ 2 trong các nhóm nguyên nhân gây stress ở sinh viên. Tác
nhân năm học, là một trong những tác nhân chủ yếu gây nên stress ở sinh viên [28].
Nghiên cứu của Hamza M., Abdulghani sử dụng thiết kế cắt ngang trên
tất cả học sinh từ năm 1 đến năm 4 của đại học King Saud, Ả Rập Saudi đã tìm
ra năm học là một trong các yếu tố cá nhân liên quan đến stress. Mức độ stress
giảm dần theo năm học, ngoại trừ năm cuối. Nguy cơ mắc stress ở sinh viên
năm nhất, năm hai, năm ba, năm tư gấp lần lượt 3,96; 2,6; 1,9 và 0,82 lần so
với sinh viên năm thứ năm (p<0,0001) [29].
Nghiên cứu cắt ngang của Mohamad Saiful Bahri Yusoff trên sinh viên
trường đại học Sains, Malaysia được tiến hành trên 1058 sinh viên y khoa của
trường năm 2010. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra yếu tố năm học là yếu tố duy
nhất tìm được mối liên quan với stress ở sinh viên y khoa (p<0,05) [30].
Nghiên cứu của Nuran Bayram và cộng sự năm 2008 trên 1617 sinh viên
tại Thổ Nhĩ Kỳ đã chỉ ra sinh viên năm thứ nhất và năm hai có mức độ trầm
cảm, lo âu và stress cao hơn sinh viên các năm còn lại [31].
Nghiên cứu của Ganesh S., Kumar và cộng sự năm 2012 trên 400 sinh
viên y khoa tại Ấn Độ đã cho thấy yếu tố năm học có liên quan chặt chẽ với
mức độ trầm cảm ở sinh viên, sự khác nhau giữa mức độ trầm cảm ở sinh viên
các năm học khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [32].
Nghiên cứu của Tabassum Alvi và cộng sự trên 279 sinh viên y khoa đại
học y Wah, Pakistan năm 2008 đã chỉ ra năm học là yếu tố liên quan chặt chẽ
đến lo âu ở sinh viên [33]. • Giới
Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, tỷ lệ sinh viên nữ thường
có khả năng bị trầm cảm, lo âu và stress cao hơn so với sinh viên nam.
Theo báo cáo của WHO năm 2015, tỷ lệ trầm cảm chung trong nhóm
thanh thiếu niên từ 20 – 24 tuổi là 5,9% ở nữ và 4,2% ở nam [6]. 7
Nữ sinh viên Y khoa tại Brazil năm 2017 có nguy cơ bị trầm cảm, lo âu
và stress cao hơn so với nam sinh viên [34]. Các nghiên cứu trên sinh viên Y
tại Hàn Quốc và Ấn Độ cũng cho kết quả rằng sinh viên nữ có nguy cơ bị stress
cao hơn sinh viên nam (lần lượt p<0,05 và p<0,01) [11], [35].
Nghiên cứu của Đoàn Vương Diên Khánh trên sinh viên Y tế công cộng
trường Đại học Y Dược Huế năm 2016 cho thấy tỷ lệ bị stress của sinh viên nữ
cao gấp đôi so với sinh viên nam (OR=2,3; 95%CI: 1,10 – 4,83) [36].
Nghiên cứu của Nuran Bayram và cộng sự năm 2008 trên 1617 sinh viên
tại Thổ Nhĩ Kỳ đã chỉ ra yếu tố giới là yếu tố liên quan đến stress và trầm cảm,
nhóm sinh viên nữ có mức độ stress, trầm cảm cao hơn so với sinh viên nam [31].
Nghiên cứu của Daniel Eisenberg và cộng sự năm 2007 trên sinh viên
các trường đại học công lập của Mỹ đã chỉ ra nguy cơ xuất hiện các dấu hiệu
của lo âu ở nữ sinh viên cao hơn nam sinh viên [37].
• Khu vực sinh sống và nơi ở hiện tại
Những sinh viên sinh sống ở nông thôn thường có nguy cơ xuất hiện các
dấu hiệu của trầm cảm, lo âu và stress cao hơn những sinh viên sống ở thành thị.
Những sinh viên ở trọ thường có khả năng xuất hiện các dấu hiệu của
trầm cảm, lo âu và stress cao hơn các sinh viên ở ký túc xá hoặc ở cùng gia
đình. Việc ở trong ký túc xá hay ở cùng gia đình tạo điều kiện cho sinh viên dễ
dàng duy trì các nếp sống, thói quen sinh hoạt đều đặn, lành mạnh. Điều này sẽ
góp phần giúp sinh viên có được một sức khỏe tinh thần đầy đủ, giảm bớt nguy
cơ xuất hiện các dấu hiệu của trầm cảm, lo âu và stress.
Nghiên cứu của Eisenberg và cộng sự năm 2007 thực hiện trên sinh viên
Mỹ đã cho kết quả sinh viên ở ký túc xá có nguy cơ bị lo âu thấp hơn so với
sinh viên không sống ở ký túc xá (OR=0,41; 95%CI: 0,21 – 0,78) [37].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Thu Huyền trên sinh viên Y tế công
cộng Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 cho thấy sinh viên
sống ở nhà trọ và nhà người thân có nguy cơ bị stress cao gấp 4 lần so với sinh 8
viên sống ở ký túc xá (lần lượt OR=4,2; 95%CI: 1,3 – 13,2 và OR=4,2; 95%CI: 1,2 – 14,1) [38].
Nghiên cứu cắt ngang về một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên đại học
Y Dược Thành phố HCM của Lê Minh Thuận năm 2011 thực hiện trên sinh
viên năm 1 và năm 2 chỉ ra mức độ stress ở sinh viên sống nhà trọ/ thuê cao
gấp 2,52 lần so với sinh viên sống với cha mẹ (KTC95% từ 2,22 - 2,83,
p<0,001). Rối nhiễu trầm cảm ở sinh viên ở nhà trọ và nhà riêng đều cao gấp
lần lượt là 1,56 và 1,21 lần so với ở kí túc xá, nguy cơ trầm cảm ở sinh viên ở
với gia đình chỉ bằng 0,77 lần so với sinh viên ở ký túc. Rối loạn lo âu ở sinh
viên ở nhà trọ và ở nhà riêng cao gấp lần lượt là 1,9 và 1,17 lần sinh viên ở ký
túc xá. Sinh viên ở nhà riêng cũng bị stress nhiều hơn sinh viên ở với cha mẹ
là 1,31 lần (KTC 95% 1,21-1,41) p<0,001 [9].
• Tình trạng tài chính
Khó khăn trong tài chính sẽ làm tăng nguy cơ bị trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên.
Nghiên cứu của Eisenberg và cộng sự năm 2007 tại Mỹ đã chỉ ra rằng
sinh viên có các trở ngại về tài chính có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm
thần cao hơn so với các sinh không bị trở ngại (OR=1,6 - 9,0) [37].
Nghiên cứu trên sinh viên Y tế công cộng năm 2017 chỉ ra sinh viên có
thu nhập bình quân của gia đình (người/tháng) thấp hơn 2 triệu có nguy cơ bị
stress và lo âu cao hơn từ 1,6 đến 3,4 lần so với sinh viên ở gia đình có thu nhập
bình quân từ 2 triệu trở lên [17].
Nghiên cứu của Trần Quỳnh Anh trên sinh viên Y học dự phòng năm
2016 cũng chỉ ra rằng sinh viên có kinh tế gia đình mức nghèo có nguy cơ bị
trầm cảm cao gấp 2,5 lần so với sinh viên có kinh tế gia đình không nghèo
(OR=2,52; 95%CI:1,44 – 4,23) [43].
1.2.2.2. Yếu tố học tập
• Áp lực học tập
Đối với sinh viên Y khoa, áp lực học tập là rất lớn. Họ không chỉ trau
dồi kiến thức tại giảng đường mà còn tại bệnh viện hay các cơ sở thực tập. Kiến 9
thức luôn cập nhật cũng góp phần tạo nên sự quá tải trong học tập của sinh viên
Y khoa. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng tăng do cơ hội tìm kiếm được
việc làm tốt ngày càng ít, sinh viên Y khoa luôn phấn đấu không ngừng để đạt
được thành tích xuất sắc và tự trang bị cho bản thân những kỹ năng tốt nhất
phục vụ cho nghề nghiệp tương lai. Tất cả những yếu tố trên đã làm tăng nguy
cơ bị trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên.
Nghiên cứu tại Đại học Y Wah (Pakistan) năm 2008 đã chỉ ra rằng sự
không hài lòng với bài kiểm tra và quá tải với lịch kiểm tra có liên quan đáng
kể đến nguy cơ bị trầm cảm và lo âu ở sinh viên (p<0.05) [33].
Nghiên cứu cắt ngang của Mohamad Saiful Bahri Yusoff và cộng sự về
thực trạng và các nguyên nhân stress của sinh viên trường đại học Sains
Malaysia được tiến hành trên 1058 sinh viên y khoa của trường đã chỉ ra nhóm
nguyên nhân liên quan đến học tập (bài thi, lượng bài tập nhiều, thiếu thời gian
ôn tập, điểm kém, kỳ vọng cao từ bản thân, thiếu các kỹ năng thực tập y khoa,
học chậm, khối lượng bài tập nhiều, không hiểu kiến thức được giảng dạy) là
nguyên nhân chính gây nên stress [30]. Nghiên cứu khác trên sinh viên y khoa
tiềm năng năm 2013, Yusoff chỉ ra trầm cảm có mối liên quan chặt chẽ với kết
quả học tập trên lớp (p<0,001) [46].
Nghiên cứu của Nuran, Bayram và cộng sự năm 2008 trên 1617 sinh viên
tại Thổ Nhĩ Kỳ đã chỉ ra yếu tố học tập là yếu tố liên quan đến stress, lo âu và
trầm cảm, nhóm sinh viên hài lòng với kết quả học tập của bản thân có điểm
trầm cảm, lo âu và stress thấp hơn nhóm sinh viên không hài lòng [31].
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh Trí năm 2013 trên sinh viên Đại học
Y Dược Cần Thơ đã chỉ ra rằng áp lực học tập cao làm tăng nguy cơ bị trầm
cảm của sinh viên hơn 4 lần (OR=4,35; 95%CI: 3,00 — 6,25) [47].
Nghiên cứu của Phan Thị Diệu Ngọc năm 2013 trên sinh viên Đại học Y
khoa Vinh đã chỉ ra rằng sinh viên có áp lực học tập cao cũng tăng nguy cơ bị
trầm cảm gấp 4,4 lần so với sinh viên không có áp lực học tập (p<0,001) [48]. 10