Thuyết minh tác phẩm Bình Ngô đại cáo | Văn mẫu lớp 10 Kết Nối Tri thức

Thuyết minh về Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi gồm 2 gợi ý cách viết kèm theo 14 bài văn xuất sắc của các học sinh giỏi. Qua bài văn thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô Đại cáo các bạn sẽ được trang bị kiến thức, suy nghĩ sâu sắc nội dung ý nghĩa của bài thơ để nhanh chóng biết cách viết bài văn giới thiệu một tác phẩm văn học hay.

Dàn ý thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo
Dàn ý số 1
I. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Khái quát về tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung, nghệ thuật của bài
Bình Ngô đại cáo.
II. Thân bài:
- Nêu luận đề chính nghĩa: Cốt lõi nhân nghĩa chính là yên dân và trừ bạo. Nhân nghĩa
không hẹp trong khuôn khổ tưởng Nho giáo mà rộng hơn là làm thế nào để đem
lại cuộc sống yên bình cho nhân dân. Bên cạnh đó khẳng định nước ta tuy là một nước
nhỏ nhưng vẫn có thể tự hào về:
Nền văn hiến lâu đời.
Cương vực lãnh thổ.
Phong tục tập quán.
Lịch sử và chế độ riêng.
- Bản cáo trạng vạch tội ác kẻ thù: Giặc Minh xảo quyệt thừa nước đục thả câu.
Không những thế còn tàn sát, hành hạ, tước đoạt mạng sống con người một cách
man (dẫn chứng).
- Tổng kết quá trình kháng chiến:
Xây dựng hình tượng người anh hùng áo vải bình thường nhưng có lòng yêu
nước thương dân và căm thù giặc sâu sắc, có lí tưởng cao cả (so sánh với Trần
Quốc Tuấn để thấy được lòng căm thù giặc và niềm tin sắt đá).
Khắc họa những chiến công oanh liệt hào hùng (dẫn chứng).
- Tuyên bố hòa bình mở ra kỉ nguyên mới.
* Nghệ thuật:
- Sử dụng từ ngữ hiển nhiên, vốn có.
- Biện pháp đối lập, lấy cái hạn của trúc Nam Sơn để nói đến cái hạn trong tội
ác giặc Minh, lấy cái vô cùng của nước Đông Hải để nói lên sự dơ bẩn vô cùng.
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật.
- Liệt kê, so sánh, đối lập để tạo thành bản anh hùng ca về những chiến công oanh liệt.
III. Kết bài:
Tóm tắt lại nội dung, nghệ thuật tiêu biểu.
Dàn ý số 2
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm Bình Ngô đại cáo.
2. Thân bài:
2.1. Tác giả Nguyễn Trãi:
a. Thân thế, cuộc đời:
- Nguyễn Trãi (1380-1442), tên hiệu Ức Trai, quê gốc huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương, sau đó dời đến Định Khê, Thường Tín, Hà Nội.
- Xuất thân trong một gia đình danh giá, cha Nguyễn Phi Khanh, đã từng đỗ thái
học sinh (tiến sĩ) dưới thời nhà Trần, mẹ Trần Thị Thái con của quan đồ Trần
Nguyên Đán.
- Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ thái học sinh cùng cha ra làm quan ới triều nhà
Hồ, năm 1407 nhà Hồ sụp đổ, giặc Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị giặc
bắt giải về Trung Quốc, còn Nguyễn Trãi bị giam lỏng tại thành Đông Quan.
- 1417, gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, trở thành quân cho Lợi, đóng góp nhiều
công lao to lớn giúp nghĩa quân chiến thắng giặc Minh và lập ra nhà Hậu Lê.
- Nhà Hậu thành lập không bao lâu thì gặp phải cuộc khủng hoảng nghiêm trọng,
nội bộ đất nước xảy ra mâu thuẫn => Nguyễn Trãi bị nghi ngờ và không được tin
dùng trong suốt 10 năm trời.
- Năm 1440 lại được vua Lê Thái Tông mời ra giúp nước.
- Năm 1442 thảm án Lệ chi viên ập xuống, dẫn đến kết cục cùng bi đát - Nguyễn
Trãi phải chịu tội tru di tam tộc.
b. Sự nghiệp sáng tác:
* Các tác phẩm chính trong các lĩnh vực:
- Lịch sử: Văn bia Vĩnh Lăng, Lam Sơn thực lục ghi lại kể lại cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn.
- Chính trị quân sự có Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo.
- Địa lý: Dư địa chí - cuốn sách địa lý cổ nhất Việt Nam.
- Văn học:
Chữ Hán: Ức Trai thi tập
Chữ Nôm: Quốc âm thi tập - cuốn sách viết bằng tiếng Việt đầu tiên còn lại cho
đến ngày hôm nay.
* Nhà văn chính luận kiệt xuất:
- Để lại một số lượng tác phẩm klớn, ngoài Quân trung từ mệnh tập nh Ngô
đại cáo đã kể trên, người ta còn u tập được khoảng 28 tác phẩm thuộc các thể loại
chiếu, biểu, ... dưới triều Lê.
- Nội dung tư tưởng chủ đạo xuyên suốt là nhân nghĩa, yêu nước và thương dân.
- Đặc sắc nghệ thuật: Kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, sử dụng các bút pháp linh
hoạt tùy theo mục đích, yêu cầu, đối tượng.
* Nhà thơ trữ tình sâu sắc:
- Các tác phẩm hiện còn gồm hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập
- Nội dung:
Ghi lại hình ảnh người anh hùng vĩ đại Nguyễn Trãi: Lý tưởng nhân nghĩa, yêu
nước thương dân; ý chí chống ngoại xâm và cường quyền bạo lực; các phẩm
chất tốt đẹp tượng trưng cho người quân tử.
Trong tư cách là một con người trần thế, ông hiện lên với những đặc điểm của
một con người đời thường giản dị, ông đau đớn trước nghịch cảnh éo le của xã
hội cũ, trước thói đời bạc bẽo, nham hiểm, ông cũng có những tình yêu sâu sắc
với thiên nhiên, đất nước con người và cuộc sống, đồng thời thể hiện cả những
tình nghĩa giữa cha con, vua tôi, bạn bè rất sâu nặng.
2.2. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo:
a. Hoàn cảnh ra đời:
- Ra đời vào thời điểm cuối năm 1427, đầu năm 1428 sau khi nghĩa quân Lam Sơn
tiêu diệt được 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông đang cố thủ trong thành Đông
Quan đã phải xin giảng hòa và rút quân về nước.
- Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lợi viết Bình Ngô đại cáo để chiếu cáo với thiên h
rằng chúng ta đã giành lại độc lập dân tộc, tuyên ngôn độc lập, mở ra một trang mới
cho lịch sử nước nhà.
b. Ý nghĩa nhan đề:
- "Bình Ngô", tức bình định quân Minh m lược, dẹp n giặc dữ (bởi vua Minh
vốn người nước Ngô, đại diện cho một đất nước, đại diện cho cả một dân tộc. Theo
một cách giải khác giặc Ngô còn tên gọi chung để chỉ thứ giặc đến từ phương
Bắc với các đặc điểm chung là tàn ác và vô nhân đạo).
- Hai chữ "đại cáo" tức bản cáo lớn, thể hiện tầm quan trọng của skiện cần tuyên
bố, cũng như khẳng định tư tưởng lớn của dân tộc.
- Khái niệm "cáo": (Tham khảo sách giáo khoa)
c. Bố cục:
Đoạn 1 là nêu luận đề chính nghĩa, đoạn 2 vạch rõ tội ác của kẻ thù, phần 3 kể lại diễn
biến của cuộc khởi nghĩa, đoạn 4 phần tuyên bố chiến quả khẳng định sự nghiệp
chính nghĩa.
d. Nội dung:
- Đoạn 1: Nêu ra luận đề chính nghĩa với hai cơ sở lớn:
Tư tưởng nhân nghĩa "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/Quân điếu phạt trước lo
trừ bạo", lấy nhân dân làm gốc, thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, một
lòng vì nhân dân.
Khẳng định chủ quyền của dân tộc thông qua nhiều khía cạnh khác nhau bao
gồm: Văn hiến, ranh giới lãnh thổ, lịch sử đấu tranh, triều đại trị vì và phong
tục tập quán.
- Đoạn 2: u nên tính chất phi nghĩa của quân Minh xâm ợc tội ác của chúng
trên đất nước ta:
Lấy danh nghĩa phù Trần diệt Hồ để dẫn quân vào xâm lược nước ta.
Tàn sát giết hại đồng bào một cách dã man, ra sức bóc lột thuế khóa, đàn áp vắt
kiệt sức lao động, đẩy nhân dân ta vào chỗ nguy hiểm, dùng mọi thủ đoạn vơ
vét tài nguyên sản vật, phá hoại tài nguyên cây cỏ, phá hoại cả nền nông nghiệp
của nhân dân ta.
- Đoạn 3:
+ Tái hiện lại tài năng nhân phẩm và ý chí của chủ soái Lê Lợi.
+ Kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn qua nhiều giai đoạn.
- Đoạn 4:
Tuyên bố thắng lợi, khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc, tính chất chính
nghĩa của khởi nghĩa Lam Sơn, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ
nguyên độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ.
Rút ra bài học lịch sử cho dân tộc dựa trên tư tưởng mệnh trời, quy luật của tạo
hóa trong ngũ hành, bát quái, Kinh dịch:
e. Nghệ thuật:
- Kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương nghệ thuật.
- Yếu tố chính luận thể hiện kết cấu chặt chcủa tác phẩm, lập luận sắc bén, lời văn
đanh thép, hùng hồn.
- Chất văn chương nghệ thuật lời văn rất giàu cảm xúc, xen lẫn giữa những đoạn thuật
lại một cách khách quan, những đoạn bộc lộ cảm xúc trực tiếp của tác giả. Câu văn
rất giàu hình tượng nghệ thuật sinh động tạo ra sức mạnh gợi cảm, gợi tả lớn, vận
dụng cả sự hiểu biết của mình về các điển tích điển cố, lịch sử.
3. Kết bài:
Nêu cảm nhận chung.
Thuyết minh v tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo - Mu 1
Xuyên suốt b dày lịch s văn học Việt Nam, đã rất nhiều áng văn dẫu qua năm
tháng nhưng giá trị ca chưa tng b lp bi thi gian ph mờ, Bình Nđại cáo
ca Nguyễn Trãi cũng một áng văn như thế. Được mệnh danh một áng “thiên cổ
hùng văn”, là bản tuyên ngôn th hai của dân tộc ta, Bình Ngô đại cáo đã bc l hết
lòng trung quân ái quốc, tấm lòng tha thiết hướng v nhân dân. Bình Ngô đại cáo
chính là bản cáo trạng đặc trưng cho đặc sc ngh thuật cũng như tưởng nhân nghĩa
ca Nguyễn Trãi – Một tác giả, mt nhà chính tr lớn, nhà nhân đo ca dân tc.
Năm 1428 Lợi n ngôi hoàng đế, lp ra triu Hậu Lê, thừa lệnh Lợi, Nguyn
Trãi viết Bình Ngô đại cáo để b cáo cho toàn dân biết được chiến thng của nhân dân
ta sau 10 năm miệt i, anh dũng chiến đấu. c Việt ta đã giành lại độc lp, non
sông ta lại thái bình. Bài cáo được xem bản tuyên ngôn độc lp th hai của dân tộc
được viết bng th cáo và sử dng ch n được chia thành bốn đoạn.
M đầu bài thơ cũng mch ngầm ng chy dọc theo c phẩm luận đề
chính nghĩa luôn được Nguyễn Trãi nêu cao, đó cũng mục tiêu chiến đấu cao c,
thiêng liêng ca cuc kháng chiến
“Việc nhân nghĩa ct yên dân
Quân điếu phạt trưc lo tr bạo”
Khác với tư tưởng Nho giáo cho rằng tư tưởng nhân nghĩa là mối quan h yêu thương,
đùm bọc ln nhau của con người, ởng nhân nghĩa của Nguyn Trãi lại ly tr bo
và yên dân làm cốt lõi. Nguyễn Trãi đề cao luận đề chính nghĩa với tư tưởng mang li
cuc sống bình yên, no ấm cho nhân dân. Nguyễn Trãi còn khẳng định ớc ta tuy
v dân số quy nhưng lại niềm t o rất ln v độc lp, ch quyền nền
văn hóa được th hin qua nhiều phương din:
“Như nước Đi Vit ta t trưc
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông b cõi đã chia
Phong tc Bắc Nam cũng khác
T Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lp;
Cùng Hán, Đưng, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Nguyễn Trãi đã khẳng định một cách chắc chn nền lãnh thổ dân tộc trên nhiều
phương diện như nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ được phân định ràng, những nét
riêng về phong tc, tập quán. Ngoài ra Đại Việt còn các triều đại hào hùng sánh
ngang với các triều đại phương Bắc. Ch quyền không phụ thuộc vào thiên thư hay
các yếu t tâm linh được phân đnh hn hoi, khoa hc. Nguyễn Trãi đã th hin
tinh thần dân tộc sâu sắc khi đặt Đại Việt sánh ngang với các triều đại ly lng
phương Bắc. Tuy quá trình dựng nước, gi ớc lúc thăng, lúc trầm “Tuy mạnh
yếu từng lúc khác nhau” nhưng vn tn ti đó những trang nam t sẵn sàng chiến
đấu khi đất nước lâm nguy.
“Cho nên
Lưu Cung tham công nên thất bi
Triu Tiết thích lớn phi tiêu vong
Cửa Hàm Tử bt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chng c còn ghi”
Bình Ngô đại cáo đã khẳng định nh vi xâm phạm ch quyền lãnh thổ, dùng sức
mạnh quân sự chèn ép những dân tộc yếu thế chc chn phi tr giá bằng xương máu,
tính mạng. Bt chp luân xâm phạm Đại Việt, quân ngoại xâm phải nhn ly nhng
tht bại cay đắng “tiêu vong”, “bắt sống”, “giết tươi”. Những thng li vang di ca
nhân dân ta cũng mt s khẳng định chc chn rng nếu gng sc xâm phạm lãnh
th nước ta s chuc ly tht bại, cay đắng.
“Va ri:
Nhân h H chính s phiền hà
...
Tàn hi c giống côn trùng cây cỏ.”
Khi nước ta đang trong tình thế ri ren, triu H “chính s phiền hà”, nhân dân sống
cảnh oán khổ, lầm than, mâu thun ni b triều đình được đẩy lên đến đỉnh điểm. Li
dng s không ổn định này quân Minh đã mon men đến lãnh thổ Đại Việt thừa
gây họa”. Quân xâm c với ởng phi nghĩa đã sử dng nhng kế sách đê hèn,
th đoạn ng từng chút bóc lột dân tộc ta đến tận xương tủy. Chúng bán máu dân tộc
ta trên chính mảnh đất quê hương để góp phần đậm s phồn vinh, ng thịnh cho
dân tộc chúng. Không từ th đoạn, hành động nhẫn tâm, chúng gây nhiễu nhương
khp mọi nơi, tội ác của chúng mỗi ngày một tàn độc. Những động t mnh “nưng
con đen” , “ vùi con đ” đ vch trn bn chất độc ác của quân Minh.
Gii thiu v tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo - Mu 2
Nguyễn Trãi một v anh hùng lớn của dân tộc, một nhà văn hoá lớn ca thời đại.
Ông sinh ra Hải Dương trong một gia đình nghèo. Hai bên ni,ngoại thân sinh
Nguyễn Trãi đều truyền thống yêu ớc về văn hoá, văn hc.Cuộc đời ông chịu
nhiu mất mát và đau thương khi sm m côi m t nh.
Khi đt nước lâm nguy, vâng li cha dặn, ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, góp phần
rt ln trong chiến thng v vang của dân tộc.Tham gia vào công cuộc xây dựng li
đất nước, b án oan khiến c dòng họ b giết. Năm 1964, Nguyễn Trãi mới được vua
Thánh Tông minh oan. ra đi nhưng ông đã để li khối lượng khá lớn tác phẩm
thơ văn, thành công trên nhiều th loại văn học, tiêu biểu là các sáng tác bằng ch Hán
bằng ch Nôm nhiều giá tr như: Quân Trung từ mnh tp, c trai thi tập, Chí
Linh sơn phú, hay Quốc âm thi tập,... Ông không chỉ một nhà thơ trữ tình sâu sắc
với tình u thiên nhiên, đất ớc, con người cuộc sống còn một nhà văn
chính lun kit xut ca dân tc.
Bình Ngô đại cáo một tác phẩm thành công, một áng văn bất h của dân tộc Vit
Nam.Tác phẩm được viết vào năm 1928 khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành chiến
thng,Nguyễn Trãi đã tha lnh của vua Lợi viết Đại cáo bình Ngô. Đây tác
phẩm được xem bản tuyên ngôn độc lp ca dân tc v ch quyền và toàn vẹn lãnh
th, bản án đanh thép về tội ác của quân xâm lược, bản hùng ca chiến trn ca khi
nghĩa Lam Sơn khẳng định v đẹp ca s nghiệp chính nghĩa, thành quả của dân
tc.
Bình Ngô đại cáo đã nói lên sức mạnh nhân dân, tưởng nhân n ởng yêu
nước. Yêu ớc giặc ngoi xâm thì chống, khi yên bình thì lấy nhân nghĩa, an
dân để "trị" dân.
"Tng nghe:
Vic nhân nghĩa ct yên dân
Quân điếu phạt trưc lo tr bo
Như nước Đi Vit ta t trưc
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông b cõi đã chia
Phong tc Bắc Nam cũng khác
T Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lp
Cùng Hán, Đưng, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có"
Tội ác âm mưu của quân giặc được vch trần ràng bằng nhng luận điệu sắc bén:
"Va ri:
Nhân h H chính s phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hn.
Quân cung Minh tha cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nưc cu vinh.
ớng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đ xuống dưi hm tai v.
Di tri lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bi nhân nghĩa nát c đất tri,
Nng thuế khóa sạch không đầm núi.
Ngưi b ép xung bin dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thung lung.
K b đem vào núi đãi cát tìm vàng, khn ni rừng sâu, nước đc.
Vét sn vt, bt chim tr, chn chn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cm đt.
Tàn hi c giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng."
Tác phẩm cho thấy tài năng của tác giả khi viết theo lối văn biền ngu, th cáo với li
l đanh thép, hàng loạt các chứng c ràng,sức thuyết phc cao, lp lun, kết cu
cht chẽ.Hình tượng ngh thuật tđầy sinh động giàu sức gi. Ngh thuật chính
luận đầy tài tính, cảm hng nhân đạo đầy mi m và sâu sắc. Bình Ngô đại cáo trở
thành một áng văn mu mc th hin sc mnh, nim tin ca quốc gia , dân tộc.
Thuyết minh Bình Ngô đại cáo - Mẫu 3
Nằm trong số những tác phẩm văn học được viết n để ca ngợi truyền thống yêu
nước của dân tộc Việt Nam, “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi được xem một
tác phẩm bất hủ cùng thời gian. Tác phẩm được đánh giá áng “thiên cổ hùng văn”,
là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai có giá trị trường tồn.
Nguyễn Trãi (sinh m 1380 mất năm 1442) hiệu Ức Trai, qông Chi Ngãi
(Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Tây). Gia đình Nguyễn
Trãi một gia đình nhà nho nghèo nhưng lại giàu truyền thống yêu nước sự
quan tâm đặc biệt với văn hóa, văn học nước nhà. Nguyễn Trãi cha ông ngoại
đều những người học rộng tài cao nhiều đóng góp cho triều đình. Cha ông
Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh còn ông ngoại của ông là Tư đồ Trần Nguyên Đán.
Noi gương thế hệ đi trước, Nguyễn Trãi cũng ra sức dùi mài kinh sử và năm 1400, ông
cũng đỗ Thái học sinh ra làm quan cho triều nhà Hồ. Đến năm 1407, giặc Minh
sang xâm lược nước ta nhưng nhà Hồ không đủ khả năng chống trả, thế nên đất
nước rơi vào tay giặc, cha ông bị bắt sang Trung Quốc còn ông thì quyết định tham
gia vào nghĩa quân Lam Sơn để cứu nước báo thù nhà.
Với sự lãnh đạo tài tình sự giúp sức từ những người cộng sự nhiệt thành, tài năng
như Nguyễn Trãi, Lợi cùng với nghĩa quân Lam Sơn đã giành được thắng lợi to
lớn trước quân Minh. Nguyễn Trãi nhận được sự tin ởng rất lớn từ Lê Lợi lúc này
đã trở thành vị vua đứng đầu của Đại Việt. Tuy nhiên sau đó triều đình lại lục đục,
gian thần nhiễu nhương, Nguyễn Trãi quyết định về quê lánh đục tìm trong.
Thế nhưng, mong muốn ẩn rời xa thế sự của Nguyễn Trãi lại không trở thành hiện
thực vì ông lại bị vướng vào vụ án oan giết vua tại Lệ Chi Viên vào năm 1442, kết quả
nhận án tru di tam tộc. Nỗi oan thiên cổ của ông kéo dài đến tận năm 1464 thì mới
được vua Lê Thánh Tông minh oan.
Nguyễn Trãi để lại cho dân tộc một sự nghiệp sáng tác giá trị trên nhiều lĩnh vực.
Ông sáng tác cả chữ Hán chữ Nôm, cả thể loại văn chính luận văn trữ tình. Đa
phần những tác phẩm của ông đều phục vụ đắc lực cho cuộc chiến đấu chống giặc
xâm lược và góp phần thể hiện những trải nghiệm, nỗi lòng của ông về đất nước và
con người.
Khi thuyết minh về Bình ngô đại cáo, ta thấy tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” ra đời gắn
với hoàn cảnh đất nước ta vừa hoàn thành cuộc chiến đấu nhiều m gian khổ chống
giặc Minh xâm lược. Sau chiến thắng đó, Nguyễn Trãi chính là người thay mặt cho
Lợi viết n tác phẩm nhằm mục đích tuyên bố với nhân dân cả nước về quyền độc
lập dân tộc. “Đại cáo bình Ngô” được công bố vào năm 1428, đây là một bản báo cáo
đã tổng kết quá trình kháng chiến giành thắng lợi và đồng thời ng một bản tuyên
cáo trong việc thành lập triều đại mới của đất nước triều nhà Lê.
Tác phẩm được viết bằng một thể loại đặc biệt thể cáo. Đây vốn thể văn nghị luận
từ thời cổ Trung Quốc thường được vua chúa, những người thlĩnh sử dụng để
trình bày một chủ trương, sự nghiệp hay tuyên ngôn những sự kiện trọng đại để mọi
người cùng biết. Thể loại cáo thường được trình bày dưới hình thức của văn vần, văn
xuôi nhưng phổ biến là văn biền ngẫu thể văn lấy sự đối ý làm nguyên tắc bản,
tạo cho lời văn sự nhịp nhàng cân đối. Cáo sử dụng lời lẽ đanh thép, lý luận sắc bén và
đặc điểm quan trọng nhất là có kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.
Nhan đề của tác phẩm Nguyễn Trãi đã cho người đọc hình dung về giá trị của tác
phẩm. Từ “đại cáo” trong nhan đề đã cho thấy đây không phải là bài cáo thông thường
bài cáo mang tính quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó, cuộc kháng chiến
chống giặc Minh xâm lược nhưng trong nhan đề lại sự xuất hiện của từ “Ngô”, đây
cũng điểm đáng chú ý. “Ngô” đây chính cách gọi người Trung Quốc theo thói
quen của người Việt ta nhưng với một thái độ khinh bỉ căm thù sâu nặng. Từ ngàn
xưa, giặc phương Bắc luôn mưu đồ xâm chiếm đất ớc ta, chúng khiến nhân dân
phải chịu cực, lầm than khôn xiết. Chính thế nhân dân ta không một phút nguôi
hờn với sự bạo tàn, ngang ngược của chúng giờ đây mọi căm phẫn, uất ức đều đ
dồn lên kẻ thù trước mắt là giặc Minh.
Để khẳng định nền độc lập, mở đầu tác phẩm, Nguyễn Trãi đã nêu lên luận đề chính
nghĩa có ý nghĩa tất yếu:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Luận đề được nêu lên cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa dân, nước sự nhân
nghĩa. Nhân nghĩa vốn một quan niệm trong đạo Nho nói lên cách đối nhân xử thế
tốt đẹp dựa trên tình thương đạo giữa người với người trong cuộc sống. Thế nhưng
trong thời buổi giặc xâm lược, tác giả đã cụ thể hóa biểu hiện của một người biết
sống nhân nghĩa hành động “trừ bạo” để “yên dân”. Đó chính là chân khách quan
phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Con dân đất Việt xông pha ra chiến
trường diệt giặc điều tất yếu nước Việt của người Việt, có chủ quyền độc lập
riêng. Điều này đã được khẳng định chắc chắn qua lịch sử, phong tục:
“Như nước Đại Việt ta từ trước.
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia.
Phong tục Bắc Nam cũng khác.”
Qua các triều đại và cả sự hiện diện của những anh hùng hào kiệt mỗi thời:
“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Song hào kiệt đời nào cũng có.”
Khi thuyết minh về Bình ngô đại cáo, ta nhận thấy bên cạnh việc khẳng định nền chủ
quyền, độc lập dân tộc, “Đại cáo bình Ngô” còn một bản cáo trạng đanh thép đối
với những tội ác mà kẻ thù đã gây ra cho nhân dân ta suốt hai mươi năm dài xâm lược.
Trong những ngày đầu đặt chân lên đất nước muốn đô hộ ta, chúng đã tỏ
những kẻ xảo trá, bịp bợm:
“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa.”
Chúng ra sức bóc lột, đẩy nhân dân ta vào chỗ hiểm nguy:
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khi nỗi rừng sâu, nước độc.”
Tàn ác hơn, thâm độc hơn, chúng còn sẵn sàng hủy diệt sinh mệnh của con người
bằng những cách hung bạo:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.”
Giặt hiện lên quá với những hình ảnh ghê rợn:
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”
Thật sự những tội ác chất chồng mà chúng gây ra không thể nào đếm hết:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.”
Khi nói về tội ác của giặc, tác giả đã chọn cái hạn, khốn cùng của “trúc Nam Sơn”,
của “nước Đông Hảicũng để nói về cái hạn, khôn cùng là tội ác sự nhơ bẩn
của kẻ thù. Trong bản cáo trạng y, ta thể thấy tác giả gửi gắm o đó lúc sự sục
sôi, căm phẫn, khi lại uất hận, nghẹn ngào. Tác giả đau đớn, cất tiếng kêu oán thán:
“Lẽ nào trời đất dung tha” “Ai bảo thần nhân chịu được?” điều đó cũng chính
biểu hiện của tấm lòng luôn hướng đến quyền sống của người dân, luôn lo cùng nỗi lo
và đau cùng nỗi đau với nhân dân.
Với tội ác của giặc, quân dân ta đã nhất tề đồng lòng đứng lên chống lại giặc ngoại
xâm để bảo vệ nền độc lập. Những người anh hùng cứu nước, đặc biệt vị minh
soái tài ba Lê Lợi dù có xuất thân bình thường:
“Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương mình”
Khi chiến đấu với kẻ thù lại trải qua muôn vàn khó khăn:
“Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.”
Có lúc phải đối diện với rất nhiều sự thiếu thốn về lương thực và cả lực lượng:
“Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện quân không một đội.”
Nhưng với tinh thần “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống ớc, nước sông phải
cạn”, với niềm tin “Trời thử lòng trao cho mệnh lớn”, quân ta đã đồng lòng “gắng chí
khắc phục gian nan”. Cuối cùng sau nhiều năm tháng người chtướng phải“đau lòng
nhức óc”, “quên ăn giận”, “trằn trọc trong cơn mộng mị”, “băn khoăn một nỗi đồ
hồi”…, quân dân ta đã đánh kẻ thù đến nỗi “sạch không kình ngạc”, “tan tác chim
muông”. Ta giành được độc lập, giặc thất bại ê chề là kết cục không thể khác hơn cho
cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa chúng gây ra. Tuy nhiên điều đáng nói đây
là mặc giặc độc ác, tàn nhẫn như thế vậy sau biết bao đau đớn, căm hờn, ta vẫn
lấy tấm lòng hiếu sinh để mở đường sống cho chúng. Như vậy, đến cuối cùng ta đã
dùng tấm lòng nhân đạo để hóa giải hận thù. Thế mới thấy lúc này cách hành xử với
tội ác của giặc đã khiến cho tinh thần nhân nghĩa của ta vươn lên một tầm cao mới.
Cuối cùng nền độc lập, tự do được xác lập lại cho đất nước sau rất nhiều đau thương
chính kết quả tốt đẹp cho một n tộc chiến đấu anh hùng biết sống nhân nghĩa.
Thuyết minh về Bình ngô đại cáo không thể quên khi Nguyễn Trãi thay Lê Lợi bố cáo
rộng rãi cho quần chúng nhân dân:
“Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
Ngàn thu vết nhục sạch làu.”
Lời tuyên bố cho thấy một niềm tin mãnh liệt của tác giả về nền thái bình vững chắc,
lâu bền của dân tộc. Sau những ngày tháng sống cảnh áp bức, bóc lột tối tăm, mờ mịt,
quân dân ta đã m lại được ánh sáng cho sự sống của chính đất ớc mình. Hai câu
kết của bài cáo vang lên cũng chính là sự khép lại của thời kì chiến đấu oanh liệt và sự
mở ra của một giai đoạn tươi sáng, phát triển:
“Một cố nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm;
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.”
Thuyết minh về Bình ngô đại cáo sẽ thấy ngoài những phương diện về nội dung, “Đại
cáo bình Ngô” còn xứng đáng một kiệt tác bởi những đặc điểm độc đáo về nghệ
thuật. Viết tác phẩm, Nguyễn Trãi đã sử dụng lối viết sự kết hợp uyển chuyển giữa
văn chương chính luận. Ngoài ra, khi viết tác phẩm, Nguyễn Trãi còn sử dụng
giọng văn sự biến đổi linh hoạt cùng, hình ảnh sử dụng trong bài cáo lại sinh
động và vô cùng hoành tráng.
Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng lối liệt hình tượng phong phú, đa dạng, thể
hiện sự ơng phản trong kháng chiến giữa ta địch. Đoạn viết về cuộc khởi nghĩa
của ta thể xem một trong những đoạn thơ đặc sắc về nghệ thuật của “Đại cáo
bình Ngô”.
Nói như vậy nhà thơ đã rất thành công trong việc thể hiện những phương thức
nghệ thuật về liệt hình ảnh thủ pháp tương phản đối lập. Ta t“điều binh thủ
hiểm”, “chặt mũi tiên phong”, “sai tướng chẹn đường”, “tuyệt nguồn lương thực”,
“bốn mặt vây thành”; địch thì “động binh không ngừng”, “đem dầu chữa cháy”. Lực
lượng của ta thì “sĩ tốt kén người hùng hổ, bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” còn nhìn quân
giặc thì chúng lại xuất hiện trong hình ảnh “thất thế”, “cụt đầu”, “đại bại tử vong”,
“cùng kế tự vẫn”…
thể thấy, với những giá trị trên đây, Đại cáo bình Ngô” xứng đáng một tác
phẩm lưu danh sử sách đến muôn đời. Bài cáo không chỉ khẳng định hùng hồn nền
độc lập, chủ quyền của đất nước còn góp phần thể hiện cuộc đấu tranh chống giặc
ngoại xâm kiên cường, bất khuất tấm lòng nhân đạo, tinh thần nhân nghĩa của dân
tộc ta…
Thuyết minh Đại cáo Bình Ngô - Mẫu 4
Trong dòng văn học yêu nước của dân tộc, biết bao kiệt tác văn học đáng ngưỡng
mộ và tự hào. Ta thêm tự hào về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết qua những
trang sử vẻ vang viết về cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc. Đó là Nam Quốc sơn hà
của Thường Kiệt, Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, Tuyên ngôn độc
lập của Hồ Chí Minh,...Đặc biệt, một trong số đó phải kể đến Bình Ngô đại cáo của
Nguyễn Trãi, một tác phẩm bất hủ được xem bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của
dân tộc.
Vào năm 1427, quân Minh do Mộc Thạnh và Liễu Thăng cầm đầu bị nghĩa quân Lam
Sơn đánh bại thu phục. Tháng 12 năm 1427, Vương Thông đêm quân theo sông
Nhị về nước theo lời ước giao hoà, được nghĩa quân Lam Sơn cấp lương thực
vật dụng để trở về. Đến năm 1428, quân giặc dẹp yên, đất nước không còn bóng quân
Mình, Lợi đã giao cho Nguyễn Trãi làm bài cáo để tổng kết cuộc đấu tranh, tuyên
bố thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống quân Minh.
Tác phẩm được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo. Khác với các thể loại khác, thể cáo
thường được sử dụng nhiều trong các sự kiện trọng đại để thông báo cho quốc gia, dân
tộc những nội dung quan trọng. Đây loại văn hùng biện, chính luận nên ngôn từ
thường sâu sắc, lẽ sắc bén lập luận logic, chắc chắn. Tác phẩm được viết bằng
chữ Hán lấy nhan đề "Bình Ngô đại cáo" với ý nghĩa tuyên bố đến toàn dân về
việc giặc Ngô đã được dẹp yên, đồng thời cũng thể hiện thái độ khinh bỉ trước tội ác
quân giặc, những kẻ nhởn nhơ làm điều phi nghĩa cuối cùng cũng bị đánh bại.
Bình Ngô Đại cáo được phân làm 4 phần với những nội dung lớn. Phần thứ nhất từ
đầu đến "Chứng ccòn ghi", trong phần này, tác giả đã nêu lên luận đề chính nghĩa,
cốt lõi của cuộc chiến đấu nhân dân, tưởng nhân dân chính "việc nhân
nghĩa" khi bước vào cuộc chiến. Đây là một luận đề phù hợp để mở đầu cho tác phẩm,
bởi một cuộc chiến xuất phát từ lợi ích của nhân dân, nhân dân dân tộc thì luôn
luôn cuộc chiến chính nghĩa, trong đó "trbạo", diệt giặc công việc tiên quyết
hàng đầu lúc bấy giờ. Mặt khác, cũng trong đoạn này Nguyễn Trãi đặt đất nước ta
sánh ngang với các triều đại phương Bắc để khẳng định nền độc lập, sự bình đẳng của
Đại Việt với các triều đại phương Bắc. Chứng minh khẳng định hùng hồn Đại Việt
gắn với nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, có lịch sử vẻ
vang, hào hùng những nhân tài, anh kiệt ngàn đời. Các yếu tố ấy làm nên một
Đại Việt vẻ vang, độc lập hiên ngang trước thế giới, trước các triều đại phương
Bắc.
Đoạn thứ hai từ "Vừa rồi" đến "Ai bảo thần dân chịu được" Sau khi nêu luận đề chính
nghĩa, Nguyễn Trãi khéo léo vạch trần việc làm "phi nghĩa" của giặc Minh ớp
nước. Bằng giọng điệu gay gắt, ngôn ngữ đanh thép, tội ác giặc Minh được phơi bày
như một bản kết tội sự tàn nhẫn dành cho chúng:
"Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời."
Sự tàn độc của chúng đạt đến tột đỉnh khi âm mưu giả dối, hành động phi nhân,
đạo đức. Chúng giết người tàn bạo, không ơng tay cho kẻ nghèo hèn, khốn khó,
chúng thi hành bao chính sách tàn ác, man, khiến nhân dân phải chịu nỗi đau tinh
thần lần nỗi đau thể xác:
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ"
Càng vạch trần sự bạo tàn của quân thù, tác giả càng bày tỏ xót xa, đau đớn đến nghẹn
ngào trước những nỗi khổ đau, nhọc nhằn mà nhân dân phải chịu đựng. Tiếng thơ vừa
căm phẫn, vừa xót xa.
Đoạn thứ ba chiếm số lượng câu từ lớn nhất, từ "Ta đây núi Lam Sơn dấy nghĩa" đến
"Cũng chưa thấy xưa nay" Nguyễn Trãi đã dùng trang dài nhất để tổng kết lại cuộc
chiến đấu vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn vừa qua. Một lần nữa khẳng định sức
mạnh dân tộc, ý chí chiến đấu mãnh liệt của dân tộc kết quả tất yếu Đại Việt
xứng đáng nhận được. Cuộc chiến đấu nào lúc bắt đầu cũng gặp nhiều khó khăn,
nghĩa quân Lam Sơn cũng không nằm ngoài việc ấy. Ban đầu, quân ta phải đối mặt
với vấn đề lương thực, khí thiếu thốn, đội quân còn ít ỏi, thưa thớt, người tài, tuấn
kiệt thì hiếm hoi. Nhưng "trong cái khó cái khôn", khó khăn ấy không làm nghĩa
quân nhụt chí trái lại họ ng trí tuệ để tìm ra những chiến thuật hay trong đánh
trận.
"Lấy yếu thắng mạnh
Lấy ít địch nhiều"
Cùng với người lãnh đạo anh minh, ng suốt, nghĩa quân ngày một lớn mạnh, sức
chiến đấu hăng say. Thắng lợi liên tiếp, càng đánh càng hăng, thu về bao chiến công
giòn giã. Quân Minh thất bại trong nhục nhã ê chề, kẻ phi nghĩa làm sao thể tránh
khỏi hai từ "thất bại".
Đoạn cuối bài cáo, Nguyễn Trãi thay mặt Lợi tuyên bố hùng hồn về việc kết thúc
chiến tranh và khẳng định nền độc lập, thái bình vững bền của dân tộc.
Bình Nđại cáo chiếm trọn tình cảm của nhân dân của người đọc qua bao thế hệ
không chỉ bởi nội dung sâu sắc mà còn tài năng nghệ thuật tài tình của tác giả Nguyễn
Trãi. Bài cáo giàu sức thuyết phục bởi ngôn từ sắc bén, lẽ chính xác, lập luận đúng
đắn. Các hình ảnh, hình ợng nghệ thuật giàu sức gợi, lối viết giàu cảm xúc. Các thủ
pháp liệt kê, so sánh, đối lập,....được vận dụng linh hoạt, phù hợp. Giọng điệu thơ thay
đổi linh hoạt, khi căm phẫn trước sự man rợ quân thù, khi xót xa, đồng cảm trước khổ
đau nhân dân, khi mãnh liệt sục sôi trong tái hiện cuộc chiến đấu, khi lại hùng hồn,
trình trọng để tuyên bố hòa bình, dẹp yên bóng giặc.
Tác phẩm Đại cáo bình Ngô áng văn giàu giá trị và chứa chan lòng yêu nước của
nền văn học Việt Nam. Đọc bài cáo, em hiểu thêm về những nỗi đau của nhân dân,
hiểu thêm về lịch sử huy hoàng của dân tộc. qua đó, em ý thức hơn về trách nhiệm
của bản thân mình khi sống trong thời đại hôm nay, phải biết yêu quê hương đất nước,
biết sống hết nh để dựng xây phát triển quê hương, xứng đáng với bao hy sinh
của cha anh đi trước.
Thuyết minh bài Đại Cáo Bình Ngô - Mẫu 5
một tác gia lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi đã đlại cho
thế hệ mai sau, cho nền văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ, ấn tượng.
Văn chương của ông gắn liền với số phận con người. Nổi bật trong số đó chính là áng
thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo”.
một áng văn lưu danh thiên cổ khi tổng kết lại quá trình kháng chiến chống
quân Minh xâm lược trong mười năm của nghĩa quân lam Sơn. Đồng thời, bài cáo còn
thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn của quân dân, truyền thống bảo vệ nền độc
lập dân tộc bất khuất tinh thần nhân nghĩa, nhân dân, con người xuyên suốt cả
tác phẩm. Với bút pháp chính luận kết hợp với trữ tình qua giọng văn truyền cảm,
mạnh mẽ, Bình Ngô đại cáo xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn”, được người đọc ca
tụng muôn đời.
Bài cáo được viết bằng lối văn biền ngẫu thông dụng, dùng để thông báo, tuyên bố về
một sự kiện trọng đại của quốc gia, của n tộc. Đồng thời, bài cáo giữ một vai trò
quan trọng trong phương diện lịch sử trong thời hiện đại khi thể loại cáo gần như đã
dần thất truyền sau chế độ phong kiến tan rã. Thừa lệnh lãnh tụ Lợi, Nguyễn Trãi
viết Bình Ngô đại cáo vào đầu năm 1428 nhằm tuyên cáo nhân dân về chiến thắng vẻ
vang của nghĩa quân Lam Sơn, khẳng định nền độc lập, hòa bình của dân tộc, buộc
quân Minh kết hòa ước, rút quân về nước, kết thúc một thời kỳ đen tối của nước
nhà và mở ra một thời đại thịnh vượng, phồn vinh cho đất nước ta.
Bài cáo bố cục chặt chẽ, mạnh lạc thông qua việc chia tách thành bốn đoạn. Đoạn
đầu phát xuất từ căn nguyên của cuộc khởi nghĩa, tưởng nhân nghĩa trong việc
thành lập căn cứ chính thống của nghĩa quân Lam Sơn. Đoạn hai là vạch trần tội ác, sự
tàn bạo, điên cuồng trong việc coi rẻ mạng sống con người cùng âm mưu xâm lược trơ
trẽn của quân Minh. Đoạn thứ ba về quá trình kháng chiến gian khổ chiến thắng
vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn. Và đoạn cuối cùng về việc tuyên cáo nền độc lập
dân tộc, về việc khẳng định nền hòa bình dân tộc, mở ra một thời kỳ yên bình, không
còn bóng dáng quân xâm lược trên đất nước ta.
Xuyên suốt trong cả bốn đoạn, bài cáo xoay quanh bốn cảm hứng nhân văn như trong
bất kỳ cuộc kháng chiến, chống quân xâm lược nào. Chúng bao gồm tưởng nhân
nghĩa, ý chí, ng m thù giặc sâu sắc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, giành lại
nền độc lập, hòa bình của nghĩa quân cảm hứng độc lập cùng niềm tin vững chắc
vào ơng lai tươi sáng của đất nước phía trước. Bài cáo kết lại trong viễn cảnh huy
hoàng, trong sự tươi sáng của non sông gấm vóc.
Bài cáo không chỉ thành công về mặt thể loại mà còn thành công trong nội dung, trong
nghệ thuật, trong giọng điệu linh hoạt cũng như ý chí sục sôi, căm thù giặc như bao
tác phẩm lịch sử viết về chiến tranh khác. Thấu hiểu về lịch sử, thấu hiểu về nhân tâm,
bằng tài trí của nh, Nguyễn Trãi đã thành công viết nên tác phẩm để đời, một tác
phẩm làm thổn thức trái tim người đọc qua, một tác phẩm vượt thời đại. Ông cùng với
tác phẩm Bình Ngô đại cáo xứng đáng trụ cột của văn học trung đại Việt Nam,
niềm tự hào, kiêu hãnh của con dân đất Việt.
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 6
Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt
Nam, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi được đánh giá là áng "thiên cổ hùng văn",
bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu
thích, tự hào.
"Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lợi viết vào khoảng đầu năm
1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng
lợi, quân Minh buộc phải hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền
độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi -62 một anh hùng dân tộc, người toàn tài
hiếm trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông công lớn trong cuộc
kháng chiến chống quân Minh đồng thời ng nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn
chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam.
Tác phẩm "Bình Nđại cáo" được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có
nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận,
nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân
tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên
bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược.
Bài cáo bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử
dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.
Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến,
đó tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: "Việc nhân nghĩa cốt yên
dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo" "Nnước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng
nền văn hiến đã lâu".
Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố o tội ác man của giặc Minh xâm lược.
Đoạn văn bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh các điểm: âm mưu cướp
nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn
văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị
của kẻ thù: "Nướng n đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai
vạ"; "Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm". Đoạn
văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn
thứ ba đoạn dài nhất của bài cáo, Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi
nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân o
thế yếu "Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội",
"Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu", "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít
địch nhiều"…Nhưng nghĩa quân người lãnh tụ Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước
"Ngẫm thù lớn đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống", biết đoàn kết
lòng dân "Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào", dùng chiến
thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành "Sĩ khí đã hăng, quân
thanh càng mạnh"và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội "Đánh một trận sạch
không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông", giặc Minh thì liên tiếp thất bại,
thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại vết
nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kbị bêu đầu…Đoạn văn
thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc
ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về
nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh,
khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào ơng
lai tươi sáng của dân tộc.
Bài cáo sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn
chương truyền cảm, kết hợp giữa luận chặt chẽ hình tượng nghệ thuật sinh động.
Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi,
mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh
hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống
thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó
khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố
độc lập của dân tộc, đất nước.
"Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng đại
của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa giá trị lịch sử, vừa giá trvăn học,
không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân
tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng
trước những câu văn hùng hồn:
"Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có…"
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 7
Nguyễn Trãi là một tác gia lớn của nền văn học trung đại Việt Nam. Ông đã để lại cho
hậu thế một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ. Nhưng dường văn chương của ông dường
như cũng chịu chung số phận như con người phải trải qua bao phen thăng trầm chìm
nổi. Trong đó, “Bình Nđại cáo” - viết sau đại thắng năm 1427, bản tổng kết xuất
sắc quá trình kháng chiến mười năm, không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước bảo vệ
độc lập, truyền thống bất khuất chống ngoại xâm, còn đặc biệt nêu cao “chí nhân, đại
nghĩa” như một giá trị văn hóa ngời sáng của dân tộc Đại Việt. Với bút lực hào hùng
và lời văn truyền cảm mạnh mẽ, tác phẩm đã trở thành một áng “thiên cổ hùng văn”.
Bình Ngô đại cáo thông báo bằng văn bản được viết theo bằng văn biền ngẫu,
theo thể cáo thường dùng để thông báo sự kiện quan trọng của quốc gia, dân tộc.
Nguyên tác được viết bằng chữ Hán, được các học giả như Ngô Tất Tố, Bùi Kỷ,
Trần Trọng Kim dịch sang tiếng Việt ngày nay. Tác phẩm giữ một vị trí quan trọng
về phương diện lịch sử lẫn phương diện văn học. Ức Trai đã thừa lệnh Lợi viết tác
phẩm vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của
nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước,
nước ta bảo toàn được nền độc lập, hòa bình.
Nhan đề cho thấy đây là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô -một tên
gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc,
khắc họa, lên án, tcáo tội ác của giặc khẳng định chủ quyền dân tộc. Chính
vậy, bài cáo xoay quanh các cảm hứng chính sau đây: cảm hứng về chính nghĩa (nhận
thức sâu sắc vnguyên chính nghĩa thái độ khẳng định sức mạnh của nguyên
đó); cảm hứng căm thù giặc xâm lược; cảm hứng về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, về tinh
thần quyết chiến quyết thắng của nhân dân Đại Việt; cảm hứng độc lập dân tộc
tương lai đất nước. Với bốn cảm hứng đó, bài cáo thường được chia thành bốn phần
tương đương. Phần 1 nêu luận đề chính nghĩa (Từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”).
Phần 2 là lên tiếng tố cáo tội ác, vạch trần âm mưu xâm lược Đại Việt với cớ phù Trần
diệt Hồ của giặc (tiếp theo phần 1 cho đến “Ai bảo thần dân chịu được”). Phần 3
quá trình kháng chiến sự thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn (tiếp theo phần 2 đến
“cũng chưa thấy xưa nay”). Phần còn lại - phần 4 phần nêu ra bài học lịch sử
sự khẳng định chính nghĩa sẽ thắng thế lực phi nghĩa, bất nhân.
Mở đầu Bình Ngô đại cáo, tác giả Nguyễn Trãi đã nêu nguyên chính nghĩa làm ch
dựa, làm nền tảng xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Tiếp thu từ tinh
thần Nho giáo cùng với sự phát triển nội dung nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã nêu ra một
luận đề có tính dân tộc:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Với Nguyễn Trãi, việc trước hết “trừ bạo” để nhân dân được một cuộc sống yên
ổn, ấm no, hạnh phúc. Ông cho rằng nếu muốn trị thiên hạ thì việc phải nghĩ đến
đầu tiên chính “nhân nghĩa”. Dân tộc ta chiến đấu chống xâm lượcnhân nghĩa,
phù hợp với nguyên chính nghĩa. Sau đó, tác giả nêu lên chân khách quan về sự
tồn tại độc lập của nước Đại Việt, sự tồn tại đó như sở chắc chắn từ tháng ngày
lịch sử:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”
phần 2 cảm hứng căm thù giặc xâm lược, Nguyễn Trãi đã thể hiện lòng uất hận
sục sôi, viết nên một bản cáo trạng đanh thép với một trình tự duy logic: vạch trần
âm mưu xâm lược, lên án chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh mẽ những hành
động tội ác. Qua việc phân tích luận điệu bịp bợm “phù Trần diệt Hồ”, tác giả đi sâu
những việc làm phi nhân, diệt chủng:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Tội ác của chúng được ghi lại bằng cái vô cùng, vô hạn:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi”
phần 3, với nguồn cảm hứng dồi o, phong phú, Nguyễn Trãi đã khắc họa lại quá
trình gian nan, vất vả của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Chính những gian khổ ngày đầu
đã dẫn đến thắng lợi vẻ vang về sau. Cảm hứng anh hùng ca bao trùm toàn bộ đoạn
trích. Những chiến ng thần tích được miêu tả một cách dồn dập. Nhạc điệu trong
câu sảng khoái, hào hùng như sóng triều dâng:
“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông cũng phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chim muông”
phần 4 phần kết thúc, Nguyễn Trãi đã không giấu được niềm vui chung của
dân tộc, thay lời Lê Lợi trịnh trọng tuyên bố nền độc lập lâu dài:
“Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh”
Từ đó, ta thấy được viễn cảnh huy hoàng, ơi sáng của non sông tắc. Hiện thực
hôm nay chính nhờ những ngày tháng đau thương của quá khứ “Muôn thuở thái
bình vững chắc”. Lời kết thúc “Xa gần cáo/ Ai nấy đều hay” đã sẻ chia sự vui
mừng, niềm tự hào và niềm tin về ngày mai, về tương lai đất nước.
Bài cáo đã thể hiện thành công những đặc sắc về thể loại. n cạnh đó, giọng điệu
thay đổi linh hoạt trong mỗi phần, khi cao tràn uất hận, khi hào hùng dữ dội, khi cuồn
cuộn như sóng triều dâng trên đề tài lịch sử - văn học đã để lại những ấn tượng sâu sắc
cho người đọc. Sự am hiểu hơn người của Nguyễn Trãi về lịch sử, về điển cố, điển
tích đã mang lại tính thuyết phục, hấp dẫn hơn cho tác phẩm.
“Bình Ngô đại cáo” từ khi ra đời đã được xem làm một bản tuyên ngôn độc lập của
dân tộc, vừa tố cáo tội ác của giặc Minh vừa khẳng định được độc lập chủ quyền dân
tộc. Đã qua bao thăng trầm biến đổi nhưng giá trị của “Bình Ngô đại cáo” vẫn tồn tại
cho đến ngày hôm nay và Nguyễn Trãi nhà quân sự tài ba, nhà chính trị lỗi thời, nhà
thơ, nhà văn xuất sắc sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lòng mỗi người con nước Việt.
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 8
Nguyễn Trãi một trong số những tác gia lớn, tiêu biểu của nền văn học Việt Nam
với nhiều tác phẩm đặc sắc được viết bằng cả chữ Nôm chữ Hán. Đọc những tác
phẩm của Nguyễn Trãi, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra tấm lòng thương dân ái quốc,
tình yêu thiên nhiên tha thiết đặc biệt ởng thân dân. thể nói “Bình
Ngô đại cáo” tác phẩm thể hiện một cách sâu sắc trọn vẹn tưởng ấy của
Nguyễn Trãi.
Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo’’ ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Sau khi đánh
tan giặc Minh xâm lược, Vương Thông phải chấp nhận giảng hòa buộc quân Minh
phải rút quân về nước, đất nước ta độc lập, sạch bóng quân thù. Trong hoàn cảnh lịch
sử ấy, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” hay còn gọi
là “Đại cáo Bình Ngô” và chính thức công bố trước toàn thể nhân dân vào tháng Chạp,
năm Đinh Mùi, tức vào đầu năm 1428. Tác phẩm ra đời như một bản tuyên ngôn
độc lập của dân tộc ta.
“Bình Ngô đại cáo” được tác giả Nguyễn Trãi viết bằng thể cáo một thể loại văn học
lớn nguồn gốc từ Trung Hoa. Đi sâu tìm hiểu, khám phá về thể loại văn học này,
chúng ta thể dễ dàng thấy rằng cáo là thể văn được viết bằng chHán, có thể được
viết bằng văn xuôi hoặc văn vần nhưng lẽ phổ biến hơn cả là văn biền ngẫu. Cáo
thể văn thường được vua, chúa hoặc thủ nh dùng để thông báo rộng rãi tới toàn thể
mọi người một sự việc hay một vấn đề trọng đại nào đó. Cũng như nhiều thể loại văn
học thời cổ khác, cáo cũng đòi hỏi kết cấu chặt chẽ, mạch lạc, lập luận sắc bén lẽ
thuyết phục. Và có thể nói, với những đặc điểm của thể cáo nếu trên thì “Bình Ngô đại
cáo” của Nguyễn Trãi tác phẩm hội tụ khá đầy đủ nét những đặc điểm của thể
loại văn học này.
Thêm vào đó, bài cáo được chia làm bốn phần, với bố cục mạch lạc, ràng. Đoạn mở
đầu của bài cáo đã nêu lên luận đề chính nghĩa để làm sở, nền tảng vững chắc cho
bài cáo. Luận đề chính nghĩa ấy chính là sự kết hợp giữa tư tưởng thân dân với độc lập
dân tộc:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Sau khi nêu lên luận đề chính nghĩa làm sở, trong đoạn hai của bài cáo, tác giả
Nguyễn Trãi đã vạch rõ những tội ác man rợ, man của kẻ thù. Đó những hành
động sát hại, giết những người dân một cách tàn nhẫn độc ác “Nướng dân đen trên
ngọn lửa hung n/ i con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Đó còn những chính sách
thuế khóa lý, phá hoại môi trường, sự sống, bóc lột tài nguyên thiên nhiên sức
lao động của những người dân tội. Tất cả, tất cnhững tội ác man rợ ấy của bọn
giặc đã được tác giả tái hiện lại một cách chân thực, nét bằng hàng loạt các dẫn
chứng sắc sảo, lí lẽ thuyết phục. Đồng thời, trong đoạn thứ hai, tác giả còn làm bật nổi
ý chí lòng căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta. Tiếp đó, trong đoạn thứ ba của tác
phẩm, tác giả đã tái hiện lại một cách chân thực, sâu sắc và rõ nét quá trình chiến đấu,
chinh phạt với thật nhiều những khó khăn, vất vả sự tất thắng của quân dân ta.
Ban đầu, cuộc chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn gặp phải thật nhiều những khó
khăn, thiếu thốn trăm bề thiếu lương thực, thực phẩm, thiếu nhân lực những
nghĩa quân của ta o thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện
quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy
yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”… Nhưng rồi, với sự lãnh đạo tài tình của vị lãnh tụ
Lợi ý chí quyết tâm, sự cố gắng của mình, nghĩa quân toàn thể nhân dân đã
chiến đấu hết sức mình giành được thắng lợi vẻ vang “Đánh một trận sạch không
kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông” buộc quân Minh từng bước, từng
bước một đầu hàng, chấp nhận thua cuộc và rút quân về nước. Trênsở nêu lên luận
đề chính nghĩa, vạch tội ác của kẻ thù cũng quá trình chiến đấu của quân và dân ta,
đoạn văn khép lại bài cáo chính lời tuyên bố độc lập, khẳng định sự nghiệp chính
nghĩa. thể nói, đoạn cuối cùng của bài cáo đã cất lên lời tuyên bố trịnh trọng về
việc kết thúc chiến tranh, khẳng định hòa bình của dân tộc niềm tin vào tương lai
tươi sáng, tốt đẹp cho nhân dân, cho đất nước.
Không dừng lại ở đó, bài cáo còn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, người
nghe bởi những thành công, hấp dẫn về nghệ thuật. Trước hết, thành công của bài cáo
chính việc kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa hợp giữa yếu tố chính luận với
yếu tố văn chương với nhiều hình ảnh độc đáo, hấp dẫn, chính điều đó đã làm cho bài
cáo để lại nhiều ấn tượng hơn với người nghe. Thêm o đó, bài cáo còn giọng
điệu hết sức linh hoạt, đa dạng, phù hợp với từng nội dung báo cáo thể hiện tự
hào về truyền thống văn hóa, lịch sử ngàn đời của dân tộc, căm phẫn khi vạch rõ tội ác
của kẻ thù, trịnh trọng, nghiêm trang khi tuyên bố độc lập.
Tóm lại, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi một trong số những tác phẩm xuất
sắc của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm xứng đáng áng “thiên cổ hùng văn”,
bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Việt Nam anh hùng, bất khuất.
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 9
Trong “Nước Đại Việt ta”(trích “Bình Ngô đại cáo”) Nguyễn Trãi viết: “Tuy mạnh
yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có”.
Từ buổi sơ khai cho đến tận bây giờ hai thứ thuộc trong nhành luôn khắc tinh
của nhau, đó chính nước lửa. Nước tuôn trào nh liệt, lửa bùng cháy dữ dội,
giữa chúng luôn sự đối lập gay gắt nên mới có thành ngữ “khác nhau nhước với
lửa”.
Dẫu biết rằng nước thể dập lửa, nhưng khi lửa mạnh cháy lớn, nước lại hạn thì
biết cái nào át cái nào? Tất cả họ những anh hùng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ
Quốc, là những nhà lãnh đạo những nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sử VN ta
phải ghi nhận sự vượt trội về trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc
đến Hải Thượng Lãn Ông Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần. Hào kiệt
những người kiệt xuất, có tài cao chí lớn hơn người. Họ thường giỏi giang hoặc có khả
năng đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó. Còn khái niệm “mạnh - yếu” đây chỉ sự
hùng mạnh, hưng thịnh của một đất nước. Chẳng hạn, dưới triều đại nhà nước ta
một cường quốc cỡ Đông Nam á, được các lân bang nể trọng. Hay dưới thời nhà Trần
đất nước ta cũng được xem nước mạnh đã ba lần đánh bại được quân Mông
Nguyên nổi tiếng lớn mạnh tàn bạo. Khoa học nhà toán học Lương Thế Vinh
với “Đại Thành Toán Pháp” hay QĐôn, nhà bác học trẻ tuổi. còn về mặt khoa
cử, văn hóa Nguyễn Hiền người đỗ trạng nguyên nhtuổi nhất Việt Nam. Thế
mới biết mạnh yếu chừng, mạnh yếu còn phụ thuộc vào hoàn cảnh phụ thuộc
vào thời gian. Đất nước ta cũng vậy, có lúc mạnh nhưng cũng lúc yếu. Nhưng
mạnh hay yếu, thời nào dân tộc ta cũng không thiếu những anh hùng hào kiệt. Và anh
hùng hào kiệt chính những người đã làm nên đất nước. Với quan niệm nhân văn
đúng đắn và tiến bấy, trong “Nước Đại Việt ta”(trích “Bình Ngô đại cáo”), Nguyễn
Trãi đã khẳng định đất nước ta:
“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Vậy “hào kiệt” gì? Hào kiệt những người kiệt xuất, tài cao chí lớn hơn người.
Họ thường giỏi giang hoặc khả năng đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó. Còn khái
niệm “mạnh - yếu” đây chỉ sự hùng mạnh,ng thịnh của một đất nước. Chẳng hạn,
dưới triều đại nhà nước ta một cường quốc cỡ Đông Nam á, được các lân bang
nể trọng. Hay dưới thời nhà Trần đất nước ta cũng được xem là ớc mạnh đã ba
lần đánh bại được quân Mông Nguyên nổi tiếng lớn mạnh tàn bạo. Nhưng cũng
không ít khi do vua quan hưởng lạc nên nước ta suy yếu để kẻ thù phương Bắc lăm le
dòm ngó. Song đúng như Nguyễn Trãi đã viết trong áng hùng văn của mình là nước ta
không đời nào không anh những anh hùng hào kiệt. Ta thể nhận thấy điều đó
qua thực tế dựng nước giữ nước bốn ngàn năm của dân tộc.
Từ buổi khai lịch sử trước công nguyên, chúng ta đã được nghe nhắc đến những vị
nữ nhi nhưng không phế “thường tình”chút nào đó Trưng, Triệu những vị
anh hùng đã công đánh đuổi quân thù giành lại độc lập cho đất nước. Hay Ngô
Quyền trí dũng song toàn đã từng đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng lịch sử
vào năm 938. Rồi những Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, những Lợi, Nguyễn
Trãi mãi mãi được nhắc tên với công lao đánh đuổi quân thù bảo vệ độc lập tự do cho
non sông đất nước, tô đậm những nét son hồng trong trang sử vàng của dân tộc. Tất cả
họ những anh hùng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, những nhà lãnh đạo
những nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sử VN ta phải ghi nhận sự vượt trội về
trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc đến Hải Thượng Lãn Ông
Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần. Khoa học nhà toán học ơng Thế Vinh
với “Đại Thành Toán Pháp” hay QĐôn, nhà bác học trẻ tuổi. còn về mặt khoa
cử, văn hóa có Nguyễn Hiền là người đỗ trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam....
Đó chuyện xưa, còn ngày nay thì sao? Người xứng đáng để dân tộc ta ngưỡng mộ
đầu tiên phải kể đến Hồ Chủ Tịch đại, người đã chèo lái con thuyền Việt Nam cập
bến vinh quang. Không chỉ giỏi về quân sự, Người còn là nhà ngoại giao, nhà báo, nhà
văn, nhà thơ được nhiều người nể phục. Trợ thủ đắc lực bên cạnh Bác phải kể đến đại
tướng Nguyên Giáp, nhà quân sự đại tài đã chỉ huy thành công hai cuộc kháng
chiến chống Pháp chống Mỹ khiến nhân nhân dân thế giới phải khâm phục nể vì.
Trong lĩnh vực y học ta không thể không nhắc tới bác sĩ Tôn Thất Tùng đã thành công
trong cấy ghép gan khô trở thành bác mổ gan giỏi nhất thế giới. Về nh vực âm
nhạc, gần đây ta nhạc Trịnh Công Sơn với hơn 600 ca khúc các loại, được mệnh
danh -da của Việt Nam. Rồi những Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, những
Lợi, Nguyễn Trãi mãi mãi được nhắc tên với công lao đánh đuổi quân thù bảo vệ
độc lập tự do cho non sông đất nước, đậm những nét son hồng trong trang sử vàng
của dân tộc. Tất cả họ những anh ng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc,
những nhà lãnh đạo những nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sVN ta phải ghi
nhận sự vượt trội về trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc đến Hải
Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần.
Thế còn trong thập niên đầu của thế kỷ XXI này thì sao? Chúng ta quyền tự hào v
giáo sư Ngô Bảo Châu, người châu Á thứ hai được nhận giải thưởng danh giá về công
trình nghiên cứu toán học.
Những con người tài cao chí lớn sẽ góp phần làm vẻ vang dân tộc vẻ vang cho đất
nước. Điển hình như Trần ng Đạo lãnh đạo quân ta đánh bại quân Mông Nguyên
lúc bấy giờ đã chiếm gần hết châu Á đang bành trướng đến Châu Âu, khắp nơi đều
in dấu chân của chúng. Nhờ sự kiện đó Đại Việt ta được biết đến một cách vẻ
vang. Hoặc như Chủ Tịch HCM đã lãnh đạo dân ta đánh bại Thực Dân Pháp, phát xít
Nhật, làm rạng danh đất nước. Nhờ công lao thành quả họ đạt được hôm nay
chúng ta quyền tự hào. Giáo Ngô Bảo Châu trong một lần phát biểu trên truyền
hình, ông đã nói rằng ông đi nước ngoài rất nhiều và ông cảm thấy hãnh diện khi cầm
trên tay tấm hộ chiếu Việt Nam.
Tuổi trẻ chúng ta muốn giúp ích cho nước nhà thì phải trở thành những con người tài
cao chí lớn. Muốn vậy thì ngay từ bây giờ phải ra sức học tập, tìm hiểu những cái mới
cho kịp với thời đại. như vậy sau này chúng ta mới thể đóng góp công sức để
phát triển nước nhà đưa nước nhà tiến lên “đài vinh quang” sánh vai cùng các cường
quốc. Rồi những Hưng Đạo ơng Trần Quốc Tuấn, những Lê Lợi, Nguyễn Trãi mãi
mãi được nhắc tên với công lao đánh đuổi quân thù bảo vệ độc lập tự do cho non sông
đất nước, đậm những nét son hồng trong trang sử vàng của dân tộc. Tất cả họ
những anh hùng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, những nhà lãnh đạo những
nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sử Việt Nam ta phải ghi nhận sự ợt trội về
trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc đến Hải Thượng Lãn Ông
Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần.
Cũng đã 600 m từ ngày vụ án Lệ Chi Viên diễn ra, Nguyễn Trãi đã ra đi trong án
oan giết vua, song các tác phẩm của ông sẽ còn sống mãi điển hình như “Bình Ngô
Đại Cáo”. Câu nói “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”
hoàn toàn đúng đắn, cho đến tận ngày nay câu nói đó vẫn giữ nguyên giá trị
đúng đắn ban đầu.
Thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 10
Bình Ngô đại cáo áng “thiên cổ hùng văn” thể hiện thiên tài của Nguyễn Trãi, đỉnh
cao về tưởng, nghệ thuật của nền văn hiến Đại Việt trong thế kỉ XV. Cùng với
Lam Sơn thực lục, Quân trung từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập... Bình
Ngô đại cáo đã làm cho ngôi sao Khuê trở nên chói sáng và lấp lánh ngàn thu.
Mùa xuân năm 1428, cuộc kháng chiến 10 m chống quân Minh xâm lược hoàn toàn
thắng lợi. Nguyễn Trãi đã thay lời Lợi viết Bình Ngô đại cáo tổng kết cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc “nên công oanh liệt ngàn năm”, tuyên bố nước Đại Việt bước
vào một kỉ nguyên mới độc lập bền vững, “muôn thuở nền thái bình vững chắc".
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Dấy quân khởi nghĩa vì thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt bọn giặc
tàn bạo, đem lại cuộc sống yên vui cho nhân dân (yên dân), đó việc nhân nghĩa.
Nhân nghĩa vẫn học thuyết của Nho giáo đề cao đạo đức, tình nhân ái giữa con
người với nhau. Nguyễn Trãi đã tiếp thu ởng nhân nghĩa của Nho giáo theo
hướng lấy lợi ích của nhân dân của dân tộc làm gốc. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa
là yêu nước, thương dân, phải đánh giặc để cứu nước, cứu dân; “triết lí nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi chẳng qua lòng yêu ớc thương dân: Cái nhân nghĩa lớn nhất là phấn
đấu đến cùng, chống ngoại xâm, diệt n bạo, độc lập của đất nước, hạnh phúc của
nhân dân” (Phạm Văn Đồng). Trong nhiều bức thư gửi tướng giặc Minh, Nguyễn
Trãi đã đứng trên lập trường nhân dân dân tộc, nêu cao nhân nghĩa, vạch trần tội ác
bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chúng: “Nước mắt nhân dịp họ Hồ lỗi đạo,
mượn tiếng “điếu n phạt tội’’, kỳ thực m việc bạo tàn, ăn cướp nước ta, bóc lột
nhân dân tư, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn các làng không được sống
yên. Nhân nghĩa mù lại thế ư?” (Lại thư trả lời Phương Chính).
Trên lập trường nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã khẳng định nền văn hViệt Nam, nền
văn hiến Đại Việt con người Việt Nam, một dân tộc văn minh, anh hùng. Lần đầu
tiên trong lịch sử tư tưởng, Nguyễn Trãi đại diện cho đất nước chiến thắng đã nêu cao
giá trị lớn lao của truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần, bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên,
Mỗi bên xưng để một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song o kiệt đời nào cũng có Nền văn hiến Đại Việt, nền “văn hoá Thăng Long”
được hình thành, xây dựng phát triển qua một quá trình lịch sử “đã lâu”, đã “từ
trước” đằng đẵng mấy nghìn năm. Đại Việt không ch lãnh thổ chủ quyền “núi
sông bờ cõi”, mà còn thuần phong mỹ tục mang bản sắc riêng, có lịch sử riêng, chế độ
riêng “bao giờ gây nền độc lập”, đã từng “xưng đế một phương”, nhiều nhân tài,
hào kiệt. Phải mấy trăm năm độc lập dưới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..., phải
những trang sử vàng chói lọi (Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đỏ, Ô
Nhi bị giết tươi, bị bắt sống...) phải những con người “trí mưu tài thức” đã làm
nên “thi thư” của Đại Việt, của nền văn minh sông Hồng, thì Nguyễn Trãi mới thể
viết nên những lời tuyên ngôn đĩnh đạc hào hùng như vậy. Nếu như bốn trăm năm về
trước, trong Nam quốc sơn hà, Thường Kiệt chí mới xác định được hai nhân tố về
lãnh thổ chủ quyền trên ý thức quốc gia lập trường dân tộc, thì trong Bình Ngô
đại cáo, Nguyễn Trãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, đó là: văn hiến, phong tục,
lịch sử nhân tài. Điều đó cho thấy ý thức dân tộc của nhân dân ta đã phát triển trên
một tầm cao mới trong thế kỉ XV, đó cũng tinh anh, tinh hoa của tưởng
Nguyễn Trãi.
Năm 1407, nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạnh mang mấy chục vạn quân kéo sang
xâm lược nước ta. Lúc đầu thì lấy cớ “phù Trần diệt Hồ”, nhưng sau đó, chúng đã chia
đất nước ta thành quận huyện, thi hành một chính sách cai trị vô cùng độc ác:
Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian còn bán ớc cầu vinh. Nguyễn Trãi đã m giận lên án tội ác cùng
man của “quân cuồng Minh”. Chúng đã tàn sát nhân dân ta một cách man rợ:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ. Sử sách n ghi lại bao tội ác chồng chất của giặc Minh
trong suốt một thời gian dài hơn hai mươi năm “dối trời lừa dân, đủ muôn nghìn kế”:
rán mỡ người lấy dầu, rút ruột người treo lên cây, thui người trên giàn lửa, phanh thây
đàn bà thai... Chúng bắt nhân dân ta phải xuống biển ngọc trai, lên rừng sâu đãi
cát, tìm vàng, cống nạp ngà voi, hươu đen, trả biếc,... Sưu thuê chồng chất, phu phen
lao dịch nặng nề. Chúng đã tàn phá môi sinh, môi trường, dồn nhân dân ta vào bước
đường cùng, vào hố diệt vong:
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
(...) Vét sản vật, bắt dò chim trá, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bắt bầy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tổn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng... Đằng sau những hành động dã man, mưu mô
xảo quyệt, bộ mặt ghê tởm ác ôn, bầy quỷ sứ phương Bắc đang hoành hành trên
xương u, nước mắt, trên tính mạng tài sản nhân n ta: “Thằng miệng, đứa
nhe răng, máu mỡ bấy no chưa chán Tội ác của giặc Minh đối với nhân dân ta,
không thể ghi hết tội, không thể rửa hết mùi bẩn, trời đất không thể dung tha,
người người đều căm giận”.Câu văn cảm thán của Nguyễn Trãi cất lên như một lời
nguyền, chất chứa căm hờn, oán giận, xúc động lay tỉnh hồn người:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi! Lấy trúc Nam Sơn, nước Đông Hải,
cái vô hạn để nói về tội ác và sự nhơ bẩn của quân “cuồng Minh”, cái cùng cực, cái
cùng, Nguyễn Trãi đã ghi sâu vào lòng người, vào bia miệng đến nghìn năm vẫn chưa
phai. Nguyễn Trãi đã từng “tiễn cha lên ải Bắc...”, từng nếm mật nằm gai, chứng
nhân của lịch sử gọi vua nhà Minh hiếu chiến “giảo đồng” (trẻ ranh, nhãi ranh),
tướng giặc Minh đồ “nhút nhát”. Đó cũng tiếng nói căm thù, khinh bỉ, ý chí
sắt đá chống quân xâm lược, chống lũ bành trướng phương Bắc tham tàn, hiếu chiến:
Thằng nhãi ranh Tuyên Đức động binh không ngừng,
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy!
Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Lợi. Trong bia Vĩnh Lăng, các bài thơ Hạ
tiệp, Đề kiếm... đều nói đến Lợi, nhưng chỉ trong Bình Ngô đại cáo, Lê Lợi mới
được thể hiện một cách tuyệt đẹp, tiêu biểu cho tinh hoa và khí phách của Đại Việt. Là
một anh hùng của nhân dân giàu lòng yêu nước, nuôi chí lớn phục thù, phục quốc, đã
từng nhiều năm mai danh ẩn tích đón đợi thời cơ:
Ta đây
Núi Lam Sơn dấy nghĩa.
Chốn hoang nương mình. Con người ấy đã gắn với nhân dân, đã đau trong nỗi
đau lầm than của dân tộc, đã “nếm mật nằm gai”, đã “đau lòng nhức óc suốt mấy chục
năm trời”, quyết không đội trời chung với giặc:
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống. Con người ấy tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam,
một nhãn quan lịch sử nhìn suốt thời gian và nắm chắc vận mệnh dân tộc:
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay: lẽ hưng phế đắn do càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi. Ngày đầu khởi nghĩa, quân không quá 2.000 người,
lúc “cơm ăn thì sớm tối không được hai bữa, áo mặc thì đông chỉ một manh...
khí giới thì thật tay không” (Quân trung từ mệnh tập). Thế lực, giữa ta giặc
cùng chênh lệch: “Vừa lúc cờ khởi nghĩa dấy lên - Chính lúc quân thù đang mạnh”.
Khó khăn, thử thách chồng chất nặng nề. Ngặt nghèo nhất là thiếu nhân tài hào kiệt:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác thiếu người bàn bạc. Người anh hùng áo vải Lam Sơn, một mặt “Cỗ xe cầu
hiển, thường chăm chắm còn dành phía tả”, mặt khác nêu cao quyết tâm “gắng chí
phục thù gian nan”, đồng cam cộng khổ với tướng sĩ, đoàn kết toàn dân để đánh giặc:
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới,
Tướng một lòng phtử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. Sức mạnh của nghĩa
quân bắt nguồn từ sức mạnh tận của nhân dân, của lực lượng đông đảo “manh lệ
chi đồ tứ tập”, của đoàn nghĩa “phụ tử chi binh nhất tâm”. Điều đó cho thấy cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn là một cuộc chiến tranh nhân dân do người anh hùng áo vải lãnh
đạo. Sức mạnh của nhân dân, tài năng xuất chúng của lãnh tụ nguồn gốc của chiến
thắng. Người anh hùng ấy một thiên tài quân sự “sách lược thao suy xét đã tinh... lẽ
hưng phế đắn đo càng kỹ”. Người anh hùng ấy đã phát huy tinh hoa nền quân sự Việt
Nam, để chỉ đạo chiến tranh, phát huy mọi tiềm năng của dân tộc, của ớng để
chiến đấu và chiến thắng:
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều. thể nói, cảm xúc trữ tình trong Bình Ngô
đại cáo được thể hiện qua hình ảnh Lợi, người anh hùng nghĩa quân Lam Sơn.
Lợi vừa bình dị, vừa đại, vị cứu tinh của đất nước xuất hiện nếm trải bao cay
đắng lầm than cùng nhân dân, từ máu đổ xương tan “nên công oanh liệt ngàn
năm”. Nguyễn Trãi đã sự nhập thân, hóa thân diệu khi thhiện tài trí, khí phách
tầm vóc đại của lợi, một mặt nêu cao lòng tự hào dân tộc, tự hào về nền văn
hiến Việt Nam, mặt khác cũng thể hiện nhân cách, chí hướng, tài trí tâm huyết của
mình. Với cảm hứng anh hùng cảm xúc trtình, Nguyễn Trãi đã dành những u
văn, đoạn văn đẹp nhất khi khắc họa hình ảnh vị lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn.
Nguyễn Trãi đã dành phần lớn bài đại cáo nói về diễn biến cuộc đấu tranh trang
quá trình phản công của nghĩa quân Lam Sơn. Phần thứ này như những trang sự
chiến trường mang giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ. Sức mạnh nhân nghĩa, ấy đại
nghĩa, chí nhân đã đè bẹp nghiền nát giặc Minh hung tàn, cường bạo. Lời văn
sang sảng cất lên:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo. Có vượt qua những thử thách nặng nề “Khi Linh Sơn
lương hết mấy tuần - Khi Khôi Huyện quân không một đội”, nghĩa quân mới trưởng
thành trong máu lửa. Quân ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn. Chiến
công nối tiếp chiến công, thế đánh như “trúc chẻ cho bay”, như “sấm vang chớp giật”
giáng xuống đầu quân xâm lược. Cảnh tượng chiến trường vô cùng rùng rợn, máu giặc
chảy thành sông, xác giặc chất cao như núi:
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm,
Tụy Đông thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. Trên đà chiến thắng “Sĩ khí đã hăng -
Quân thanh càng mạnh’’, nghĩa quân tiến công trên quy rộng lớn, giải phóng
những vùng chiến lược quan trọng: “Tây Kinh quân ta chiếm lại... Đông Đô đất cũ thu
về”. Giặc đã thảm bại “trí cùng lực kiệt”, tướng Thiên triều, đứa thì “nghe hơi
mất vía”, thằng thì “nín thở cầu thoát thân”, Trần Hiệp “phải bêu đầu”, Lượng
“đành bỏ mạng”.
Chiến cục Chi ng - Xương Giang - Bình Than vào mùa thu năm 1427 diễn ra
cùng ác liệt. Quân ta làm chủ chiến trường đã “điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên
phong”, đã “sai tướng chen đường, tuyệt nguồn lương thực”, đã dồn 15 vạn viện binh
giặc vào tử địa. Liễu Thăng cụt đầu, Lương Minh đại bại tử vong, thượng thư
Khánh cùng kế tự vẫn. Hành chục vạn giặc bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống:
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước. Đạo quân Vân Nam bị quân ta chặn đánh
ở Lê Hoa “nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật”, quân Mộc Thạnh đại bại Cần Trạm “xéo
lên nhau chạy để thoát thân”. Sông suối bao la một vùng biên giới tây bắc ngập đầy
máu giặc:
Suối Lãnh Cáu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen. Đây tướng của
nghĩa quân Lam Sơn: tốt kén tay hổ - Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh.đây hình
ảnh bọn tướng tá Thiên triều trong tình hình “quân cô, lực kiệt, viện tuyệt, thế cùng”:
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng. Bình Ngô đại cáo một bản tổng kết
chiến tranh 10 năm. Tác giả đã tái hiện lại toàn bộ diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
từ những ngày đầu c nghĩa mới phất lên, trải qua những chặng đường máu lửa,
trưởng thành trong thử thách hy sinh, giành thế chủ động chiến ợc, tiến lên đánh bại
hoàn toàn quân xâm ợc. Nghệ thuật miêu tả các trận đánh dùng lối đặc tả, rất biến
hoá, lúc ghi lại hình ảnh thảm bại, thảm hoạ của tướng Thiên triều, lúc thì miêu
tả cảnh chiến trường ng rợn. Kết cấu tương phản đối lập được tác giả vận dụng sáng
tạo để làm nổi bật giữa ta địch, chính nghĩa phi nghĩa, đại thắng đại bại...
Cách dùng từ, sáng tạo hình ảnh, các biện pháp đối xứng thậm xưng cho thấy một
bút pháp nghệ thuật kỳ tài, tạo nên âm điệu anh hùng ca. Bình ngô đại cáo khúc ca
thắng trận vô cùng oanh liệt, cho ta bao xúc động tự hào:
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kinh ngạc,
Đánh hai trận, tan c chim muông... Qua Bình Ngô đại cáo, ta thấy Lê Lợi một nhà
chiến lược đại đã biết phát động chiến tranh khi thời đã chín mùi, khi tội ác
quân cuồng Minh “Lẽ nào trời đất dung tha - Ai bảo thần dân chịu được? Trải qua bao
năm tháng! Lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ”, “Sách lược thao suy xét đã tinh”, Lợi
mới phất cờ khởi nghĩa. Lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn đã tài chỉ đạo chiến tranh
đánh cho lũ giặc Minh đại bại:
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng. Chính trong điều kiện chiến trường
đó, Lợi đã kết thúc chiến tranh, đã “mở đường hiếu sinh” trao trả cho nhà Minh
hàng chục vạn tù binh:
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân hơn, để nhân dân nghỉ sức. Khởi nghĩa để “trừ bạo” “yên dân”,
kết thúc chiến tranh để chấm dứt đổ máu, để bảo vệ “toàn quân”, “để nhân dân nghỉ
sức”. Nguyễn Trãi với niềm tự hào chiến thắng đã ca ngợi “đại nghĩa” “chí nhân”
của dân tộc ta. Đại Việt một nước văn hiến lâu đời, rất nhân đạo và yêu chuộng hoà
bình.
Kết thúc bài đại cáo một khúc ca khải hoàn vang lên hướng về ngày mai tươi sáng
của Đại Việt - một nước văn hiến:
Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh
Muôn thuở nền thái nh vững chắc. Như một quy luật tất yếu: “bí lại thái”, “hối
lại minh”, đất nước ta sau 20 năm trời bị quân cuồng Minh “dối trời, lừa dân...,
gây binh kết oán” nay đã sạch bóng quân xâm lược, “ngàn năm vết nhục nhã sạch
làu”. Tổ quốc Đại Việt ớc vào một kỉ nguyên mới độc lập, hoà bình, thịnh ợng
trong “vững bền”, hướng về “đổi mới”, và “vững chắc” đến muôn đời. Giọng văn đĩnh
đạc hào hùng, đầy tự hào tin tưởng, thể hiện khát vọng hòa bình, độc lập và hạnh phúc
của nhân dân ta. Sự nghiệp ‘‘Bình Ngô” đại thắng nhờ sức mạnh chính nghĩa,
nhân nghĩa truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc ta. Đó nguồn gốc,
nguyên nhân u xa làm nên chiến thắng. Sự nghiệp “bình Ngô“là trang sử vàng chói
lọi, là “Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm...”
Trong chiến tranh, Nguyễn Trãi một mưu “tâm công” cánh tay phải đắc lực của
Lợi, người “viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời” (Lê Quý Đôn). Thư từ
gửi tướng giặc Minh của ông “có sức mạnh như mười vạn quân” (Phan Huy Chú).
Nguyễn Trãi đã cùng Lợi làm nên sự nghiệp “bình Ngô” người đã thảo ra Bình
Ngô đại cáo, bản tuyên ngôn độc lập, hòa bình của Đại Việt trong thế kỉ XV.
Bình Ngô đại cáo cho ta thấy một bút lực tài học song của ức Trai. Cáo một
thể văn cổ điển rất trang nghiêm, đthông báo cho toàn dân một sự kiện quan trọng.
Sự nghiệp “bình Ngô” kéo dài trong 10 năm trời. Quân dân ta trải qua muôn n
gian lao thử thách, lập bao chiến công lẫy lừng... từ những tháng năm lầm than đến
ngày toàn thắng “bốn phương biển cả thanh bình”, thế Nguyễn Trãi đã viết một
cách hàm súc: bài đại cáo chí dài 1343 chữ. Cảm hứng nhân nghĩa, cảm hứng anh
hùng khát vọng độc lập, hoà bình đã tạo nên tầm vóc văn chương, màu sắc sử thi
của bài đại cáo bình Ngô, bản anh hùng ca Đại Việt. Ngòi bút nghệ thuật của Nguyễn
Trãi rất biến hóa trong miêu tả tự sự, trong trữ tình bình luận, vừa sắc sảo
thấm thía, vừa đa thanh; lúc thì đĩnh đạc, o hùng, trang nghiêm, lúc thì thắm thiết
căm giận, lúc thì mạnh mẽ, hùng tráng... Đất ớc con người Đại Việt được nói
đến trong bài đại cáo là một đất nước, một nhân dân văn hiến, anh hùng.
Thuyết minh Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 11
Nguyễn Trãi là một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà quân sự tài ba, không những thế ông
còn một nhà thơ, nhà văn kiệt xuất của cả dân tộc. Nguyễn Trãi đã để lại cho nền
văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong số đó phải kể đến “Bình Ngô
đại cáo”. Đây bài o Nguyễn Trãi viết thay vua Thái Tổ để tuyên cáo rộng
rãi trong nhân dân về quá trình kháng chiến thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn.
Về mặt cấu trúc, tác phẩm thể chia thành bốn phần. Phần 1 nêu luận đề chính
nghĩa (Từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”), phần 2 phần tố cáo tội ác, vạch trần âm
mưu xâm lược Đại Việt với cớ phù Trần diệt Hồ của giặc (Tiếp theo phần 1 đến “Ai
bảo thần dân chịu được”), phần 3 là quá trình kháng chiến sự thắng lợi của khởi
nghĩa Lam Sơn (Tiếp theo phần 2 đến “cũng chưa thấy xưa nay”), phần 4 phần
nêu ra bài học lịch sử và sự khẳng định chính nghĩa sẽ thắng phi nghĩa (phần còn lại).
phần mở đầu tác giả nêu lên triết về nhân nghĩa, một triết giá trị lịch sử
tầm vóc của thời đại. Trong thơ Nguyễn Trãi, vấn đề “nhân nghĩa” không đơn giản chỉ
sự yêu thương giúp đỡ lẫn nhau đã được nâng lên thhiện trong nh
động cụ thể:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Đối với Nguyễn Trãi, việc trước hết “trừ bạo” để nhân dân được một cuộc sống
yên ổn, ấm no, hạnh phúc. Ông cho rằng nếu muốn trị thiên hạ thì việc phải nghĩ
đến đầu tiên chính “nhân nghĩa”. Những u thơ tiếp theo tác giả muốn nói về ớc
Đại Việt của chúng ta:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Trong những câu thơ trên Nguyễn Trãi cho rằng “nhân nghĩa” đã từ lâu đời nước
ta, đồng thời khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc được thể hiện
việc núi sông bờ cõi đã được phân chia ràng. đã được phân chia nên việc hình
thành những phong tục tập quán cũng nhiều khác biệt tuy nhiên vẫn điểm chung
là sự tồn tại song song của các triều đại lịch sử. Lời thơ như một lần khẳng định lại nội
dung của “Nam quốc sơn hà” – được coi như bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
Chính vì đã có những hành động xâm chiếm nước ta nên họ phải chuốc lấy hậu quả:
“Lưu Công tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”
Những kết cục như thế này đều tự do chính họ chuốc lấy thông qua bài tuyên ngôn
đầu tiên đã như một lời cảnh cáo nhưng họ vẫn cố tình thực hiện.
Ở phần thứ hai, tác giả đã nêu ra những tội ác của giặc và vạch bộ mặt thật của giặc
đằng sau lớp vỏ ngụy tạo “phù Trần diệt Hồ”:
Từ việc:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Cho đến việc chúng bắt nhân dân phải xuống biển ngọc trai lên rừng sâu đãi cát
tìm vàng, phải đối mặt với “rừng thiêng nước độc” muôn vàn khó khăn nguy hiểm,
rồi đến sưu thuế chồng chất, phu phen lao dịch nặng nề. Chúng hành hạ nhân dân ta
đủ mọi đường “thằng miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no chưa chán”, sự độc
ác và tàn nhẫn khiến tác giả phải thốt lên:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”
Giữa lúc ấy, nghĩa quân Lam Sơn đã dấy lên tinh thần yêu nước tiến hành cuộc
khởi nghĩa:
“Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống”
Căm phẫn trước tội ác của giặc, bóc lột nhân dân đủ đường khiến nhân dân lầm than
cực khổ khiến người lãnh đạo Lợi nghĩa quân mất ăn, mất ngủ, quyết tâm
chiến đấu với tất cả tinh thần vì độc lập nước nhà:
“Căm giặc nước thề không chung sống
Đau lòng nhức óc chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh”
Tinh thần và lòng quyết tâm đã dâng cao như núi nhưng chỉ còn lo một nỗi về việc tìm
kiếm “nhân tài” và “hào kiệt”, đây là một việc khó vì theo tác giả:
“Hào kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu”
Trong khi đó, nghĩa quân vừa dấy quân khởi nghĩa vẫn còn non nớt, thiếu thốn về mọi
mặt như lương thực Khi Linh Sơn ơng hết mấy tuần”, quân “Lúc Khôi Huyện
quân không một đội”, còn quân thù thì đang rất mạnh, đây chính khó khăn của
chúng ta cách khắc phục duy nhất chính là sự đồng lòng của toàn bộ nghĩa quân
“Tướng một ng phtử/ Hòa ớc sông chén rượu ngọt ngào”. Dưới sự lãnh đạo
tài tình của Lợi “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” triết “Lấy đại nghĩa
để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay ờng bạo” cùng với sự dũng cảm, gan dạ
của binh sĩ, nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành và lớn mạnh “sĩ khí đã hăng,
quân thanh càng mạnh”, kết quả là nghĩa quân giành được nhiều chiến thắng vang dội
“Đánh một trận sạch không kinh ngạc/ Đánh hai trận tan tác chim muông”, còn giặc
Minh thì phải chấp nhận những thất bại liên tiếp những tên tướng đều kết thúc
thật bi thảm:
“Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng
Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên
Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn”
Tác giả đã ghi lại chi tiết từng mốc thời gian như những mốc son chói lọi trong lịch sử
dân tộc nhưng lại là vết nhơ, nỗi nhục nhã đối với giặc Minh.
Mặc dù tội ác của giặc mãi mãi không thể rửa sạch nhưng quân ta vẫn trợ cấp cho giặc
để về nước khi đã bại trận:
“Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run”.
Hành động này thể hiện truyền thống nhân nghĩa từ lâu đời của dân tộc ta, một lần nữa
khẳng định lời của Nguyễn Trãi:
“Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo”
Phần cuối của tác phẩm đã nêu ra bài học lịch sử quý báu về ý thức độc lập chủ quyền
vấn đề nhân nghĩa, đồng thời khẳng định sự thắng lợi của cuộc chiến tranh chính
nghĩa:
“Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Âu cũng nhờ trời đất tổ tong
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”
“Bình Ngô đại o” ý nghĩa như một bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc, vừa tố
cáo tội ác của giặc Minh vừa khẳng định được độc lập chủ quyền dân tộc, minh
chứng hùng hồn cho cuộc chiến thắng của nhân dân ta. Đã một thời gian dài trôi qua,
nhưng giá trị của bài cáo vẫn tồn tại vĩnh hằng Nguyễn Trãi nhà quân sự tài ba,
nhà chính trị lỗi thời, nhà thơ, nhà văn xuất sắc sẽ sống mãi trong lòng n tộc Việt
Nam.
Thuyết minh Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 12
Để lại cho đời một kho tàng văn học Việt Nam, những tác phẩm quý giá, đặc sắc cho
nghệ thuật văn chương, khi nhắc đến Đại Cáo Bình Ngô, người đời lại nhớ đến văn
hào–bậc đại anh hùng dân tộc đó là nhà thơ lớn Nguyễn Trãi.
Ông sinh năm 1380 mất năm 1442, hiệu Ức Trai, quê gốc ng Chi Ngại sau dời
về Nhị Khê. Thân sinh Nguyễn Ứng Long- một nho sinh nghèo, học giỏi, đTiến
sĩ. Mẹ Trần Thị Thái Con quan đồ. Tuổi thơ của Nguyễn Trãi rất nhiều tai
ương cực khsong ông vẫn một lòng tận trung tổ quốc, điều đó đã trở thành
truyền thống của gia đình ông: yêu nước, n hóa văn học, cũng lòng yêu
nước ấy, khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, ông thừa lệnh Lê Lợi viết Đại Cáo Bình
Ngô, từ đó ông đã gửi 1 phần lời bình của bản thân về tác phẩm ấy.
Cuối m 1427 Nguyễn Trãi viết bài Cáo đọc vào đầu 1428 trước toàn dân để báo
với mọi người biết về sự việc chống Minh. Điều đó chứng tỏ chiến tranh đã kết thúc
20 năm đô hộ của giặc minh kết thúc 10 năm diệt thù của quân dân ta Nguyễn
Trãi đã đề cập đến. Hơn thế nữa, sự việc ấy đã mở ra một kỉ nguyên mới, bắt đầu một
cuộc sống độc lập hòa bình của dân tộc và đất nước Đại Việt.
Khi nói đến Cáo, Cáo là một thể văn nghị luận có từ thời cổ Trung Quốc, thường được
vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình y một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn
cho mọi người cùng biết, mang ý nghĩa như một sự kiện trọng đãi, tính chất quốc
gia. Chính thế, tác phẩm Đại Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi ý nghĩa như một bản
tuyên ngôn độc lập.
Đại Cáo Bình Ngô mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập, thể hiện được luận
đề của chính nghĩa đây: ởng nhân nghĩa theo quan niệm nho giáo, mối
quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người dựa trên sở tình thương đạo
“cốt ở yên dân’’ trong câu:
"Từng nghe,
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo’’
Từ đó, ta hiểu được Nguyễn Trãi đã khẳng định rằng: “lấy dân làm gốc, làm cho dân
được sống yên lành hạnh phúc”. Nghệ thuật của ông đưa ra đó biện pháp so sánh,
câu văn biền ngẫu song đôi mang cốt cách của nhà chính trị tài ba.
Bài Cáo của Nguyễn Trãi đã vạch trần được tội ác của kẻ thù:
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế
Nặng thuế khóa…
Vét sản vật, bắt chim trả…’’
Chỉ một vài tội ác như thế cũng đủ lên án bọn giặc Minh. Ý đây, Nguyễn Trãi đã sử
dụng biện pháp nói lên tội ác tày trời của giặc Minh: Nghệ thuật phóng đãi, lấy cái
hạn cùng của tự nhiên để nhấn mạnh cái hạn cùng của tội ác, hủy hoại cuộc
sống của con người bằng cách diệt chủng.
Nếu như nói tội ác của giặc Minh hạn thì nước Đại Việt ta nổi dậy cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn để chống lại quân thù. Hình ảnh Lợi một co người tuy bình
thường nhưng ý tưởng hoài bão lớn lao cùng với sự đoàn kết một lòng của nhân
dân ta đã làm nên sự tất thắng. Qua đó, ta thấy được hình tượng ngôn từ thật màu sắc,
âm thanh, nhịp điệu mang đặc điểm của bút pháp anh hùng ca, hình tượng phong
phú đa dạng, đo bằng sự lớn rộng của thiên nhiên cùng với động từ mạnh,
chuyển dồn dập, dữ dội động từ tính từ chmức độ, khi thế chiến thắng của ta, sự
thất bại của địch, câu văn dài ngắn biến hóa linh hoạt.
Kết thúc chiến tranh, mở ra một kỉ nguyên hòa bình: giọng văn thư thái, nhẹ nhàng, hả
hê và sự tuyên bố nền độc lập dân tộc được thống nhất, rút ra bài học kinh nghiệm cho
dân ta bài học “dạy bảo” cho địch, sự kết hợp tinh tế giữa sức mạnh truyền thống
và sức mạnh thời đại “trên dưới một lòng”, quyết tâm của nhân dân xây dựng nền thái
bình vững chắc.
Tóm lại. Đại Cáo Bình Ngô mạng nội dung trong quan niệm nho gia hầu như không
có, đây tưởng tiến bộ của chân khách quan về sự tồn tại độc lập chủ quyền
của nước Đại Việt, ranh giới, địa phận lãnh thổ, phong tục tập quán, có lịch sử riêng,
chế độ riêng với nhân tài phong kiến, những thực tế khách quan Nguyễn Trãi đưa
ra là chân lí không thể phủ nhận, lột tả tính chất tự nhiên, lâu đời của nước Đại Việt.
Trải qua bao cuộc đấu tranh cũng như những trang lịch sử được vạch ra, ý nghĩa nhất
cuộc khởi nghĩa Lam sơn chứng minh được sử tài ba của Lợi văn hào
Nguyễn Trãi. Ông người nỗi oan thảm khốc nhất trong lịch sdân tộc, một
nhân vật lịch sử đại tiêu biểu trong quá khứ - một bậc đại anh hùng dân tộc nhân
vật toàn tài hiếm có. TĐại Cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi gợi tả bút pháp đặc sắc làm
cho tôi cảm thấy tự hào, học hỏi được bởi lòng yêu nước, lòng đoàn kết của dân tộc ta
qua bao nhiêu năm tháng kháng chiến giành độc lập. Nếu người Việt Nam thì thật
tiếc cho những ai đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam không biết đến
nhà chính trị tài ba Nguyễn Trãi.
Thuyết minh Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 13
Bình ngô đại cáo được Nguyễn Trãi sáng tác năm 1428, khi quân ta giành thắng lợi
trước quân Minh, dưới ngọn cờ lãnh đạo của nghĩa quân Lam Sơn chủ ớng
Lợi. Sau thắng lợi, Lợi đã lên ngôi hoàng đế bắt tay vào xây dựng vương triều
của mình. Việc đầu tiên sau khi lên ngôi, đó truyền lệnh cho Nguyễn Trãi soạn thảo
văn bản “Bình ngô đại cáo” để tuyên bố với toàn dân rằng cuộc khởi nghĩa gian nan
cuối cùng cũng kết thúc thắng lợi, kể từ đây nhân dân sẽ bước vào một cuộc sống mới,
tự do, độc lập. Bình ngô đại cáo một áng văn chính luận xuất sắc, là một áng “thiên
cổ hùng văn” của nền văn học dân tộc.
Trong “Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi rất đề cao tưởng thân dân, theo ông, một
quốc gia muốn trường tồn, thịnh vượng, thì yếu tố căn cốt nằm người dân. Người
dân thể đẩy thuyền nhưng cũng thể lật thuyền. vậy, ngay câu thơ đầu,
Nguyễn Trãi đã đề cập đến tư tưởng thân dân vừa như khẳng định vai trò của dân, vừa
như lời nhắc nhtế nhị đến bậc quân vương, việc nhân nghĩa luôn luôn được dân
chúng nhắc đến, và những người đứng đầu đất nước luôn luôn phải có trách nhiệm với
dân với chúng, trước hết phải biết lo cho dân cho chúng, lo trừ đi bạo ngược để giữ
cho đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ có giá trị to lớn hơn, những người luôn
luôn biết lo cho dân yêu dân như con, điều đó để lại cho dân tộc những điều ý
nghĩa mạnh mẽ nhất, khi mỗi chúng ta đều hưởng được một nền thái bình thịnh trị:
“Từng nghe
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Quốc gia muốn trường cửu thì phải “yên dân”, tức phải chăm lo đến cuộc sống của
người dân. Trách nhiệm của triều đình, của “quân điếu phạtphải “lo trừ bạo”, diệt
trừ mọi mối đe dọa đến cuộc sống của người dân. Nền văn hiến của dân tộc Việt Nam
luôn luôn được cải thiện giữ n mỗi ngày. Trong các tác phẩm thơ ca, cũng
nhấn mạnh điều đó, dân quốc đã có từ xưa đến nay, nền văn hiến cũng luôn luôn được
giữ gìn nâng cao trên nền mỗi ngày. Giá trị của để lại cho dân tộc ta cũng
cùng giá trị. Nền văn hiến của dân tộc đã khẳng định từ trước tới nay, luôn
mang những giá trị vẻ vang cho dân tộc của mình, mỗi khi các giá trị đó được cải tạo
là làm cho văn học nước nhà được củng cố và nâng cao lên mỗi ngày, những định giới
của Việt Nam luôn luôn được cải thiện nâng cao mỗi ngày, luôn trở thành một
giá trị giá để lại cho dân tộc Việt Nam những điều ý nghĩa to lớn, khi những
giới hạn biên giới đó đã được khẳng định từ trước tới nay, phong tục của hai miền
cũng luôn luôn được phân định rõ ràng:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Đến những câu thơ tiếp theo, Nguyễn Trãi đã khẳng định ranh giới lãnh thổ bờ cõi,
cùng với đó sự tự hào về truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc “Đã xưng nền
văn hiến đã lâu”. “Văn hiến”, “phong tục” những dẫn chứng nhà thơ đưa ra để tăng
thêm tính thuyết phục của lời khẳng định. Đại Việt một quốc gia độc lập, ranh
giới, lãnh thổ riêng. Trên mảnh đất ấy, con người Đại Việt đã sinh sống, hình thành
nên những phong tục, những nền văn hiến mang bản sắc của dân tộc mình. Các đời
vua từ a đến nay, luôn luôn ng nền độc lập, không thể bỏ qua những quân thù
phải nh vai với cường quốc năm châu, cần phải tạo nên những giá trị ý nghĩa
tầm quan trọng đặc biệt cho đất nước của mình, chênh lệch lực ợng đi
chăng nữa thì chúng ta cần phải dốc hết lòng để bảo vệ cho đất nước của mình. Thời
nào cũng luôn thấy xuất hiện những vị anh hùng của dân tộc điều đó tạo nên những
giá trị ý nghĩa và vẻ vang nhất, song mỗi người luôn luôn biết quyết tâm để bảo vệ
đất nước và dân tộc của mình:
“Từ Triệu, Đinh, Lí,Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Nếu câu thơ trên nhà thơ khẳng định một cách ràng về chủ quyền lãnh thổ cùng với
niềm tự hào về văn hiến lâu đời thì trong những câu thơ y, nhà văn thể hiện niềm tự
hào về truyền thống đấu tranh, truyền thống anh hùng của dân tộc. Nhà văn khẳng
định Việt Nam nền độc lập riêng, nền độc lập ấy được xây dựng bởi bao đời vua từ
Triệu, Đinh, Lí, Trần. vậy cùng với Trung Quốc,Việt Nam hoàn toàn bình đẳng,
vậy kẻ thù không có quyền xâm phạm. Nguyễn Trãi thể hiện tinh thần dân tộc, lòng tự
hào sâu sắc khi đặt Đại Việt sánh ngang với các triều đại Trung Quốc: “Cùng Hán,
Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”. Trong quá trình dựng nước
giữ nước, tuy những thăng trầm “mạnh yếu từng lúc khác nhau”,nhưng nhà thơ
cũng khẳng định “hào kiệt đời nào cũng ”. Đó những trang nam tử, những người
anh hùng, khi mà đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng đứng lên, dốc sức bảo vệ tổ quốc.
“Cho nên
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi”
cố tình xâm phạm vào quốc gia chủ quyền, nền độc lập nên những kẻ xâm
lược đã phải gánh chịu hậu quả cùng thê thảm. Lưu Cung, Triệu Tiết, Ô Mã, Toa
Đô đều những danh từ chỉ người, họ những tên tướng cầm đầu đội quân xâm
lược, bất chấp luân xâm phạm Đại Việt mà chúng đã nhận lấy những thất bại cay
đắng. Nguyễn Trãi cũng sử dụng hệ thống các động từ để diễn tả sự thất bại ê chề này:
“thất bại”, “tiêu vong”, “bắt sống”, “giết”. Bên cạnh việc chỉ ra những thất bại của
quân giặc, Nguyễn Trãi cũng nêu lên những thắng lợi vang dội của quân dân Đại Việt
như trận m Tử, chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Những dẫn chứng nhà thơ
nêu đều căn cứ vào sự thực lịch sử “chứng cớ còn ghi”, vì vậy mà không thể chối cãi.
“Vừa rồi
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
Bọn gian tà bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”
Nguyễn Trãi đã kể lại sự rối ren trong nước, khi họ Hồ "chính sự phiền hà", nhân dân
lầm than, đau khổ rồi mang lòng oán hận với triều đại “lòng dân oán hận”. Nhân sự
mâu thuẫn nội bộ của Đại Việt, quân Minh đã mưu kế xấu xa, muốn nhân hội này
để thực hiện những nh động phi nghĩa “Quân cuồng Minh thừa gây họa”. Một
triều đại lớn mạnh như nhà Minh cũng “thừa cơ”, cách dùng từ của Nguyễn Trãi
làm bật lên cái phi nghĩa của quân đội nhà Minh, đồng thời cũng thể hiện được cái
tiểu nhân đê hèn trong hành động xâm lược y. Không chỉ lên án quân Minh nhà
thơ còn vạch tội của những kẻ “bán nước cầu vinh”. hành động bắt tay xâm ợc
của chúng đã đẩy nhân dân ta vào biết bao nhiêu tai họa. Nhà thơ đã sử dụng những
động từ mạnh “nướng dân đen”, “vùi con đỏ” để vạch trần bản chất tàn nhẫn, độc ác
của chúng.
“Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng khốn rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bẫy hưu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ
Để mang lại lợi ích cho mình, quân giặc không từ một thủ đoạn, một hành động nhẫn
tâm, tàn ác nào. Chúng không chỉ bắt dân ta nộp nhiều loại thuế còn bắt những
người dân vô tội lên rừng xuống biển m cho chúng những món đồ quý giá. Cuộc
sống của người dân vô cùng đau khổ, bi thương. Nhưng tiếng khóc của người dân
chúng đâu thấy được, không chỉ người dân ngay cả những loài thú quý, hay những
loài côn trùng, cây cỏ chúng cũng không buông tha.
“Bình ngô đại cáo” một áng văn chính luận xuất sắc của dân tộc ta. Bài cáo vừa
khẳng định hùng hồn, mạnh mẽ chủ quyền của dân tộc vừa thể hiện niềm tự hào với
truyền thống văn hóa cũng như truyền thông đấu tranh của dân tộc. lời cảnh cáo
đanh thép với lũ quân xâm lược, với bọn bán nước. Như vậy, “Bình ngô đại cáo” xứng
đáng là một áng “thiên cổ hùng văn”.
Thuyết minh Đại cáo Bình ngô - Mẫu 14
Nguyễn Trãi được xếp vào 1 trong 14 vị anh hùng dân tộc, đồng thời 1 trong 3 tác
giả của Việt Nam được tổ chức UNESCO công nhận danh nhân văn hóa thế giới
cùng với Nguyễn Du Hồ Chí Minh . Ông bậc khai quốc công thần của nhà Hậu
Lê, nhà quân sự, chính trị lỗi lạc kiệt xuất, có nhiều công lao to lớn khi tham gia
tích cực vào khởi nghĩa Lam Sơn, giúp Lợi chiến thắng giặc Minh xâm lược.
Trong suốt cuộc đời mình Nguyễn Trãi nhiều công tích vẻ vang thế nhưng rốt cuộc
cuối đời lại vướng vào nỗi oan u phản giết vua, phải chịu chết trong oan ức. Về sự
nghiệp ng tác, Nguyễn Trãi khá nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó Bình ngô đại
cáo nổi danh là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của nước ta, được xem áng thiên cổ
hùng văn, mẫu mực của thể loại cáo trong văn học trung đại, chứa đựng nhiều giá
trị lịch sử, chính trị, ngoại giao, giá trị ởng của người viết cả giá trị văn học
cho đến ngày hôm nay.
Nguyễn Trãi (1380-1442), tên hiệu Ức Trai, quê gốc huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương, sau đó dời đến Định Khê, Thường Tín, Nội. Xuất thân trong một gia đình
danh giá, cả hnội ngoại đều truyền thống yêu nước truyền thống văn học,
cha là Nguyễn Ứng Long (sau đổi tên Nguyễn Phi Khanh), đã từng đỗ thái học sinh
(tiến sĩ) dưới thời nhà Trần, mẹ Trần Thị Thái con của quan đồ Trần Nguyên
Đán. Thuở nhỏ Nguyễn Trãi phải gánh chịu nhiều mất mát, m 5 tuổi thì mẹ mất,
năm 10 tuổi thì ông ngoại qua đời. Đến năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ thái học sinh
cùng cha ra làm quan dưới triều nhà Hồ, tuy nhiên, năm 1407 nhà Hồ sụp đổ, giặc
Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt giải về Trung Quốc, còn
Nguyễn Trãi bị giam lỏng tại thành Đông Quan trong khoảng 10 năm trời. Sau đó, ông
trốn thoát tìm đến gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, trở thành quân cho Lợi,
đóng góp nhiều công lao to lớn giúp nghĩa quân chiến thắng giặc Minh lập ra nhà
Hậu Lê. Cuối năm 1427 đâu năm 1428 Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lợi viết Bình
Ngô đại cáo chiếu cáo thiên hạ thắng lợi của nghĩa quân, cũng như mở ra kỷ nguyên
mới độc lập của dân tộc. Tuy nhiên nhà Hậu thành lập không bao lâu thì gặp phải
cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, nội bộ đất nước xảy ra mâu thuẫn, chia kéo phái,
dẫn đến việc nhiều bậc công thần trong đó có Nguyễn Trãi bị nghi ngờ và không được
tin dùng trong suốt 10 năm trời. Khiến ông bất đắc chí và năm 1439 xin về ở ẩn Côn
Sơn, nhưng ngay sau đó năm 1440 lại được vua Thái Tông mời ra giúp nước.
Trong lúc Nguyễn Trãi đang hăng hái hết lòng kiến thiết, canh tân đất nước thì m
1442 thảm án Lệ chi viên ập xuống, dẫn đến kết cục vô cùng bi đát - Nguyễn Trãi phải
chịu tội tru di tam tộc.
Về sự nghiệp thơ văn, Nguyễn Trãi vừa nhà văn chính luận kiệt xuất cũng vừa
một nhà thơ trữ tình sâu sắc, đây hai mảng sáng tác lớn nhất trong các sáng tác của
Nguyễn Trãi. Ông để lại một số lượng lớn tác phẩm trong nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực
nào cũng đạt đến trình độ xuất sắc. Trong lĩnh vực lịch sử Văn bia Vĩnh Lăng,
Lam Sơn thực lục ghi lại kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; trong lĩnh vực chính trị
quân sự có Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo; trong lĩnh vực địa lý ông để lại
cuốn địa chí - được đánh giá cuốn sách địa cổ nhất Việt Nam. thể loại văn
học, các sáng tác bằng chữ Hán cuốn Ức Trai thi tập, sáng tác bằng chữ Nôm
tập Quốc âm thi tập - cuốn sách viết bằng tiếng Việt đầu tiên còn lại cho đến ngày
hôm nay. Từ số lượng tác phẩm lớn, đa dạng và phong phú trong nhiều lĩnh vực có thể
thấy rằng Nguyễn Trãi một người cùng tài giỏi vốn hiểu biết rộng lớn,
xứng danh là bậc đại thi hào của dân tộc Việt Nam ta.
Với cách một nhà văn chính luận kiệt xuất, ông cũng để lại một số ợng tác
phẩm khá lớn, ngoài Quân trung từ mệnh tập Bình Ngô đại cáo đã kể trên, người ta
còn sưu tập được khoảng 28 tác phẩm thuộc các thể loại chiếu, biểu, ... dưới triều Lê.
Nội dung tư tưởng chủ đạo xuyên suốt là nhân nghĩa, yêu nước và thương dân, đặc sắc
nghệ thuật nằm kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, sử dụng các bút pháp linh hoạt
tùy theo mục đích, yêu cầu, đối ợng. Thêm nữa, tất cả các tác phẩm văn chính luận
của Nguyễn Trãi đều được đánh giá là áng văn chính luận mẫu mực.
Với tư cách một nhà thơ trữ tình sâu sắc, các tác phẩm hiện còn gồm hai tập thơ Ức
Trai thi tập Quốc âm thi tập như đã kể trên, nội dung bao m chủ yếu ghi lại
hình ảnh Nguyễn Trãi vừa là anh hùng vĩ đại vừa là con người trần thế. Tư cách người
anh hùng đại hiện lên thông qua: tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân; ý chí
chống ngoại xâm cường quyền bạo lực; các phẩm chất tốt đẹp ợng trưng cho
người quân tử hướng đến mục đích giúp nước giúp dân bao gồm dáng đứng ngay
thẳng cứng cỏi của cây trúc, vẻ thanh tao trong trắng của y mai, sức sống khỏe
khoắn của cây tùng. Trong cách một con người trần thế, ông hiện lên với những
đặc điểm của một con người đời thường giản dị, ông đau đớn trước nghịch cảnh éo le
của xã hội cũ, trước thói đời bạc bẽo, nham hiểm, ông cũng những tình yêu sâu sắc
với thiên nhiên, đất ớc con người cuộc sống, đồng thời thể hiện cả những tình
nghĩa giữa cha con, vua tôi, bạn bè rất sâu nặng.
Tổng kết lại Nguyễn Trãi thế kỷ XV một hiện tượng văn học kết tinh của truyền
thống văn học - Trần cũng mở ra một giai đoạn phát triển mới cho văn học
trung đại. Văn chương của ông hội tụ hai nguồn cảm hứng lớn của văn học dân tộc
yêu nước và nhân đạo, có đóng góp lớn trên cả hai bình diện là thể loại và ngôn ngữ.
Về Bình Ngô đại cáo, tác phẩm ra đời vào thời điểm cuối m 1427, đầu năm 1428
sau khi nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt được 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông
đang cố thtrong thành Đông Quan đã phải xin giảng hòa rút quân về nước. Trước
thắng lợi vang dội của nghĩa quân, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô đại
cáo để chiếu cáo với thiên hạ rằng chúng ta đã giành lại độc lập n tộc, tuyên ngôn
độc lập, mở ra một trang mới cho lịch sử nước nhà. Bản cáo được ban bố vào đầu năm
1428. Về ý nghĩa nhan đề, sở dĩ gọi là "Bình Ngô đại cáo", bởi vua Minh vốn là người
nước Ngô, trong chế độ quân chủ chuyên chế, vua tức đại diện cho một đất
nước, đại diện cho cả một dân tộc chế độ của nước đó. Nguyễn Trãi viết "Bình
Ngô", tức bình định quân Minh m lược, dẹp yên giặc dữ. Theo một cách giải
khác nữa thì trong thời kỳ tam quốc phân tranh Ngụy-Thục-Ngô, thì Ngô ớc đã
cai trị nước ta bằng những biện pháp cùng hung bạo tàn nhẫn, khiến nhân dân
đói khổ lầm than, vậy nên giặc Ngô còn tên gọi chung để chỉ thứ giặc đến từ
phương Bắc với các đặc điểm chung là tàn ác và vô nhân đạo. Hai chữ "đại cáo" tức
bản cáo lớn, thể hiện tầm quan trọng của sự kiện cần tuyên bố, cũng như khẳng định
tưởng lớn của dân tộc, đóng vai trò xương sống: "Đem đại nghĩa để thắng hung
tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo" vốn xuyên suốt trong tác phẩm. Bên cạnh đó
được biết "đại cáo" một trong những thể loại văn bản pháp luật chính thức của nhà
Minh, Nguyễn Trãi viết theo thể này, mục đích khẳng định tính chất pháp của
việc cần tuyên bố, không chỉ là ớng tới nhân dân Đại Việt còn ý nghĩa chính
trị hướng tới nhà Minh. một biện pháp thông minh, khẳng định sự ngang hàng về
tầm vóc lịch sử, chính trị, sự tách biệt về lãnh thổ, văn hóa, nhà Minh có thể dùng "đại
cáo" chiếu cáo thiên hạ, thì Đại Việt ta cũng thể dùng để ban bố, tuyên ngôn về
chủ quyền dân tộc một cách dõng dạc, chuyên chính giá trị tương đương với "đại
cáo" của nhà Minh. Về thể loại "cáo", đây một thể văn nghị luận từ thời cổ
Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng, để trình y một chủ trương
một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết. Được phân ra làm 2
loại phổ biến, thứ nhất loại văn cáo thường ngày, thứ hai ại cáo" mang tính
chất quốc gia, ý nghĩa trọng đại. Về đặc trưng, cáo thể được viết bằng văn xuôi
hay văn vần, nhưng chủ yếu văn biền ngẫu, không vần hoặc vần, thường
đối dài ngắn không bó, mỗi cặp 2 vế đối nhau. Đây thể văn hùng biện nên lời lẽ
phải đanh thép, lý luận phải sắc bén, kết cấu bố cục phải chặt chẽ mạch lạc.
Về bố cục, Bình Ngô đại cáo cũng tuân thủ theo bố cục của các văn bản chính luận
khác. Đoạn 1 nêu luận đề chính nghĩa, đoạn 2 vạch tội ác của kẻ thù, phần 3 kể
lại diễn biến của cuộc khởi nghĩa, đoạn 4 phần tuyên bố chiến quả khẳng định sự
nghiệp chính nghĩa.
đoạn đầu tiên Nguyễn Trãi đi vào nêu ra luận đề chính nghĩa với hai sở lớn, một
tưởng nhân nghĩa "Việc nhân nghĩa cốt yên n/Quân điếu phạt trước lo trừ
bạo", lấy nhân dân làm gốc, thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, một lòng vì nhân
dân. Hai khẳng định chủ quyền của dân tộc thông qua nhiều khía cạnh khác nhau
bao gồm: Văn hiến, ranh giới lãnh thổ, lịch sử đấu tranh, triều đại trị phong tục
tập quán. Sử dụng các dẫn chứng, lẽ cùng thuyết phục xác đáng làm tăng độ
tin cậy cũng như sự vững chãi, tính chính nghĩa của luận đề.
"Như nước Đại Việt ta từ trước,
.........
Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi"
Ở đoạn thứ hai, Nguyễn Trãi đi vào phân tích thực tiễn, tố cáo âm u tội ác của giặc
Minh. Thứ nhất chúng lấy danh nghĩa phù Trần diệt Hồ để dẫn quân vào xâm lược
nước ta.
"Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh"
Thứ hai Nguyễn Trãi nêu ra những tội ác của giặc Minh gây ra cho dân tộc ta bao gồm
tàn sát giết hại đồng bào một cách man, ra sức bóc lột thuế khóa, đàn áp vắt kiệt
sức lao động, đẩy nhân dân ta vào chỗ nguy hiểm, dùng mọi thủ đoạn vét tài
nguyên sản vật, phá hoại tài nguyên cây cỏ, phá hoại cả nền nông nghiệp của nhân dân
ta.
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
............
Tan tác cả nghề canh cửi"
tổng kết lại cho tội ác của giặc Nguyễn Trãi đã dùng hai câu "Độc ác thay, trúc
Nam Sơn không ghi hết tội/Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi", để diễn
tả sự cùng, tận, sự bẩn thỉu, nhơ nhuốc của tội ác giặc Minh đã gây ra cho
dân tộc Đại Việt.
Sang đoạn thứ 3, đầu tiên đi vào tái hiện lại tài năng nhân phẩm ý chí của ch
soái Lê Lợi.
"Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh"
Tiếp đến là kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn qua nhiều giai đoạn, từ lúc khởi nghĩa còn
non trẻ, nhiều khó khăn, thiếu thốn cả người tài giỏi, lẫn nhu yếu phẩm, lương thực
khí.
"Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
...
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội."
Cho đến khi nghĩa quân khắc phục được khó khăn, tìm ra giải pháp, mở ra một con
đường sáng cho cuộc khởi nghĩa nhờ ý chí quyết tâm, tinh thần đoàn kết của quân dân,
tướng sĩ một lòng.
"Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
.........
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công"
Cuối cùng trận phản công trước sự ngoan cố, âm mưu tiếp viện của nhà Minh,
quyết định chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn, khiến ơng Thông phải xin hàng,
tháo chạy về nước:
"Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
...
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay"
Đến phần thứ phần tuyên bố thắng lợi, khẳng định độc lập chủ quyền của dân
tộc, tính chất chính nghĩa của khởi nghĩa Lam Sơn, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử
dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do toàn vẹn lãnh thổ "Xã tắc từ đây vững bền/Giang
sơn từ đây đổi mới". Sau cùng rút ra bài học lịch sử cho dân tộc dựa trên tưởng
mệnh trời, quy luật của tạo hóa trong ngũ hành, bát quái, Kinh dịch:
"Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
...
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay."
Về mặt nghệ thuật, bài cáo sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận chất văn
chương nghệ thuật. Yếu tố chính luận thể hiện kết cấu chặt chẽ của tác phẩm, đi từ
luận đề chính nghĩa, rồi soi chân lý vào thực tiễn, vạch trần tội ác của kẻ thù, phân biệt
phải trái đúng sai, để làm nổi bật lên tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, rồi cuối cùng đưa ra lời kết luận, tuyên bố sự chiến thắng vẻ vang, hào hùng. Thứ
hai nữa lập luận sắc bén, lời văn đanh thép, hùng hồn. Bên cạnh yếu tố chính luận,
thì chất văn chương nghệ thuật cũng được tác giả thể hiện nhuần nhuyễn trong tác
phẩm, với lời văn rất giàu cảm xúc, xen lẫn giữa những đoạn thuật lại một cách khách
quan, những đoạn bộc lộ cảm xúc trực tiếp của tác giả (sự tức giận, phẫn nộ, oán
hận trước tội ác của giặc Minh, sự tự hào, niềm vui trước chiến thắng của quân ta,
cùng thái độ mỉa mai khinh nhờn trước thất bại của kẻ thù). Tiếp theo nữa câu văn
rất giàu hình tượng nghệ thuật sinh động tạo ra sức mạnh gợi cảm, gợi tả lớn (Độc ác
thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội/Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch
mùi), đồng thời tác giả cũng vận dụng cả sự hiểu biết của mình về các điển tích điển
cố, lịch sử để làm cho bài cáo thêm linh hoạt, hấp dẫn và trang trọng.
Bình Ngô đại cáo một tác phẩm chính luận kiệt xuất, mang trong mình giá trị nội
dung sâu sắc, giá trị lịch sử, chính trị, văn học lâu bền, ý nghĩa như bản tuyên ngôn
độc lập thứ hai của dân tộc. Tác phẩm xứng đáng được người đời xưng tụng áng
thiên cổ hùng văn,áng văn chính luận mẫu mực bậc nhất của nền văn học trung đại
Việt Nam, khẳng định tài năng cũng như tưởng nhân nghĩa sâu sắc của tác gia
Nguyễn Trãi.
| 1/62

Preview text:


Dàn ý thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo Dàn ý số 1 I. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Khái quát về tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung, nghệ thuật của bài Bình Ngô đại cáo. II. Thân bài:
- Nêu luận đề chính nghĩa: Cốt lõi nhân nghĩa chính là yên dân và trừ bạo. Nhân nghĩa
không bó hẹp trong khuôn khổ tư tưởng Nho giáo mà rộng hơn là làm thế nào để đem
lại cuộc sống yên bình cho nhân dân. Bên cạnh đó khẳng định nước ta tuy là một nước
nhỏ nhưng vẫn có thể tự hào về:
● Nền văn hiến lâu đời.
● Cương vực lãnh thổ. ● Phong tục tập quán.
● Lịch sử và chế độ riêng.
- Bản cáo trạng vạch rõ tội ác kẻ thù: Giặc Minh xảo quyệt thừa nước đục thả câu.
Không những thế còn tàn sát, hành hạ, tước đoạt mạng sống con người một cách dã man (dẫn chứng).
- Tổng kết quá trình kháng chiến:
● Xây dựng hình tượng người anh hùng áo vải bình thường nhưng có lòng yêu
nước thương dân và căm thù giặc sâu sắc, có lí tưởng cao cả (so sánh với Trần
Quốc Tuấn để thấy được lòng căm thù giặc và niềm tin sắt đá).
● Khắc họa những chiến công oanh liệt hào hùng (dẫn chứng).
- Tuyên bố hòa bình mở ra kỉ nguyên mới. * Nghệ thuật:
- Sử dụng từ ngữ hiển nhiên, vốn có.
- Biện pháp đối lập, lấy cái vô hạn của trúc Nam Sơn để nói đến cái vô hạn trong tội
ác giặc Minh, lấy cái vô cùng của nước Đông Hải để nói lên sự dơ bẩn vô cùng.
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật.
- Liệt kê, so sánh, đối lập để tạo thành bản anh hùng ca về những chiến công oanh liệt. III. Kết bài:
Tóm tắt lại nội dung, nghệ thuật tiêu biểu. Dàn ý số 2 1. Mở bài
Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm Bình Ngô đại cáo. 2. Thân bài:
2.1. Tác giả Nguyễn Trãi:
a. Thân thế, cuộc đời:
- Nguyễn Trãi (1380-1442), tên hiệu là Ức Trai, quê gốc ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương, sau đó dời đến Định Khê, Thường Tín, Hà Nội.
- Xuất thân trong một gia đình danh giá, cha là Nguyễn Phi Khanh, đã từng đỗ thái
học sinh (tiến sĩ) dưới thời nhà Trần, mẹ là Trần Thị Thái con của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.
- Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ thái học sinh và cùng cha ra làm quan dưới triều nhà
Hồ, năm 1407 nhà Hồ sụp đổ, giặc Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị giặc
bắt giải về Trung Quốc, còn Nguyễn Trãi bị giam lỏng tại thành Đông Quan.
- 1417, gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, trở thành quân sư cho Lê Lợi, đóng góp nhiều
công lao to lớn giúp nghĩa quân chiến thắng giặc Minh và lập ra nhà Hậu Lê.
- Nhà Hậu Lê thành lập không bao lâu thì gặp phải cuộc khủng hoảng nghiêm trọng,
nội bộ đất nước xảy ra mâu thuẫn => Nguyễn Trãi bị nghi ngờ và không được tin
dùng trong suốt 10 năm trời.
- Năm 1440 lại được vua Lê Thái Tông mời ra giúp nước.
- Năm 1442 thảm án Lệ chi viên ập xuống, dẫn đến kết cục vô cùng bi đát - Nguyễn
Trãi phải chịu tội tru di tam tộc.
b. Sự nghiệp sáng tác:
* Các tác phẩm chính trong các lĩnh vực:
- Lịch sử: Văn bia Vĩnh Lăng, Lam Sơn thực lục ghi lại kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
- Chính trị quân sự có Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo.
- Địa lý: Dư địa chí - cuốn sách địa lý cổ nhất Việt Nam. - Văn học:
● Chữ Hán: Ức Trai thi tập
● Chữ Nôm: Quốc âm thi tập - cuốn sách viết bằng tiếng Việt đầu tiên còn lại cho đến ngày hôm nay.
* Nhà văn chính luận kiệt xuất:
- Để lại một số lượng tác phẩm khá lớn, ngoài Quân trung từ mệnh tập và Bình Ngô
đại cáo đã kể trên, người ta còn sưu tập được khoảng 28 tác phẩm thuộc các thể loại
chiếu, biểu, ... dưới triều Lê.
- Nội dung tư tưởng chủ đạo xuyên suốt là nhân nghĩa, yêu nước và thương dân.
- Đặc sắc nghệ thuật: Kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, sử dụng các bút pháp linh
hoạt tùy theo mục đích, yêu cầu, đối tượng.
* Nhà thơ trữ tình sâu sắc:
- Các tác phẩm hiện còn gồm hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập - Nội dung:
● Ghi lại hình ảnh người anh hùng vĩ đại Nguyễn Trãi: Lý tưởng nhân nghĩa, yêu
nước thương dân; ý chí chống ngoại xâm và cường quyền bạo lực; các phẩm
chất tốt đẹp tượng trưng cho người quân tử.
● Trong tư cách là một con người trần thế, ông hiện lên với những đặc điểm của
một con người đời thường giản dị, ông đau đớn trước nghịch cảnh éo le của xã
hội cũ, trước thói đời bạc bẽo, nham hiểm, ông cũng có những tình yêu sâu sắc
với thiên nhiên, đất nước con người và cuộc sống, đồng thời thể hiện cả những
tình nghĩa giữa cha con, vua tôi, bạn bè rất sâu nặng.
2.2. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo:
a. Hoàn cảnh ra đời:
- Ra đời vào thời điểm cuối năm 1427, đầu năm 1428 sau khi nghĩa quân Lam Sơn
tiêu diệt được 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông đang cố thủ trong thành Đông
Quan đã phải xin giảng hòa và rút quân về nước.
- Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo để chiếu cáo với thiên hạ
rằng chúng ta đã giành lại độc lập dân tộc, tuyên ngôn độc lập, mở ra một trang mới cho lịch sử nước nhà.
b. Ý nghĩa nhan đề:
- "Bình Ngô", tức là bình định quân Minh xâm lược, dẹp yên giặc dữ (bởi vua Minh
vốn là người nước Ngô, đại diện cho một đất nước, đại diện cho cả một dân tộc. Theo
một cách lý giải khác giặc Ngô còn là tên gọi chung để chỉ thứ giặc đến từ phương
Bắc với các đặc điểm chung là tàn ác và vô nhân đạo).
- Hai chữ "đại cáo" tức là bản cáo lớn, thể hiện tầm quan trọng của sự kiện cần tuyên
bố, cũng như khẳng định tư tưởng lớn của dân tộc.
- Khái niệm "cáo": (Tham khảo sách giáo khoa) c. Bố cục:
Đoạn 1 là nêu luận đề chính nghĩa, đoạn 2 vạch rõ tội ác của kẻ thù, phần 3 kể lại diễn
biến của cuộc khởi nghĩa, đoạn 4 là phần tuyên bố chiến quả khẳng định sự nghiệp chính nghĩa. d. Nội dung:
- Đoạn 1: Nêu ra luận đề chính nghĩa với hai cơ sở lớn:
● Tư tưởng nhân nghĩa "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/Quân điếu phạt trước lo
trừ bạo", lấy nhân dân làm gốc, thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, một lòng vì nhân dân.
● Khẳng định chủ quyền của dân tộc thông qua nhiều khía cạnh khác nhau bao
gồm: Văn hiến, ranh giới lãnh thổ, lịch sử đấu tranh, triều đại trị vì và phong tục tập quán.
- Đoạn 2: Nêu nên tính chất phi nghĩa của quân Minh xâm lược và tội ác của chúng trên đất nước ta:
● Lấy danh nghĩa phù Trần diệt Hồ để dẫn quân vào xâm lược nước ta.
● Tàn sát giết hại đồng bào một cách dã man, ra sức bóc lột thuế khóa, đàn áp vắt
kiệt sức lao động, đẩy nhân dân ta vào chỗ nguy hiểm, dùng mọi thủ đoạn vơ
vét tài nguyên sản vật, phá hoại tài nguyên cây cỏ, phá hoại cả nền nông nghiệp của nhân dân ta. - Đoạn 3:
+ Tái hiện lại tài năng nhân phẩm và ý chí của chủ soái Lê Lợi.
+ Kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn qua nhiều giai đoạn. - Đoạn 4:
● Tuyên bố thắng lợi, khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc, tính chất chính
nghĩa của khởi nghĩa Lam Sơn, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ
nguyên độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ.
● Rút ra bài học lịch sử cho dân tộc dựa trên tư tưởng mệnh trời, quy luật của tạo
hóa trong ngũ hành, bát quái, Kinh dịch: e. Nghệ thuật:
- Kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương nghệ thuật.
- Yếu tố chính luận thể hiện ở kết cấu chặt chẽ của tác phẩm, lập luận sắc bén, lời văn đanh thép, hùng hồn.
- Chất văn chương nghệ thuật lời văn rất giàu cảm xúc, xen lẫn giữa những đoạn thuật
lại một cách khách quan, là những đoạn bộc lộ cảm xúc trực tiếp của tác giả. Câu văn
rất giàu hình tượng nghệ thuật sinh động tạo ra sức mạnh gợi cảm, gợi tả lớn, vận
dụng cả sự hiểu biết của mình về các điển tích điển cố, lịch sử. 3. Kết bài: Nêu cảm nhận chung.
Thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 1
Xuyên suốt bề dày lịch sử văn học Việt Nam, đã có rất nhiều áng văn dẫu qua năm
tháng nhưng giá trị của nó chưa từng bị lớp bụi thời gian phủ mờ, Bình Ngô đại cáo
của Nguyễn Trãi cũng là một áng văn như thế. Được mệnh danh là một áng “thiên cổ
hùng văn”, là bản tuyên ngôn thứ hai của dân tộc ta, Bình Ngô đại cáo đã bộc lộ hết
lòng trung quân ái quốc, tấm lòng tha thiết hướng về nhân dân. Bình Ngô đại cáo
chính là bản cáo trạng đặc trưng cho đặc sắc nghệ thuật cũng như tư tưởng nhân nghĩa
của Nguyễn Trãi – Một tác giả, một nhà chính trị lớn, nhà nhân đạo của dân tộc.
Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra triều Hậu Lê, thừa lệnh Lê Lợi, Nguyễn
Trãi viết Bình Ngô đại cáo để bố cáo cho toàn dân biết được chiến thắng của nhân dân
ta sau 10 năm miệt mài, anh dũng chiến đấu. Nước Việt ta đã giành lại độc lập, non
sông ta lại thái bình. Bài cáo được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc
được viết bằng thể cáo và sử dụng chữ Hán được chia thành bốn đoạn.
Mở đầu bài thơ và cũng là mạch ngầm tư tưởng chảy dọc theo tác phẩm là luận đề
chính nghĩa luôn được Nguyễn Trãi nêu cao, đó cũng là mục tiêu chiến đấu cao cả,
thiêng liêng của cuộc kháng chiến
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Khác với tư tưởng Nho giáo cho rằng tư tưởng nhân nghĩa là mối quan hệ yêu thương,
đùm bọc lẫn nhau của con người, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi lại lấy trừ bạo
và yên dân làm cốt lõi. Nguyễn Trãi đề cao luận đề chính nghĩa với tư tưởng mang lại
cuộc sống bình yên, no ấm cho nhân dân. Nguyễn Trãi còn khẳng định nước ta tuy bé
về dân số và quy mô nhưng lại có niềm tự hào rất lớn về độc lập, chủ quyền và nền
văn hóa được thể hiện qua nhiều phương diện:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Nguyễn Trãi đã khẳng định một cách chắc chắn nền lãnh thổ dân tộc trên nhiều
phương diện như nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ được phân định rõ ràng, những nét
riêng về phong tục, tập quán. Ngoài ra Đại Việt còn có các triều đại hào hùng sánh
ngang với các triều đại phương Bắc. Chủ quyền không phụ thuộc vào thiên thư hay
các yếu tố tâm linh mà được phân định hẳn hoi, khoa học. Nguyễn Trãi đã thể hiện
tinh thần dân tộc sâu sắc khi đặt Đại Việt sánh ngang với các triều đại lẫy lừng
phương Bắc. Tuy quá trình dựng nước, giữ nước có lúc thăng, lúc trầm “Tuy mạnh
yếu từng lúc khác nhau” nhưng vẫn tồn tại ở đó những trang nam tử sẵn sàng chiến
đấu khi đất nước lâm nguy. “Cho nên
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghi”
Bình Ngô đại cáo đã khẳng định hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, dùng sức
mạnh quân sự chèn ép những dân tộc yếu thế chắc chắn phải trả giá bằng xương máu,
tính mạng. Bất chấp luân lý xâm phạm Đại Việt, quân ngoại xâm phải nhận lấy những
thất bại cay đắng “tiêu vong”, “bắt sống”, “giết tươi”. Những thắng lợi vang dội của
nhân dân ta cũng là một sự khẳng định chắc chắn rằng nếu gắng sức xâm phạm lãnh
thổ nước ta sẽ chuốc lấy thất bại, cay đắng. “Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà ...
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ.”
Khi nước ta đang trong tình thế rối ren, triều Hồ “chính sự phiền hà”, nhân dân sống
cảnh oán khổ, lầm than, mâu thuẫn nội bộ triều đình được đẩy lên đến đỉnh điểm. Lợi
dụng sự không ổn định này quân Minh đã mon men đến lãnh thổ Đại Việt “ thừa cơ
gây họa”. Quân xâm lược với tư tưởng phi nghĩa đã sử dụng những kế sách đê hèn,
thủ đoạn hòng từng chút bóc lột dân tộc ta đến tận xương tủy. Chúng bán máu dân tộc
ta trên chính mảnh đất quê hương để góp phần tô đậm sự phồn vinh, hưng thịnh cho
dân tộc chúng. Không từ thủ đoạn, hành động nhẫn tâm, chúng gây nhiễu nhương
khắp mọi nơi, tội ác của chúng mỗi ngày một tàn độc. Những động từ mạnh “nướng
con đen” , “ vùi con đỏ” để vạch trần bản chất độc ác của quân Minh.
Giới thiệu về tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 2
Nguyễn Trãi là một vị anh hùng lớn của dân tộc, là một nhà văn hoá lớn của thời đại.
Ông sinh ra ở Hải Dương trong một gia đình nghèo. Hai bên nội,ngoại thân sinh
Nguyễn Trãi đều có truyền thống yêu nước và về văn hoá, văn học.Cuộc đời ông chịu
nhiều mất mát và đau thương khi sớm mồ côi mẹ từ nhỏ.
Khi đất nước lâm nguy, vâng lời cha dặn, ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, góp phần
rất lớn trong chiến thắng vẻ vang của dân tộc.Tham gia vào công cuộc xây dựng lại
đất nước, bị án oan khiến cả dòng họ bị giết. Năm 1964, Nguyễn Trãi mới được vua
Lê Thánh Tông minh oan. Dù ra đi nhưng ông đã để lại khối lượng khá lớn tác phẩm
thơ văn, thành công trên nhiều thể loại văn học, tiêu biểu là các sáng tác bằng chữ Hán
và bằng chữ Nôm có nhiều giá trị như: Quân Trung từ mệnh tập, Ức trai thi tập, Chí
Linh sơn phú, hay Quốc âm thi tập,... Ông không chỉ là một nhà thơ trữ tình sâu sắc
với tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người và cuộc sống mà còn là một nhà văn
chính luận kiệt xuất của dân tộc.
Bình Ngô đại cáo là một tác phẩm thành công, một áng văn bất hủ của dân tộc Việt
Nam.Tác phẩm được viết vào năm 1928 khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành chiến
thắng,Nguyễn Trãi đã thừa lệnh của vua Lê Lợi viết Đại cáo bình Ngô. Đây là tác
phẩm được xem là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc về chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ, bản án đanh thép về tội ác của quân xâm lược, là bản hùng ca chiến trận của khởi
nghĩa Lam Sơn và khẳng định vẻ đẹp của sự nghiệp chính nghĩa, thành quả của dân tộc.
Bình Ngô đại cáo đã nói lên sức mạnh nhân dân, tư tưởng nhân dân và tư tưởng yêu
nước. Yêu nước là có giặc ngoại xâm thì chống, khi yên bình thì lấy nhân nghĩa, an dân để "trị" dân. "Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có"
Tội ác và âm mưu của quân giặc được vạch trần rõ ràng bằng những luận điệu sắc bén: "Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng."
Tác phẩm cho thấy tài năng của tác giả khi viết theo lối văn biền ngẫu, thể cáo với lời
lẽ đanh thép, hàng loạt các chứng cứ rõ ràng,sức thuyết phục cao, lập luận, kết cấu
chặt chẽ.Hình tượng nghệ thuật thơ đầy sinh động và giàu sức gợi. Nghệ thuật chính
luận đầy tài tính, cảm hứng nhân đạo đầy mới mẻ và sâu sắc. Bình Ngô đại cáo trở
thành một áng văn mẫu mực thể hiện sức mạnh, niềm tin của quốc gia , dân tộc.
Thuyết minh Bình Ngô đại cáo - Mẫu 3
Nằm trong số những tác phẩm văn học được viết nên để ca ngợi truyền thống yêu
nước của dân tộc Việt Nam, “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi được xem là một
tác phẩm bất hủ cùng thời gian. Tác phẩm được đánh giá là áng “thiên cổ hùng văn”,
là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai có giá trị trường tồn.
Nguyễn Trãi (sinh năm 1380 – mất năm 1442) hiệu là Ức Trai, quê ông ở Chi Ngãi
(Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Gia đình Nguyễn
Trãi là một gia đình nhà nho nghèo nhưng lại giàu truyền thống yêu nước và có sự
quan tâm đặc biệt với văn hóa, văn học nước nhà. Nguyễn Trãi có cha và ông ngoại
đều là những người học rộng tài cao và có nhiều đóng góp cho triều đình. Cha ông là
Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh còn ông ngoại của ông là Tư đồ Trần Nguyên Đán.
Noi gương thế hệ đi trước, Nguyễn Trãi cũng ra sức dùi mài kinh sử và năm 1400, ông
cũng đỗ Thái học sinh và ra làm quan cho triều nhà Hồ. Đến năm 1407, giặc Minh
sang xâm lược nước ta nhưng nhà Hồ không có đủ khả năng chống trả, thế nên đất
nước rơi vào tay giặc, cha ông bị bắt sang Trung Quốc còn ông thì quyết định tham
gia vào nghĩa quân Lam Sơn để cứu nước báo thù nhà.
Với sự lãnh đạo tài tình và sự giúp sức từ những người cộng sự nhiệt thành, tài năng
như Nguyễn Trãi, Lê Lợi cùng với nghĩa quân Lam Sơn đã giành được thắng lợi to
lớn trước quân Minh. Nguyễn Trãi nhận được sự tin tưởng rất lớn từ Lê Lợi – lúc này
đã trở thành vị vua đứng đầu của Đại Việt. Tuy nhiên sau đó triều đình lại lục đục,
gian thần nhiễu nhương, Nguyễn Trãi quyết định về quê lánh đục tìm trong.
Thế nhưng, mong muốn ở ẩn rời xa thế sự của Nguyễn Trãi lại không trở thành hiện
thực vì ông lại bị vướng vào vụ án oan giết vua tại Lệ Chi Viên vào năm 1442, kết quả
nhận án tru di tam tộc. Nỗi oan thiên cổ của ông kéo dài đến tận năm 1464 thì mới
được vua Lê Thánh Tông minh oan.
Nguyễn Trãi để lại cho dân tộc một sự nghiệp sáng tác có giá trị trên nhiều lĩnh vực.
Ông sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm, cả thể loại văn chính luận và văn trữ tình. Đa
phần những tác phẩm của ông đều phục vụ đắc lực cho cuộc chiến đấu chống giặc
xâm lược và góp phần thể hiện những trải nghiệm, nỗi lòng của ông về đất nước và con người.
Khi thuyết minh về Bình ngô đại cáo, ta thấy tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” ra đời gắn
với hoàn cảnh đất nước ta vừa hoàn thành cuộc chiến đấu nhiều năm gian khổ chống
giặc Minh xâm lược. Sau chiến thắng đó, Nguyễn Trãi chính là người thay mặt cho Lê
Lợi viết nên tác phẩm nhằm mục đích tuyên bố với nhân dân cả nước về quyền độc
lập dân tộc. “Đại cáo bình Ngô” được công bố vào năm 1428, đây là một bản báo cáo
đã tổng kết quá trình kháng chiến giành thắng lợi và đồng thời cũng là một bản tuyên
cáo trong việc thành lập triều đại mới của đất nước – triều nhà Lê.
Tác phẩm được viết bằng một thể loại đặc biệt – thể cáo. Đây vốn là thể văn nghị luận
từ thời cổ ở Trung Quốc và thường được vua chúa, những người thủ lĩnh sử dụng để
trình bày một chủ trương, sự nghiệp hay tuyên ngôn những sự kiện trọng đại để mọi
người cùng biết. Thể loại cáo thường được trình bày dưới hình thức của văn vần, văn
xuôi nhưng phổ biến là văn biền ngẫu – thể văn lấy sự đối ý làm nguyên tắc cơ bản,
tạo cho lời văn sự nhịp nhàng cân đối. Cáo sử dụng lời lẽ đanh thép, lý luận sắc bén và
đặc điểm quan trọng nhất là có kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.
Nhan đề của tác phẩm Nguyễn Trãi đã cho người đọc hình dung về giá trị của tác
phẩm. Từ “đại cáo” trong nhan đề đã cho thấy đây không phải là bài cáo thông thường
mà là bài cáo mang tính quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó, dù là cuộc kháng chiến
chống giặc Minh xâm lược nhưng trong nhan đề lại có sự xuất hiện của từ “Ngô”, đây
cũng là điểm đáng chú ý. “Ngô” ở đây chính là cách gọi người Trung Quốc theo thói
quen của người Việt ta nhưng với một thái độ khinh bỉ và căm thù sâu nặng. Từ ngàn
xưa, giặc phương Bắc luôn có mưu đồ xâm chiếm đất nước ta, chúng khiến nhân dân
phải chịu cơ cực, lầm than khôn xiết. Chính vì thế nhân dân ta không một phút nguôi
hờn với sự bạo tàn, ngang ngược của chúng và giờ đây mọi căm phẫn, uất ức đều đổ
dồn lên kẻ thù trước mắt là giặc Minh.
Để khẳng định nền độc lập, mở đầu tác phẩm, Nguyễn Trãi đã nêu lên luận đề chính
nghĩa có ý nghĩa tất yếu:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Luận đề được nêu lên cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa dân, nước và sự nhân
nghĩa. Nhân nghĩa vốn là một quan niệm trong đạo Nho nói lên cách đối nhân xử thế
tốt đẹp dựa trên tình thương và đạo giữa người với người trong cuộc sống. Thế nhưng
trong thời buổi có giặc xâm lược, tác giả đã cụ thể hóa biểu hiện của một người biết
sống nhân nghĩa là hành động “trừ bạo” để “yên dân”. Đó chính là chân lí khách quan
phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Con dân đất Việt xông pha ra chiến
trường diệt giặc là điều tất yếu vì nước Việt là của người Việt, có chủ quyền độc lập
riêng. Điều này đã được khẳng định chắc chắn qua lịch sử, phong tục:
“Như nước Đại Việt ta từ trước.
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia.
Phong tục Bắc Nam cũng khác.”
Qua các triều đại và cả sự hiện diện của những anh hùng hào kiệt mỗi thời:
“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Song hào kiệt đời nào cũng có.”
Khi thuyết minh về Bình ngô đại cáo, ta nhận thấy bên cạnh việc khẳng định nền chủ
quyền, độc lập dân tộc, “Đại cáo bình Ngô” còn là một bản cáo trạng đanh thép đối
với những tội ác mà kẻ thù đã gây ra cho nhân dân ta suốt hai mươi năm dài xâm lược.
Trong những ngày đầu đặt chân lên đất nước vì muốn đô hộ ta, chúng đã tỏ rõ là
những kẻ xảo trá, bịp bợm:
“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa.”
Chúng ra sức bóc lột, đẩy nhân dân ta vào chỗ hiểm nguy:
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khi nỗi rừng sâu, nước độc.”
Tàn ác hơn, thâm độc hơn, chúng còn sẵn sàng hủy diệt sinh mệnh của con người
bằng những cách hung bạo:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.”
Giặt hiện lên quá với những hình ảnh ghê rợn:
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”
Thật sự những tội ác chất chồng mà chúng gây ra không thể nào đếm hết:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.”
Khi nói về tội ác của giặc, tác giả đã chọn cái vô hạn, khốn cùng của “trúc Nam Sơn”,
của “nước Đông Hải” cũng để nói về cái vô hạn, khôn cùng là tội ác và sự nhơ bẩn
của kẻ thù. Trong bản cáo trạng ấy, ta có thể thấy tác giả gửi gắm vào đó lúc là sự sục
sôi, căm phẫn, khi lại uất hận, nghẹn ngào. Tác giả đau đớn, cất tiếng kêu oán thán:
“Lẽ nào trời đất dung tha” – “Ai bảo thần nhân chịu được?” và điều đó cũng chính là
biểu hiện của tấm lòng luôn hướng đến quyền sống của người dân, luôn lo cùng nỗi lo
và đau cùng nỗi đau với nhân dân.
Với tội ác của giặc, quân dân ta đã nhất tề đồng lòng đứng lên chống lại giặc ngoại
xâm để bảo vệ nền độc lập. Những người anh hùng cứu nước, và đặc biệt là vị minh
soái tài ba Lê Lợi dù có xuất thân bình thường: “Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương mình”
Khi chiến đấu với kẻ thù lại trải qua muôn vàn khó khăn:
“Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.”
Có lúc phải đối diện với rất nhiều sự thiếu thốn về lương thực và cả lực lượng:
“Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện quân không một đội.”
Nhưng với tinh thần “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải
cạn”, với niềm tin “Trời thử lòng trao cho mệnh lớn”, quân ta đã đồng lòng “gắng chí
khắc phục gian nan”. Cuối cùng sau nhiều năm tháng người chủ tướng phải“đau lòng
nhức óc”, “quên ăn vì giận”, “trằn trọc trong cơn mộng mị”, “băn khoăn một nỗi đồ
hồi”…, quân dân ta đã đánh kẻ thù đến nỗi “sạch không kình ngạc”, “tan tác chim
muông”. Ta giành được độc lập, giặc thất bại ê chề là kết cục không thể khác hơn cho
cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa mà chúng gây ra. Tuy nhiên điều đáng nói ở đây
là mặc dù giặc độc ác, tàn nhẫn như thế vậy mà sau biết bao đau đớn, căm hờn, ta vẫn
lấy tấm lòng hiếu sinh để mở đường sống cho chúng. Như vậy, đến cuối cùng ta đã
dùng tấm lòng nhân đạo để hóa giải hận thù. Thế mới thấy lúc này cách hành xử với
tội ác của giặc đã khiến cho tinh thần nhân nghĩa của ta vươn lên một tầm cao mới.
Cuối cùng nền độc lập, tự do được xác lập lại cho đất nước sau rất nhiều đau thương
chính là kết quả tốt đẹp cho một dân tộc chiến đấu anh hùng và biết sống nhân nghĩa.
Thuyết minh về Bình ngô đại cáo không thể quên khi Nguyễn Trãi thay Lê Lợi bố cáo
rộng rãi cho quần chúng nhân dân:
“Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
Ngàn thu vết nhục sạch làu.”
Lời tuyên bố cho thấy một niềm tin mãnh liệt của tác giả về nền thái bình vững chắc,
lâu bền của dân tộc. Sau những ngày tháng sống cảnh áp bức, bóc lột tối tăm, mờ mịt,
quân dân ta đã tìm lại được ánh sáng cho sự sống của chính đất nước mình. Hai câu
kết của bài cáo vang lên cũng chính là sự khép lại của thời kì chiến đấu oanh liệt và sự
mở ra của một giai đoạn tươi sáng, phát triển:
“Một cố nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm;
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.”
Thuyết minh về Bình ngô đại cáo sẽ thấy ngoài những phương diện về nội dung, “Đại
cáo bình Ngô” còn xứng đáng là một kiệt tác bởi những đặc điểm độc đáo về nghệ
thuật. Viết tác phẩm, Nguyễn Trãi đã sử dụng lối viết có sự kết hợp uyển chuyển giữa
văn chương và chính luận. Ngoài ra, khi viết tác phẩm, Nguyễn Trãi còn sử dụng
giọng văn có sự biến đổi linh hoạt vô cùng, hình ảnh sử dụng trong bài cáo lại sinh
động và vô cùng hoành tráng.
Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng lối liệt kê hình tượng phong phú, đa dạng, thể
hiện sự tương phản trong kháng chiến giữa ta và địch. Đoạn viết về cuộc khởi nghĩa
của ta có thể xem là một trong những đoạn thơ đặc sắc về nghệ thuật của “Đại cáo bình Ngô”.
Nói như vậy là vì nhà thơ đã rất thành công trong việc thể hiện những phương thức
nghệ thuật về liệt kê hình ảnh và thủ pháp tương phản đối lập. Ta thì “điều binh thủ
hiểm”, “chặt mũi tiên phong”, “sai tướng chẹn đường”, “tuyệt nguồn lương thực”,
“bốn mặt vây thành”; địch thì “động binh không ngừng”, “đem dầu chữa cháy”. Lực
lượng của ta thì “sĩ tốt kén người hùng hổ, bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” còn nhìn quân
giặc thì chúng lại xuất hiện trong hình ảnh “thất thế”, “cụt đầu”, “đại bại tử vong”,
“cùng kế tự vẫn”…
Có thể thấy, với những giá trị trên đây, “Đại cáo bình Ngô” xứng đáng là một tác
phẩm lưu danh sử sách đến muôn đời. Bài cáo không chỉ khẳng định hùng hồn nền
độc lập, chủ quyền của đất nước mà còn góp phần thể hiện cuộc đấu tranh chống giặc
ngoại xâm kiên cường, bất khuất và tấm lòng nhân đạo, tinh thần nhân nghĩa của dân tộc ta…
Thuyết minh Đại cáo Bình Ngô - Mẫu 4
Trong dòng văn học yêu nước của dân tộc, có biết bao kiệt tác văn học đáng ngưỡng
mộ và tự hào. Ta thêm tự hào về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết qua những
trang sử vẻ vang viết về cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc. Đó là Nam Quốc sơn hà
của Lí Thường Kiệt, là Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, Tuyên ngôn độc
lập của Hồ Chí Minh,...Đặc biệt, một trong số đó phải kể đến Bình Ngô đại cáo của
Nguyễn Trãi, một tác phẩm bất hủ được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc.
Vào năm 1427, quân Minh do Mộc Thạnh và Liễu Thăng cầm đầu bị nghĩa quân Lam
Sơn đánh bại và thu phục. Tháng 12 năm 1427, Vương Thông đêm quân theo sông
Nhị Hà về nước theo lời ước giao hoà, được nghĩa quân Lam Sơn cấp lương thực và
vật dụng để trở về. Đến năm 1428, quân giặc dẹp yên, đất nước không còn bóng quân
Mình, Lê Lợi đã giao cho Nguyễn Trãi làm bài cáo để tổng kết cuộc đấu tranh, tuyên
bố thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống quân Minh.
Tác phẩm được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo. Khác với các thể loại khác, thể cáo
thường được sử dụng nhiều trong các sự kiện trọng đại để thông báo cho quốc gia, dân
tộc những nội dung quan trọng. Đây là loại văn hùng biện, chính luận nên ngôn từ
thường sâu sắc, lý lẽ sắc bén và lập luận logic, chắc chắn. Tác phẩm được viết bằng
chữ Hán và lấy nhan đề là "Bình Ngô đại cáo" với ý nghĩa tuyên bố đến toàn dân về
việc giặc Ngô đã được dẹp yên, đồng thời cũng thể hiện thái độ khinh bỉ trước tội ác
quân giặc, những kẻ nhởn nhơ làm điều phi nghĩa cuối cùng cũng bị đánh bại.
Bình Ngô Đại cáo được phân làm 4 phần với những nội dung lớn. Phần thứ nhất từ
đầu đến "Chứng cớ còn ghi", trong phần này, tác giả đã nêu lên luận đề chính nghĩa,
cốt lõi của cuộc chiến đấu là vì nhân dân, tư tưởng nhân dân chính là "việc nhân
nghĩa" khi bước vào cuộc chiến. Đây là một luận đề phù hợp để mở đầu cho tác phẩm,
bởi một cuộc chiến xuất phát từ lợi ích của nhân dân, vì nhân dân và dân tộc thì luôn
luôn là cuộc chiến chính nghĩa, trong đó "trừ bạo", diệt giặc là công việc tiên quyết
hàng đầu lúc bấy giờ. Mặt khác, cũng trong đoạn này Nguyễn Trãi đặt đất nước ta
sánh ngang với các triều đại phương Bắc để khẳng định nền độc lập, sự bình đẳng của
Đại Việt với các triều đại phương Bắc. Chứng minh và khẳng định hùng hồn Đại Việt
gắn với nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, có lịch sử vẻ
vang, hào hùng và những nhân tài, anh kiệt ngàn đời. Các yếu tố ấy là làm nên một
Đại Việt vẻ vang, độc lập và hiên ngang trước thế giới, trước các triều đại phương Bắc.
Đoạn thứ hai từ "Vừa rồi" đến "Ai bảo thần dân chịu được" Sau khi nêu luận đề chính
nghĩa, Nguyễn Trãi khéo léo vạch trần việc làm "phi nghĩa" của bè lũ giặc Minh cướp
nước. Bằng giọng điệu gay gắt, ngôn ngữ đanh thép, tội ác giặc Minh được phơi bày
như một bản kết tội sự tàn nhẫn dành cho chúng:
"Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời."
Sự tàn độc của chúng đạt đến tột đỉnh khi âm mưu giả dối, hành động phi nhân, vô
đạo đức. Chúng giết người tàn bạo, không nương tay cho kẻ nghèo hèn, khốn khó,
chúng thi hành bao chính sách tàn ác, dã man, khiến nhân dân phải chịu nỗi đau tinh
thần lần nỗi đau thể xác:
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ"
Càng vạch trần sự bạo tàn của quân thù, tác giả càng bày tỏ xót xa, đau đớn đến nghẹn
ngào trước những nỗi khổ đau, nhọc nhằn mà nhân dân phải chịu đựng. Tiếng thơ vừa căm phẫn, vừa xót xa.
Đoạn thứ ba chiếm số lượng câu từ lớn nhất, từ "Ta đây núi Lam Sơn dấy nghĩa" đến
"Cũng chưa thấy xưa nay" Nguyễn Trãi đã dùng trang dài nhất để tổng kết lại cuộc
chiến đấu vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn vừa qua. Một lần nữa khẳng định sức
mạnh dân tộc, ý chí chiến đấu mãnh liệt của dân tộc và kết quả tất yếu mà Đại Việt
xứng đáng nhận được. Cuộc chiến đấu nào lúc bắt đầu cũng gặp nhiều khó khăn,
nghĩa quân Lam Sơn cũng không nằm ngoài việc ấy. Ban đầu, quân ta phải đối mặt
với vấn đề lương thực, vũ khí thiếu thốn, đội quân còn ít ỏi, thưa thớt, người tài, tuấn
kiệt thì hiếm hoi. Nhưng "trong cái khó ló cái khôn", khó khăn ấy không làm nghĩa
quân nhụt chí mà trái lại họ dùng trí tuệ để tìm ra những chiến thuật hay trong đánh trận.
"Lấy yếu thắng mạnh
Lấy ít địch nhiều"
Cùng với người lãnh đạo anh minh, sáng suốt, nghĩa quân ngày một lớn mạnh, sức
chiến đấu hăng say. Thắng lợi liên tiếp, càng đánh càng hăng, thu về bao chiến công
giòn giã. Quân Minh thất bại trong nhục nhã ê chề, kẻ phi nghĩa làm sao có thể tránh
khỏi hai từ "thất bại".
Đoạn cuối bài cáo, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi tuyên bố hùng hồn về việc kết thúc
chiến tranh và khẳng định nền độc lập, thái bình vững bền của dân tộc.
Bình Ngô đại cáo chiếm trọn tình cảm của nhân dân và của người đọc qua bao thế hệ
không chỉ bởi nội dung sâu sắc mà còn tài năng nghệ thuật tài tình của tác giả Nguyễn
Trãi. Bài cáo giàu sức thuyết phục bởi ngôn từ sắc bén, lí lẽ chính xác, lập luận đúng
đắn. Các hình ảnh, hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi, lối viết giàu cảm xúc. Các thủ
pháp liệt kê, so sánh, đối lập,....được vận dụng linh hoạt, phù hợp. Giọng điệu thơ thay
đổi linh hoạt, khi căm phẫn trước sự man rợ quân thù, khi xót xa, đồng cảm trước khổ
đau nhân dân, khi mãnh liệt sục sôi trong tái hiện cuộc chiến đấu, khi lại hùng hồn,
trình trọng để tuyên bố hòa bình, dẹp yên bóng giặc.
Tác phẩm Đại cáo bình Ngô là áng văn giàu giá trị và chứa chan lòng yêu nước của
nền văn học Việt Nam. Đọc bài cáo, em hiểu thêm về những nỗi đau của nhân dân,
hiểu thêm về lịch sử huy hoàng của dân tộc. Và qua đó, em ý thức hơn về trách nhiệm
của bản thân mình khi sống trong thời đại hôm nay, phải biết yêu quê hương đất nước,
biết sống hết mình để dựng xây và phát triển quê hương, xứng đáng với bao hy sinh của cha anh đi trước.
Thuyết minh bài Đại Cáo Bình Ngô - Mẫu 5
Là một tác gia lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi đã để lại cho
thế hệ mai sau, cho nền văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ, ấn tượng.
Văn chương của ông gắn liền với số phận con người. Nổi bật trong số đó chính là áng
thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo”.
Là một áng văn lưu danh thiên cổ khi nó tổng kết lại quá trình kháng chiến chống
quân Minh xâm lược trong mười năm của nghĩa quân lam Sơn. Đồng thời, bài cáo còn
thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn của quân và dân, truyền thống bảo vệ nền độc
lập dân tộc bất khuất và tinh thần nhân nghĩa, vì nhân dân, vì con người xuyên suốt cả
tác phẩm. Với bút pháp chính luận kết hợp với trữ tình qua giọng văn truyền cảm,
mạnh mẽ, Bình Ngô đại cáo xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn”, được người đọc ca tụng muôn đời.
Bài cáo được viết bằng lối văn biền ngẫu thông dụng, dùng để thông báo, tuyên bố về
một sự kiện trọng đại của quốc gia, của dân tộc. Đồng thời, bài cáo giữ một vai trò
quan trọng trong phương diện lịch sử trong thời hiện đại khi thể loại cáo gần như đã
dần thất truyền sau chế độ phong kiến tan rã. Thừa lệnh lãnh tụ Lê Lợi, Nguyễn Trãi
viết Bình Ngô đại cáo vào đầu năm 1428 nhằm tuyên cáo nhân dân về chiến thắng vẻ
vang của nghĩa quân Lam Sơn, khẳng định nền độc lập, hòa bình của dân tộc, buộc
quân Minh ký kết hòa ước, rút quân về nước, kết thúc một thời kỳ đen tối của nước
nhà và mở ra một thời đại thịnh vượng, phồn vinh cho đất nước ta.
Bài cáo có bố cục chặt chẽ, mạnh lạc thông qua việc chia tách thành bốn đoạn. Đoạn
đầu phát xuất từ căn nguyên của cuộc khởi nghĩa, là tư tưởng nhân nghĩa trong việc
thành lập căn cứ chính thống của nghĩa quân Lam Sơn. Đoạn hai là vạch trần tội ác, sự
tàn bạo, điên cuồng trong việc coi rẻ mạng sống con người cùng âm mưu xâm lược trơ
trẽn của quân Minh. Đoạn thứ ba là về quá trình kháng chiến gian khổ và chiến thắng
vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn. Và đoạn cuối cùng là về việc tuyên cáo nền độc lập
dân tộc, về việc khẳng định nền hòa bình dân tộc, mở ra một thời kỳ yên bình, không
còn bóng dáng quân xâm lược trên đất nước ta.
Xuyên suốt trong cả bốn đoạn, bài cáo xoay quanh bốn cảm hứng nhân văn như trong
bất kỳ cuộc kháng chiến, chống quân xâm lược nào. Chúng bao gồm tư tưởng nhân
nghĩa, ý chí, lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, giành lại
nền độc lập, hòa bình của nghĩa quân và cảm hứng độc lập cùng niềm tin vững chắc
vào tương lai tươi sáng của đất nước phía trước. Bài cáo kết lại trong viễn cảnh huy
hoàng, trong sự tươi sáng của non sông gấm vóc.
Bài cáo không chỉ thành công về mặt thể loại mà còn thành công trong nội dung, trong
nghệ thuật, trong giọng điệu linh hoạt cũng như ý chí sục sôi, căm thù giặc như bao
tác phẩm lịch sử viết về chiến tranh khác. Thấu hiểu về lịch sử, thấu hiểu về nhân tâm,
bằng tài trí của mình, Nguyễn Trãi đã thành công viết nên tác phẩm để đời, một tác
phẩm làm thổn thức trái tim người đọc qua, một tác phẩm vượt thời đại. Ông cùng với
tác phẩm Bình Ngô đại cáo xứng đáng là trụ cột của văn học trung đại Việt Nam, là
niềm tự hào, kiêu hãnh của con dân đất Việt.
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 6
Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt
Nam, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi được đánh giá là áng "thiên cổ hùng văn",
là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.
"Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm
1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng
lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền
độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi -62 là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài
hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc
kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn
chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam.
Tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có
nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có
nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân
tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên
bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược.
Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử
dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.
Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến,
đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên
dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo" và "Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu".
Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược.
Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp
nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn
văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị
của kẻ thù: "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai
vạ"; "Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm". Đoạn
văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn
thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi
nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào
thế yếu "Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội",
"Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu", "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít
địch nhiều"…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước
"Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống", biết đoàn kết
lòng dân "Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào", dùng chiến
thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành "Sĩ khí đã hăng, quân
thanh càng mạnh"và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội "Đánh một trận sạch
không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông", giặc Minh thì liên tiếp thất bại,
thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết
nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn
thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc
ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về
nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh,
khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương
lai tươi sáng của dân tộc.
Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn
chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động.
Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi,
mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh
hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống
thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó
khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố
độc lập của dân tộc, đất nước.
"Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại
của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học,
không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân
tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng
trước những câu văn hùng hồn:
"Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có…"
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 7
Nguyễn Trãi là một tác gia lớn của nền văn học trung đại Việt Nam. Ông đã để lại cho
hậu thế một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ. Nhưng dường văn chương của ông dường
như cũng chịu chung số phận như con người – phải trải qua bao phen thăng trầm chìm
nổi. Trong đó, “Bình Ngô đại cáo” - viết sau đại thắng năm 1427, là bản tổng kết xuất
sắc quá trình kháng chiến mười năm, không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước bảo vệ
độc lập, truyền thống bất khuất chống ngoại xâm, còn đặc biệt nêu cao “chí nhân, đại
nghĩa” như một giá trị văn hóa ngời sáng của dân tộc Đại Việt. Với bút lực hào hùng
và lời văn truyền cảm mạnh mẽ, tác phẩm đã trở thành một áng “thiên cổ hùng văn”.
Bình Ngô đại cáo là thông báo bằng văn bản và được viết theo bằng văn biền ngẫu,
theo thể cáo – thường dùng để thông báo sự kiện quan trọng của quốc gia, dân tộc.
Nguyên tác được viết bằng chữ Hán, và được các học giả như Ngô Tất Tố, Bùi Kỷ,
Trần Trọng Kim dịch sang tiếng Việt ngày nay. Tác phẩm có giữ một vị trí quan trọng
về phương diện lịch sử lẫn phương diện văn học. Ức Trai đã thừa lệnh Lê Lợi viết tác
phẩm vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của
nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước,
nước ta bảo toàn được nền độc lập, hòa bình.
Nhan đề cho thấy đây là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô -một tên
gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc,
khắc họa, lên án, tố cáo tội ác của giặc và khẳng định chủ quyền dân tộc. Chính vì
vậy, bài cáo xoay quanh các cảm hứng chính sau đây: cảm hứng về chính nghĩa (nhận
thức sâu sắc về nguyên lí chính nghĩa và thái độ khẳng định sức mạnh của nguyên lý
đó); cảm hứng căm thù giặc xâm lược; cảm hứng về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, về tinh
thần quyết chiến quyết thắng của nhân dân Đại Việt; cảm hứng độc lập dân tộc và
tương lai đất nước. Với bốn cảm hứng đó, bài cáo thường được chia thành bốn phần
tương đương. Phần 1 là nêu luận đề chính nghĩa (Từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”).
Phần 2 là lên tiếng tố cáo tội ác, vạch trần âm mưu xâm lược Đại Việt với cớ phù Trần
diệt Hồ của giặc (tiếp theo phần 1 cho đến “Ai bảo thần dân chịu được”). Phần 3 là
quá trình kháng chiến và sự thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn (tiếp theo phần 2 đến
“cũng là chưa thấy xưa nay”). Phần còn lại - phần 4 là phần nêu ra bài học lịch sử và
sự khẳng định chính nghĩa sẽ thắng thế lực phi nghĩa, bất nhân.
Mở đầu Bình Ngô đại cáo, tác giả Nguyễn Trãi đã nêu nguyên lí chính nghĩa làm chỗ
dựa, làm nền tảng xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Tiếp thu từ tinh
thần Nho giáo cùng với sự phát triển nội dung nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã nêu ra một
luận đề có tính dân tộc:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Với Nguyễn Trãi, việc trước hết là “trừ bạo” để nhân dân có được một cuộc sống yên
ổn, ấm no, hạnh phúc. Ông cho rằng nếu muốn trị vì thiên hạ thì việc phải nghĩ đến
đầu tiên chính là “nhân nghĩa”. Dân tộc ta chiến đấu chống xâm lược là nhân nghĩa, là
phù hợp với nguyên lí chính nghĩa. Sau đó, tác giả nêu lên chân lý khách quan về sự
tồn tại độc lập của nước Đại Việt, sự tồn tại đó như có cơ sở chắc chắn từ tháng ngày lịch sử:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”
Ở phần 2 – cảm hứng căm thù giặc xâm lược, Nguyễn Trãi đã thể hiện lòng uất hận
sục sôi, viết nên một bản cáo trạng đanh thép với một trình tự tư duy logic: vạch trần
âm mưu xâm lược, lên án chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh mẽ những hành
động tội ác. Qua việc phân tích luận điệu bịp bợm “phù Trần diệt Hồ”, tác giả đi sâu
những việc làm phi nhân, diệt chủng:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Tội ác của chúng được ghi lại bằng cái vô cùng, vô hạn:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi”
Ở phần 3, với nguồn cảm hứng dồi dào, phong phú, Nguyễn Trãi đã khắc họa lại quá
trình gian nan, vất vả của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Chính những gian khổ ngày đầu
đã dẫn đến thắng lợi vẻ vang về sau. Cảm hứng anh hùng ca bao trùm toàn bộ đoạn
trích. Những chiến công thần tích được miêu tả một cách dồn dập. Nhạc điệu trong
câu sảng khoái, hào hùng như sóng triều dâng:
“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông cũng phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chim muông”
Và ở phần 4 – phần kết thúc, Nguyễn Trãi đã không giấu được niềm vui chung của
dân tộc, thay lời Lê Lợi trịnh trọng tuyên bố nền độc lập lâu dài:
“Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh”
Từ đó, ta thấy được viễn cảnh huy hoàng, tươi sáng của non sông xã tắc. Hiện thực
hôm nay chính là nhờ những ngày tháng đau thương của quá khứ “Muôn thuở thái
bình vững chắc”. Lời kết thúc “Xa gần bá cáo/ Ai nấy đều hay” đã sẻ chia sự vui
mừng, niềm tự hào và niềm tin về ngày mai, về tương lai đất nước.
Bài cáo đã thể hiện thành công những đặc sắc về thể loại. Bên cạnh đó, giọng điệu
thay đổi linh hoạt trong mỗi phần, khi cao tràn uất hận, khi hào hùng dữ dội, khi cuồn
cuộn như sóng triều dâng trên đề tài lịch sử - văn học đã để lại những ấn tượng sâu sắc
cho người đọc. Sự am hiểu hơn người của Nguyễn Trãi về lịch sử, về điển cố, điển
tích đã mang lại tính thuyết phục, hấp dẫn hơn cho tác phẩm.
“Bình Ngô đại cáo” từ khi ra đời đã được xem làm một bản tuyên ngôn độc lập của
dân tộc, vừa tố cáo tội ác của giặc Minh vừa khẳng định được độc lập chủ quyền dân
tộc. Đã qua bao thăng trầm biến đổi nhưng giá trị của “Bình Ngô đại cáo” vẫn tồn tại
cho đến ngày hôm nay và Nguyễn Trãi – nhà quân sự tài ba, nhà chính trị lỗi thời, nhà
thơ, nhà văn xuất sắc sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lòng mỗi người con nước Việt.
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 8
Nguyễn Trãi là một trong số những tác gia lớn, tiêu biểu của nền văn học Việt Nam
với nhiều tác phẩm đặc sắc được viết bằng cả chữ Nôm và chữ Hán. Đọc những tác
phẩm của Nguyễn Trãi, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra tấm lòng thương dân ái quốc,
tình yêu thiên nhiên tha thiết và đặc biệt là tư tưởng thân dân. Và có thể nói “Bình
Ngô đại cáo” là tác phẩm thể hiện một cách sâu sắc và trọn vẹn tư tưởng ấy của Nguyễn Trãi.
Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo’’ ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Sau khi đánh
tan giặc Minh xâm lược, Vương Thông phải chấp nhận giảng hòa và buộc quân Minh
phải rút quân về nước, đất nước ta độc lập, sạch bóng quân thù. Trong hoàn cảnh lịch
sử ấy, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” hay còn gọi
là “Đại cáo Bình Ngô” và chính thức công bố trước toàn thể nhân dân vào tháng Chạp,
năm Đinh Mùi, tức là vào đầu năm 1428. Tác phẩm ra đời như một bản tuyên ngôn
độc lập của dân tộc ta.
“Bình Ngô đại cáo” được tác giả Nguyễn Trãi viết bằng thể cáo – một thể loại văn học
lớn có nguồn gốc từ Trung Hoa. Đi sâu tìm hiểu, khám phá về thể loại văn học này,
chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng cáo là thể văn được viết bằng chữ Hán, có thể được
viết bằng văn xuôi hoặc văn vần nhưng có lẽ phổ biến hơn cả là văn biền ngẫu. Cáo là
thể văn thường được vua, chúa hoặc thủ lĩnh dùng để thông báo rộng rãi tới toàn thể
mọi người một sự việc hay một vấn đề trọng đại nào đó. Cũng như nhiều thể loại văn
học thời cổ khác, cáo cũng đòi hỏi kết cấu chặt chẽ, mạch lạc, lập luận sắc bén và lí lẽ
thuyết phục. Và có thể nói, với những đặc điểm của thể cáo nếu trên thì “Bình Ngô đại
cáo” của Nguyễn Trãi là tác phẩm hội tụ khá đầy đủ và rõ nét những đặc điểm của thể loại văn học này.
Thêm vào đó, bài cáo được chia làm bốn phần, với bố cục mạch lạc, rõ ràng. Đoạn mở
đầu của bài cáo đã nêu lên luận đề chính nghĩa để làm cơ sở, nền tảng vững chắc cho
bài cáo. Luận đề chính nghĩa ấy chính là sự kết hợp giữa tư tưởng thân dân với độc lập dân tộc:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Sau khi nêu lên luận đề chính nghĩa làm cơ sở, trong đoạn hai của bài cáo, tác giả
Nguyễn Trãi đã vạch rõ những tội ác man rợ, dã man của kẻ thù. Đó là những hành
động sát hại, giết những người dân một cách tàn nhẫn và độc ác “Nướng dân đen trên
ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Đó còn là những chính sách
thuế khóa vô lý, phá hoại môi trường, sự sống, bóc lột tài nguyên thiên nhiên và sức
lao động của những người dân vô tội. Tất cả, tất cả những tội ác man rợ ấy của bọn
giặc đã được tác giả tái hiện lại một cách chân thực, rõ nét bằng hàng loạt các dẫn
chứng sắc sảo, lí lẽ thuyết phục. Đồng thời, trong đoạn thứ hai, tác giả còn làm bật nổi
ý chí và lòng căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta. Tiếp đó, trong đoạn thứ ba của tác
phẩm, tác giả đã tái hiện lại một cách chân thực, sâu sắc và rõ nét quá trình chiến đấu,
chinh phạt với thật nhiều những khó khăn, vất vả và sự tất thắng của quân và dân ta.
Ban đầu, cuộc chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn gặp phải thật nhiều những khó
khăn, thiếu thốn trăm bề – thiếu lương thực, thực phẩm, thiếu nhân lực và có những
nghĩa quân của ta ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện
quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy
yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”… Nhưng rồi, với sự lãnh đạo tài tình của vị lãnh tụ
Lê Lợi và ý chí quyết tâm, sự cố gắng của mình, nghĩa quân và toàn thể nhân dân đã
chiến đấu hết sức mình và giành được thắng lợi vẻ vang “Đánh một trận sạch không
kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông” và buộc quân Minh từng bước, từng
bước một đầu hàng, chấp nhận thua cuộc và rút quân về nước. Trên cơ sở nêu lên luận
đề chính nghĩa, vạch rõ tội ác của kẻ thù cũng quá trình chiến đấu của quân và dân ta,
đoạn văn khép lại bài cáo chính là lời tuyên bố độc lập, khẳng định sự nghiệp chính
nghĩa. Có thể nói, đoạn cuối cùng của bài cáo đã cất lên lời tuyên bố trịnh trọng về
việc kết thúc chiến tranh, khẳng định hòa bình của dân tộc và niềm tin vào tương lai
tươi sáng, tốt đẹp cho nhân dân, cho đất nước.
Không dừng lại ở đó, bài cáo còn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, người
nghe bởi những thành công, hấp dẫn về nghệ thuật. Trước hết, thành công của bài cáo
chính là ở việc kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa và hợp lý giữa yếu tố chính luận với
yếu tố văn chương với nhiều hình ảnh độc đáo, hấp dẫn, chính điều đó đã làm cho bài
cáo để lại nhiều ấn tượng hơn với người nghe. Thêm vào đó, bài cáo còn có giọng
điệu hết sức linh hoạt, đa dạng, phù hợp với từng nội dung mà báo cáo thể hiện – tự
hào về truyền thống văn hóa, lịch sử ngàn đời của dân tộc, căm phẫn khi vạch rõ tội ác
của kẻ thù, trịnh trọng, nghiêm trang khi tuyên bố độc lập.
Tóm lại, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là một trong số những tác phẩm xuất
sắc của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn”, là
bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Việt Nam anh hùng, bất khuất.
Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 9
Trong “Nước Đại Việt ta”(trích “Bình Ngô đại cáo”) Nguyễn Trãi có viết: “Tuy mạnh
yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có”.
Từ buổi sơ khai cho đến tận bây giờ có hai thứ thuộc trong ngũ hành luôn là khắc tinh
của nhau, đó chính là nước và lửa. Nước tuôn trào mãnh liệt, lửa bùng cháy dữ dội,
giữa chúng luôn có sự đối lập gay gắt nên mới có thành ngữ “khác nhau như nước với lửa”.
Dẫu biết rằng nước có thể dập lửa, nhưng khi lửa mạnh cháy lớn, nước lại có hạn thì
biết cái nào át cái nào? Tất cả họ là những anh hùng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ
Quốc, là những nhà lãnh đạo những nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sử VN ta
phải ghi nhận sự vượt trội về trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc
đến Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần. Hào kiệt là
những người kiệt xuất, có tài cao chí lớn hơn người. Họ thường giỏi giang hoặc có khả
năng đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó. Còn khái niệm “mạnh - yếu” ở đây chỉ sự
hùng mạnh, hưng thịnh của một đất nước. Chẳng hạn, dưới triều đại nhà Lý nước ta là
một cường quốc cỡ Đông Nam á, được các lân bang nể trọng. Hay dưới thời nhà Trần
đất nước ta cũng được xem là nước mạnh vì đã ba lần đánh bại được quân Mông
Nguyên nổi tiếng lớn mạnh và tàn bạo. Khoa học có nhà toán học Lương Thế Vinh
với “Đại Thành Toán Pháp” hay Lê Quý Đôn, nhà bác học trẻ tuổi. còn về mặt khoa
cử, văn hóa có Nguyễn Hiền là người đỗ trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam. Thế
mới biết mạnh yếu là vô chừng, mạnh yếu còn phụ thuộc vào hoàn cảnh phụ thuộc
vào thời gian. Đất nước ta cũng vậy, có lúc mạnh nhưng cũng có lúc yếu. Nhưng dù
mạnh hay yếu, thời nào dân tộc ta cũng không thiếu những anh hùng hào kiệt. Và anh
hùng hào kiệt chính là những người đã làm nên đất nước. Với quan niệm nhân văn
đúng đắn và tiến bộ ấy, trong “Nước Đại Việt ta”(trích “Bình Ngô đại cáo”), Nguyễn
Trãi đã khẳng định đất nước ta:
“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Vậy “hào kiệt” là gì? Hào kiệt là những người kiệt xuất, có tài cao chí lớn hơn người.
Họ thường giỏi giang hoặc có khả năng đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó. Còn khái
niệm “mạnh - yếu” ở đây chỉ sự hùng mạnh, hưng thịnh của một đất nước. Chẳng hạn,
dưới triều đại nhà Lý nước ta là một cường quốc cỡ Đông Nam á, được các lân bang
nể trọng. Hay dưới thời nhà Trần đất nước ta cũng được xem là nước mạnh vì đã ba
lần đánh bại được quân Mông Nguyên nổi tiếng lớn mạnh và tàn bạo. Nhưng cũng
không ít khi do vua quan hưởng lạc nên nước ta suy yếu để kẻ thù phương Bắc lăm le
dòm ngó. Song đúng như Nguyễn Trãi đã viết trong áng hùng văn của mình là nước ta
không đời nào không có anh những anh hùng hào kiệt. Ta có thể nhận thấy điều đó
qua thực tế dựng nước giữ nước bốn ngàn năm của dân tộc.
Từ buổi sơ khai lịch sử trước công nguyên, chúng ta đã được nghe nhắc đến những vị
nữ nhi nhưng không phế “thường tình”chút nào đó là Bà Trưng, Bà Triệu – những vị
anh hùng đã có công đánh đuổi quân thù giành lại độc lập cho đất nước. Hay Ngô
Quyền trí dũng song toàn đã từng đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng lịch sử
vào năm 938. Rồi những Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, những Lê Lợi, Nguyễn
Trãi mãi mãi được nhắc tên với công lao đánh đuổi quân thù bảo vệ độc lập tự do cho
non sông đất nước, tô đậm những nét son hồng trong trang sử vàng của dân tộc. Tất cả
họ là những anh hùng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, là những nhà lãnh đạo
những nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sử VN ta phải ghi nhận sự vượt trội về
trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc đến Hải Thượng Lãn Ông Lê
Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần. Khoa học có nhà toán học Lương Thế Vinh
với “Đại Thành Toán Pháp” hay Lê Quý Đôn, nhà bác học trẻ tuổi. còn về mặt khoa
cử, văn hóa có Nguyễn Hiền là người đỗ trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam....
Đó là chuyện xưa, còn ngày nay thì sao? Người xứng đáng để dân tộc ta ngưỡng mộ
đầu tiên phải kể đến Hồ Chủ Tịch vĩ đại, người đã chèo lái con thuyền Việt Nam cập
bến vinh quang. Không chỉ giỏi về quân sự, Người còn là nhà ngoại giao, nhà báo, nhà
văn, nhà thơ được nhiều người nể phục. Trợ thủ đắc lực bên cạnh Bác phải kể đến đại
tướng Võ Nguyên Giáp, nhà quân sự đại tài đã chỉ huy thành công hai cuộc kháng
chiến chống Pháp chống Mỹ khiến nhân nhân dân thế giới phải khâm phục nể vì.
Trong lĩnh vực y học ta không thể không nhắc tới bác sĩ Tôn Thất Tùng đã thành công
trong cấy ghép gan khô và trở thành bác sĩ mổ gan giỏi nhất thế giới. Về lĩnh vực âm
nhạc, gần đây ta có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với hơn 600 ca khúc các loại, được mệnh
danh là Mô-da của Việt Nam. Rồi những Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, những
Lê Lợi, Nguyễn Trãi mãi mãi được nhắc tên với công lao đánh đuổi quân thù bảo vệ
độc lập tự do cho non sông đất nước, tô đậm những nét son hồng trong trang sử vàng
của dân tộc. Tất cả họ là những anh hùng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, là
những nhà lãnh đạo những nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sử VN ta phải ghi
nhận sự vượt trội về trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc đến Hải
Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần.
Thế còn trong thập niên đầu của thế kỷ XXI này thì sao? Chúng ta có quyền tự hào về
giáo sư Ngô Bảo Châu, người châu Á thứ hai được nhận giải thưởng danh giá về công
trình nghiên cứu toán học.
Những con người có tài cao chí lớn sẽ góp phần làm vẻ vang dân tộc vẻ vang cho đất
nước. Điển hình như Trần Hưng Đạo lãnh đạo quân ta đánh bại quân Mông Nguyên
lúc bấy giờ đã chiếm gần hết châu Á và đang bành trướng đến Châu Âu, khắp nơi đều
in dấu chân của chúng. Nhờ sự kiện đó mà Đại Việt ta được biết đến một cách vẻ
vang. Hoặc như Chủ Tịch HCM đã lãnh đạo dân ta đánh bại Thực Dân Pháp, phát xít
Nhật, làm rạng danh đất nước. Nhờ công lao thành quả họ đạt được mà hôm nay
chúng ta có quyền tự hào. Giáo sư Ngô Bảo Châu trong một lần phát biểu trên truyền
hình, ông đã nói rằng ông đi nước ngoài rất nhiều và ông cảm thấy hãnh diện khi cầm
trên tay tấm hộ chiếu Việt Nam.
Tuổi trẻ chúng ta muốn giúp ích cho nước nhà thì phải trở thành những con người tài
cao chí lớn. Muốn vậy thì ngay từ bây giờ phải ra sức học tập, tìm hiểu những cái mới
cho kịp với thời đại. Có như vậy sau này chúng ta mới có thể đóng góp công sức để
phát triển nước nhà đưa nước nhà tiến lên “đài vinh quang” sánh vai cùng các cường
quốc. Rồi những Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, những Lê Lợi, Nguyễn Trãi mãi
mãi được nhắc tên với công lao đánh đuổi quân thù bảo vệ độc lập tự do cho non sông
đất nước, tô đậm những nét son hồng trong trang sử vàng của dân tộc. Tất cả họ là
những anh hùng hào kiệt về chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, là những nhà lãnh đạo những
nhà quân sự tài ba. Xét về giáo dục, lịch sử Việt Nam ta phải ghi nhận sự vượt trội về
trí tuệ của thầy giáo Chu văn An. Về y học phải nhắc đến Hải Thượng Lãn Ông Lê
Hữu Trác hay danh y Tuệ Tĩnh đời Trần.
Cũng đã 600 năm từ ngày vụ án Lệ Chi Viên diễn ra, Nguyễn Trãi đã ra đi trong án
oan giết vua, song các tác phẩm của ông sẽ còn sống mãi và điển hình như “Bình Ngô
Đại Cáo”. Câu nói “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”
là hoàn toàn đúng đắn, và cho đến tận ngày nay câu nói đó vẫn giữ nguyên giá trị đúng đắn ban đầu.
Thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 10
Bình Ngô đại cáo là áng “thiên cổ hùng văn” thể hiện thiên tài của Nguyễn Trãi, đỉnh
cao về tư tưởng, và nghệ thuật của nền văn hiến Đại Việt trong thế kỉ XV. Cùng với
Lam Sơn thực lục, Quân trung từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập... Bình
Ngô đại cáo đã làm cho ngôi sao Khuê trở nên chói sáng và lấp lánh ngàn thu.
Mùa xuân năm 1428, cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh xâm lược hoàn toàn
thắng lợi. Nguyễn Trãi đã thay lời Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo tổng kết cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc “nên công oanh liệt ngàn năm”, tuyên bố nước Đại Việt bước
vào một kỉ nguyên mới độc lập bền vững, “muôn thuở nền thái bình vững chắc".
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Dấy quân khởi nghĩa vì thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt bọn giặc
tàn bạo, đem lại cuộc sống yên vui cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa.
Nhân nghĩa vẫn là học thuyết của Nho giáo đề cao đạo đức, tình nhân ái giữa con
người với nhau. Nguyễn Trãi đã tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo theo
hướng lấy lợi ích của nhân dân và của dân tộc làm gốc. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa
là yêu nước, thương dân, phải đánh giặc để cứu nước, cứu dân; “triết lí nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi chẳng qua là lòng yêu nước thương dân: Cái nhân nghĩa lớn nhất là phấn
đấu đến cùng, chống ngoại xâm, diệt tàn bạo, vì độc lập của đất nước, hạnh phúc của
nhân dân” (Phạm Văn Đồng). Trong nhiều bức thư gửi tướng tá giặc Minh, Nguyễn
Trãi đã đứng trên lập trường nhân dân và dân tộc, nêu cao nhân nghĩa, vạch trần tội ác
và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của bè lũ chúng: “Nước mắt nhân dịp họ Hồ lỗi đạo,
mượn tiếng là “điếu dân phạt tội’’, kỳ thực làm việc bạo tàn, ăn cướp nước ta, bóc lột
nhân dân tư, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn các làng không được sống
yên. Nhân nghĩa mù lại thế ư?” (Lại thư trả lời Phương Chính).
Trên lập trường nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã khẳng định nền văn hoá Việt Nam, nền
văn hiến Đại Việt và con người Việt Nam, một dân tộc văn minh, anh hùng. Lần đầu
tiên trong lịch sử tư tưởng, Nguyễn Trãi đại diện cho đất nước chiến thắng đã nêu cao
giá trị lớn lao của truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần, bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên,
Mỗi bên xưng để một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có Nền văn hiến Đại Việt, nền “văn hoá Thăng Long”
được hình thành, xây dựng và phát triển qua một quá trình lịch sử “đã lâu”, đã có “từ
trước” đằng đẵng mấy nghìn năm. Đại Việt không chỉ có lãnh thổ chủ quyền “núi
sông bờ cõi”, mà còn thuần phong mỹ tục mang bản sắc riêng, có lịch sử riêng, chế độ
riêng “bao giờ gây nền độc lập”, đã từng “xưng đế một phương”, có nhiều nhân tài,
hào kiệt. Phải có mấy trăm năm độc lập dưới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..., phải
có những trang sử vàng chói lọi (Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đỏ, Ô
Mã Nhi bị giết tươi, bị bắt sống...) phải có những con người “trí mưu tài thức” đã làm
nên “thi thư” của Đại Việt, của nền văn minh sông Hồng, thì Nguyễn Trãi mới có thể
viết nên những lời tuyên ngôn đĩnh đạc hào hùng như vậy. Nếu như bốn trăm năm về
trước, trong Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt chí mới xác định được hai nhân tố về
lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia và lập trường dân tộc, thì trong Bình Ngô
đại cáo, Nguyễn Trãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, đó là: văn hiến, phong tục,
lịch sử và nhân tài. Điều đó cho thấy ý thức dân tộc của nhân dân ta đã phát triển trên
một tầm cao mới trong thế kỉ XV, và đó cũng là tinh anh, tinh hoa của tư tưởng Nguyễn Trãi.
Năm 1407, nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạnh mang mấy chục vạn quân kéo sang
xâm lược nước ta. Lúc đầu thì lấy cớ “phù Trần diệt Hồ”, nhưng sau đó, chúng đã chia
đất nước ta thành quận huyện, thi hành một chính sách cai trị vô cùng độc ác:
Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nguyễn Trãi đã căm giận lên án tội ác vô cùng dã
man của “quân cuồng Minh”. Chúng đã tàn sát nhân dân ta một cách man rợ:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ. Sử sách còn ghi lại bao tội ác chồng chất của giặc Minh
trong suốt một thời gian dài hơn hai mươi năm “dối trời lừa dân, đủ muôn nghìn kế”:
rán mỡ người lấy dầu, rút ruột người treo lên cây, thui người trên giàn lửa, phanh thây
đàn bà có thai... Chúng bắt nhân dân ta phải xuống biển mò ngọc trai, lên rừng sâu đãi
cát, tìm vàng, cống nạp ngà voi, hươu đen, trả biếc,... Sưu thuê chồng chất, phu phen
lao dịch nặng nề. Chúng đã tàn phá môi sinh, môi trường, dồn nhân dân ta vào bước
đường cùng, vào hố diệt vong:
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
(...) Vét sản vật, bắt dò chim trá, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bắt bầy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tổn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng... Đằng sau những hành động dã man, mưu mô
xảo quyệt, là bộ mặt ghê tởm lũ ác ôn, bầy quỷ sứ phương Bắc đang hoành hành trên
xương máu, nước mắt, trên tính mạng và tài sản nhân dân ta: “Thằng há miệng, đứa
nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán Tội ác của giặc Minh đối với nhân dân ta,
không thể ghi hết tội, không thể rửa hết mùi dơ bẩn, trời đất không thể dung tha,
người người đều căm giận”.Câu văn cảm thán của Nguyễn Trãi cất lên như một lời
nguyền, chất chứa căm hờn, oán giận, xúc động lay tỉnh hồn người:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi! Lấy trúc Nam Sơn, nước Đông Hải,
cái vô hạn để nói về tội ác và sự nhơ bẩn của quân “cuồng Minh”, cái cùng cực, cái vô
cùng, Nguyễn Trãi đã ghi sâu vào lòng người, vào bia miệng đến nghìn năm vẫn chưa
phai. Nguyễn Trãi đã từng “tiễn cha lên ải Bắc...”, từng nếm mật nằm gai, là chứng
nhân của lịch sử gọi vua nhà Minh hiếu chiến là “giảo đồng” (trẻ ranh, nhãi ranh), lũ
tướng tá giặc Minh là đồ “nhút nhát”. Đó cũng là tiếng nói căm thù, khinh bỉ, là ý chí
sắt đá chống quân xâm lược, chống lũ bành trướng phương Bắc tham tàn, hiếu chiến:
Thằng nhãi ranh Tuyên Đức động binh không ngừng,
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy!
Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là Lê Lợi. Trong bia Vĩnh Lăng, các bài thơ Hạ
tiệp, Đề kiếm... đều có nói đến Lê Lợi, nhưng chỉ trong Bình Ngô đại cáo, Lê Lợi mới
được thể hiện một cách tuyệt đẹp, tiêu biểu cho tinh hoa và khí phách của Đại Việt. Là
một anh hùng của nhân dân giàu lòng yêu nước, nuôi chí lớn phục thù, phục quốc, đã
từng nhiều năm mai danh ẩn tích đón đợi thời cơ: Ta đây
Núi Lam Sơn dấy nghĩa.
Chốn hoang dã nương mình. Con người ấy đã gắn bó với nhân dân, đã đau trong nỗi
đau lầm than của dân tộc, đã “nếm mật nằm gai”, đã “đau lòng nhức óc suốt mấy chục
năm trời”, quyết không đội trời chung với giặc:
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống. Con người ấy tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam, có
một nhãn quan lịch sử nhìn suốt thời gian và nắm chắc vận mệnh dân tộc:
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay: lẽ hưng phế đắn do càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi. Ngày đầu khởi nghĩa, quân không quá 2.000 người, có
lúc “cơm ăn thì sớm tối không được hai bữa, áo mặc thì đông hè chỉ có một manh...
khí giới thì thật tay không” (Quân trung từ mệnh tập). Thế và lực, giữa ta và giặc vô
cùng chênh lệch: “Vừa lúc cờ khởi nghĩa dấy lên - Chính lúc quân thù đang mạnh”.
Khó khăn, thử thách chồng chất nặng nề. Ngặt nghèo nhất là thiếu nhân tài hào kiệt:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác thiếu người bàn bạc. Người anh hùng áo vải Lam Sơn, một mặt “Cỗ xe cầu
hiển, thường chăm chắm còn dành phía tả”, mặt khác nêu cao quyết tâm “gắng chí
phục thù gian nan”, đồng cam cộng khổ với tướng sĩ, đoàn kết toàn dân để đánh giặc:
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới,
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. Sức mạnh của nghĩa
quân bắt nguồn từ sức mạnh vô tận của nhân dân, của lực lượng đông đảo “manh lệ
chi đồ tứ tập”, của đoàn nghĩa sĩ “phụ tử chi binh nhất tâm”. Điều đó cho thấy cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn là một cuộc chiến tranh nhân dân do người anh hùng áo vải lãnh
đạo. Sức mạnh của nhân dân, tài năng xuất chúng của lãnh tụ là nguồn gốc của chiến
thắng. Người anh hùng ấy là một thiên tài quân sự “sách lược thao suy xét đã tinh... lẽ
hưng phế đắn đo càng kỹ”. Người anh hùng ấy đã phát huy tinh hoa nền quân sự Việt
Nam, để chỉ đạo chiến tranh, phát huy mọi tiềm năng của dân tộc, của tướng sĩ để
chiến đấu và chiến thắng:
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều. Có thể nói, cảm xúc trữ tình trong Bình Ngô
đại cáo được thể hiện qua hình ảnh Lê Lợi, người anh hùng nghĩa quân Lam Sơn. Lê
Lợi vừa bình dị, vừa vĩ đại, vị cứu tinh của đất nước xuất hiện và nếm trải bao cay
đắng lầm than cùng nhân dân, từ máu đổ xương tan mà “nên công oanh liệt ngàn
năm”. Nguyễn Trãi đã có sự nhập thân, hóa thân kì diệu khi thể hiện tài trí, khí phách
và tầm vóc vĩ đại của Lê lợi, một mặt nêu cao lòng tự hào dân tộc, tự hào về nền văn
hiến Việt Nam, mặt khác cũng thể hiện nhân cách, chí hướng, tài trí và tâm huyết của
mình. Với cảm hứng anh hùng và cảm xúc trữ tình, Nguyễn Trãi đã dành những câu
văn, đoạn văn đẹp nhất khi khắc họa hình ảnh vị lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn.
Nguyễn Trãi đã dành phần lớn bài đại cáo nói về diễn biến cuộc đấu tranh vũ trang và
quá trình phản công của nghĩa quân Lam Sơn. Phần thứ tư này như những trang ký sự
chiến trường mang giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ. Sức mạnh nhân nghĩa, ấy là đại
nghĩa, là chí nhân đã đè bẹp và nghiền nát giặc Minh hung tàn, cường bạo. Lời văn sang sảng cất lên:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo. Có vượt qua những thử thách nặng nề “Khi Linh Sơn
lương hết mấy tuần - Khi Khôi Huyện quân không một đội”, nghĩa quân mới trưởng
thành trong máu lửa. Quân ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn. Chiến
công nối tiếp chiến công, thế đánh như “trúc chẻ cho bay”, như “sấm vang chớp giật”
giáng xuống đầu quân xâm lược. Cảnh tượng chiến trường vô cùng rùng rợn, máu giặc
chảy thành sông, xác giặc chất cao như núi:
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm,
Tụy Đông thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. Trên đà chiến thắng “Sĩ khí đã hăng -
Quân thanh càng mạnh’’, nghĩa quân tiến công trên quy mô rộng lớn, giải phóng
những vùng chiến lược quan trọng: “Tây Kinh quân ta chiếm lại... Đông Đô đất cũ thu
về”. Giặc đã thảm bại “trí cùng lực kiệt”, lũ tướng Thiên triều, đứa thì “nghe hơi mà
mất vía”, thằng thì “nín thở cầu thoát thân”, Trần Hiệp “phải bêu đầu”, Lý Lượng “đành bỏ mạng”.
Chiến cục Chi Lăng - Xương Giang - Bình Than vào mùa thu năm 1427 diễn ra vô
cùng ác liệt. Quân ta làm chủ chiến trường đã “điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên
phong”, đã “sai tướng chen đường, tuyệt nguồn lương thực”, đã dồn 15 vạn viện binh
giặc vào tử địa. Liễu Thăng cụt đầu, Lương Minh đại bại tử vong, thượng thư Lý
Khánh cùng kế tự vẫn. Hành chục vạn giặc bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống:
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước. Đạo quân Vân Nam bị quân ta chặn đánh
ở Lê Hoa “nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật”, quân Mộc Thạnh đại bại ở Cần Trạm “xéo
lên nhau chạy để thoát thân”. Sông suối bao la một vùng biên giới tây bắc ngập đầy máu giặc:
Suối Lãnh Cáu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen. Đây là tướng sĩ của
nghĩa quân Lam Sơn: “Sĩ tốt kén tay tì hổ - Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh.“ Và đây là hình
ảnh bọn tướng tá Thiên triều trong tình hình “quân cô, lực kiệt, viện tuyệt, thế cùng”:
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng. Bình Ngô đại cáo là một bản tổng kết
chiến tranh 10 năm. Tác giả đã tái hiện lại toàn bộ diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
từ những ngày đầu cờ nghĩa mới phất lên, trải qua những chặng đường máu lửa,
trưởng thành trong thử thách hy sinh, giành thế chủ động chiến lược, tiến lên đánh bại
hoàn toàn quân xâm lược. Nghệ thuật miêu tả các trận đánh dùng lối đặc tả, rất biến
hoá, lúc ghi lại hình ảnh thảm bại, thảm hoạ của lũ tướng tá Thiên triều, lúc thì miêu
tả cảnh chiến trường rùng rợn. Kết cấu tương phản đối lập được tác giả vận dụng sáng
tạo để làm nổi bật giữa ta và địch, chính nghĩa và phi nghĩa, đại thắng và đại bại...
Cách dùng từ, sáng tạo hình ảnh, các biện pháp đối xứng và thậm xưng cho thấy một
bút pháp nghệ thuật kỳ tài, tạo nên âm điệu anh hùng ca. Bình ngô đại cáo là khúc ca
thắng trận vô cùng oanh liệt, cho ta bao xúc động tự hào:
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kinh ngạc,
Đánh hai trận, tan tác chim muông... Qua Bình Ngô đại cáo, ta thấy Lê Lợi là một nhà
chiến lược vĩ đại đã biết phát động chiến tranh khi thời cơ đã chín mùi, khi mà tội ác
quân cuồng Minh “Lẽ nào trời đất dung tha - Ai bảo thần dân chịu được? Trải qua bao
năm tháng! Lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ”, “Sách lược thao suy xét đã tinh”, Lê Lợi
mới phất cờ khởi nghĩa. Lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn đã có tài chỉ đạo chiến tranh
đánh cho lũ giặc Minh đại bại:
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng. Chính trong điều kiện chiến trường
đó, Lê Lợi đã kết thúc chiến tranh, đã “mở đường hiếu sinh” trao trả cho nhà Minh hàng chục vạn tù binh:
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Khởi nghĩa để “trừ bạo” và “yên dân”,
kết thúc chiến tranh để chấm dứt đổ máu, để bảo vệ “toàn quân”, “để nhân dân nghỉ
sức”. Nguyễn Trãi với niềm tự hào chiến thắng đã ca ngợi “đại nghĩa” và “chí nhân”
của dân tộc ta. Đại Việt là một nước văn hiến lâu đời, rất nhân đạo và yêu chuộng hoà bình.
Kết thúc bài đại cáo là một khúc ca khải hoàn vang lên hướng về ngày mai tươi sáng
của Đại Việt - một nước văn hiến:
Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh
Muôn thuở nền thái bình vững chắc. Như một quy luật tất yếu: “bí mà lại thái”, “hối
mà lại minh”, đất nước ta sau 20 năm trời bị quân cuồng Minh “dối trời, lừa dân...,
gây binh kết oán” nay đã sạch bóng quân xâm lược, “ngàn năm vết nhục nhã sạch
làu”. Tổ quốc Đại Việt bước vào một kỉ nguyên mới độc lập, hoà bình, thịnh vượng
trong “vững bền”, hướng về “đổi mới”, và “vững chắc” đến muôn đời. Giọng văn đĩnh
đạc hào hùng, đầy tự hào tin tưởng, thể hiện khát vọng hòa bình, độc lập và hạnh phúc
của nhân dân ta. Sự nghiệp ‘‘Bình Ngô” mà đại thắng là nhờ sức mạnh chính nghĩa,
nhân nghĩa và truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc ta. Đó là nguồn gốc, là
nguyên nhân sâu xa làm nên chiến thắng. Sự nghiệp “bình Ngô“là trang sử vàng chói
lọi, là “Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm...”
Trong chiến tranh, Nguyễn Trãi là một mưu sĩ “tâm công” cánh tay phải đắc lực của
Lê Lợi, là người “viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời” (Lê Quý Đôn). Thư từ
gửi tướng tá giặc Minh của ông “có sức mạnh như mười vạn quân” (Phan Huy Chú).
Nguyễn Trãi đã cùng Lê Lợi làm nên sự nghiệp “bình Ngô” là người đã thảo ra Bình
Ngô đại cáo, bản tuyên ngôn độc lập, hòa bình của Đại Việt trong thế kỉ XV.
Bình Ngô đại cáo cho ta thấy một bút lực và tài học vô song của ức Trai. Cáo là một
thể văn cổ điển rất trang nghiêm, để thông báo cho toàn dân một sự kiện quan trọng.
Sự nghiệp “bình Ngô” kéo dài trong 10 năm trời. Quân và dân ta trải qua muôn vàn
gian lao thử thách, lập bao chiến công lẫy lừng... từ những tháng năm lầm than đến
ngày toàn thắng “bốn phương biển cả thanh bình”, thế mà Nguyễn Trãi đã viết một
cách hàm súc: bài đại cáo chí dài 1343 chữ. Cảm hứng nhân nghĩa, cảm hứng anh
hùng và khát vọng độc lập, hoà bình đã tạo nên tầm vóc văn chương, màu sắc sử thi
của bài đại cáo bình Ngô, bản anh hùng ca Đại Việt. Ngòi bút nghệ thuật của Nguyễn
Trãi rất biến hóa trong miêu tả và tự sự, trong trữ tình và bình luận, vừa sắc sảo và
thấm thía, vừa đa thanh; lúc thì đĩnh đạc, hào hùng, trang nghiêm, lúc thì thắm thiết
căm giận, lúc thì mạnh mẽ, hùng tráng... Đất nước và con người Đại Việt được nói
đến trong bài đại cáo là một đất nước, một nhân dân văn hiến, anh hùng.
Thuyết minh Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 11
Nguyễn Trãi là một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà quân sự tài ba, không những thế ông
còn là một nhà thơ, nhà văn kiệt xuất của cả dân tộc. Nguyễn Trãi đã để lại cho nền
văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong số đó phải kể đến “Bình Ngô
đại cáo”. Đây là bài cáo mà Nguyễn Trãi viết thay vua Lê Thái Tổ để tuyên cáo rộng
rãi trong nhân dân về quá trình kháng chiến và thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Về mặt cấu trúc, tác phẩm có thể chia thành bốn phần. Phần 1 là nêu luận đề chính
nghĩa (Từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”), phần 2 là phần tố cáo tội ác, vạch trần âm
mưu xâm lược Đại Việt với cớ phù Trần diệt Hồ của giặc (Tiếp theo phần 1 đến “Ai
bảo thần dân chịu được”), phần 3 là quá trình kháng chiến và sự thắng lợi của khởi
nghĩa Lam Sơn (Tiếp theo phần 2 đến “cũng là chưa thấy xưa nay”), phần 4 là phần
nêu ra bài học lịch sử và sự khẳng định chính nghĩa sẽ thắng phi nghĩa (phần còn lại).
Ở phần mở đầu tác giả nêu lên triết lí về nhân nghĩa, một triết lí có giá trị lịch sử và
tầm vóc của thời đại. Trong thơ Nguyễn Trãi, vấn đề “nhân nghĩa” không đơn giản chỉ
là sự yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mà nó đã được nâng lên và thể hiện trong hành động cụ thể:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Đối với Nguyễn Trãi, việc trước hết là “trừ bạo” để nhân dân có được một cuộc sống
yên ổn, ấm no, hạnh phúc. Ông cho rằng nếu muốn trị vì thiên hạ thì việc phải nghĩ
đến đầu tiên chính là “nhân nghĩa”. Những câu thơ tiếp theo tác giả muốn nói về nước
Đại Việt của chúng ta:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Trong những câu thơ trên Nguyễn Trãi cho rằng “nhân nghĩa” đã có từ lâu đời ở nước
ta, đồng thời khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc được thể hiện ở
việc núi sông bờ cõi đã được phân chia rõ ràng. Vì đã được phân chia nên việc hình
thành những phong tục tập quán cũng có nhiều khác biệt tuy nhiên vẫn có điểm chung
là sự tồn tại song song của các triều đại lịch sử. Lời thơ như một lần khẳng định lại nội
dung của “Nam quốc sơn hà” – được coi như bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
Chính vì đã có những hành động xâm chiếm nước ta nên họ phải chuốc lấy hậu quả:
“Lưu Công tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”
Những kết cục như thế này đều tự do chính họ chuốc lấy vì thông qua bài tuyên ngôn
đầu tiên đã như một lời cảnh cáo nhưng họ vẫn cố tình thực hiện.
Ở phần thứ hai, tác giả đã nêu ra những tội ác của giặc và vạch rõ bộ mặt thật của giặc
đằng sau lớp vỏ ngụy tạo “phù Trần diệt Hồ”: Từ việc:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Cho đến việc chúng bắt nhân dân phải xuống biển mò ngọc trai lên rừng sâu đãi cát
tìm vàng, phải đối mặt với “rừng thiêng nước độc” và muôn vàn khó khăn nguy hiểm,
rồi đến sưu thuế chồng chất, phu phen lao dịch nặng nề. Chúng hành hạ nhân dân ta
đủ mọi đường “thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”, sự độc
ác và tàn nhẫn khiến tác giả phải thốt lên:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”
Giữa lúc ấy, nghĩa quân Lam Sơn đã dấy lên tinh thần yêu nước và tiến hành cuộc khởi nghĩa:
“Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống”
Căm phẫn trước tội ác của giặc, bóc lột nhân dân đủ đường khiến nhân dân lầm than
cực khổ khiến người lãnh đạo là Lê Lợi và nghĩa quân mất ăn, mất ngủ, quyết tâm
chiến đấu với tất cả tinh thần vì độc lập nước nhà:
“Căm giặc nước thề không chung sống
Đau lòng nhức óc chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh”
Tinh thần và lòng quyết tâm đã dâng cao như núi nhưng chỉ còn lo một nỗi về việc tìm
kiếm “nhân tài” và “hào kiệt”, đây là một việc khó vì theo tác giả:
“Hào kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu”
Trong khi đó, nghĩa quân vừa dấy quân khởi nghĩa vẫn còn non nớt, thiếu thốn về mọi
mặt như lương thực “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần”, quân sĩ “Lúc Khôi Huyện
quân không một đội”, còn quân thù thì đang rất mạnh, đây chính là khó khăn của
chúng ta và cách khắc phục duy nhất chính là sự đồng lòng của toàn bộ nghĩa quân
“Tướng sĩ một lòng phụ tử/ Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Dưới sự lãnh đạo
tài tình của Lê Lợi “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” và triết lí “Lấy đại nghĩa
để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo” cùng với sự dũng cảm, gan dạ
của binh sĩ, nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành và lớn mạnh “sĩ khí đã hăng,
quân thanh càng mạnh”, kết quả là nghĩa quân giành được nhiều chiến thắng vang dội
“Đánh một trận sạch không kinh ngạc/ Đánh hai trận tan tác chim muông”, còn giặc
Minh thì phải chấp nhận những thất bại liên tiếp và những tên tướng đều có kết thúc thật bi thảm:
“Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng
Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên
Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn”
Tác giả đã ghi lại chi tiết từng mốc thời gian như những mốc son chói lọi trong lịch sử
dân tộc nhưng lại là vết nhơ, nỗi nhục nhã đối với giặc Minh.
Mặc dù tội ác của giặc mãi mãi không thể rửa sạch nhưng quân ta vẫn trợ cấp cho giặc
để về nước khi đã bại trận:
“Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run”.
Hành động này thể hiện truyền thống nhân nghĩa từ lâu đời của dân tộc ta, một lần nữa
khẳng định lời của Nguyễn Trãi:
“Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo”
Phần cuối của tác phẩm đã nêu ra bài học lịch sử quý báu về ý thức độc lập chủ quyền
và vấn đề nhân nghĩa, đồng thời khẳng định sự thắng lợi của cuộc chiến tranh chính nghĩa:
“Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Âu cũng nhờ trời đất tổ tong
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”
“Bình Ngô đại cáo” có ý nghĩa như một bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc, vừa tố
cáo tội ác của giặc Minh vừa khẳng định được độc lập chủ quyền dân tộc, là minh
chứng hùng hồn cho cuộc chiến thắng của nhân dân ta. Đã một thời gian dài trôi qua,
nhưng giá trị của bài cáo vẫn tồn tại vĩnh hằng và Nguyễn Trãi – nhà quân sự tài ba,
nhà chính trị lỗi thời, nhà thơ, nhà văn xuất sắc sẽ sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam.
Thuyết minh Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 12
Để lại cho đời một kho tàng văn học Việt Nam, những tác phẩm quý giá, đặc sắc cho
nghệ thuật văn chương, khi nhắc đến Đại Cáo Bình Ngô, người đời lại nhớ đến văn
hào–bậc đại anh hùng dân tộc đó là nhà thơ lớn Nguyễn Trãi.
Ông sinh năm 1380 mất năm 1442, hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại sau dời
về Nhị Khê. Thân sinh là Nguyễn Ứng Long- một nho sinh nghèo, học giỏi, đỗ Tiến
sĩ. Mẹ là Trần Thị Thái – Con quan tư đồ. Tuổi thơ của Nguyễn Trãi có rất nhiều tai
ương và cực khổ song ông vẫn một lòng tận trung vì tổ quốc, điều đó đã trở thành
truyền thống của gia đình ông: yêu nước, văn hóa và văn học, Và cũng vì lòng yêu
nước ấy, khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, ông thừa lệnh Lê Lợi viết Đại Cáo Bình
Ngô, từ đó ông đã gửi 1 phần lời bình của bản thân về tác phẩm ấy.
Cuối năm 1427 Nguyễn Trãi viết bài Cáo và đọc vào đầu 1428 trước toàn dân để báo
với mọi người biết về sự việc chống Minh. Điều đó chứng tỏ chiến tranh đã kết thúc
20 năm đô hộ của giặc minh và kết thúc 10 năm diệt thù của quân dân ta mà Nguyễn
Trãi đã đề cập đến. Hơn thế nữa, sự việc ấy đã mở ra một kỉ nguyên mới, bắt đầu một
cuộc sống độc lập hòa bình của dân tộc và đất nước Đại Việt.
Khi nói đến Cáo, Cáo là một thể văn nghị luận có từ thời cổ Trung Quốc, thường được
vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn
cho mọi người cùng biết, mang ý nghĩa như một sự kiện trọng đãi, có tính chất quốc
gia. Chính thế, tác phẩm Đại Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập.
Đại Cáo Bình Ngô mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập, thể hiện được luận
đề của chính nghĩa là ở đây: tư tưởng nhân nghĩa theo quan niệm nho giáo, nó là mối
quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lí mà
“cốt ở yên dân’’ trong câu: "Từng nghe,
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo’’
Từ đó, ta hiểu được Nguyễn Trãi đã khẳng định rằng: “lấy dân làm gốc, làm cho dân
được sống yên lành hạnh phúc”. Nghệ thuật của ông đưa ra đó là biện pháp so sánh,
câu văn biền ngẫu song đôi mang cốt cách của nhà chính trị tài ba.
Bài Cáo của Nguyễn Trãi đã vạch trần được tội ác của kẻ thù:
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế Nặng thuế khóa…
Vét sản vật, bắt chim trả…’’
Chỉ một vài tội ác như thế cũng đủ lên án bọn giặc Minh. Ý ở đây, Nguyễn Trãi đã sử
dụng biện pháp nói lên tội ác tày trời của giặc Minh: Nghệ thuật phóng đãi, lấy cái vô
hạn vô cùng của tự nhiên để nhấn mạnh cái vô hạn vô cùng của tội ác, hủy hoại cuộc
sống của con người bằng cách diệt chủng.
Nếu như nói tội ác của giặc Minh là vô hạn thì nước Đại Việt ta nổi dậy có cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn để chống lại quân thù. Hình ảnh Lê Lợi là một co người tuy bình
thường nhưng có ý tưởng hoài bão lớn lao cùng với sự đoàn kết một lòng của nhân
dân ta đã làm nên sự tất thắng. Qua đó, ta thấy được hình tượng ngôn từ thật màu sắc,
có âm thanh, nhịp điệu mang đặc điểm của bút pháp anh hùng ca, hình tượng phong
phú đa dạng, đo bằng sự kì vĩ lớn rộng của thiên nhiên cùng với động từ mạnh,
chuyển dồn dập, dữ dội động từ và tính từ chỉ mức độ, khi thế chiến thắng của ta, sự
thất bại của địch, câu văn dài ngắn biến hóa linh hoạt.
Kết thúc chiến tranh, mở ra một kỉ nguyên hòa bình: giọng văn thư thái, nhẹ nhàng, hả
hê và sự tuyên bố nền độc lập dân tộc được thống nhất, rút ra bài học kinh nghiệm cho
dân ta và bài học “dạy bảo” cho địch, sự kết hợp tinh tế giữa sức mạnh truyền thống
và sức mạnh thời đại “trên dưới một lòng”, quyết tâm của nhân dân xây dựng nền thái bình vững chắc.
Tóm lại. Đại Cáo Bình Ngô mạng nội dung trong quan niệm nho gia hầu như không
có, đây là tư tưởng tiến bộ của chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập có chủ quyền
của nước Đại Việt, ranh giới, địa phận – lãnh thổ, phong tục tập quán, có lịch sử riêng,
chế độ riêng với nhân tài phong kiến, những thực tế khách quan mà Nguyễn Trãi đưa
ra là chân lí không thể phủ nhận, lột tả tính chất tự nhiên, lâu đời của nước Đại Việt.
Trải qua bao cuộc đấu tranh cũng như những trang lịch sử được vạch ra, ý nghĩa nhất
là cuộc khởi nghĩa Lam sơn chứng minh được sử tài ba của LÊ Lợi và văn hào
Nguyễn Trãi. Ông là người có nỗi oan thảm khốc nhất trong lịch sử dân tộc, là một
nhân vật lịch sử vĩ đại tiêu biểu trong quá khứ - một bậc đại anh hùng dân tộc – nhân
vật toàn tài hiếm có. Từ Đại Cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi gợi tả bút pháp đặc sắc làm
cho tôi cảm thấy tự hào, học hỏi được bởi lòng yêu nước, lòng đoàn kết của dân tộc ta
qua bao nhiêu năm tháng kháng chiến giành độc lập. Nếu là người Việt Nam thì thật
tiếc cho những ai đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam mà không biết đến
nhà chính trị tài ba Nguyễn Trãi.
Thuyết minh Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 13
Bình ngô đại cáo được Nguyễn Trãi sáng tác năm 1428, khi quân ta giành thắng lợi
trước quân Minh, dưới ngọn cờ lãnh đạo của nghĩa quân Lam Sơn và chủ tướng Lê
Lợi. Sau thắng lợi, Lê Lợi đã lên ngôi hoàng đế và bắt tay vào xây dựng vương triều
của mình. Việc đầu tiên sau khi lên ngôi, đó là truyền lệnh cho Nguyễn Trãi soạn thảo
văn bản “Bình ngô đại cáo” để tuyên bố với toàn dân rằng cuộc khởi nghĩa gian nan
cuối cùng cũng kết thúc thắng lợi, kể từ đây nhân dân sẽ bước vào một cuộc sống mới,
tự do, độc lập. Bình ngô đại cáo là một áng văn chính luận xuất sắc, là một áng “thiên
cổ hùng văn” của nền văn học dân tộc.
Trong “Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi rất đề cao tư tưởng thân dân, theo ông, một
quốc gia muốn trường tồn, thịnh vượng, thì yếu tố căn cốt nằm ở người dân. Người
dân có thể đẩy thuyền nhưng cũng có thể lật thuyền. Vì vậy, ngay câu thơ đầu,
Nguyễn Trãi đã đề cập đến tư tưởng thân dân vừa như khẳng định vai trò của dân, vừa
như lời nhắc nhở tế nhị đến bậc quân vương, việc nhân nghĩa luôn luôn được dân
chúng nhắc đến, và những người đứng đầu đất nước luôn luôn phải có trách nhiệm với
dân với chúng, trước hết phải biết lo cho dân cho chúng, lo trừ đi bạo ngược để giữ
cho đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ và có giá trị to lớn hơn, những người luôn
luôn biết lo cho dân yêu dân như con, điều đó để lại cho dân tộc những điều có ý
nghĩa mạnh mẽ nhất, khi mỗi chúng ta đều hưởng được một nền thái bình thịnh trị: “Từng nghe
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Quốc gia muốn trường cửu thì phải “yên dân”, tức là phải chăm lo đến cuộc sống của
người dân. Trách nhiệm của triều đình, của “quân điếu phạt” là phải “lo trừ bạo”, diệt
trừ mọi mối đe dọa đến cuộc sống của người dân. Nền văn hiến của dân tộc Việt Nam
luôn luôn được cải thiện và giữ gìn mỗi ngày. Trong các tác phẩm thơ ca, nó cũng
nhấn mạnh điều đó, dân quốc đã có từ xưa đến nay, nền văn hiến cũng luôn luôn được
giữ gìn và nâng cao trên nền mỗi ngày. Giá trị của nó để lại cho dân tộc ta cũng vô
cùng có giá trị. Nền văn hiến của dân tộc đã khẳng định từ trước tới nay, nó luôn
mang những giá trị vẻ vang cho dân tộc của mình, mỗi khi các giá trị đó được cải tạo
là làm cho văn học nước nhà được củng cố và nâng cao lên mỗi ngày, những định giới
của Việt Nam luôn luôn được cải thiện và nâng cao mỗi ngày, nó luôn trở thành một
giá trị vô giá và để lại cho dân tộc Việt Nam những điều có ý nghĩa to lớn, khi những
giới hạn biên giới đó đã được khẳng định từ trước tới nay, phong tục của hai miền
cũng luôn luôn được phân định rõ ràng:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Đến những câu thơ tiếp theo, Nguyễn Trãi đã khẳng định ranh giới lãnh thổ bờ cõi,
cùng với đó là sự tự hào về truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc “Đã xưng nền
văn hiến đã lâu”. “Văn hiến”, “phong tục” là những dẫn chứng nhà thơ đưa ra để tăng
thêm tính thuyết phục của lời khẳng định. Đại Việt là một quốc gia độc lập, có ranh
giới, lãnh thổ riêng. Trên mảnh đất ấy, con người Đại Việt đã sinh sống, hình thành
nên những phong tục, những nền văn hiến mang bản sắc của dân tộc mình. Các đời
vua từ xưa đến nay, luôn luôn xưng nền độc lập, không có thể bỏ qua những quân thù
mà phải sánh vai với cường quốc năm châu, cần phải tạo nên những giá trị có ý nghĩa
và có tầm quan trọng đặc biệt cho đất nước của mình, dù có chênh lệch lực lượng đi
chăng nữa thì chúng ta cần phải dốc hết lòng để bảo vệ cho đất nước của mình. Thời
nào cũng luôn thấy xuất hiện những vị anh hùng của dân tộc điều đó tạo nên những
giá trị có ý nghĩa và vẻ vang nhất, song mỗi người luôn luôn biết quyết tâm để bảo vệ
đất nước và dân tộc của mình:
“Từ Triệu, Đinh, Lí,Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Nếu câu thơ trên nhà thơ khẳng định một cách rõ ràng về chủ quyền lãnh thổ cùng với
niềm tự hào về văn hiến lâu đời thì trong những câu thơ này, nhà văn thể hiện niềm tự
hào về truyền thống đấu tranh, truyền thống anh hùng của dân tộc. Nhà văn khẳng
định Việt Nam có nền độc lập riêng, nền độc lập ấy được xây dựng bởi bao đời vua từ
Triệu, Đinh, Lí, Trần. Vì vậy cùng với Trung Quốc,Việt Nam hoàn toàn bình đẳng, vì
vậy kẻ thù không có quyền xâm phạm. Nguyễn Trãi thể hiện tinh thần dân tộc, lòng tự
hào sâu sắc khi đặt Đại Việt sánh ngang với các triều đại Trung Quốc: “Cùng Hán,
Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”. Trong quá trình dựng nước và
giữ nước, tuy có những thăng trầm “mạnh yếu từng lúc khác nhau”,nhưng nhà thơ
cũng khẳng định “hào kiệt đời nào cũng có”. Đó là những trang nam tử, những người
anh hùng, khi mà đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng đứng lên, dốc sức bảo vệ tổ quốc. “Cho nên
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi”
Vì cố tình xâm phạm vào quốc gia có chủ quyền, có nền độc lập nên những kẻ xâm
lược đã phải gánh chịu hậu quả vô cùng thê thảm. Lưu Cung, Triệu Tiết, Ô Mã, Toa
Đô đều là những danh từ chỉ người, họ là những tên tướng cầm đầu đội quân xâm
lược, vì bất chấp luân lí xâm phạm Đại Việt mà chúng đã nhận lấy những thất bại cay
đắng. Nguyễn Trãi cũng sử dụng hệ thống các động từ để diễn tả sự thất bại ê chề này:
“thất bại”, “tiêu vong”, “bắt sống”, “giết”. Bên cạnh việc chỉ ra những thất bại của
quân giặc, Nguyễn Trãi cũng nêu lên những thắng lợi vang dội của quân dân Đại Việt
như trận ở Hàm Tử, chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Những dẫn chứng mà nhà thơ
nêu đều căn cứ vào sự thực lịch sử “chứng cớ còn ghi”, vì vậy mà không thể chối cãi. “Vừa rồi
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
Bọn gian tà bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”
Nguyễn Trãi đã kể lại sự rối ren trong nước, khi họ Hồ "chính sự phiền hà", nhân dân
lầm than, đau khổ rồi mang lòng oán hận với triều đại “lòng dân oán hận”. Nhân sự
mâu thuẫn nội bộ của Đại Việt, quân Minh đã mưu kế xấu xa, muốn nhân cơ hội này
để thực hiện những hành động phi nghĩa “Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa”. Một
triều đại lớn mạnh như nhà Minh mà cũng “thừa cơ”, cách dùng từ của Nguyễn Trãi
làm bật lên cái phi nghĩa của quân đội nhà Minh, đồng thời cũng thể hiện được cái
tiểu nhân đê hèn trong hành động xâm lược ấy. Không chỉ lên án quân Minh mà nhà
thơ còn vạch tội của những kẻ “bán nước cầu vinh”. Vì hành động bắt tay xâm lược
của chúng đã đẩy nhân dân ta vào biết bao nhiêu tai họa. Nhà thơ đã sử dụng những
động từ mạnh “nướng dân đen”, “vùi con đỏ” để vạch trần bản chất tàn nhẫn, độc ác của chúng.
“Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng khốn rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bẫy hưu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”
Để mang lại lợi ích cho mình, quân giặc không từ một thủ đoạn, một hành động nhẫn
tâm, tàn ác nào. Chúng không chỉ bắt dân ta nộp nhiều loại tô thuế mà còn bắt những
người dân vô tội lên rừng xuống biển tìm cho chúng những món đồ quý giá. Cuộc
sống của người dân vô cùng đau khổ, bi thương. Nhưng tiếng khóc của người dân
chúng đâu thấy được, không chỉ người dân mà ngay cả những loài thú quý, hay những
loài côn trùng, cây cỏ chúng cũng không buông tha.
“Bình ngô đại cáo” là một áng văn chính luận xuất sắc của dân tộc ta. Bài cáo vừa
khẳng định hùng hồn, mạnh mẽ chủ quyền của dân tộc vừa thể hiện niềm tự hào với
truyền thống văn hóa cũng như truyền thông đấu tranh của dân tộc. Là lời cảnh cáo
đanh thép với lũ quân xâm lược, với bọn bán nước. Như vậy, “Bình ngô đại cáo” xứng
đáng là một áng “thiên cổ hùng văn”.
Thuyết minh Đại cáo Bình ngô - Mẫu 14
Nguyễn Trãi được xếp vào 1 trong 14 vị anh hùng dân tộc, đồng thời là 1 trong 3 tác
giả của Việt Nam được tổ chức UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới
cùng với Nguyễn Du và Hồ Chí Minh . Ông là bậc khai quốc công thần của nhà Hậu
Lê, là nhà quân sự, chính trị lỗi lạc và kiệt xuất, có nhiều công lao to lớn khi tham gia
tích cực vào khởi nghĩa Lam Sơn, giúp Lê Lợi chiến thắng giặc Minh xâm lược.
Trong suốt cuộc đời mình Nguyễn Trãi có nhiều công tích vẻ vang thế nhưng rốt cuộc
cuối đời lại vướng vào nỗi oan mưu phản giết vua, phải chịu chết trong oan ức. Về sự
nghiệp sáng tác, Nguyễn Trãi có khá nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó Bình ngô đại
cáo nổi danh là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của nước ta, được xem áng thiên cổ
hùng văn, là mẫu mực của thể loại cáo trong văn học trung đại, chứa đựng nhiều giá
trị lịch sử, chính trị, ngoại giao, giá trị tư tưởng của người viết và cả giá trị văn học cho đến ngày hôm nay.
Nguyễn Trãi (1380-1442), tên hiệu là Ức Trai, quê gốc ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương, sau đó dời đến Định Khê, Thường Tín, Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình
danh giá, cả họ nội và ngoại đều có truyền thống yêu nước và truyền thống văn học,
cha là Nguyễn Ứng Long (sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh), đã từng đỗ thái học sinh
(tiến sĩ) dưới thời nhà Trần, mẹ là Trần Thị Thái con của quan Tư đồ Trần Nguyên
Đán. Thuở nhỏ Nguyễn Trãi phải gánh chịu nhiều mất mát, năm 5 tuổi thì mẹ mất,
năm 10 tuổi thì ông ngoại qua đời. Đến năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ thái học sinh và
cùng cha ra làm quan dưới triều nhà Hồ, tuy nhiên, năm 1407 nhà Hồ sụp đổ, giặc
Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt giải về Trung Quốc, còn
Nguyễn Trãi bị giam lỏng tại thành Đông Quan trong khoảng 10 năm trời. Sau đó, ông
trốn thoát và tìm đến gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, trở thành quân sư cho Lê Lợi,
đóng góp nhiều công lao to lớn giúp nghĩa quân chiến thắng giặc Minh và lập ra nhà
Hậu Lê. Cuối năm 1427 đâu năm 1428 Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết Bình
Ngô đại cáo chiếu cáo thiên hạ thắng lợi của nghĩa quân, cũng như mở ra kỷ nguyên
mới độc lập của dân tộc. Tuy nhiên nhà Hậu Lê thành lập không bao lâu thì gặp phải
cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, nội bộ đất nước xảy ra mâu thuẫn, chia bè kéo phái,
dẫn đến việc nhiều bậc công thần trong đó có Nguyễn Trãi bị nghi ngờ và không được
tin dùng trong suốt 10 năm trời. Khiến ông bất đắc chí và năm 1439 xin về ở ẩn ở Côn
Sơn, nhưng ngay sau đó năm 1440 lại được vua Lê Thái Tông mời ra giúp nước.
Trong lúc Nguyễn Trãi đang hăng hái hết lòng kiến thiết, canh tân đất nước thì năm
1442 thảm án Lệ chi viên ập xuống, dẫn đến kết cục vô cùng bi đát - Nguyễn Trãi phải
chịu tội tru di tam tộc.
Về sự nghiệp thơ văn, Nguyễn Trãi vừa là nhà văn chính luận kiệt xuất cũng vừa là
một nhà thơ trữ tình sâu sắc, đây là hai mảng sáng tác lớn nhất trong các sáng tác của
Nguyễn Trãi. Ông để lại một số lượng lớn tác phẩm trong nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực
nào nó cũng đạt đến trình độ xuất sắc. Trong lĩnh vực lịch sử có Văn bia Vĩnh Lăng,
Lam Sơn thực lục ghi lại kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; trong lĩnh vực chính trị
quân sự có Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo; trong lĩnh vực địa lý ông để lại
cuốn Dư địa chí - được đánh giá là cuốn sách địa lý cổ nhất Việt Nam. Ở thể loại văn
học, các sáng tác bằng chữ Hán có cuốn Ức Trai thi tập, sáng tác bằng chữ Nôm có
tập Quốc âm thi tập - cuốn sách viết bằng tiếng Việt đầu tiên còn lại cho đến ngày
hôm nay. Từ số lượng tác phẩm lớn, đa dạng và phong phú trong nhiều lĩnh vực có thể
thấy rằng Nguyễn Trãi là một người vô cùng tài giỏi và có vốn hiểu biết rộng lớn,
xứng danh là bậc đại thi hào của dân tộc Việt Nam ta.
Với tư cách là một nhà văn chính luận kiệt xuất, ông cũng để lại một số lượng tác
phẩm khá lớn, ngoài Quân trung từ mệnh tập và Bình Ngô đại cáo đã kể trên, người ta
còn sưu tập được khoảng 28 tác phẩm thuộc các thể loại chiếu, biểu, ... dưới triều Lê.
Nội dung tư tưởng chủ đạo xuyên suốt là nhân nghĩa, yêu nước và thương dân, đặc sắc
nghệ thuật nằm ở kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, sử dụng các bút pháp linh hoạt
tùy theo mục đích, yêu cầu, đối tượng. Thêm nữa, tất cả các tác phẩm văn chính luận
của Nguyễn Trãi đều được đánh giá là áng văn chính luận mẫu mực.
Với tư cách là một nhà thơ trữ tình sâu sắc, các tác phẩm hiện còn gồm hai tập thơ Ức
Trai thi tập và Quốc âm thi tập như đã kể trên, nội dung bao hàm chủ yếu là ghi lại
hình ảnh Nguyễn Trãi vừa là anh hùng vĩ đại vừa là con người trần thế. Tư cách người
anh hùng vĩ đại hiện lên thông qua: Lý tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân; ý chí
chống ngoại xâm và cường quyền bạo lực; các phẩm chất tốt đẹp tượng trưng cho
người quân tử hướng đến mục đích giúp nước giúp dân bao gồm dáng đứng ngay
thẳng cứng cỏi của cây trúc, vẻ thanh tao trong trắng của cây mai, và sức sống khỏe
khoắn của cây tùng. Trong tư cách là một con người trần thế, ông hiện lên với những
đặc điểm của một con người đời thường giản dị, ông đau đớn trước nghịch cảnh éo le
của xã hội cũ, trước thói đời bạc bẽo, nham hiểm, ông cũng có những tình yêu sâu sắc
với thiên nhiên, đất nước con người và cuộc sống, đồng thời thể hiện cả những tình
nghĩa giữa cha con, vua tôi, bạn bè rất sâu nặng.
Tổng kết lại Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV là một hiện tượng văn học kết tinh của truyền
thống văn học Lý - Trần và cũng mở ra một giai đoạn phát triển mới cho văn học
trung đại. Văn chương của ông hội tụ hai nguồn cảm hứng lớn của văn học dân tộc là
yêu nước và nhân đạo, có đóng góp lớn trên cả hai bình diện là thể loại và ngôn ngữ.
Về Bình Ngô đại cáo, tác phẩm ra đời vào thời điểm cuối năm 1427, đầu năm 1428
sau khi nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt được 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông
đang cố thủ trong thành Đông Quan đã phải xin giảng hòa và rút quân về nước. Trước
thắng lợi vang dội của nghĩa quân, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô đại
cáo để chiếu cáo với thiên hạ rằng chúng ta đã giành lại độc lập dân tộc, tuyên ngôn
độc lập, mở ra một trang mới cho lịch sử nước nhà. Bản cáo được ban bố vào đầu năm
1428. Về ý nghĩa nhan đề, sở dĩ gọi là "Bình Ngô đại cáo", bởi vua Minh vốn là người
nước Ngô, mà trong chế độ quân chủ chuyên chế, vua tức là đại diện cho một đất
nước, đại diện cho cả một dân tộc và chế độ của nước đó. Nguyễn Trãi viết "Bình
Ngô", tức là bình định quân Minh xâm lược, dẹp yên giặc dữ. Theo một cách lý giải
khác nữa thì trong thời kỳ tam quốc phân tranh Ngụy-Thục-Ngô, thì Ngô là nước đã
cai trị nước ta bằng những biện pháp vô cùng hung bạo và tàn nhẫn, khiến nhân dân
đói khổ lầm than, vậy nên giặc Ngô còn là tên gọi chung để chỉ thứ giặc đến từ
phương Bắc với các đặc điểm chung là tàn ác và vô nhân đạo. Hai chữ "đại cáo" tức là
bản cáo lớn, thể hiện tầm quan trọng của sự kiện cần tuyên bố, cũng như khẳng định
tư tưởng lớn của dân tộc, đóng vai trò là xương sống: "Đem đại nghĩa để thắng hung
tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo" vốn xuyên suốt trong tác phẩm. Bên cạnh đó
được biết "đại cáo" là một trong những thể loại văn bản pháp luật chính thức của nhà
Minh, Nguyễn Trãi viết theo thể này, mục đích là khẳng định tính chất pháp lý của
việc cần tuyên bố, không chỉ là hướng tới nhân dân Đại Việt mà còn có ý nghĩa chính
trị hướng tới nhà Minh. Là một biện pháp thông minh, khẳng định sự ngang hàng về
tầm vóc lịch sử, chính trị, sự tách biệt về lãnh thổ, văn hóa, nhà Minh có thể dùng "đại
cáo" chiếu cáo thiên hạ, thì Đại Việt ta cũng có thể dùng nó để ban bố, tuyên ngôn về
chủ quyền dân tộc một cách dõng dạc, chuyên chính có giá trị tương đương với "đại
cáo" của nhà Minh. Về thể loại "cáo", đây là một thể văn nghị luận có từ thời cổ ở
Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng, để trình bày một chủ trương
một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết. Được phân ra làm 2
loại phổ biến, thứ nhất là loại văn cáo thường ngày, thứ hai là "đại cáo" mang tính
chất quốc gia, có ý nghĩa trọng đại. Về đặc trưng, cáo có thể được viết bằng văn xuôi
hay văn vần, nhưng chủ yếu là văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có
đối dài ngắn không gò bó, mỗi cặp 2 vế đối nhau. Đây là thể văn hùng biện nên lời lẽ
phải đanh thép, lý luận phải sắc bén, kết cấu bố cục phải chặt chẽ mạch lạc.
Về bố cục, Bình Ngô đại cáo cũng tuân thủ theo bố cục của các văn bản chính luận
khác. Đoạn 1 là nêu luận đề chính nghĩa, đoạn 2 vạch rõ tội ác của kẻ thù, phần 3 kể
lại diễn biến của cuộc khởi nghĩa, đoạn 4 là phần tuyên bố chiến quả khẳng định sự nghiệp chính nghĩa.
Ở đoạn đầu tiên Nguyễn Trãi đi vào nêu ra luận đề chính nghĩa với hai cơ sở lớn, một
là tư tưởng nhân nghĩa "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/Quân điếu phạt trước lo trừ
bạo", lấy nhân dân làm gốc, thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, một lòng vì nhân
dân. Hai là khẳng định chủ quyền của dân tộc thông qua nhiều khía cạnh khác nhau
bao gồm: Văn hiến, ranh giới lãnh thổ, lịch sử đấu tranh, triều đại trị vì và phong tục
tập quán. Sử dụng các dẫn chứng, lý lẽ vô cùng thuyết phục và xác đáng làm tăng độ
tin cậy cũng như sự vững chãi, tính chính nghĩa của luận đề.
"Như nước Đại Việt ta từ trước, .........
Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi"
Ở đoạn thứ hai, Nguyễn Trãi đi vào phân tích thực tiễn, tố cáo âm mưu tội ác của giặc
Minh. Thứ nhất chúng lấy danh nghĩa phù Trần diệt Hồ để dẫn quân vào xâm lược nước ta. "Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh"
Thứ hai Nguyễn Trãi nêu ra những tội ác của giặc Minh gây ra cho dân tộc ta bao gồm
tàn sát giết hại đồng bào một cách dã man, ra sức bóc lột thuế khóa, đàn áp vắt kiệt
sức lao động, đẩy nhân dân ta vào chỗ nguy hiểm, dùng mọi thủ đoạn vơ vét tài
nguyên sản vật, phá hoại tài nguyên cây cỏ, phá hoại cả nền nông nghiệp của nhân dân ta.
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn ............
Tan tác cả nghề canh cửi"
Mà tổng kết lại cho tội ác của giặc Nguyễn Trãi đã dùng hai câu "Độc ác thay, trúc
Nam Sơn không ghi hết tội/Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi", để diễn
tả sự vô cùng, vô tận, sự bẩn thỉu, nhơ nhuốc của tội ác mà giặc Minh đã gây ra cho dân tộc Đại Việt.
Sang đoạn thứ 3, đầu tiên là đi vào tái hiện lại tài năng nhân phẩm và ý chí của chủ soái Lê Lợi.
"Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh"
Tiếp đến là kể lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn qua nhiều giai đoạn, từ lúc khởi nghĩa còn
non trẻ, nhiều khó khăn, thiếu thốn cả người tài giỏi, lẫn nhu yếu phẩm, lương thực vũ khí. "Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu, ...
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội."
Cho đến khi nghĩa quân khắc phục được khó khăn, tìm ra giải pháp, mở ra một con
đường sáng cho cuộc khởi nghĩa nhờ ý chí quyết tâm, tinh thần đoàn kết của quân dân, tướng sĩ một lòng.
"Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan. .........
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công"
Cuối cùng là trận phản công trước sự ngoan cố, âm mưu tiếp viện của nhà Minh,
quyết định chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn, khiến Vương Thông phải xin hàng, tháo chạy về nước: "Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng ...
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay"
Đến phần thứ tư là phần tuyên bố thắng lợi, khẳng định độc lập chủ quyền của dân
tộc, tính chất chính nghĩa của khởi nghĩa Lam Sơn, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử
dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ "Xã tắc từ đây vững bền/Giang
sơn từ đây đổi mới". Sau cùng là rút ra bài học lịch sử cho dân tộc dựa trên tư tưởng
mệnh trời, quy luật của tạo hóa trong ngũ hành, bát quái, Kinh dịch:
"Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh ... Xa gần bá cáo, Ai nấy đều hay."
Về mặt nghệ thuật, bài cáo là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn
chương nghệ thuật. Yếu tố chính luận thể hiện ở kết cấu chặt chẽ của tác phẩm, đi từ
luận đề chính nghĩa, rồi soi chân lý vào thực tiễn, vạch trần tội ác của kẻ thù, phân biệt
rõ phải trái đúng sai, để làm nổi bật lên tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, rồi cuối cùng đưa ra lời kết luận, tuyên bố sự chiến thắng vẻ vang, hào hùng. Thứ
hai nữa là lập luận sắc bén, lời văn đanh thép, hùng hồn. Bên cạnh yếu tố chính luận,
thì chất văn chương nghệ thuật cũng được tác giả thể hiện nhuần nhuyễn trong tác
phẩm, với lời văn rất giàu cảm xúc, xen lẫn giữa những đoạn thuật lại một cách khách
quan, là những đoạn bộc lộ cảm xúc trực tiếp của tác giả (sự tức giận, phẫn nộ, oán
hận trước tội ác của giặc Minh, sự tự hào, niềm vui trước chiến thắng của quân ta,
cùng thái độ mỉa mai khinh nhờn trước thất bại của kẻ thù). Tiếp theo nữa là câu văn
rất giàu hình tượng nghệ thuật sinh động tạo ra sức mạnh gợi cảm, gợi tả lớn (Độc ác
thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội/Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch
mùi), đồng thời tác giả cũng vận dụng cả sự hiểu biết của mình về các điển tích điển
cố, lịch sử để làm cho bài cáo thêm linh hoạt, hấp dẫn và trang trọng.
Bình Ngô đại cáo là một tác phẩm chính luận kiệt xuất, mang trong mình giá trị nội
dung sâu sắc, giá trị lịch sử, chính trị, văn học lâu bền, có ý nghĩa như bản tuyên ngôn
độc lập thứ hai của dân tộc. Tác phẩm xứng đáng được người đời xưng tụng là áng
thiên cổ hùng văn, là áng văn chính luận mẫu mực bậc nhất của nền văn học trung đại
Việt Nam, khẳng định tài năng cũng như tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc của tác gia Nguyễn Trãi.