HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần Kinh tế chính trị Mác: Lênin
ĐỀ TÀI 15: Đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa
tư bản độc quyền. Làm rõ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19
đến thu hút FDI vào Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Vũ Mai Phương
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Minh Nguyệt
: Lớp K24NHD
24A4012945Mã sinh viên :
Hà N 1 tháng 4 2 ội, ngày năm 202
2
Mục lục
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 3
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................... 3
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài .......................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 4
5. Kết cấu của đề tài ................................................................................................ 4
NỘI DUNG ................................................................................................................. 5
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa ................................. 5
tư bản độc quyền ..................................................................................................... 5
1.1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu tư bản................................................ 5
1.2. Các hình thức xuất khẩu tư bản ..................................................................... 6
1.3. Tác động tích cực và tiêu cực của xuất khẩu tư bản đến nước xuất khẩu và
nước ......................................................................................... 7 nhập khẩu tư bản
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam .................................................. 9
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam .... 9
2.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn trước đại dịch Covid-19 ... 9
2.2.1. Thực trạng thu hút FDI theo quy vốn và dự án đầu tư ................. 10
2.2.2. Thực trạng thu hút FDI theo lĩnh vực đầu tư ...................................... 11
2.2.3. Thực trạng thu hút FDI theo đối tác đầu ........................................ 12
2.3. Ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam- . 13
2.3.1. Ảnh hưởng theo quy mô vốn và dự án đầu tư ..................................... 13
2.3.2. Ảnh hưởng theo lĩnh vực đầu tư .......................................................... 15
2.3.3. Ảnh hưởng theo đối tác đầu tư ............................................................ 16
2.3.4. Cơ hội và thách thức đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam hậu
Covid-19 ........................................................................................................ 16
Chương 3: Giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay ........... 18
3.1. Giải pháp của Chính phủ ............................................................................. 18
3.2. Giải pháp của doanh nghiệp ........................................................................ 19
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 21
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 35 năm đổi mới, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nền
kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa đã từng bước được hình thành
phát triển Việt Nam Sự điều chỉnh trên đã mang lại nhiều kết quả đáng khích lệ: .
bộ máy nhà nước hiệu quả hơn, môi trường kinh doanh cải thiện, tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp, nhân tham gia hoạt động kinh doanh. Việt Nam các
cũng dần hội nhập với các nước trên thế giới, hoạt động xuất khẩu tư bản ngày càng
diễn ra mạnh mẽ, không chỉ đầu bản sang các nước đang phát triển hay kém
phát triển mà Việt Nam còn đầu tư sang Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh… hực Tuy nhiên, t
tế, so với các ớc đã phát triển, Việt Nam thiếu vốn đầu tư, thị trường công
nghệ để phát triển xuất khẩu bản. Đặc biệt do tác động tiêu cực của đại dịch
Covid-19, quá trình thu hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam ng gặp nhiều trở ngại,
đòi hỏi phải có những biện pháp triệt để, nhằm tiếp tục thu hút hiệu quả vốn đầu
FDI, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước. Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề
này, em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư
bản độc quyền. Làm ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến thu hút FDI vào -
Việt Nam.”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài nắm được những đặc điểm xuất khẩu bản
của chủ nghĩa tư bản độc quyền, từ đó làm rõ ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến -
thu hút FDI vào Việt Nam.
Để thực hiện được mục trên, cần giải quyết những nhiệm vsau: làm tiêu
sở luận về xuất khẩu bản của chủ nghĩa bản độc quyền, thực trạng thu
hút vốn đầu FDI o Việt Nam đưa ra các giải pháp để tăng cường thu hút
FDI vào Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: xuất khẩu bản dòng vốn đầutrực tiếp từ nước
ngoài (FDI).
Phạm vi nghiên cứu: xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền và việc
thu hút FDI vào Việt Nam.
4
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng
phương pháp luận của kinh tế chính trị Mác ác phương Lênin. Ngoài ra còn c
pháp khoa học kinh tế được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài là các phương
pháp đặc thù của kinh tế chính trị như phương pháp trừu tượng hóa, đi từ trừu tượng
tới cụ thể, đối chiếu, so sánh, logic kết hợp với lịch sử, phân tích, tổng hợp…
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài của em gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam
Chương 3: Giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay
5
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa
tư bản độc quyền
1.1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu tư bản
Xuất khẩubản hay còn gọi là đầu bản ra nước ngoài, là việc tài chính
xuất khẩu giá trra nước ngoài nhằm thu được giá trị thặng các nguồn lợi
khác ở các nước nhập khẩu tư bản. ất khẩu tư bản làm mở rộng quan hệ sản xuất Xu
bản chủ nghĩa ra nước ngoài được xem đặc điểm của chủ nghĩa bản độc
quyền.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu bản trở nên phổ biến sở
là do một số nước phát triển chiếm số lượng tư bản dồi dào, dưới tác động của khoa
học kỹ thuật sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động tăng lên,
dẫn đến một vài bộ phận trở thành “tư bản thừa” nên họ phải xuất khẩu bản
không tìm được nơi đầu tỷ suất lợi nhuận cao trong nhiều nước. Ngoài ra,
nước chậm phát triển, lạc hậu về kinh tế muốn giao lưu, hội nhập với kinh tế thế
giới nhưng lại rất thiếu tư bản.
Đối với các tập đoàn độc quyền, việc đưa tư bản ra nước ngoài để tìm kiếm
nơi đầu tư có lợi nhất trở thành điều tất yế , gắn liền với sự tồn tại của các tổ chức u
độc quyền. Trước kia, các nước lạc hậu về kinh tế, kém phát triển rất hấp dẫn đầu tư
tư bản. Nhưng những thập kỷ gần đây, đại bộ phận dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa
các nước tư bản phát triển với nhau. Nguyên n do ở các nước tư bản phát triển hân là
đã phát triển các ngành hàm lượng khoa học kỹ thuật cao hàm lượng vốn
lớn nên đầu vào đây sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Còn các nước kém phát
triển, tuy nguyên liệu, đất đai rẻ nhưng kết cấu hạ tầng lạc hậu, đầu vào đó ít
nhiều sẽ gặp rủi ro nên tỷ suất lợi nhuận không còn cao như trước đây. Cuộc cách
mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những biến đổi nhảy vọt trong sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Nhiều ngành ng nghệ mới lần lượt ra đời mang lại lợi
nhuận siêu ngạch lớn như công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ ng
lượng, công nghệ thông tin. Những ngành này sử dụng công nghệ hiện đại, ít tốn
nguyên, nhiên vật liệu, rủi ro thấp, đang xu hướng đi lên các nước phát
triển, vậy nên các nhà bản đổi hướng xuất khẩu bản từ các nước lạc hậu về
kinh tế sang các nước phát triển. Ngày nay xuất khẩu tư bản còn là quan hệ quốc tế;
6
mrộng quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa ra nước ngoài còn công cụ thống trị
của tài chính tư bản thế giới; là công cụ để thực hiện nền kinh tế mở.
1.2. Các h ình thức xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức. Nếu xét về cách thức đầu tư thì
ta có hai hình thức chủ yếu đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản trong đó một doanh nghiệp, một
công ty hoặc một quốc gia trực tiếp đầu tư tư bản sang nước ngoài để sản xuất, kinh
doanh, Foreign Direct thu lợi nhuận. đầu trực tiếp được gọi FDI (
Investment). Theo định nghĩa của tổ chức thương mại thế giới WTO, đầu trực
tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu từ một nước (nước chủ đầu tư) được
một tài sản một nước khác (nước thu t đầu tư) cùng với quyền quản tài sản
này. dthể kể đến một số dự án FDI lớn năm 2021 đến nay n án Nhà máy
điện LNG Long An I và II (Singapore với mục tiêu truyền tải và phân phối điện, sản
xuất điện tại Long An (cấp GCNĐKĐT ngày 19/3/2021); án LG Display Hải d
Phòng (Hàn Quốc án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản) với mục tiêu); d
xây dựng một nhà máy nhiệt điện nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp điện cho lưới
điện khu vực và hệ thống điện quốc gia tại Cần Thơ…
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc cho vay để thu lợi tức, mua
cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ giá khác, quỹ đầu chứng khoán
thông qua các định chế tài chính trung gian khác nhà đầu không trực tiếp
tham gia quản hoạt động đầu tư. Đầu gián tiếp được gọi FII (Foreign
Institutional Investment). Ngày nay, hình thức này còn được thực hiện bằng việc
mua trái khoán hay cổ phiếu của các công ty ở nước nhập khẩu tư bản.
Sự khác nhau nhất giữa đầu gián tiếp đầu trực tiếp nhà đầu
theo hình thức trực tiếp chủ động hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, không thông
qua bất cứ bên thứ ba nào, đối với hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư không còn
trực tiếp kinh doanh đầu thu lợi nhuận đều thông qua bên thứ ba. Ngày nay,
hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, trong đầu tư trực tiếp xuất hiện những hình
thức mới như: y dựng chuyển giao BT)… kinh doanh (Built and Transfer
Hơn nữa sự đan xen giữa xuất khẩu bản các hợp đồng buôn bán hàng hóa,
dịch vụ, chất xám,… không ngừng tăng lên.
7
Nếu xét về chủ sở hữu, thể phân thành xuất khẩu bản nhà nước xuất
khẩu tư bản tư nhân.
Xuất khẩu bản nhà nước nhà ớc bản độc quyền lấy nguồn vốn từ
ngân quỹ của mình, tiền của các tổ chức độc quyền, hoặc viện trợ hoàn lại hay
không hoàn lại để đầu vào nước nhập khẩu bản nhằm thực hiện những mục
tiêu về kinh tế, chính trị quân sự kinh tế, xuất khẩu bản nhà nước thường . Về
hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu
của tư bản tư nhân. Về chính trị, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ
chính trị thân cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phthuộc lâu dài, tạo
điều kiện cho nhân xuất khẩu bản. Về quân sự, viện trợ của bản nhà nước
nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện
trợ phải cho các nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình...
Xuất khẩu bản nhân hình thức chủ yếu của xuất khẩu bản, do
nhân thực hiện. Hình thức này đặc điểm là thường được đầu vào các ngành
kinh tế vòng quay bản ngắn thu được lợi nhuận độc quyền cao. Ngày nay,
xuất khẩu bản nhân chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hành thông
qua hoạt động đầu kinh doanh, xu ớng phát triển nhanh, chiếm tỷ lệ cao
trong tổng tư bản xuất khẩu. Nếu những năm 70 của thế kỷ XX, xuất khẩu bản tư
nhân đạt trên 50% thì đến những năm 80 của thế kỷ này đã đạt tlệ 70% trong
tổng tư bản xuất khẩu.
1.3. Tác động tích cực và tiêu cực của xuất khẩu tư bản đến nước xuất khẩu và
nước nhập khẩu tư bản
Xuất khẩu bản đem lại những tác động tích cực nhữngcả tác động tiêu
cực tới các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu tư bản.
Đối với nước xuất khẩu tư bản, có những tác động tích cực sau đây:các
Thứ nhất, v iệc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất của tư bản chủ
nghĩa ra nước ngoài công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị, bóc lột, nên nó là
nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi toàn thế giới.
Thứ hai, xuất khẩu bản giúp cho các chủ thể phân tán rủi ro trong trường
tình hình kinh tế, chính trị bất ổn trong nước. Bởi chủ nghĩa tư bản các phát triển thì
càng gây ra nhiều mâu thuẫn gay gắt về kinh tế hội, việc xuất khẩu bản sẽ -
làm giảm mức gay gắt đó.
8
Đối với các nước nhập khẩu tư bản, có những tác động tích cực sau đây:
Thứ nhất, bằng cách vận dụng linh hoạt, khéo o các nguyên tắc cùng lợi,
lựa chọn các phương án thiết thực để khai thác nguồn lực quốc tế có hiệu quả, nhiều
nước nhập khẩu tư bản đã mở cửa để tiếp nhận đầu tư nhằm thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước mình. Chẳng hạn qua hình thức thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài, các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỹ thuật công nghệ
từ các nước đầu tư sang nước mình.
Thứ hai, nước nhập khẩu tư bản có cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Thứ ba, việc xuất khẩu tư bản giúp thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công
lao động và quốc tế hoá đời sống kinh tế của các nước nhập khẩu tư bản.
Về những tác động tiêu cực, xuất khẩu tư bản những tác động trực tiếp ảnh
hưởng tới các nước nhập khẩu tư bản như sau:
Thứ nhất, người lao động bị bóc lột sức lao động, nước nhập khẩu tư bản (đặc
biệt các nước chậm phát triển) trở nên lệ thuộc vào nền kinh tế của nước bản
chủ nghĩa. Từ đó làm mâu thuẫn kinh tế xã hội gia tăng.-
Thứ hai, khi tiếp nhận công nghệ chuyển giao, một vài bộ phận nhà ớc
các nước nhập khẩu bản quản lỏng lẻo nên xuất hiện việc chuyển giao nhỏ
giọt, thông thường là công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường…
9
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam
Trước khi nước ta thực hiện chính sách đổi mới về kinh tế năm 1986, nước ta
chỉ quan hhợp tác với Liên Xô, Trung Quốc một snước hội chủ nghĩa
khác. Thông qua hợp tác, tương trợ, các nước hội chủ nghĩa đặc biệt Liên
và Trung Quốc đã giúp nước ta xây dựng một số công trình công nghiệp để đặt nền
móng bước đầu cho cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Luật Đầu nước ngoài đã được Quốc hội thông qua ban hành vào ngày
29/12/1987 với mục tiêu đổi mới mở cửa nền kinh tế, đánh dấu bước ngoặt cho
việc chính thức hóa dòng vốn đầu nước ngoài vào Việ Nhờ chủ trương t Nam.
đúng đắn của Đảng Nhà nước, trải qua chặng đường 35 năm đến nay, khu vực
kinh tế vốn đầu tư nước ngoài đã ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng
trong - sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện
cho sự phát triển của kinh tế vốn FDI, coi đây một bộ phận hữu của nền
kinh tế Việt Nam. Qua các kỳ Đại hội, Đảng Nhà nước khuyến khích đầu tư vào
các bộ phận có tiềm năng, khả năng sinh lời, hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực
dấu hiệu thừa khả năng bão hòa trên thị trường trong ngoài nước. Cần
hướng thành phần kinh tế này phát triển mạnh vào xuất khẩu hàng hóa, vào việc xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Đảng và Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích còn
hợp pháp cho các chủ đầu nước ngoài để họ yên tâm kinh doanh; bảo vệ quyền
lợi cho người lao động trong các doanh nghiệp đầu trực tiếp ớc ngoài. Chính
quyền cũng đã đang cải thiện môi trường kinh doanh khuôn khổ pháp để
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Như vậy, việc thu hút vốn đầu nước ngoài vào Việt Nam là chủ trương lớn
của Đảng Nhà nước, góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước hội nhập quốc tế.
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách như: ưu đãi về thuế, thủ tục, giá
cho thuê đất… là những động thái tích cực để tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu Đây
tư nước ngoài.
2.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn trước đại dịch Covid-19
Sau 35 năm kể từ khi Quốc hội thông qua Luật Đầu nước ngoài (năm
1987), Việt Nam ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu trực tiếp nước ngoài
10
(FDI). FDI đã dần khẳng định được vai trò quan trọng trong việc thực hiện những
mục tiêu để ển kinh tế ở Việt Namphát tri .
2.2.1. Thực trạng thu hút FDI theo quy mô vốn và dự án đầu tư
Tính đến tháng 8/2018, Việt Nam đã hơn 26.500 dự án FDI, với tổng vốn
đăng hơn 334 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ USD. Theo báo cáo 2017
của Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hợp quốc, Việt Nam đứng thứ 12 trong
số những quốc gia thành công nhất về thu hút FDI. Các con số trên đã đóng góp
20% GDP nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu phát triển với tỷ trọng
khoảng 23,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Cụ thể, ta quy thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988 2019 như
sau:
Quy mô dòng FDI vào Việt Nam (1988 -2019)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Sau khi ban hành Luật FDI, trong 3 năm đầu 1988 1990, việc thu hút vốn
đầu nước ngoài vào Việt Nam vẫn còn hạn chế hỉ 211 dự án với tổng vốn , c
đăng ký đạt 1603,5 triệu USD Tuy nhiên sang đến giai đoạn 1991 1995, việc thu .
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu có sự tăng trưởng đáng kể với tổng cộng
1 379409 dự án, tổng số vốn đăng 18 ,1 triệu USD Giai đoạn này thể được .
coi giai đoạn khởi sắc của việc thu hút FDI vào Việt Nam. Do sự cạnh tranh
mạnh mẽ với các quốc gia cùng khu vực các yếu tố về môi trường đầu nên
11
giai đoạn từ năm 1996 dấu hiệu sụt giảm cả về số vốn đăng đầu 2000, FDI
2005, quy mô của dự án. Sang đến giai đoạn 2001 – FDI có dấu hiệu cải thiện
nhưng mới tốc độ chậm, cải thiện không đáng kể. Tiếp đến giai đoạn 2006
2010, việc thu hút vốn đầu nước ngoài vào Việt Nam những biến động bất
thường. Năm 2007 năm 2008, dòng vốn đổ nước ta tăng lên nhanh FDI vào
chóng, do từ tháng 1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) Đến năm 2009 2010, do ảnh hưởng bởi khủng .
hoảng kinh tế toàn cầu, FDI đổ o Việt Nam cũng bị sụt giảm đáng kể. Năm 2011,
1186 dự án được cấp mới với tổng số vốn đăng 15589 triệu USD (giảm
21,57% so với năm 2010). Đến giai đoạn 2015, số lượng dự án FDI và tổng 2012 -
số vốn đăng ký mới xu hướng cải thiện. Giai đoạn từ năm 2016 2019 có những
dấu mốc cùng ý nghĩa: vào năm 2016, hàng loạt Hiệp định thương mại tự do
(FTA) hiệu lực, nguồn vốn đầu FDI đổ vào xu hướng tăng lên; năm 2017
vốn FDI đăng đạt khoảng gần 36 tỷ USD thực hiện đạt trên 17 tỷ USD, cao
nhất trong vòng 10 năm trở lại. Tính đến 20/12/2019, Việt Nam đã thu hút tổng số
vốn đầu nước ngoài đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2018. Qua những s
liệu trên, ta thấy thực trạng thu hút FDI Việt Nam kể từ m 1988 những
chuyển biến rất phức tạp, tuy nhiên tổng vốn FDI số dự án có xu hướng tăng lên
theo thời gian.
2.2.2. Thực trạng thu hút FDI theo lĩnh vực đầu tư
Ngày nay, các chủ đầu ớc ngoài xu ớng đổ vốn FDI vào một i
nhóm ngành chủ lực, liên quan tới việc cắt giảm thuế quan mở cửa các lĩnh vực
đầu tư hấp dẫn theo cam kết FTA.
Theo lĩnh vực đầu tư, tính chung trong năm 2019, 19 lĩnh vực Việt Nam
đã được các nhà đầu nước ngoài đầu vào. Trong đó lĩnh vực công nghiệp chế
biến, , vchế tạo được đầu nhiều nhất ới tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm
64,6% tổng vốn đầu đăng Ngành bất động sản xu hướng tăng nhanh, chỉ .
sau ngành c . ông nghiệp chế biến, chế tạo Tổng quát trong hơn 30 năm qua, đầu
vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản chỉ chiếm 2,8% tổng s dự án, nhưng chiếm
tới 16,8 % tổng vốn đăng ký; vốn đầu bình quân lên tới 74,4 triệu USD/dự án,
gấp hơn 5 lần quy vốn bình quân mỗi dự án trong ngành công nghiệp chế biến,
12
chế tạo. Tiếp theo là các lĩnh vực bán buôn bán lẻ, hoạt động chuyên môn khoa học
công nghệ,…
Tuy nhiên, sức t đầu FDI của các ngành khác còn hạn chế, điển hình
ngành nông nghiệp mà dân số Việt Nam lại tập trung chủ yếu vùng nông thôn
(khoảng 67%). Lao động làm việc trong khu vực này chiếm khoảng 46% trên tổng
số lao động toàn hội nông nghiệp đóng góp khoảng 17% GDP Việt Nam
(Tổng cục Thống kê, 2016) nhưng nguồn vốn FDI đầu vào lĩnh vực này chỉ
chiếm 1,7% tổng số dự án 1% tổng số vốn FDI vào Việt Nam. Như vậy, thể
nói Việt Nam còn hạn chế trong việc thu t FDI vào ngành nông nghiệp do mức
đầu tư thấp và môi trường kinh doanh chưa thuận lợi.
2.2.3. Thực trạng thu hút FDI theo đối tác đầu tư
Trong năm 2019, đã có 125 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.
Cụ thể như sau: Dẫn đầu Hàn Quốc với tổng vốn đầu 7,92 tỷ USD, chiếm
20,8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hồng Kông đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư
7,87 tỷ USD (trong đó, 3,85 tỷ USD mua cổ phần vào công ty TNHH Vietnam
Beverage tại Nội, chiếm 48,9% tổng vốn đầu của Hồng Kông); Singapore
đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn
đầu tư. Tiếp đến là Nhật Bản, Trung Quốc,... Trong đó, đầu tư từ Trung Quốc, Hồng
Kông có xu hướng so với cùng kỳ do tác động của chiến tranh thương mại ng lên
Mỹ - Trung.
Có thể kể đến một số dự án lớn mà các nước trên đã đầu tư vào Việt Nam như:
dán Công ty TNHH Techtronic Tools (Hồng Kông) với mục tiêu xây dựng nhà
máy sản xuất Trung tâm nghiên cứu phát triển sản xuất các phụ kiện, thiết bị
điện cầm tay thông minh dùng trong ngành công nghiệp và dân dụng tại TP Hồ Chí
Minh; d ; dán LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc) án chế tạo lốp xe Radian toàn
thép ACTR (Trung Quốc), đầu tại Tây Ninh với mục u sản xuất lốp xe toàn tiê
thép TBR; dự án Nhà máy sản xuất Màn Hình Lcd-Qisda Việt Nam (Đài Loan), đầu
tại Nam với mục tiêu sản xuất màn hình tinh thể lỏng LCD… Các dự án chủ
yếu đầu vào lĩnh vực công nghệ điện tử hiện đại, công nghiệp chế biến chế tạo,
vật liệu tiêu dùng. hu vực đầu nước ngoài cũng đã đóng góp Ngoài ra, k không
nhỏ vào phát triển những ngành dịch vụ chất lượng cao Việt Nam như tài chính -
ngân hàng, kiểm toán, vận tải biển, bảo hiểm, giáo dục đào tạo, logistics, y tế, - du
13
lịch… Ngày nay do sự phát triển của công nghệ, lĩnh vực thương mại điện tửViệt
Nam cũng đang rất thu hút FDI từ Trung Quốc. Vào năm 2016 đến 2018, hai sàn
thương mại điện tử phát triển nhất Việt Nam Lazada Tiki đều được đầu từ
các doanh nghiệp của Trung Quốc. Trong năm 2016 2017, tập đoàn Alibaba của
Trung Quốc đã đầu tư khoảng 2 tỷ USD vào Lazada.
2.3. Ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam-
Nhìn chung, xét trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid 19 vào năm 2020, thế -
giới cũng như Việt Nam chưa có nhiều chính sách để vừa chống dịch, vừa phát triển
kinh tế nên nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng dẫn đến vốn đầu
nước ngoài đăng ký vào Việt Nam sụt giảm, chỉ đạt 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với
năm 2019 năm 2021, tuy dịch bệnh diễn biến phức tạp, Việt Nam vẫn thu hút . Đến
31,15 tỷ USD vốn FDI, tăng 9,2% so với năm 2020.
2.3.1. Ảnh hưởng theo quy mô vốn và dự án đầu tư
Từ ngày 1/1/2020 đến 20/11/2020, 2313 dự án mới được cấp giấy chứng
nhận đầu tư, giảm khoảng 33,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó 26,43 tỷ
USD vốn đầu đăng 17,2 tỷ USD vốn thực hiện, giảm lần lượt 16,9%
2,4% so với cùng kỳ năm 2019. c biện pháp giãn cách để giảm thiểu lây nhiễm
Covid-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng, giảm doanh thu doanh nghiệp nguyên
nhân dẫn tới tình trạng FDI suy giảm đáng kể trong khoảng thời gian này.
Đại dịch Covid-19 ng phát khiến cho các nhà đầu khó khăn trong việc
tìm nơi đầu mới. Một số nhà đầu nước ngoài đã thay đổi tầm nhìn về chuỗi
14
cung ứng. Nhiều thông tin cho thấy, Apple đang tăng cường trở lại dây chuyền sản
xuất tại Trung Quốc khi các đối tác Việt Nam Ấn Độ bị ảnh hưởng nặng nề
bởi dịch bệnh. ịch bệnh bùng phát lần thứ 4 tại Việt Nam đã ảnh hưởng tiêu cực D
đến nỗ lực trong việc thu hút dòng vốn FDI. Trong thời gian đó, các khu công
nghiệp phải tạm thời đóng cửa, khả năng đứt gãy chuỗi cung ứng của nhiều tập
đoàn toàn cầu là một vấn đề đáng lo ngại. Điều này đòi hỏi chính phủ phải có những
chính sách, chế mạnh mẽ, quyết liệt hơn để phục hồi dòng vốn đăng thu
hút các dự án FDI vào Việt Nam.
Sang đến năm 2021, đại dịch Covid-19 diễn biến rất phức tạp, xuất hiện nhiều
biến chủng mới, làm cho nền kinh tế của Việt Nam và các nước trên thế giới bị ảnh
hưởng nặng nề. Mặc dù vậy, lượng vốn FDI vào Việt Nam vẫn đạt kết quả cao hơn
dự báo. Nguyên nhân FDI dần phục hồi do Chính phủ và các quan chức năng
đã kịp thời đưa ra các biện pháp để tháo gỡ những khó khăn giúp phòng chống dịch
và thúc đẩy kinh tế phát triển, hướng dẫn người dân thích nghi với dịch bệnh, chuẩn
bị cho trạng thái bình thường mới. Vậy nên các doanh nghiệp đã dần phục hồi sản
xuất, kinh doanh. Số liệu của Cục Đầu nước ngoài cho thấy 1.738 dự án mới
được cấp Giấy chứng nhận đăng đầu tư, với tổng vốn đăng đạt trên 15,2 tỷ
USD, tương đương giảm 31,1% về dự án tăng 4,1% về giá trị so với cùng kỳ
năm 2020. Số dự án đăng năm 2021 xu hướng giảm khá mạnh do Việt Nam
đã sự chọn lọc kỹ ỡng những dự án quy nhỏ, ít giá trị gia tăng. Về số
vốn góp, mua cổ phần vốn góp của các nhà đầu nước ngoài vào các dự án của
Việt Nam ghi nhận 3.797 lượt, với giá trị vốn góp đạt gần 6,9 tỷ USD, giảm
khoảng 7,7% so với năm 2021. sự sụt giảm như vậy do giãn cách hội kéo
dài, hạn chế nhập cảnh để phòng chống Covid 19 nên các chủ đầu nước ngoài -
khó có thể sang Việt Nam để khảo sát và làm các thủ tục đầu tư.
Tuy nhiên tới năm 2022, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm
đến nay , Việt Nam thu hút gần 5 tUSD vốn FDI, con số này bằng (4/4/2022)
91,5% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng kết quả này đã hấy tín hiệu tích cực cho t
trong đại dịch. Trong đó vốn thực hiện của dự án đầu nước ngoài trong 2 tháng
đầu năm đạt 2,68 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 0,4 điểm %
so với tháng 1/2022. Đáng chú ý, sau ngày 15/3 các chính sách thị thực được nới
15
lỏng, sẽ điều kiện quan trọng thu hút nguồn vốn đầu nước ngoài đổ bộ vào
Việt Nam.
2.3.2. Ảnh hưởng theo lĩnh vực đầu tư
Tính cả năm 2021, các nhà đầu nước ngoài đã đầu vào 18 ngành trong
tổng số 21 ngành kinh tế của Việt Nam. Trong đó, dẫn đầu ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo với tổng vốn đầu đạt trên 18,1 tỷ USD, chiếm 58,2% tổng vốn
đầu tư đăng ký do sở hữu dự án có quy mô lớn nên ngành sản xuất, phân phối điện ;
đã leo lên vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng vốn
đầu đăng ký; tiếp theo ngành kinh doanh bất động sản với tổng vốn đăng
đạt trên 2,6 tỷ USD; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt 1,4 tỷ USD. Còn lại
là các ngành khác. Các số liệu trên được minh họa bằng biểu đồ sau:
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Đợt bùng phát dịch Covid-19 thứ ảnh hưởng chủ yếu đến cả ba lĩnh vực:
công nghiệp, dịch vụ xây dựng. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tốc độ tăng
trưởng của ngành công nghiệp giảm từ 9% năm 2019 xuống còn 3,6% trong quý 3
năm 2021, ngành dịch vụ xây dựng cũng giảm lần lượt từ 7,3% xuống âm 0,7%
và từ 9,1% xuống 3,1%.
Mới đây, Chính phủ đã cho mở cửa trở lại đối với ngành du lịch, nối lại các
chuyến bay thường lệ quốc tế công nhận hộ chiếu vaccine lẫn nhau với 17 quốc ,
16
gia. Trong đó nhiều nước tỷ lệ đầu FDI lớn vào Việt Nam như Mỹ, Nhật
Bản, Anh, Hàn Quốc… Ngành du lịch dần phục hồi, bất động sản cũng được hưởng
lợi và sẽ phát triển hơn trong thời gian tới.
Như vậy, nói một cách khái quát, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ
tới việc thu hút FDI vào các ngành kinh tế của Việt Nam. Chẳng hạn như tổng số
vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2021 đã giảm khoảng 6.46
tỷ USD so với năm 2019. Đây sự sụt giảm đáng kể, đòi hỏi chính phủ doanh
nghiệp FDI cần những biện pháp hữu hiệu để vốn đầu nước ngoài vào các
ngành kinh tế của nước ta phát triển trở lại.
2.3.3. Ảnh hưởng theo đối tác đầu tư
"Với tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp tại các quốc gia
đối tác FDI lớn của Việt Nam hiện nay như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…,
dòng vốn FDI đầu vào nước ta năm 2020 thể bị ảnh hưởng không nhỏ",
chuyên gia của Công ty Chứng khoán Bảo Việt lo ngại. ới năm 2021, đ Tuy nhiên t ã
106 quốc gia vùng lãnh thổ đầu Việt Nam Trong đó, Singapore dẫn vào .
đầu với tổng vốn đầu trên 10,7 tỷ USD, chiếm 34,4% tổng vốn đầu vào Việt
Nam, tăng 19,1% so với cùng kỳ 2020; Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 5 tỷ USD,
chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư, tăng 25,4% so với cùng kỳ. Nhật Bản đứng thứ 3 với
tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,9 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư, tăng 64,6%
so với cùng kỳ. Tiếp theo Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,… Bước sang
tháng 3/2022, Việt Nam tiếp tục đón nhận rất nhiều dự án FDI “khủng” từ các đối
tác đầu tư, trị giá hàng tỷ USD. Cụ thể Tập đoàn Fuchs, doanh nghiệp dầu nhớt
hàng đầu của Đức đã mở rộng hoạt động tại Việt Nam với việc thuê dài hạn khu -
đất 20.000 m2 tại Khu công nghiệp Chuyên sâu Phú Mỹ 3 hay việc ung bổ Sams
sung thêm 920 triệu USD trường Thái Nguyên, nâng tổng vốn đầu vào vào th
Khu công nghiệp Yên Bình tại thị xã Phổ Yên lên 2,27 tỷ USD Như vậy, dòng vốn .
FDI vẫn đang đặt niềm tin rất cao vào thị trường Việt Nam, ngay cả trong bối cảnh
việc nhập cảnh khó khăn.
2.3.4. -19 Cơ hội và thách thức đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam hậu Covid
Tổ chức y tế Thế giới (WHO) dự báo dịch Covid-19 thể được kiểm soát
trên phạm vi toàn cầu vào giữa năm 2022, khuyến cáo các quốc gia cần chuyển sang
trạng thái bình thường mới, mở cửa với thế giới, phục hồi phát triển kinh tế. Đó
17
cũng chủ trương của Đảng Nnước ta để vượt qua những khó khăn, mở ra
những hội tiếp nhận FDI vào Việt Nam. Việc hạn chế tối đa những thiệt hại do
dịch 19, nhanh chóng ổn định và chuyển sang giai đoạn phục hồi nền kinh tế Covid-
sau dịch là nền tảng để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam.
Mặc dù vậy, vẫn còn tồn tại một số thách thức đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần
đưa ra các biện pháp để cải thiện nhằm thu hút FDI sau khi tình hình dịch bệnh ổn
định trở lại:
Một là, do sự lựa chọn không kỹ lưỡng về các dự án đầu nước ngoài, Việt
Nam đang nguy trở thành “bãi rác công nghệ” của thế giới. Nhiều dự án đầu
tư vào Việt Nam đang sử dụng những công nghệ lỗi thời của họ nhưng vì Việt Nam
quốc gia đang phát triển nên chúng ta vẫn cần đến. Điều này thể gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng.
Hai là, các nhà đầu nước ngoài khi tham gia vào thị trường Việt Nam
thường lo ngại vì thủ tục liên quan phức tạp, rườm rà. Trong đó có các thủ tục tr ong
lĩnh vực thuế phí, bảo hiểm xã hội.
Ba là, những doanh nghiệp FDI chưa đảm bảo quyền lợi chính đáng cho
người lao động Việt Nam. Họ tuyển dụng lao động nước ngoài,cả lao động ph
thông, điều này là trái với pháp luật. Thực trạng này khiến cho quan hệ lao động trở
nên căng thẳng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
18
Chương 3: Giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay
3.1. Giải pháp của Chính phủ
Từ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới thu hút FDI vào Việt Nam, muốn thu
hút vốn đầu trực tiếp nước ngoài một cách hiệu quả, c giả đề xuất một số
giải pháp cho Chính phủ Việt Nam như sau:
Một là, sử dụng các biện pháp làm tăng tổng sản phẩm quốc nội thông qua
việc điều chỉnh các chính sách kinh tế . h phủ cần thực hiện chính sách Chín
tiền tệ chính sách tài khóa mở rộng, tăng chi tiêu chính phủ, tăng cường đẩy
nhanh tiến độ đầu công làm tổng cầu tăng, kích thích sản xuất, kinh doanh
hiệu quả tạo tiền đề thu hút FDI trong tương lai. Đây một trong những giải pháp ,
hàng đầu nhằm thu hút FDI vào Việt Nam.
Hai là, cần cải thiện nguồn nhân lực. Ngày nay, nguồn nhân lực chất lượng
cao điểm nhấn để thu hút các nhà đầu nước ngoài, thay nguồn nhân lực giá
rẻ như trước đây. Chính phủ cần thúc đẩy sự kết nối doanh nghiệp FDI và các trung
tâm dạy nghề để đào tạo cho nguồn nhân lực phù hợp với thời đại 4.0. Nhờ đó, thị
trường sức lao động Việt Nam sẽ hội cạnh tranh trên thị trường quốc tế để
hội nhập, phát triển kinh tế đất nước. Hơn nữa, cần khuyến khích các hoạt động
nghiên cứu khoa học, đầu tư khoa học, công nghệ hiện đại tại các doanh nghiệp; có
chính sách thu hút, kêu gọi người tài về làm việc trong ớc; giáo dục cần
thuyết đi đôi với thực hành.
Ba là, tin cho các nhcủng cố niềm à đầu nước ngoài. Đthực hiện được
giải pháp này, trước hết cần thực hiện chính sách bảo vệ môi trường. Một i
trường kinh doanh thân thiện, ít chất gây ô nhiễm sẽ thu hút các nhà đầu ớc
ngoài. vậy, cần sử dụng các nguyên, nhiên liệu đầu vào thân thiện với môi
trường, tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh. Đảng
và Nhà nước cần tiết kiệm tối đa thời gian cho các thủ tục hành chính bằng cách sử
dụng các văn bản hướng dẫn, hồ sơ tinh gọn, dễ hiểu, quy định rõ ràng trách nhiệm
của từng bộ phận trong việc xử các thủ tục hành chính. Ngoài ra, Chính phủ cần
theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư, chính sách pháp luật cần cởi
mở, minh bạch. Đối với các trường hợp làm hàng giả, hàng nhái, cố ý xâm phạm
thương hiệu, Nhà nước cần đưa ra những biện pháp để răn đe và xử lý theo quy định
của pháp luật.
19
Bốn là, tăng cường nới lỏng việc nhập cảnh thích nghi với trạng thái
bình thường mới để thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển trở lại. Hiện
nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 nhìn chung đã giảm nguy hiểm. Vì vậy, việc cho
phép các quốc gia nhập cảnh vào Việt Nam hội để thu hút FDI vào nước ta.
Tuy nhiên, -19 nếu dịch bệnh Covid trở nên căng thẳn hơn, Chính phủ cần có những
biện pháp mới hiệu quả để vừa phòng chống dịch, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển,
chẳng hạn như tăng cường vận động công dân tiêm đủ liều vacxin…
3.2. Giải pháp của doanh nghiệp
Trước hết để thu hút FDI vào Việt Nam, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt ,
động thương mại về hàng hóa dịch vụ. Đcác nhà đầu nước ngoài chọn hợp
tác với một doanh nghiệp, doanh nghiệp đó cần chú ý đến giá trị, dịch vụ của các
sản phẩm xuất khẩu sang nước ngoài. doanh nghiệp cần chú trọng vào việc cải Các
tiến khoa học kỹ thuật, sử dụng các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào thân thiện với
môi trường, xử chất thải hợp lý. Khi quyết định hợp tác với nhà đầu nước
ngoài, cần chọn lọc dự án kỹ lưỡng, ưu tiên các dự án công nghệ tiên tiến, hiện
đại, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, giá trị gia tăng cao, tác động kết nối
chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu, tránh những dự án ít giá trị gia tăng. Đặc
biệt, tránh các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm bị các nhà đầu tư nước ngoài kiểm
soát và thâu tóm, vậy nên, cần xác định ngưỡng cho phép các cổ phần tại các doanh
nghiệp mà các nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ. Hơn thế, các doanh nghiệp cần
phải thường xuyên cập nhật xu thế, đưa ra các biện pháp điều chỉnh trong kinh
doanh để thích nghi với sự thay đổi của nền kinh tế, nhất trong thời hiện đại hóa
hiện nay.
20
KẾT LUẬN
Bối cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo
hội cho Việt Nam hội nhập quốc tế. Để tận dụng được tốt các hội, tác giả nhận
thức được rằng phải chủ động hội nhập, xây dựng chiến lược thích ứng để gắn kết
hơn nữa nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới. Sau một thời gian dài nghiên
cứu, tác giả nhận thấy việc xuất khẩu tư bản đóng vai trò quan trọng đối với cả nước
xuất khẩu nước nhập khẩu nhân tố đóng vai trò cùng q FDI cũng uan
trọng trong quá trình thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế dài hạn đối với Việt Nam.
Nước ta và toàn thế giới đã phải trải qua hơn 2 năm ròng rã chiến đấu với dịch bệnh
Covid-19, nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhưng nhìn chung, Việt Nam đã
rất nỗ lực để thu hút vốn đầu trực tiếp nước ngoài. Từ những giải pháp nêu trên,
hi vọng trong thời gian tới, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ cải thiện được những
mặt hạn chế phát huy những kết quả đã đạt được nhằm tăng ờng thu hút FDI
vào Việt Nam.

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Kinh tế chính trị Mác Lênin
ĐỀ TÀI 15: Đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa
tư bản độc quyền. Làm rõ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19
đến thu hút FDI vào Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Vũ Mai Phương
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Lớp : K24NHD Mã sinh viên : 24A4012945
Hà Nội, ngày 1 tháng 4 năm 2022 2 Mục lục
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1. Tính cấp thiết của đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
4. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
5. Kết cấu của đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
tư bản độc quyền . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu tư bản. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.2. Các hình thức xuất khẩu tư bản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.3. Tác động tích cực và tiêu cực của xuất khẩu tư bản đến nước xuất khẩu và
nước nhập khẩu tư bản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam . . 9
2.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn trước đại dịch Covid-19 . . 9
2.2.1. Thực trạng thu hút FDI theo quy mô vốn và dự án đầu tư . . . . . . . . . 10
2.2.2. Thực trạng thu hút FDI theo lĩnh vực đầu tư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.2.3. Thực trạng thu hút FDI theo đối tác đầu tư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.3. Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam . 13
2.3.1. Ảnh hưởng theo quy mô vốn và dự án đầu tư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.3.2. Ảnh hưởng theo lĩnh vực đầu tư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.3.3. Ảnh hưởng theo đối tác đầu tư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.3.4. Cơ hội và thách thức đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam hậu
Covid-19 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
Chương 3: Giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay . . . . . . 18
3.1. Giải pháp của Chính phủ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
3.2. Giải pháp của doanh nghiệp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21 3 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 35 năm đổi mới, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước được hình thành và
phát triển ở Việt Nam. Sự điều chỉnh trên đã mang lại nhiều kết quả đáng khích lệ:
bộ máy nhà nước hiệu quả hơn, môi trường kinh doanh cải thiện, tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh. Việt Nam
cũng dần hội nhập với các nước trên thế giới, hoạt động xuất khẩu tư bản ngày càng
diễn ra mạnh mẽ, không chỉ đầu tư tư bản sang các nước đang phát triển hay kém
phát triển mà Việt Nam còn đầu tư sang Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh… Tuy nhiên, thực
tế, so với các nước đã phát triển, Việt Nam thiếu vốn đầu tư, thị trường và công
nghệ để phát triển xuất khẩu tư bản. Đặc biệt là do tác động tiêu cực của đại dịch
Covid-19, quá trình thu hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam càng gặp nhiều trở ngại,
đòi hỏi phải có những biện pháp triệt để, nhằm tiếp tục thu hút hiệu quả vốn đầu tư
FDI, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước. Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề
này, em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư
bản độc quyền. Làm rõ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến thu hút FDI vào Việt Nam.”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài nắm được những đặc điểm xuất khẩu tư bản
của chủ nghĩa tư bản độc quyền, từ đó làm rõ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến thu hút FDI vào Việt Nam.
Để thực hiện được mục tiêu trên, cần giải quyết những nhiệm vụ sau: làm rõ
cơ sở lý luận về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền, thực trạng thu
hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam và đưa ra các giải pháp để tăng cường thu hút
FDI vào Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: xuất khẩu tư bản và dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI).
Phạm vi nghiên cứu: xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền và việc
thu hút FDI vào Việt Nam. 4
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng –
phương pháp luận của kinh tế chính trị Mác – Lênin. Ngoài ra còn có các phương
pháp khoa học kinh tế được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài là các phương
pháp đặc thù của kinh tế chính trị như phương pháp trừu tượng hóa, đi từ trừu tượng
tới cụ thể, đối chiếu, so sánh, logic kết hợp với lịch sử, phân tích, tổng hợp…
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài của em gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam
Chương 3: Giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay 5 NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa
tư bản độc quyền
1.1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản hay còn gọi là đầu tư tư bản tài chính ra nước ngoài, là việc
xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm thu được giá trị thặng dư và các nguồn lợi
khác ở các nước nhập khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản làm mở rộng quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài và được xem là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở nên phổ biến sở dĩ
là do một số nước phát triển chiếm số lượng tư bản dồi dào, dưới tác động của khoa
học kỹ thuật và sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động tăng lên,
dẫn đến một vài bộ phận trở thành “tư bản thừa” nên họ phải xuất khẩu tư bản vì
không tìm được nơi đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao ở trong nước. Ngoài ra, nhiều
nước chậm phát triển, lạc hậu về kinh tế muốn giao lưu, hội nhập với kinh tế thế
giới nhưng lại rất thiếu tư bản.
Đối với các tập đoàn độc quyền, việc đưa tư bản ra nước ngoài để tìm kiếm
nơi đầu tư có lợi nhất trở thành điều tất yếu, gắn liền với sự tồn tại của các tổ chức
độc quyền. Trước kia, các nước lạc hậu về kinh tế, kém phát triển rất hấp dẫn đầu tư
tư bản. Nhưng những thập kỷ gần đây, đại bộ phận dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa
các nước tư bản phát triển với nhau. Nguyên nhân là do ở các nước tư bản phát triển
đã phát triển các ngành có hàm lượng khoa học – kỹ thuật cao và hàm lượng vốn
lớn nên đầu tư vào đây sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Còn ở các nước kém phát
triển, tuy nguyên liệu, đất đai rẻ nhưng kết cấu hạ tầng lạc hậu, đầu tư vào đó ít
nhiều sẽ gặp rủi ro nên tỷ suất lợi nhuận không còn cao như trước đây. Cuộc cách
mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những biến đổi nhảy vọt trong sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Nhiều ngành công nghệ mới lần lượt ra đời và mang lại lợi
nhuận siêu ngạch lớn như công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng
lượng, công nghệ thông tin. Những ngành này sử dụng công nghệ hiện đại, ít tốn
nguyên, nhiên vật liệu, rủi ro thấp, và đang có xu hướng đi lên ở các nước phát
triển, vậy nên các nhà tư bản đổi hướng xuất khẩu tư bản từ các nước lạc hậu về
kinh tế sang các nước phát triển. Ngày nay xuất khẩu tư bản còn là quan hệ quốc tế; 6
mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài còn là công cụ thống trị
của tài chính tư bản thế giới; là công cụ để thực hiện nền kinh tế mở.
1.2. Các hình thức xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức. Nếu xét về cách thức đầu tư thì
ta có hai hình thức chủ yếu đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản trong đó một doanh nghiệp, một
công ty hoặc một quốc gia trực tiếp đầu tư tư bản sang nước ngoài để sản xuất, kinh
doanh, thu lợi nhuận. Và đầu tư trực tiếp được gọi là FDI (Foreign Direct
Investment). Theo định nghĩa của tổ chức thương mại thế giới WTO, đầu tư trực
tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được
một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản
này. Có thể kể đến một số dự án FDI lớn năm 2021 đến nay như dự án Nhà máy
điện LNG Long An I và II (Singapore với mục tiêu truyền tải và phân phối điện, sản
xuất điện tại Long An (cấp GCNĐKĐT ngày 19/3/2021); dự án LG Display Hải
Phòng (Hàn Quốc); dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản) với mục tiêu
xây dựng một nhà máy nhiệt điện nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp điện cho lưới
điện khu vực và hệ thống điện quốc gia tại Cần Thơ…
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc cho vay để thu lợi tức, mua
cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và
thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp
tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp được gọi là FII (Foreign
Institutional Investment). Ngày nay, hình thức này còn được thực hiện bằng việc
mua trái khoán hay cổ phiếu của các công ty ở nước nhập khẩu tư bản.
Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là nhà đầu tư
theo hình thức trực tiếp chủ động hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, không thông
qua bất cứ bên thứ ba nào, còn đối với hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư không
trực tiếp kinh doanh đầu tư và thu lợi nhuận đều thông qua bên thứ ba. Ngày nay,
hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, trong đầu tư trực tiếp xuất hiện những hình
thức mới như: xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (Built and Transfer – BT)…
Hơn nữa sự đan xen giữa xuất khẩu tư bản và các hợp đồng buôn bán hàng hóa,
dịch vụ, chất xám,… không ngừng tăng lên. 7
Nếu xét về chủ sở hữu, có thể phân thành xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân.
Xuất khẩu tư bản nhà nước là nhà nước tư bản độc quyền lấy nguồn vốn từ
ngân quỹ của mình, tiền của các tổ chức độc quyền, hoặc viện trợ hoàn lại hay
không hoàn lại để đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản nhằm thực hiện những mục
tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự. Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường
hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư
của tư bản tư nhân. Về chính trị, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ
chính trị thân cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lâu dài, tạo
điều kiện cho tư nhân xuất khẩu tư bản. Về quân sự, viện trợ của tư bản nhà nước
nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện
trợ phải cho các nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình...
Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức chủ yếu của xuất khẩu tư bản, do tư
nhân thực hiện. Hình thức này có đặc điểm là thường được đầu tư vào các ngành
kinh tế có vòng quay tư bản ngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao. Ngày nay,
xuất khẩu tư bản tư nhân chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hành thông
qua hoạt động đầu tư kinh doanh, có xu hướng phát triển nhanh, chiếm tỷ lệ cao
trong tổng tư bản xuất khẩu. Nếu những năm 70 của thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản tư
nhân đạt trên 50% thì đến những năm 80 của thế kỷ này nó đã đạt tỷ lệ 70% trong
tổng tư bản xuất khẩu.
1.3. Tác động tích cực và tiêu cực của xuất khẩu tư bản đến nước xuất khẩu và
nước nhập khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản đem lại cả những tác động tích cực và những tác động tiêu
cực tới các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu tư bản.
Đối với các nước xuất khẩu tư bản, có những tác động tích cực sau đây:
Thứ nhất, việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất của tư bản chủ
nghĩa ra nước ngoài nên nó là công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị, bóc lột,
nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi toàn thế giới.
Thứ hai, xuất khẩu tư bản giúp cho các chủ thể phân tán rủi ro trong trường
tình hình kinh tế, chính trị bất ổn trong nước. Bởi chủ nghĩa tư bản các phát triển thì
càng gây ra nhiều mâu thuẫn gay gắt về kinh tế - xã hội, việc xuất khẩu tư bản sẽ
làm giảm mức gay gắt đó. 8
Đối với các nước nhập khẩu tư bản, có những tác động tích cực sau đây:
Thứ nhất, bằng cách vận dụng linh hoạt, khéo léo các nguyên tắc cùng có lợi,
lựa chọn các phương án thiết thực để khai thác nguồn lực quốc tế có hiệu quả, nhiều
nước nhập khẩu tư bản đã mở cửa để tiếp nhận đầu tư nhằm thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước mình. Chẳng hạn qua hình thức thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài, các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỹ thuật công nghệ
từ các nước đầu tư sang nước mình.
Thứ hai, nước nhập khẩu tư bản có cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Thứ ba, việc xuất khẩu tư bản giúp thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công
lao động và quốc tế hoá đời sống kinh tế của các nước nhập khẩu tư bản.
Về những tác động tiêu cực, xuất khẩu tư bản có những tác động trực tiếp ảnh
hưởng tới các nước nhập khẩu tư bản như sau:
Thứ nhất, người lao động bị bóc lột sức lao động, nước nhập khẩu tư bản (đặc
biệt là các nước chậm phát triển) trở nên lệ thuộc vào nền kinh tế của nước tư bản
chủ nghĩa. Từ đó làm mâu thuẫn kinh tế - xã hội gia tăng.
Thứ hai, khi tiếp nhận công nghệ chuyển giao, một vài bộ phận nhà nước ở
các nước nhập khẩu tư bản quản lý lỏng lẻo nên xuất hiện việc chuyển giao nhỏ
giọt, thông thường là công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường… 9
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam
Trước khi nước ta thực hiện chính sách đổi mới về kinh tế năm 1986, nước ta
chỉ có quan hệ hợp tác với Liên Xô, Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa
khác. Thông qua hợp tác, tương trợ, các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là Liên Xô
và Trung Quốc đã giúp nước ta xây dựng một số công trình công nghiệp để đặt nền
móng bước đầu cho cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Luật Đầu tư nước ngoài đã được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày
29/12/1987 với mục tiêu đổi mới và mở cửa nền kinh tế, đánh dấu bước ngoặt cho
việc chính thức hóa dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nhờ có chủ trương
đúng đắn của Đảng và Nhà nước, trải qua chặng đường 35 năm đến nay, khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng
trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện
cho sự phát triển của kinh tế có vốn FDI, coi đây là một bộ phận hữu cơ của nền
kinh tế Việt Nam. Qua các kỳ Đại hội, Đảng và Nhà nước khuyến khích đầu tư vào
các bộ phận có tiềm năng, có khả năng sinh lời, hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực có
dấu hiệu thừa và có khả năng bão hòa trên thị trường trong và ngoài nước. Cần
hướng thành phần kinh tế này phát triển mạnh vào xuất khẩu hàng hóa, vào việc xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Đảng và Nhà nước còn bảo hộ quyền và lợi ích
hợp pháp cho các chủ đầu tư nước ngoài để họ yên tâm kinh doanh; bảo vệ quyền
lợi cho người lao động trong các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính
quyền cũng đã và đang cải thiện môi trường kinh doanh và khuôn khổ pháp lý để
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Như vậy, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước và hội nhập quốc tế.
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách như: ưu đãi về thuế, thủ tục, giá
cho thuê đất… Đây là những động thái tích cực để tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài.
2.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn trước đại dịch Covid-19
Sau 35 năm kể từ khi Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài (năm
1987), Việt Nam ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
(FDI). FDI đã dần khẳng định được vai trò quan trọng trong việc thực hiện những
mục tiêu để phát triển kinh tế ở Việt Nam.
2.2.1. Thực trạng thu hút FDI theo quy mô vốn và dự án đầu tư
Tính đến tháng 8/2018, Việt Nam đã có hơn 26.500 dự án FDI, với tổng vốn
đăng ký hơn 334 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ USD. Theo báo cáo 2017
của Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hợp quốc, Việt Nam đứng thứ 12 trong
số những quốc gia thành công nhất về thu hút FDI. Các con số trên đã đóng góp
20% GDP và là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển với tỷ trọng
khoảng 23,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Cụ thể, ta có quy mô thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988 – 2019 như sau:
Quy mô dòng FDI vào Việt Nam (1988 -2019)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Sau khi ban hành Luật FDI, trong 3 năm đầu 1988 – 1990, việc thu hút vốn
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn còn hạn chế, chỉ có 211 dự án với tổng vốn
đăng ký đạt 1603,5 triệu USD. Tuy nhiên sang đến giai đoạn 1991 – 1995, việc thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu có sự tăng trưởng đáng kể với tổng cộng
1409 dự án, tổng số vốn đăng ký là 18379,1 triệu USD. Giai đoạn này có thể được
coi là giai đoạn khởi sắc của việc thu hút FDI vào Việt Nam. Do sự cạnh tranh
mạnh mẽ với các quốc gia cùng khu vực và các yếu tố về môi trường đầu tư nên 11
giai đoạn từ năm 1996 – 2000, FDI có dấu hiệu sụt giảm cả về số vốn đăng ký đầu
tư và quy mô của dự án. Sang đến giai đoạn 2001 – 2005, FDI có dấu hiệu cải thiện
nhưng mới ở tốc độ chậm, cải thiện không đáng kể. Tiếp đến giai đoạn 2006 –
2010, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có những biến động bất
thường. Năm 2007 và năm 2008, dòng vốn FDI đổ vào nước ta tăng lên nhanh
chóng, do từ tháng 1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Đến năm 2009 và 2010, do ảnh hưởng bởi khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, FDI đổ vào Việt Nam cũng bị sụt giảm đáng kể. Năm 2011,
có 1186 dự án được cấp mới với tổng số vốn đăng ký là 15589 triệu USD (giảm
21,57% so với năm 2010). Đến giai đoạn 2012 - 2015, số lượng dự án FDI và tổng
số vốn đăng ký mới có xu hướng cải thiện. Giai đoạn từ năm 2016 – 2019 có những
dấu mốc vô cùng ý nghĩa: vào năm 2016, hàng loạt Hiệp định thương mại tự do
(FTA) có hiệu lực, nguồn vốn đầu tư FDI đổ vào có xu hướng tăng lên; năm 2017
vốn FDI đăng ký đạt khoảng gần 36 tỷ USD và thực hiện đạt trên 17 tỷ USD, cao
nhất trong vòng 10 năm trở lại. Tính đến 20/12/2019, Việt Nam đã thu hút tổng số
vốn đầu tư nước ngoài đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2018. Qua những số
liệu trên, ta thấy thực trạng thu hút FDI ở Việt Nam kể từ năm 1988 có những
chuyển biến rất phức tạp, tuy nhiên tổng vốn FDI và số dự án có xu hướng tăng lên theo thời gian.
2.2.2. Thực trạng thu hút FDI theo lĩnh vực đầu tư
Ngày nay, các chủ đầu tư nước ngoài có xu hướng đổ vốn FDI vào một vài
nhóm ngành chủ lực, liên quan tới việc cắt giảm thuế quan và mở cửa các lĩnh vực
đầu tư hấp dẫn theo cam kết FTA.
Theo lĩnh vực đầu tư, tính chung trong năm 2019, có 19 lĩnh vực ở Việt Nam
đã được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào. Trong đó lĩnh vực công nghiệp chế
biến, chế tạo được đầu tư nhiều nhất, với tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm
64,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành bất động sản có xu hướng tăng nhanh, chỉ
sau ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tổng quát trong hơn 30 năm qua, đầu tư
vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản chỉ chiếm 2,8% tổng số dự án, nhưng chiếm
tới 16,8 % tổng vốn đăng ký; vốn đầu tư bình quân lên tới 74,4 triệu USD/dự án,
gấp hơn 5 lần quy mô vốn bình quân mỗi dự án trong ngành công nghiệp chế biến, 12
chế tạo. Tiếp theo là các lĩnh vực bán buôn bán lẻ, hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ,…
Tuy nhiên, sức hút đầu tư FDI của các ngành khác còn hạn chế, điển hình là
ngành nông nghiệp mà dân số Việt Nam lại tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn
(khoảng 67%). Lao động làm việc trong khu vực này chiếm khoảng 46% trên tổng
số lao động toàn xã hội và nông nghiệp đóng góp khoảng 17% GDP Việt Nam
(Tổng cục Thống kê, 2016) nhưng nguồn vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực này chỉ
chiếm 1,7% tổng số dự án và 1% tổng số vốn FDI vào Việt Nam. Như vậy, có thể
nói Việt Nam còn hạn chế trong việc thu hút FDI vào ngành nông nghiệp do mức
đầu tư thấp và môi trường kinh doanh chưa thuận lợi.
2.2.3. Thực trạng thu hút FDI theo đối tác đầu tư
Trong năm 2019, đã có 125 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.
Cụ thể như sau: Dẫn đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đầu tư 7,92 tỷ USD, chiếm
20,8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hồng Kông đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư
7,87 tỷ USD (trong đó, có 3,85 tỷ USD mua cổ phần vào công ty TNHH Vietnam
Beverage tại Hà Nội, chiếm 48,9% tổng vốn đầu tư của Hồng Kông); Singapore
đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn
đầu tư. Tiếp đến là Nhật Bản, Trung Quốc,... Trong đó, đầu tư từ Trung Quốc, Hồng
Kông có xu hướng tăng lên so với cùng kỳ do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.
Có thể kể đến một số dự án lớn mà các nước trên đã đầu tư vào Việt Nam như:
dự án Công ty TNHH Techtronic Tools (Hồng Kông) với mục tiêu xây dựng nhà
máy sản xuất và Trung tâm nghiên cứu phát triển sản xuất các phụ kiện, thiết bị
điện cầm tay thông minh dùng trong ngành công nghiệp và dân dụng tại TP Hồ Chí
Minh; dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc); dự án chế tạo lốp xe Radian toàn
thép ACTR (Trung Quốc), đầu tư tại Tây Ninh với mục tiêu sản xuất lốp xe toàn
thép TBR; dự án Nhà máy sản xuất Màn Hình Lcd-Qisda Việt Nam (Đài Loan), đầu
tư tại Hà Nam với mục tiêu sản xuất màn hình tinh thể lỏng LCD… Các dự án chủ
yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghệ điện tử hiện đại, công nghiệp chế biến, chế tạo
vật liệu tiêu dùng. Ngoài ra, khu vực đầu tư nước ngoài cũng đã đóng góp không
nhỏ vào phát triển những ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam như tài chính -
ngân hàng, kiểm toán, vận tải biển, bảo hiểm, logistics, y tế, giáo dục - đào tạo, du 13
lịch… Ngày nay do sự phát triển của công nghệ, lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt
Nam cũng đang rất thu hút FDI từ Trung Quốc. Vào năm 2016 đến 2018, hai sàn
thương mại điện tử phát triển nhất Việt Nam là Lazada và Tiki đều được đầu tư từ
các doanh nghiệp của Trung Quốc. Trong năm 2016 và 2017, tập đoàn Alibaba của
Trung Quốc đã đầu tư khoảng 2 tỷ USD vào Lazada.
2.3. Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến vấn đề thu hút FDI vào Việt Nam
Nhìn chung, xét trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid-19 vào năm 2020, thế
giới cũng như Việt Nam chưa có nhiều chính sách để vừa chống dịch, vừa phát triển
kinh tế nên nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng dẫn đến vốn đầu tư
nước ngoài đăng ký vào Việt Nam sụt giảm, chỉ đạt 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với
năm 2019. Đến năm 2021, tuy dịch bệnh diễn biến phức tạp, Việt Nam vẫn thu hút
31,15 tỷ USD vốn FDI, tăng 9,2% so với năm 2020.
2.3.1. Ảnh hưởng theo quy mô vốn và dự án đầu tư
Từ ngày 1/1/2020 đến 20/11/2020, có 2313 dự án mới được cấp giấy chứng
nhận đầu tư, giảm khoảng 33,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó có 26,43 tỷ
USD vốn đầu tư đăng ký và 17,2 tỷ USD vốn thực hiện, giảm lần lượt 16,9% và
2,4% so với cùng kỳ năm 2019. Các biện pháp giãn cách để giảm thiểu lây nhiễm
Covid-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng, giảm doanh thu doanh nghiệp là nguyên
nhân dẫn tới tình trạng FDI suy giảm đáng kể trong khoảng thời gian này.
Đại dịch Covid-19 bùng phát khiến cho các nhà đầu tư khó khăn trong việc
tìm nơi đầu tư mới. Một số nhà đầu tư nước ngoài đã thay đổi tầm nhìn về chuỗi 14
cung ứng. Nhiều thông tin cho thấy, Apple đang tăng cường trở lại dây chuyền sản
xuất tại Trung Quốc khi các đối tác là Việt Nam và Ấn Độ bị ảnh hưởng nặng nề
bởi dịch bệnh. Dịch bệnh bùng phát lần thứ 4 tại Việt Nam đã ảnh hưởng tiêu cực
đến nỗ lực trong việc thu hút dòng vốn FDI. Trong thời gian đó, các khu công
nghiệp phải tạm thời đóng cửa, khả năng đứt gãy chuỗi cung ứng của nhiều tập
đoàn toàn cầu là một vấn đề đáng lo ngại. Điều này đòi hỏi chính phủ phải có những
chính sách, cơ chế mạnh mẽ, quyết liệt hơn để phục hồi dòng vốn đăng ký và thu
hút các dự án FDI vào Việt Nam.
Sang đến năm 2021, đại dịch Covid-19 diễn biến rất phức tạp, xuất hiện nhiều
biến chủng mới, làm cho nền kinh tế của Việt Nam và các nước trên thế giới bị ảnh
hưởng nặng nề. Mặc dù vậy, lượng vốn FDI vào Việt Nam vẫn đạt kết quả cao hơn
dự báo. Nguyên nhân FDI dần phục hồi là do Chính phủ và các cơ quan chức năng
đã kịp thời đưa ra các biện pháp để tháo gỡ những khó khăn giúp phòng chống dịch
và thúc đẩy kinh tế phát triển, hướng dẫn người dân thích nghi với dịch bệnh, chuẩn
bị cho trạng thái bình thường mới. Vậy nên các doanh nghiệp đã dần phục hồi sản
xuất, kinh doanh. Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy có 1.738 dự án mới
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với tổng vốn đăng ký đạt trên 15,2 tỷ
USD, tương đương giảm 31,1% về dự án và tăng 4,1% về giá trị so với cùng kỳ
năm 2020. Số dự án đăng ký năm 2021 có xu hướng giảm khá mạnh do Việt Nam
đã có sự chọn lọc kỹ lưỡng những dự án có quy mô nhỏ, ít giá trị gia tăng. Về số
vốn góp, mua cổ phần vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án của
Việt Nam ghi nhận có 3.797 lượt, với giá trị vốn góp đạt gần 6,9 tỷ USD, giảm
khoảng 7,7% so với năm 2021. Có sự sụt giảm như vậy là do giãn cách xã hội kéo
dài, hạn chế nhập cảnh để phòng chống Covid-19 nên các chủ đầu tư nước ngoài
khó có thể sang Việt Nam để khảo sát và làm các thủ tục đầu tư.
Tuy nhiên tới năm 2022, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm
đến nay (4/4/2022), Việt Nam thu hút gần 5 tỷ USD vốn FDI, dù con số này bằng
91,5% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng kết quả này đã cho thấy tín hiệu tích cực
trong đại dịch. Trong đó vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài trong 2 tháng
đầu năm đạt 2,68 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 0,4 điểm %
so với tháng 1/2022. Đáng chú ý, sau ngày 15/3 các chính sách thị thực được nới 15
lỏng, sẽ là điều kiện quan trọng thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài đổ bộ vào Việt Nam.
2.3.2. Ảnh hưởng theo lĩnh vực đầu tư
Tính cả năm 2021, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong
tổng số 21 ngành kinh tế của Việt Nam. Trong đó, dẫn đầu là ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,1 tỷ USD, chiếm 58,2% tổng vốn
đầu tư đăng ký; do sở hữu dự án có quy mô lớn nên ngành sản xuất, phân phối điện
đã leo lên vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng vốn
đầu tư đăng ký; tiếp theo là ngành kinh doanh bất động sản với tổng vốn đăng ký
đạt trên 2,6 tỷ USD; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt 1,4 tỷ USD. Còn lại
là các ngành khác. Các số liệu trên được minh họa bằng biểu đồ sau:
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Đợt bùng phát dịch Covid-19 thứ tư ảnh hưởng chủ yếu đến cả ba lĩnh vực:
công nghiệp, dịch vụ và xây dựng. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tốc độ tăng
trưởng của ngành công nghiệp giảm từ 9% năm 2019 xuống còn 3,6% trong quý 3
năm 2021, ngành dịch vụ và xây dựng cũng giảm lần lượt từ 7,3% xuống âm 0,7% và từ 9,1% xuống 3,1%.
Mới đây, Chính phủ đã cho mở cửa trở lại đối với ngành du lịch, nối lại các
chuyến bay thường lệ quốc tế, công nhận hộ chiếu vaccine lẫn nhau với 17 quốc 16
gia. Trong đó có nhiều nước có tỷ lệ đầu tư FDI lớn vào Việt Nam như Mỹ, Nhật
Bản, Anh, Hàn Quốc… Ngành du lịch dần phục hồi, bất động sản cũng được hưởng
lợi và sẽ phát triển hơn trong thời gian tới.
Như vậy, nói một cách khái quát, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ
tới việc thu hút FDI vào các ngành kinh tế của Việt Nam. Chẳng hạn như tổng số
vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2021 đã giảm khoảng 6.46
tỷ USD so với năm 2019. Đây là sự sụt giảm đáng kể, đòi hỏi chính phủ và doanh
nghiệp FDI cần có những biện pháp hữu hiệu để vốn đầu tư nước ngoài vào các
ngành kinh tế của nước ta phát triển trở lại.
2.3.3. Ảnh hưởng theo đối tác đầu tư
"Với tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp tại các quốc gia là
đối tác FDI lớn của Việt Nam hiện nay như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…,
dòng vốn FDI đầu tư vào nước ta năm 2020 có thể bị ảnh hưởng không nhỏ",
chuyên gia của Công ty Chứng khoán Bảo Việt lo ngại. Tuy nhiên tới năm 2021, đã
có 106 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Trong đó, Singapore dẫn
đầu với tổng vốn đầu tư trên 10,7 tỷ USD, chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư vào Việt
Nam, tăng 19,1% so với cùng kỳ 2020; Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 5 tỷ USD,
chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư, tăng 25,4% so với cùng kỳ. Nhật Bản đứng thứ 3 với
tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,9 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư, tăng 64,6%
so với cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,… Bước sang
tháng 3/2022, Việt Nam tiếp tục đón nhận rất nhiều dự án FDI “khủng” từ các đối
tác đầu tư, trị giá hàng tỷ USD. Cụ thể là Tập đoàn Fuchs, doanh nghiệp dầu nhớt
hàng đầu của Đức - đã mở rộng hoạt động tại Việt Nam với việc thuê dài hạn khu
đất 20.000 m2 tại Khu công nghiệp Chuyên sâu Phú Mỹ 3 hay việc Samsung bổ
sung thêm 920 triệu USD vào thị trường Thái Nguyên, nâng tổng vốn đầu tư vào
Khu công nghiệp Yên Bình tại thị xã Phổ Yên lên 2,27 tỷ USD. Như vậy, dòng vốn
FDI vẫn đang đặt niềm tin rất cao vào thị trường Việt Nam, ngay cả trong bối cảnh
việc nhập cảnh khó khăn.
2.3.4. Cơ hội và thách thức đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam hậu Covid-19
Tổ chức y tế Thế giới (WHO) dự báo dịch Covid-19 có thể được kiểm soát
trên phạm vi toàn cầu vào giữa năm 2022, khuyến cáo các quốc gia cần chuyển sang
trạng thái bình thường mới, mở cửa với thế giới, phục hồi và phát triển kinh tế. Đó 17
cũng là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta để vượt qua những khó khăn, mở ra
những cơ hội tiếp nhận FDI vào Việt Nam. Việc hạn chế tối đa những thiệt hại do
dịch Covid-19, nhanh chóng ổn định và chuyển sang giai đoạn phục hồi nền kinh tế
sau dịch là nền tảng để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam.
Mặc dù vậy, vẫn còn tồn tại một số thách thức đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần
đưa ra các biện pháp để cải thiện nhằm thu hút FDI sau khi tình hình dịch bệnh ổn định trở lại:
Một là, do sự lựa chọn không kỹ lưỡng về các dự án đầu tư nước ngoài, Việt
Nam đang có nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ” của thế giới. Nhiều dự án đầu
tư vào Việt Nam đang sử dụng những công nghệ lỗi thời của họ nhưng vì Việt Nam
là quốc gia đang phát triển nên chúng ta vẫn cần đến. Điều này có thể gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng.
Hai là, các nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia vào thị trường Việt Nam
thường lo ngại vì thủ tục liên quan phức tạp, rườm rà. Trong đó có các thủ tục trong
lĩnh vực thuế phí, bảo hiểm xã hội.
Ba là, có những doanh nghiệp FDI chưa đảm bảo quyền lợi chính đáng cho
người lao động Việt Nam. Họ tuyển dụng lao động nước ngoài, có cả lao động phổ
thông, điều này là trái với pháp luật. Thực trạng này khiến cho quan hệ lao động trở
nên căng thẳng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam. 18
Chương 3: Giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay
3.1. Giải pháp của Chính phủ
Từ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới thu hút FDI vào Việt Nam, muốn thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách có hiệu quả, tác giả đề xuất một số
giải pháp cho Chính phủ Việt Nam như sau:
Một là, sử dụng các biện pháp làm tăng tổng sản phẩm quốc nội thông qua
việc điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô. Chính phủ cần thực hiện chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa mở rộng, tăng chi tiêu chính phủ, tăng cường đẩy
nhanh tiến độ đầu tư công làm tổng cầu tăng, kích thích sản xuất, kinh doanh có
hiệu quả, tạo tiền đề thu hút FDI trong tương lai. Đây là một trong những giải pháp
hàng đầu nhằm thu hút FDI vào Việt Nam.
Hai là, cần cải thiện nguồn nhân lực. Ngày nay, nguồn nhân lực chất lượng
cao là điểm nhấn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, thay vì nguồn nhân lực giá
rẻ như trước đây. Chính phủ cần thúc đẩy sự kết nối doanh nghiệp FDI và các trung
tâm dạy nghề để đào tạo cho nguồn nhân lực phù hợp với thời đại 4.0. Nhờ đó, thị
trường sức lao động ở Việt Nam sẽ có cơ hội cạnh tranh trên thị trường quốc tế để
hội nhập, phát triển kinh tế đất nước. Hơn nữa, cần khuyến khích các hoạt động
nghiên cứu khoa học, đầu tư khoa học, công nghệ hiện đại tại các doanh nghiệp; có
chính sách thu hút, kêu gọi người tài về làm việc trong nước; giáo dục cần có lý
thuyết đi đôi với thực hành.
Ba là, củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài. Để thực hiện được
giải pháp này, trước hết cần thực hiện chính sách bảo vệ môi trường. Một môi
trường kinh doanh thân thiện, ít chất gây ô nhiễm sẽ thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài. Vì vậy, cần sử dụng các nguyên, nhiên liệu đầu vào thân thiện với môi
trường, tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh. Đảng
và Nhà nước cần tiết kiệm tối đa thời gian cho các thủ tục hành chính bằng cách sử
dụng các văn bản hướng dẫn, hồ sơ tinh gọn, dễ hiểu, quy định rõ ràng trách nhiệm
của từng bộ phận trong việc xử lý các thủ tục hành chính. Ngoài ra, Chính phủ cần
theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư, chính sách pháp luật cần cởi
mở, minh bạch. Đối với các trường hợp làm hàng giả, hàng nhái, cố ý xâm phạm
thương hiệu, Nhà nước cần đưa ra những biện pháp để răn đe và xử lý theo quy định của pháp luật. 19
Bốn là, tăng cường nới lỏng việc nhập cảnh và thích nghi với trạng thái
bình thường mới để thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển trở lại. Hiện
nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 nhìn chung đã giảm nguy hiểm. Vì vậy, việc cho
phép các quốc gia nhập cảnh vào Việt Nam là cơ hội để thu hút FDI vào nước ta.
Tuy nhiên, nếu dịch bệnh Covid-19 trở nên căng thẳn hơn, Chính phủ cần có những
biện pháp mới hiệu quả để vừa phòng chống dịch, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển,
chẳng hạn như tăng cường vận động công dân tiêm đủ liều vacxin…
3.2. Giải pháp của doanh nghiệp
Trước hết, để thu hút FDI vào Việt Nam, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt
động thương mại về hàng hóa và dịch vụ. Để các nhà đầu tư nước ngoài chọn hợp
tác với một doanh nghiệp, doanh nghiệp đó cần chú ý đến giá trị, dịch vụ của các
sản phẩm xuất khẩu sang nước ngoài. Các doanh nghiệp cần chú trọng vào việc cải
tiến khoa học kỹ thuật, sử dụng các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào thân thiện với
môi trường, xử lý chất thải hợp lý. Khi quyết định hợp tác với nhà đầu tư nước
ngoài, cần chọn lọc dự án kỹ lưỡng, ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, hiện
đại, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động kết nối
chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, tránh những dự án có ít giá trị gia tăng. Đặc
biệt, tránh các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm bị các nhà đầu tư nước ngoài kiểm
soát và thâu tóm, vậy nên, cần xác định ngưỡng cho phép các cổ phần tại các doanh
nghiệp mà các nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ. Hơn thế, các doanh nghiệp cần
phải thường xuyên cập nhật xu thế, đưa ra các biện pháp điều chỉnh trong kinh
doanh để thích nghi với sự thay đổi của nền kinh tế, nhất là trong thời hiện đại hóa hiện nay. 20 KẾT LUẬN
Bối cảnh tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo cơ
hội cho Việt Nam hội nhập quốc tế. Để tận dụng được tốt các cơ hội, tác giả nhận
thức được rằng phải chủ động hội nhập, xây dựng chiến lược thích ứng để gắn kết
hơn nữa nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới. Sau một thời gian dài nghiên
cứu, tác giả nhận thấy việc xuất khẩu tư bản đóng vai trò quan trọng đối với cả nước
xuất khẩu và nước nhập khẩu và FDI cũng là nhân tố đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong quá trình thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế dài hạn đối với Việt Nam.
Nước ta và toàn thế giới đã phải trải qua hơn 2 năm ròng rã chiến đấu với dịch bệnh
Covid-19, nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhưng nhìn chung, Việt Nam đã
rất nỗ lực để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ những giải pháp nêu trên,
hi vọng trong thời gian tới, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ cải thiện được những
mặt hạn chế và phát huy những kết quả đã đạt được nhằm tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam.