



















Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG VÀ
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
------------------------- TIỂU LUẬN
MÔN: TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Đề tài: Hoạt động và giao tiếp đối với sự hình thành,
phát triển tâm lý người và hướng vận dụng trong thực tiễn Sinh viên : NGUYỄN HÀ TRANG Mã SV : 2155310055 Lớp : CTPT-K41A1 Khoa : Chính Trị Học
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thùy Hương
Hà nội, tháng 11 năm 2024 1 Mục Lục
Mở Đầu.....................................................................................................................4
Nội Dung...................................................................................................................7
Chương I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động và giao tiếp trong việc hình
thành, phát triển tâm lý người...............................................................................7 1.1
Hoạt động.....................................................................................................7 1.1.1
Khái niệm và đặc điểm.........................................................................7 1.1.2
Các dạng hoạt động và cấu trúc hoạt động........................................9 1.2
Giao tiếp.....................................................................................................11 1.2.1
Khái niệm............................................................................................11 1.2.2
Chức năng...........................................................................................12 1.2.3
Các loại giao tiếp.................................................................................13 1.3
Mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp................................................14 1.3.1
Hoạt động với sự hình thành phát triển tâm lý con người..............14 1.3.2
Giao tiếp với sự hình thành phát triển tâm lý con người................15 1.3.3
Mối quan hệ của hoạt động và giao tiếp...........................................17
Chương II: Thực trạng và hướng vận dụng thực tiễn quá trình hoạt động và
giao tiếp đối với sự hình thành, phát triển tâm lý con người............................19
2.1 Thực trạng.....................................................................................................19
2.2 Nguyên nhân.................................................................................................20
Chương III: Một số giải pháp khắc phục hạn chế trong việc vận dụng hoạt
động và giao tiếp trong thực tiễn..........................................................................22
Kết Luận.................................................................................................................24
Tài Liệu Tham Khảo.............................................................................................25 2 Mở đầu 1. Lý do lựa chọn
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi con người ngày càng có nhiều cơ hội tham
gia vào các hoạt động đa dạng và giao tiếp với nhiều nhóm người khác nhau, chính
vì vậy việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp với sự phát triển
tâm lý con người đã trở nên vô cùng cần thiết.
Hoạt động và giao tiếp là hai yếu tố cốt lõi, không thể tách rời trong quá trình
hình thành và phát triển tâm lý của con người.Hai yếu tố đó không chỉ giúp con
người thể hiện nhu cầu, mong muốn mà còn là phương tiện chính để tương tác với
xã hội, phát triển các kỹ năng xã hội và nâng cao nhận thức. Thông qua các hoạt
động thường nhật như học tập, làm việc và các giao tiếp xã hội, con người hình
thành kỹ năng, tích lũy tri thức, phát triển cá tính và các giá trị sống. Việc nghiên
cứu và làm rõ vai trò của hoạt động và giao tiếp sẽ giúp giải thích tại sao chúng
đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tâm lý, từ đó thúc đẩy mọi người
tham gia vào các hoạt động tích cực, xây dựng môi trường giao tiếp lành mạnh để
tối ưu hóa sự phát triển tâm lý của mình. Sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động và giao
tiếp tạo nên một vòng tròn tương tác, qua đó con người không ngừng học hỏi,
khám phá và phát triển bản thân.
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và sự hội nhập sâu rộng,
vai trò của hoạt động và giao tiếp càng trở nên quan trọng. Trẻ em ngày nay đã
sớm được tiếp xúc với nhiều thông tin, hình ảnh và tương tác xã hội đa dạng hơn
so với các thế hệ trước. Không chỉ riêng thế hệ trẻ, ngay cả những người trưởng
thành hiện nay cũng dành không ít thời gian cho các hoạt động trên không gian
mạng, điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp trực tiếp và các kỹ
năng xã hội. Đề tài này giúp nhìn nhận rõ hơn về ảnh hưởng của xu hướng xã hội 3
hiện nay đến sự phát triển tâm lý, từ đó giúp đưa ra những gợi ý phù hợp để giữ
cân bằng giữa hoạt động và giao tiếp trực tiếp, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con người.
Qua những lý do đã nêu trên, càng chứng minh rằng hoạt động và giao tiếp là
một yếu tố cực kì quan trọng đối với sự hình thành cũng như phát triển tâm lý con
người, việc nghiên cứu đề tài "Hoạt động và giao tiếp đối với sự hình thành, phát
triển tâm lý người và hướng vận dụng trong thực tiễn" mang ý nghĩa quan trọng
trong cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Đây không chỉ là nền tảng lý luận để hiểu sâu hơn
về quá trình phát triển tâm lý mà còn là cơ sở để xây dựng các biện pháp hỗ trợ
phù hợp, góp phần tạo nên một cộng đồng xã hội lành mạnh và bền vững. 4
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấ đề lý luận đề tài “Hoạt động và giao tiếp đối
với sự hình thành, phát triển tâm lý người và hướng vận dụng trong thực tiễn” từ
đó liên hệ với đời sống thực tiễn đồng thời đưa ra đánh giá và đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trong thực tiễn nhằm thúc đẩy sự phát
triển tâm lý lành mạnh và toàn diện của con người trong tương lai
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về các khái niệm và quá trình phát triển tâm lý
thông qua hoạt động và giao tiếp.
Phân tích thực trạng về tác động của hoạt động và giao tiếp đến sự phát
triển tâm lý ở con người
Đề xuất các giải pháp và biện pháp ứng dụng vào giáo dục, gia đình, và xã hội
nhằm thúc đẩy sự phát triển tâm lý bền vững
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự hình thành, phát triển tâm lý người ở con
người thông qua quá trình hoạt động và giao tiếp. 5 Nội dung
Chương I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động và giao tiếp trong việc hình
thành, phát triển tâm lý người 1.1 Hoạt động
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm Khái niệm
Hoạt động là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau
tùy thuộc vào từng khía cạnh, từng lĩnh vực nghiên cứu. Đã có rất nhiều quan điểm
khác nhau được đưa ra để định nghĩa về hoạt động.
Theo nghĩa thông thường chúng ta đều hiểu hoạt động là sự “tiêu hao năng
lượng thần kinh và cơ bắp của con người tác động và hiện thực khách quan nhằm
thỏa mãn các nhu cầu của mình” [Nguyễn Thị Vân Hương, (2014), Tâm Lý Học
Đại Cương (tr54), HN: nxb Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật]
Theo quan điểm của triết học Marxist, hoạt động là cách thức chủ yếu mà
con người biến đổi thế giới và tạo ra sản phẩm, cả về vật chất lẫn tinh thần. Karl
Marx cho rằng hoạt động là biểu hiện của lao động sáng tạo, trong đó con người
không chỉ thụ động tiếp nhận thế giới mà còn chủ động cải tạo nó thông qua lao
động và tư duy. Triết học Marxist nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể
và đối tượng trong hoạt động, trong đó các quá trình lao động và sản xuất không
chỉ phục vụ cho nhu cầu tồn tại mà còn cho sự phát triển của ý thức và nhận thức xã hội.
“Dưới góc độ tâm lí học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con
người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt
động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt động là
mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản 6
phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)”. [Nguyễn Quang Uẩn,
giáo trình Tâm Lý Học Đại Cương (tr42), nxb Đại Học Sư Phạm]
Từ những quan điểm trên ta thấy rằng hoạt động là mối quan hệ tương tác
qua lại mà trong đó con người tương tác với thế giới xung quanh, để tạo ra sản
phẩm về cả phía thế giới xung quanh lẫn về phía con người. Mà sản phẩm được tạo
ra trong mối quan hệ này chính là tâm lý con người. Mối qua hệ này nhấn mạnh
rằng tâm lý của con người không tồn tại độc lập, mà luôn phát sinh và biến đổi qua
các hoạt động. Thông qua hoạt động, con người tiếp thu, biến đổi và sáng tạo kiến
thức, kỹ năng, và thái độ, đồng thời thể hiện sự thích ứng với môi trường. Đặc điểm
Có 4 đặc điểm chính của hoạt động:
Thứ nhất, hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng. Bất kì hoạt
động nào của con người cũng có đối tượng, chính đối tượng là thành phần để cấu
thành nên hoạt động. Đối tượng đó có thể là sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm,
… có khả năng thỏa mãn được nhu cầu của con người và thúc đẩy con người hoạt
động vì nhu cầu ấy. Ví dụ: đối tượng của hoạt động học tập là tri thức, kiến thức,…
con người tiếp thu những những cái đó và đưa chúng vào vốn kinh nghiệm của bản thân.
Thứ hai, hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành. Đặc điểm này thể
hiện tính tích cực của con người khi thực hiện hoạt động. Chủ thể trong hoạt động
là con người, có thể là cá nhân nhưng cũng có thể là nhóm nhóm người khi họ có
thực hiện hoạt động với chng một đối tượng, động cơ. Họ là những con người có ý
thức tác động vào khách thể của hoạt động.
Thứ ba, hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích. Mục đích của hoạt động là
để tạo ra sản phẩm có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với việc thỏa mãn nhu cầu 7
của chủ thể. Ví dụ, con người lao động nhằm tạo ra của cải vật chất hay học tập có
mục đích là để tiếp thu tri thức, kĩ năng, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của chính con người.
Thứ tư, hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp. Quá trình học hỏi và
thực hiện hoạt động không phải lúc nào cũng trực tiếp mà có thể thông qua các
công cụ như ngôn ngữ, hình ảnh, ký hiệu, và các phương tiện khác trong môi
trường. Ví dụ, khi học một kỹ năng mới, thay vì thực hành trực tiếp, người học có
thể học thông qua các hướng dẫn bằng lời nói, hình ảnh hoặc video hoặc trong hoạt
động lao động con người sử dụng những công cụ lao động như máy móc, cuốc
xẻng,… để tạo ra của cải.
1.1.2 Các dạng hoạt động và cấu trúc hoạt động
Các dạng hoạt động
Các dạng hoạt động được xét trên 3 phương diện bao gồm:
Xét trên phương diện phát triển cá thể: người ta thấy trong đời người có ba
loại hình hoạt động kế tiếp nhau. Đó là các hoạt động: vui chơi, học tập, lao động.
Ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau thì con người có hoạt động chủ đạo khác nhau.
Ví dụ, trước tuổi đi học thì vui chơi là hoạt động chủ đạo; tuổi đi học thì học tập là
hoạt động chủ đạo; giai đoạn trưởng thành thì hoạt động lao động là hoạt động chủ đạo.
Xét về phương diện sản phẩm hoạt động tạo ra là vật chất hay tinh thần,
người ta có thể chia hoạt động ra làm hai loại:
+ Hoạt động thực tiễn: còn gọi là hoạt động bên ngoài, là hoạt động tác động vào
vật thể tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu 8
+ Hoạt động lý luận: hoạt động tinh thần, hoạt động bên trong, là hoạt động tìm tòi,
định hướng. Sản phẩm của hoạt động lý luận thường là sản phẩm tinh thần như
những suy luận, quy luật, khái niệm được tạo ra trong suy nghĩ của con người.
Xét về phương diện đối tượng hoạt động, người ta có thể chia hoạt động thành 4 loại
+ Hoạt động biến đổi: dạng điển hình nhất của hoạt động biến đổi là lao động
(thường nói là lao động sáng tạo). Ngoài ra hoạt động biến đổi còn bao gồm cả
hoạt động biến đổi tự nhiên và biến đổi xã hội.
+ Hoạt động nhận thức: là một loại hoạt động tinh thần, nó chỉ phản ánh các sự vật,
quan hệ,… mang lại cho chủ thể những hình ảnh, tri thức về các sự vật, quan hệ ấy
nhưng không làm biến đổi các vật thể thực, quan hệ thực.
+ Hoạt động giao tiếp: Đây là dạng hoạt động nhằm trao đổi thông tin, cảm xúc, ý
tưởng giữa con người với nhau. Hoạt động giao tiếp có vai trò quan trọng trong
việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội, hỗ trợ con người hợp tác và phát triển cộng đồng.
+ Hoạt động định hướng giá trị: là dạng hoạt động tinh thần, xác định ý nghĩa của
thực tại đối với bản thân chủ thể, tạo ra phươnghướng của hoạt động
Tóm lại, mỗi loại hoạt động không chỉ có chức năng riêng mà còn bổ sung và ảnh
hưởng lẫn nhau, tạo nên sự phát triển toàn diện cho cá nhân và cộng đồng. Cấu trúc
Cấu trúc của hoạt động bao gồm 6 thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau:
+ Về phía chủ thể, bao gồm ba thành tố: Hoạt động – hành động - thao tác 9
+ Về phía đối tượng, bao gồm ba thành tố: Động cơ – mục đích - phương tiện.
Sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng, giữa đơn vị thao thác và nội
dung đối tượng của hoạt động tạo ra sản phẩm của hoạt động (cả về phía khách thể,
cả về phía chủ thể – “sản phẩm kép”). Có thể khái quát cấu trúc chung của hoạt động qua sơ đồ sau: 1.2 Giao tiếp 1.2.1 Khái niệm
“Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để
hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người với người. Các quan hệ này có thể
diễn ra giữa hai người, giữa nhiều người trong một nhóm hoặc cả cộng đồng
người.” [Nguyễn Xuân Thức, Giáo Trình Tâm Lý Học Đại Cương (tr80), nxb Đại Học Sư Phạm]
Có thể dễ dàng thấy rằng giao tiếp là một quá trình quan trọng, bao gồm việc
trao đổi thông tin, cảm xúc, ý nghĩa và ý kiến giữa con người với con người. Đây
không chỉ là một hoạt động tự nhiên trong đời sống mà còn là nhu cầu cơ bản của 10
con người. Trong giao tiếp, người ta không chỉ đơn thuần truyền tải thông điệp mà
còn chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc, và xây dựng các mối quan hệ xã hội bền vững.
Giao tiếp mang mang một số đặc điểm cơ bản như tính hai chiều, nghĩa là
quá trình này đòi hỏi sự tham gia từ cả hai bên; tính liên tục, bởi sự giao tiếp được
diễn ra liên tục và có thể thay đổi dựa trên tình huống; tính chủ động, khi mỗi cá
nhân không ngừng điều chỉnh hành vi giao tiếp của mình để phù hợp với bối cảnh;
và tính đa dạng, vì giao tiếp có thể diễn ra qua nhiều phương tiện khác nhau.
Những yếu tố như văn hóa, môi trường xã hội, và tính cách cá nhân cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến cách thức giao tiếp của mỗi người.
Ngoài ra, chúng ta có thể coi giao tiếp như một dạng đặc biệt của hoạt động
bởi các yếu tố cấu thành nên giao tiếp cũng gần tương tự như trong hoạt động (đối
tượng, mục đích, sản phẩm) 1.2.2 Chức năng
Giao tiếp có nhiều chức năng. Có thể chia các chức năng của giao tiếp thành
hai nhóm chính: các chức năng thuần túy xã hội và các chức năng tâm lí – xã hội
Thứ nhất là chức năng thuần túy xã hội: Chức năng thuần túy xã hội là các
chức năng giao tiếp phục vụ nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm người.
Đóng vai trò quan trọng giúp duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội, góp
phần vào sự hòa hợp trong cộng đồng. Các chức năng này thường thể hiện qua
những hoạt động hàng ngày và qua việc mỗi cá nhân tương tác với người khác
trong xã hội Chức năng này được thể hiện qua việc con người tổ chức phối hợp
hoạt động. cùng nhau từ đó họ nhận thức lẫn nhau và hình thành các mối quan hệ xã hội
Thứ hai là chức năng tâm lý – xã hội là chức năng giao tiếp phục vụ nhu cầu
từng thành viên của xã hội. Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội 11
cơ bản và xuất hiện sớm nhất ở con người. Sự không thỏa mãn nhu cầu giao tiếp ở
con người sẽ gây nên những trải nghiệm tiêu cực, nhưng lo âu, chờ đợi một cái gì
không hay xảy ra mặc dù không có gì đe dọa họ cả
Nói tóm lại, giao tiếp giúp con người trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức
từ đố mỗi cá nhân không chỉ thích nghi với môi trường xã hội mà còn tạo nên các
mối quan hệ liên nhân cách. Giao tiếp chính là cầu nối giúp duy trì sự ổn định và
phát triển các giá trị xã hội, tạo ra một môi trường sống hài hòa và lành mạnh.
1.2.3 Các loại giao tiếp
Giao tiếp có nhiều loại khác nhau dựa trên phương thức, nội dung, và ngữ
cảnh sử dụng Tùy theo các tiêu chí phân loại chúng ta có các loại giao tiếp khác nhau.
Căn cứ vào khoảng cách giao tiếp:
+ Giao tiếp trực tiếp: Thường diễn ra trong các cuộc gặp mặt trực tiếp, nơi hai hoặc
nhiều người đối diện trò chuyện. Trong hình thức giao tiếp này, không chỉ có ngôn
ngữ được sử dụng là công cụ để giao tiếp mà còn có cả những cử động biểu cảm.
Toàn bộ cơ thể đã trở thành phương tiện giao tiếp.
+ Giao tiếp gián tiếp: Bao gồm giao tiếp qua điện thoại, video, hoặc các ứng dụng
hội thoại. Phương thức này giúp kết nối người ở xa, nhưng vẫn cần sử dụng ngôn từ trực tiếp.
Căn cứ vào qui cách giao tiếp, ta có:
+ Giao tiếp chính thức: là loại giao tiếp được thiết lập với quy tắc và nghi thức rõ
ràng, như trong các môi trường làm việc chuyên nghiệp.
+ Giao tiếp không chính thức: là giao tiếp giữa những người hiểu biết rõ về nhau,
giao tiếp kiểu thân tình, nhằm mục đích thông cảm, đồng cảm với nhau. 12
Căn cứ vào phương tiện giao tiếp, ta có:
+ Giao tiếp ngôn ngữ: đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người, giao tiếp
bằng tiếng nói, chữ viết
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ: là giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt.
Các loại giao tiếp kể trên luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau tạo nên sự đa
dạng, phong phú thêm các hình thức tương tác giao tiếp.
1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp
1.3.1 Hoạt động với sự hình thành phát triển tâm lý con người
Như đã nêu ở phần khái niệm, hoạt động là mối quan hệ tương tác qua lại
mà trong đó con người tương tác với thế giới xung quanh, để tạo ra sản phẩm về cả
phía thế giới xung quanh lẫn về phía con người. Trong mối quan hệ đó đồng thời
diễn ra hai quá trình, chúng bổ sung và thống nhất với nhau:
Quá trình đầu tiên là quá trình đối tượng hóa: đây là quá trình tác động của
con người với tư cách là chủ thể vào thế giới. Quá trình này tạo ra sản phẩm mà
trong đó chứa đựng các đặc điểm tâm lí của người tạo ra. Hay nói khác đi, con
người bộc lộ ra những đặc điểm tâm lí của mình vào trong sản phẩm. Nhờ vậy mà
chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm lý con người thông qua hoạt động của họ.
Để dễ hình dung hơn, chúng ta có ví dụ: Một giáo viên khi dạy học họ
không chỉ chia sẻ kiến thức mà còn truyền đạt cảm xúc và niềm đam mê về môn
học của mình. Qua đó, giáo viên biến những hiểu biết và trải nghiệm cá nhân thành
hành động giảng dạy cụ thể, để học sinh có thể tiếp nhận và hiểu sâu hơn. Đây là
quá trình đưa các ý tưởng, cảm xúc và tri thức từ nội tâm ra bên ngoài để tương tác với người khác. 13
Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa: ở quá trình này con người chuyển
những cái chứa đựng trong thế giới vào bản thân mình, nói khác đi thì đó chính là
quá trình lĩnh hội, con người qua đó có thêm cho mình kinh nghiệm về thế giới,
những thuộc tính, những quy luật của thế giới. Đồng thời con người cũng có thêm
kinh nghiệm tác động vào thế giới, rèn luyện cho mình những phẩm chất cần thiết
để tác động có hiệu quả vào thế giới. Đây là giai đoạn tâm lí của chủ thể mà ở đây
là con người dần dần được hình thành và phát triển. Chẳng hạn, trẻ con thường học
cách nói chuyện bằng cách bắt chước người lớn. Qua quá trình bắt chước, những
âm thanh và từ ngữ bên ngoài được nội tâm hóa, trở thành một phần của ngôn ngữ của đứa trẻ.
Hai quá trình này bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau trong sự phát triển của tâm
lý con người. Chủ thể hóa là nền tảng của đối tượng hóa. chủ thể hóa giúp con
người hình thành cơ sở kiến thức và nhận thức bên trong, là tiền đề để cá nhân có
thể biểu hiện và thực hiện chúng qua quá trình đối tượng hóa. Ngược lại đối tượng
hóa củng cố và mở rộng chủ thể hóa. Thông qua đối tượng hóa, con người củng cố
những hiểu biết và kỹ năng đã được chủ thể hóa. Khi cá nhân thực hiện một hành
động, trải nghiệm thực tế, từ quá trình này tạo ra những kinh nghiệm mới. những
kinh nghiệm này sẽ quay trở lại bổ sung hoàn thiện nhận thức của cá nhân đó.
Quá trình đối tượng hóa giúp cá nhân biểu lộ và tác động đến thế giới bên
ngoài, trong khi chủ thể hóa lại giúp cá nhân lĩnh hội và duy trì những giá trị, quy
tắc từ xã hội hoặc môi trường, từ đó hình thành nên tâm lý của con người. Hai quá
trình này diễn ra một cách liên tục và bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Chúng không phải
là hai quá trình tách biệt mà luôn gắn kết với nhau.
1.3.2 Giao tiếp với sự hình thành phát triển tâm lý con người 14
Ngoài hoạt động, giao tiếp cũng là yếu tố cốt lõi trong sự hình thành và phát
triển tâm lý con người, đóng vai trò như một quá trình liên kết cá nhân với xã hội,
giúp cá nhân xây dựng bản sắc và hiểu biết về thế giới xung quanh. Quá trình giao
tiếp giúp con người phát triển các năng lực nhận thức, cảm xúc và xã hội cần thiết,
từ đó hình thành những giá trị và chuẩn mực tâm lý, đồng thời thúc đẩy sự phát
triển toàn diện của con người.
Như đã nêu ở trên, ta thấy rằng quá trình giao tiếp có thể được coi như một
dạng đặc biệt của hoạt động. Vì nó đóng vai trò như một quá trình trao đổi và
tương tác, dựa vào đó cá nhân có thể xây dựng nhận thức, hình thành và điều chỉnh
cảm xúc, thái độ cũng như cách ứng xử. Giống như trong hoạt động, quá trình giao
tiếp cũng có những yếu tô cấu thành tương tự như có đối tượng giao tiếp, có mục
đích giao tiếp và cũng có sản phẩm được tạo thành sau quá trình đó. Tuy nhiên
khác với hoạt động, trong khi đối tượng của hoạt động có thể là vật chất hữu hình
hoặc vô hình thì đối tượng của quá trình giao tiếp chỉ có thể là con người, bởi vì
chỉ con người với con người mới có thể giao tiếp qua lại với nhau. Từ quá trình
giao tiếp qua lại đó, tâm lý của con người dần dần được hình thành và định hình
theo cá tính riêng của mỗi cá nhân. Ví dụ, trẻ em học hỏi từ người lớn qua giao tiếp
bằng lời nói và phi ngôn ngữ, tiếp nhận các kiến thức về thế giới xung quanh và
cách ứng xử với các tình huống xã hội. Thông qua việc lắng nghe và quan sát phản
ứng của người khác, trẻ em xây dựng được nền tảng ngôn ngữ cho riêng mình.
Từ góc độ sinh học, giao tiếp còn gắn liền với sự phát triển các phản ứng
tâm sinh lý giúp con người tương tác và thích nghi với môi trường sống. Các biểu
hiện phi ngôn ngữ như ánh mắt, cử chỉ, giọng điệu đều đóng vai trò quan trọng,
giúp truyền tải những thông điệp tình cảm và cảm xúc, góp phần phát triển các mối
quan hệ xã hội bền vững. Quá trình giao tiếp tạo ra sự trao đổi và phát triển tình
cảm, cảm xúc. Khi cá nhân trải nghiệm các tình huống xã hội qua giao tiếp, họ học 15
cách đồng cảm và phản hồi cảm xúc của người khác, từ đó xây dựng khả năng thấu
hiểu và đồng cảm. Những trải nghiệm giao tiếp tích cực giúp con người hình thành
các cảm xúc tích cực như niềm tin, tình yêu thương và sự an tâm. Ngược lại, những
xung đột trong giao tiếp có thể làm nảy sinh cảm xúc tiêu cực như căng thẳng và
bất mãn, điều này cũng ảnh hưởng đến cấu trúc tâm lý và hành vi của con người.
Thông qua giao tiếp, mối quan hệ giữa người với người được xác lập, phát
triển và vận hành. Khi giao tiếp, chúng ta không chỉ truyền đạt thông tin mà còn
chia sẻ cảm xúc, giá trị, và quan điểm, từ đó hình thành sự đồng cảm và hiểu biết
lẫn nhau. Mỗi cuộc trò chuyện hay tương tác đều có thể góp phần vào việc xác lập
mức độ thân mật hoặc xa cách giữa các cá nhân. Qua đó, các quy tắc ứng xử, thái
độ, và chuẩn mực xã hội được hình thành, và duy trì. Quá trình giao tiếp có thể
diễn ra liên tục trong các bối cảnh đa dạng, từ gia đình, bạn bè, nơi làm việc, đến
các môi trường cộng đồng khác.
Tóm lại, giao tiếp không chỉ là phương tiện trao đổi thông tin mà còn là yếu
tố quan trọng định hình tâm lý của mỗi người. Quá trình giao tiếp giúp cá nhân
phát triển nhận thức, cảm xúc và các giá trị xã hội, đóng góp vào sự phát triển toàn
diện và khả năng thích nghi xã hội của con người.
1.3.3 Mối quan hệ của hoạt động và giao tiếp
Mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp là một sự tương tác chặt chẽ và qua
lại, vì cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển tâm lý ở
con người. Trong đó, hoạt động là quá trình mà con người tác động lên thế giới vật
chất để thỏa mãn nhu cầu cá nhân và xã hội, còn giao tiếp là quá trình trao đổi
thông tin, cảm xúc và ý tưởng giữa các cá nhân để xây dựng mối quan hệ và hợp tác 16
Hoạt động được coi là nền tảng của giao tiếp, trong nhiều hoạt động cá nhân
hay nhóm, con người cần giao tiếp để truyền đạt thông tin, ý tưởng, lên kế hoạch
và phối hợp thực hiện. Chẳng hạn, Ví dụ, khi làm việc nhóm, mọi người sẽ giao
tiếp để phối hợp hiệu quả, chia sẻ thông tin và đưa ra các quyết định. Như vậy, hoạt
động tạo ra nhu cầu giao tiếp, và giao tiếp là phương tiện giúp hoạt động diễn ra hiệu quả hơn.
Và ngược lại giao tiếp làm cho hoạt động đạt được hiệu quả cao hơn. Giao
tiếp giúp cải thiện hoạt động bằng cách tạo ra sự thống nhất trong quá trình thực
hiện. Giao tiếp là phương tiện để truyền tải kinh nghiệm, chia sẻ tri thức, góp ý và
điều chỉnh trong quá trình thực hiện hoạt động, từ đó con người sẽ tự soi lại mình
và tự điều chỉnh hoạt động sao cho đúng theo các chuẩn mực. Ví dụ, trong môi
trường học tập, giáo viên và học sinh giao tiếp qua lại để chia sẻ kiến thức và giải
đáp thắc mắc, từ đó học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng. Như vậy, giao tiếp
không chỉ là cầu nối mà còn là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của hoạt động.
Như vậy, hoạt động và giao tiếp là hai quá trình không thể tách rời, chúng
tồn tại cùng lúc và tác động qua lại mật thiết với nhau. Mối quan hệ giữa hoạt động
và giao tiếp không chỉ dừng lại ở việc giúp cá nhân đạt được mục tiêu mà còn là
phương tiện để mỗi cá nhân hình thành và phát triển tâm lý. Trong quá trình tham
gia các hoạt động xã hội, cá nhân có cơ hội rèn luyện và phát triển khả năng tự
nhận thức, tư duy và khả năng xã hội. Thông qua giao tiếp, họ học cách thể hiện
bản thân, lắng nghe ý kiến người khác và điều chỉnh hành vi của mình theo chuẩn mực xã hội. 17
Chương II: Thực trạng và hướng vận dụng thực tiễn quá trình hoạt động và
giao tiếp đối với sự hình thành, phát triển tâm lý con người 2.1 Thực trạng
Hoạt động và giao tiếp là hai yếu tố cốt lõi trong quá trình hình thành và
phát triển tâm lý con người. Trong thực tiễn ở nhiều lĩnh vực khác nhau mà đặc
biệt là lĩnh vực giáo dục đã và đang không ngừng tìm kiếm những phương pháp
vận dụng hiệu quả hai yếu tố này để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cá nhân.
Hoạt động và giao tiếp là nền tảng cốt lõi trong giáo dục, giúp sinh viên và
học sinh phát triển không chỉ về kiến thức chuyên môn mà còn về kỹ năng xã hội,
cảm xúc. Việc tổ chức hoạt động nhóm, học tập qua dự án và trao đổi trực tiếp giữa
giáo viên và học sinh đã tạo ra môi trường học tập phong phú và năng động. Theo
báo cáo từ Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, gần 70% các trường học đã áp dụng
hình thức học tập nhóm từ năm 2020. Các chương trình này giúp học sinh rèn
luyện tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc nhóm.
Đa số các trường học tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức các chương
trình dự án học tập cộng đồng, trong đó học sinh tham gia vào các dự án xã hội
như dọn dẹp môi trường, và xây dựng thư viện. Các hoạt động này không chỉ giúp
học sinh ứng dụng kiến thức vào thực tế mà còn phát triển ý thức trách nhiệm xã hội.
Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động nhóm trong trường học cũng gặp phải
một số hạn chế. Một số học sinh gặp khó khăn trong việc hợp tác và thể hiện ý kiến
cá nhân, đặc biệt là những học sinh nhút nhát hoặc có kỹ năng giao tiếp chưa phát
triển. Một nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023, chỉ ra rằng, có
khoảng 15% học sinh thụ động, thiếu tự tin trong các giao tiếp xã hội và 15% học
sinh ngại nói ra ý kiến riêng trong các tình huống thảo luận nhóm. Từ những số 18
liệu này đặt ra yêu cầu đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp giúp các học sinh
vượt qua sự rụt rè và phát triển kỹ năng giao tiếp 2.2 Nguyên nhân
Việc vận dụng hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn có ý nghĩa rất lớn đối
với sự hình thành và phát triển tâm lý con người, đặc biệt là trong các lĩnh vực giáo
dục và. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong việc thực
hiện các hoạt động và giao tiếp này. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng
hạn chế này có thể kể đến:
Thứ nhất, thiếu nhận thức và kỹ năng chuyên môn của đội ngũ thực thi. Đây
là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Trong giáo dục, mặc dù hiện nay nhiều
chương trình giảng dạy đề cao hoạt động nhóm và phát triển kỹ năng giao tiếp, tuy
nhiên các giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục không phải lúc nào cũng được trang
bị đủ kỹ năng để thực hiện hiệu quả những phương pháp đó. Đặc biệt ở là nhiều
trường học tại các vùng nông thôn, các giáo viên còn chưa có đủ kiến thức và kỹ
năng để tích cực hỗ trợ học sinh trong các hoạt động tương tác, dẫn đến thiếu sót
trong việc xây dựng kỹ năng giao tiếp và tự tin ở học sinh. Hơn nữa, quan niệm
truyền thống coi trọng việc truyền đạt kiến thức một cách thụ động, học sinh chủ
yếu chỉ được yêu cầu ghi nhớ và tái hiện thông tin. Phương pháp đánh giá truyền
thống thường tập trung vào kiến thức lý thuyết, dẫn đến học sinh chỉ chú trọng vào
việc học thuộc lòng mà không quan tâm đến việc vận dụng kiến thức vào thực tế.
Điều này khiến cho việc phát triển các kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp và tư
duy sáng tạo bị xem nhẹ.
Thứ hai, ảnh hưởng từ yếu tố xã hội và văn hóa. Với chương trình giáo dục
như hiện nay, trẻ em rất dễ bị áp lực cao về chuyện thi cử khiến học sinh và giáo
viên càng phải tập trung vào việc đạt kết quả cao trong các kỳ thi, dẫn đến việc bỏ
qua các hoạt động học tập khác. Hầu như các học sinh cuối cấp lớp 5, lớp 9 và lớp 19
12 hiện nay đều không có thời gian cho những việc khác mà phải tập trung duy
nhất vào việc học. Với nhiều học sinh cuối cấp, việc học cả ngày ở trường không
còn là lịch trình duy nhất. Sáng học chính khóa, chiều ôn thi, tối đến lò luyện, tham
gia khóa ôn thi online hay cặm cụi ngồi giải đề đến tận đêm khuya. Bởi đa số các
phụ huynh đều cho rằng sự thành công thường được đánh giá qua bằng cấp, điểm
số, dẫn đến việc học sinh và phụ huynh chỉ quan tâm đến việc học mà ít quan tâm
đến việc phát triển toàn diện.
Thứ ba, ảnh hưởng của công nghệ lên quá trình hoạt động và giao tiếp. Với
thời đại cộng nghệ 5.0, không chỉ có người lớn mà trẻ em cũng đang bị lậm vào
tình trạng sử dụng thiết bị điện tử quá mức. Theo báo cáo Tổng kết công tác năm
2023, phương hướng nhiệm vụ năm 2024 của Bộ TT&TT, Tỷ lệ người dùng
smartphone/người dùng điện thoại di động ước đạt 84,4%, tức là gần như mỗi gia
đình đều có điện thoại thông minh, vì vậy để bắt gặp một đứa trẻ hiện nay không
sử dụng thiết thị điện tử thông minh là rất khó. Tuy nhiên việc sử dụng quá nhiều
thiết bị điện tử như điện thoại, máy tính bảng,.. trong một thời gian dài và liên tục
sẽ khiến học sinh không còn hứng thú tham gia vào các hoạt động thực tế, từ đó
hạn chế khả năng giao tiếp trực tiếp của trẻ.
Những nguyên nhân trên đã làm hạn chế khả năng vận dụng hoạt động và
giao tiếp vào thực tiễn. Muốn giải quyết tình trạng này, cần có những biện pháp cải
thiện về nhận thức, đầu tư nguồn lực, phát triển chính sách đồng bộ, và tạo ra môi
trường thuận lợi cho việc học tập, giao tiếp và phát triển kỹ năng cho mọi người.
Chính phủ và các cơ quan quản lý cũng cần tăng cường các chương trình đào tạo
chuyên sâu và đầu tư tài chính để bảo đảm các dịch vụ giáo dục và y tế có thể đáp
ứng được nhu cầu của mọi tầng lớp trong xã hội. 20