ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
(Học kỳ 2, Năm học 2023-2024)
“MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG?
CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở VIỆT
NAM”
GVHD: Nguyễn Thị Kim Loan
Khoa-Lớp: 2321DAI006L03
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Ngọc Tường Vy
Mã số sinh viên: 2357011143
............, ngày.......tháng....năm 2024
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
1.1. Khái niệm môi trường
1.2. Khái niệm phát triển
1.3. Những vấn đề chung về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
1.3.1. Khái niệm mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
1.3.2. Biểu hiện của mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
CHƯƠNG II: PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái niệm phát triển du lịch bền vững
2.2. Thực trạng du lịch bền vững ở Việt Nam
2.3. Nguyên nhân
2.4. Giải pháp để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang không ngừng
đẩy mạnh phát triển du lịch - ngành kinh tế mũi nhọn. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh
chóng của du lịch cũng đặt ra nhiều thách thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững. Gia tăng lượng khách du lịch quốc tế và nội địa cùng nhu cầu tiêu dùng cao đã
gây áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Các vấn đề như ô nhiễm, suy
thoái cảnh quan, tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương trở nên nghiêm trọng, đe
dọa sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển
và môi trường là cấp thiết, giúp đưa ra chiến lược, chính sách hợp lý để đảm bảo phát
triển hài hòa và bền vững cho ngành du lịch Việt Nam. Việc áp dụng các phương pháp
phát triển du lịch bền vững không chỉ bảo vệ môi trường mà còn nâng cao hình ảnh
của Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút khách du lịch có ý thức về giá trị bền
vững.Nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin và kiến thức cần thiết để các nhà
hoạch định chính sách, các doanh nghiệp du lịch, và cộng đồng địa phương có th
cùng nhau hợp tác và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
2. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng: Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, các biện pháp để phát triển du
lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi: Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi “ Mối quan hệ giữa môi trường và
phát triển” và “ Các giải pháp để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay”
Phương pháp nghiên cứu: thông qua việc phân tích các tài liệu, số liệu, các bài báo,
các tác phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, nước ngoài đã được công
bố, các tài liệu, giáo trình môn môi trường và phát triển, các số liệu thống kê.
3. Mục tiêu đề tài nghiên cứu
Phân tích mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường tại Việt Nam.
Đánh giá các mô hình và chính sách hiện tại về phát triển du lịch bền vững.
Đề xuất các giải pháp và phương pháp cụ thể để phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài :
Ý nghĩa lý luận: Góp phần mở rộng và làm rõ thêm về mối quan hệ phức tạp giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Cung cấp các cơ sở khoa học cho việc
hiểu hơn về vấn đề này. Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi
tiết và số liệu cụ thể về tác động du lịch bền vững ở Việt Nam, giúp có cái nhìn
toàn diện về tình hình hiện tại. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp cụ thể để
cải thiện tình trạng môi trường và phát triển du lịch bền vững.
Chương I: MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
1.1. Định nghĩa về môi trường
Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam:” Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự
nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người có ảnh hưởng đến
đời sống và kinh tế, sự tồn tại và phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.” [1]
1.2. Định nghĩa về phát triển bền vững
Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam: “ Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng
được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của
các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo
đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.” [2]
1.3. Những vấn đề chung về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
1.3.1. Định nghĩa về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững là một sự tương tác phức tạp, đòi
hỏi sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Mục tiêu là tạo ra một
mô hình phát triển toàn diện và bền vững, đảm bảo sự thịnh vượng cho thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Mối
quan hệ này là mối quan hệ tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau và vừa thống nhất
vừa đối lập: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển
nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
1.3.2. Biểu hiện mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
Môi trường là nền tảng cho phát triển bền vững: môi trường là hệ thống bao gồm tất cả
các yếu tố tự nhiên và xã hội tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên nền tảng cho sự tồn tại
và phát triển của con người. Môi trường đã cung cấp tài nguyên thiên nhiên hay còn
gọi là thành tố tự nhiên. Đầu tiên chính là không khí trong lành cung cấp oxy cho con
người hô hấp và duy trì sự sống. Nước chiếm vị trí quan trọng trong mọi hoạt động
sống của con người, từ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp đến tạo ra nguồn
điện. Khoáng sản là nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp như
khai thác, chế biến, sản xuất. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí
hậu, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất, bảo vệ đa dạng sinh học và cung cấp các
sản phẩm gỗ, lâm sản,... Môi trường hỗ trợ các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội như
với hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như khí hậu,
đất đai, nguồn nước; hay hoạt động công nghiệp cần sử dụng nhiều nước, khoáng sản,
năng lượng cũng như chất thải từ các hoạt động công nghiệp thải ra đã được môi
trường tiếp nhận, xử lý; đối với du lịch thì môi trường thu hút du khách bằng các giá
trị cảnh quan thiên nhiên và tạo nguồn thu nhập cho địa phương. Môi trường ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người như một môi trường trong lành, cảnh quan
thiên nhiên đẹp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người, tạo điều kiện cho
con người phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
Tuy nhiên, hoạt động phát triển không bền vững đang đe dọa nghiêm trọng đến môi
trường. Khai thác tài nguyên thiên nhiên vượt quá khả năng tái tạo của môi trường dẫn
đến cạn kiệt tài nguyên, suy thoái hệ sinh thái và ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt con người thải ra môi trường nhiều chất độc
hại như khí thải, nước thải, rác thải rắn gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe con
người và hệ sinh thái. Biến đổi khí hậu do các hoạt động phát khí thải nhà kính gây ra
các hiện tượng như nóng lên toàn cầu, nước biển dâng cao, lũ lụt.
Phát triển bền vững góp phần bảo vệ môi trường bởi nền tảng cốt lõi của phát triển bền
vững chính là khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý, trách nhiệm, trong giới hạn cho
phép tái tạo của tài nguyên. Ứng dụng các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi
trường để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường thông qua tuyên truyền, giáo dục. Khuyến khích lối sống xanh, tiết kiệm năng
lượng, sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo
vệ các hệ sinh thái tự nhiên, góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái và đảm bảo sự phát
triển lâu dài cho con người.
Kết luận chương I:
Môi trường và phát triển bền vững là gì đã được thể hiện thông qua các định nghĩa từ
các luật ở Việt Nam. Cũng như khẳng định được mối quan hệ mật thiết, phức tạp và
đầy thách thức giữa môi trường và phát triển. Môi trường là nền tảng cho sự sống
phát triển của con người, cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho mọi hoạt dộng
kinh tế - xã hội và khi phát triển trở nên không bền vững sẽ gây ra những hậu quả
nghiêm trọng đến môi trường. Bởi phát triển bền vững với mục tiêu đảm bảo sự phát
triển kinh tế - xã hội đồng thời bảo vệ môi trường, là con đường duy nhất để giải quyết
mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và bảo vệ môi trường. Từ chương I, ta cũng cần có
sự phát triển bền vững ở mảng du lịch.
Chương II: DU LỊCH BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
Theo luật du lịch 2017: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng
đồng thời các yêu cầu kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các
chủ thẻ tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu
về du lịch trong tương lai.” [3]
2.2. Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay
Trong khi du lịch đại chúng chỉ nhắm đến mà thường bỏ qua mục tiêu bảo tồn thiên
nhiên, du lich bền vững hướng đến sự phát triển đa chiều: tôn trọng văn hoá, lịch sử,
bảo tồn thiên nhiên, nhu cầu trải nghiệm của du khách và cộng đồng địa phương. Đây
là xu hướng được quan tâm toàn cầu, Việt Nam cũng đã có những điểm sáng và vẫn
đang triển khai phát triển du lịch bền vững mạnh mẽ:
Nhu cầu du lịch bền vững của người Việt Nam ngày càng được gia tăng được thể hiện
rõ ràng. Booking.com công bố Báo cáo Du lịch Bền vững năm 2023 dựa trên những
thông tin thu thập từ hơn 33.000 khách du lịch đến từ 35 quốc gia bao gồm Việt Nam.
Trong đó nhấn mạnh rằng tác động của các chuyến đi vẫn là mối quan tâm hàng đầu
của du khách, với 96% du khách Việt nói rằng họ muốn du lịch bền vững hơn trong 12
tháng tới, tăng 8% so với số liệu năm 2021( theo Báo cáo Du lịch bền vững năm 2021
là 88%) và 75% du khách Việt Nam cho biết họ sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các lựa
chọn du lịch bền vững đã được cấp chứng nhận.
(Ảnh chụp từ Sustainable Travel Report 2023 – Booking.com)
Hay Milieu Insight đã thực hiện một nghiên cứu được ủy quyền bởi Booking.com với
gồm 8,800 người tham gia từ 11 thị trường và khu vực khác nhau trên khắp khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương bao gồm cả Việt Nam đã cho thấy Nam xếp hạng cao Việt
thứ hai trong phần đánh giá “tầm quan trọng của việc đưa ra các quyết định du lịch bền
vững” với 80% và Việt Nam đứng đầu ở tỉ lệ du khách sẵn sàng chi trả thêm để lưu trú
ở chỗ nghỉ bền vững hơn với 79%.
(Ảnh chụp từ Travel Confident Index 2023- APAC – Booking.com)
Nhiều doanh nghiệp du lịch đã quan tâm và thực hiện du lịch bền vững. P’ apiu
Resort- đơn vị có chứng nhận “ Travelife gold for Accommodation Sustainability” tại
Việt Nam từ Tổ chức quốc tế về Du lịch Bền Vững từ 8/07/2022 với những hoạt động
như: các villa được thiết kế tận dụng nguồn năng lượng tự nhiên; sử dụng đồ vật từ
gốm, thủy tinh và nguyên liệu phân hủy thay vì nhựa; giữ gìn văn hóa và phát triển văn
hóa Hà Giang trong kiến trúc, hoạt động trải nghiệm ẩm thực, lễ hội ;sử dụng toàn bộ
nhân viên là người bản địa. [4] Victoria Cần Thơ Resort của Tập đoàn Thiên Minh
Group chính thức nhận Chứng nhận “Travelife Gold for Accommodation
Sustainability” từ Tổ chức quốc tế về Du lịch Bền Vững Travelife từ ngày 12/10/2023
với những hoạt động như: Khám phá các tour sinh thái như tham quan chợ nổi Cái
Răng, Cồn Sơn, xóm thúng Yên Hạ… bằng xe đạp và phương tiện ít tác động môi
trường; nhiều workshop ý nghĩa như :“ Sống vui - Sống khỏe”; Trồng thêm cây xanh;
tổ chức trình diễn giới thiệu giữ gìn văn hóa bản địa như làm nón lá, xếp lá dứa [5].
Nhiều điểm đến du lịch tham gia vào du lịch bền vững với những hoạt động về du lịch
bền vững được tổ chức: Tháng 9/2023, Hội An chính thức ra mắt mô hình "Khách sạn
không rác thải nhựa" thải ra môi trường và du khách không còn đồ nhựa dùng một lần.
Trước đó, tháng 10/2022, Hội An đã ra mắt mô hình “Trạm đong đầy” ở chợ - một giải
pháp mua sắm không phát sinh bao bì, gia tăng vòng đời của rác, đặt biệt là rác thải
nhựa.Từ tháng 9/2023, huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh) bắt đầu thí điểm áp dụng quy
định du khách không mang chai nhựa, túi nilon, vật liệu có nguy cơ ô nhiễm môi
trường khi đi du lịch. [6]
Bên cạnh đó, vẫn thấy sự bất ổn định trong việc thực hiện phát triển du lịch bền vững
ở nước ta hiện nay:
Chiến lược phát triển du lịch quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đề cao
phát triển du lịch bền vững. Tuy nhiên, một số quy hoạch, chính sách và luật ở cấp địa
phương lại tập trung khai thác du lịch ồ ạt, chưa chú trọng bảo vệ môi trường. Mục
tiêu đề ra thường mang tính tổng quan, chưa cụ thể hóa thành các chỉ tiêu định lượng
rõ ràng, dễ đo đếm, đánh giá, và việc thiếu các chỉ tiêu cụ thể khiến cho việc theo dõi
tiến độ, đánh giá hiệu quả thực thi trở nên khó khăn, thiếu tính thuyết phục. Các chiến
lược, quy hoạch du lịch thường thiếu đi lộ trình cụ thể, rõ ràng về cách thức thực hiện
các mục tiêu đề ra; việc thiếu lộ trình khiến cho việc triển khai, phân công trách nhiệm
và nguồn lực trở nên lúng túng, thiếu hiệu quả. Việc quản lý du lịch bền vững do nhiều
Bộ, ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phố
trực thuộc Trung ương, Hiệp hội du lịch Việt Nam, Cục du lịch quốc qua Việt Nam)
phụ trách dẫn đến chồng chéo chức năng, lãng phí nguồn lực, thiếu sự phối hợp và
giảm hiệu quả thực thi như việc quản lý chất thải rắn trong du lịch do Bộ Tài nguyên
và Môi trường và UBND địa phương đồng thời quản lý, dẫn đến tình trạng thiếu quy
hoạch chung, trách nhiệm quản lý không rõ ràng. Chưa có giải pháp huy động nguồn
lực hiệu quả cho phát triển du lịch bền vững từ ngân hàng nhà nước: nguồn lực đầu
cho du lịch cho du lịch bền vững, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; khu vực tư
nhân: khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào đầu tư du lịch bền vững còn gặp
nhiều rào cản; nguồn viện trợ quốc tế: việc tiếp cận và sử dụng nguồn viện trợ quốc tế
cho du lịch bền vững còn nhiều hạn chế.
Mỗi địa phương ban hành chính sách du lịch bền vững riêng, dẫn đến sự chênh lệch,
thiếu thống nhất trong việc quản lý và phát triển du lịch. Quy định về khai thác du lịch
sinh thái tại khu vực Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) khác biệt so với quy định tại khu
vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) về phân khu chức năng hay
hoạt động du lịch. Các tiêu chuẩn cơ sở lưu trú, hoạt động du lịch sinh thái, khai thác
tài nguyên thiên nhiên khác nhau giữa các địa phương gây khó khăn cho du khách
trong việc lựa chọn điểm đến và doanh nghiệp trong việc tuân thủ các quy định. Chưa
có hệ thống tiêu chuẩn chung cho du lịch bền vững, khiến việc đánh giá chất lượng và
hiệu quả của các hoạt động du lịch gặp nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng “ treo đầu dê
bán thịt chó”, các doanh nghiệp du lịch dễ dàng “lách luật” để trục lợi. Mặc dù Luật
Bảo vệ môi trường 2020 quy định các biện pháp bảo vệ môi trường trong du lịch, tuy
nhiên tình trạng xả rác thải bừa bãi, khai thác tài nguyên trái phép tại các điểm du lịch
vẫn diễn ra phổ biến. Mức phạt vi phạm đối với các hành vi vi phạm quy định về du
lịch bền vững còn thấp so với lợi nhuận doanh nghiệp thu được, chưa đủ sức răn đe
hay thống nhất giữa các địa phương.
Việc ứng dụng các nguyên tắc du lịch bền vững vào hoạt động du lịch còn hạn chế,
chưa đồng đều ở các địa phương và giữa các doanh nghiệp du lịch. Tuy một số địa
phương, doanh nghiệp đã áp dụng một số nguyên tắc du lịch bền vững như: sử dụng
năng lượng tái tạo, tiết kiệm nước, hạn chế rác thải nhựa... nhưng vẫn còn những
doanh nghiệp, địa phương khác chưa được ứng dụng phổ biến rộng rãi và hiệu quả.
Nhiều khu vực, đặc biệt là các điểm du lịch ở vùng sâu vùng xa, hải đảo còn thiếu hệ
thống xử lý rác thải hiệu quả, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường. Rác thải sinh
hoạt, rác thải du lịch không được thu gom, xử lý đúng cách,ảnh hưởng đến nguồn
nước, đất đai và cảnh quan. Từ năm 2024, việc triển khai thu gôm hàng chục tấn rác
thải ở Vịnh Hạ Long vẫn đang được diễn ra với nhiều đợt huy động lực lượng nhưng
thực sự vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề này [7]. Hoạt động sử dụng năng lượng,
nước và các nguồn tài nguyên khác trong các hoạt động du lịch chưa tiết kiệm, hiệu
quả. Nhiều cơ sở lưu trú, khu du lịch sử dụng năng lượng, nước lãng phí, không có
biện pháp tiết kiệm. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ du lịch chưa được
kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên. Một số doanh nghiệp du lịch
chỉ quan tâm đến lợi nhuận, chưa chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và phát triển
cộng đồng.
Ý thức về việc chung tay phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam của cộng đồng vẫn
còn những hạn chế: Đối với du khách, tình trạng thiếu ý thức vệ sinh môi trường vẫn
phổ biến, thể hiện qua các hành vi như vứt rác bừa bãi, lãng phí nước trong sinh hoạt,
gây tiếng ồn, và có những hành vi không phù hợp với văn hóa địa phương. Cũng như
họ trở nên e ngại trong việc chọn lựa du lịch bền vững thay vì kiểu du lịch truyền
thống bởi giá tiền của nó : Theo khảo sát của Booking.com năm 2023, nhiều du khách
cũng lo ngại rằng chi phí cho du lịch bền vững là quá cao, với 42% du khách Việt Nam
cho biết họ cảm thấy du lịch bền vững quá đắt đỏ [8]. Đối với người dân địa phương,
nhận thức về tầm quan trọng của du lịch bền vững vẫn còn hạn chế. Họ chưa đầy đủ
kiến thức và kỹ năng để tham gia vào các hoạt động du lịch bền vững, và một số vẫn
khai thác tài nguyên một cách không bền vững. Các chương trình tuyên truyền, giáo
dục về du lịch bền vững cũng chưa được chú trọng và hiệu quả, do nội dung còn khô
khan, mang tính học thuật, chưa sáng tạo, và chủ yếu sử dụng các hình thức truyền
thống như báo chí, truyền hình thay vì tận dụng các kênh truyền thông hiện đại như
mạng xã hội, internet.
Chưa có nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành du lịch bền vững, dẫn đến
tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao. Theo Giám đốc nhân
sự khách sạn Inter Continental Saigon Đặng Trần Phương Thảo, trong giai đoạn 2022-
2023, ngành Du lịch TP.HCM đang thiếu khoảng 40.000 lao động có trình độ, trong
khi các trường chỉ có thể đáp ứng khoảng 15.000 lao động. Bà Thảo cũng nhấn mạnh
rằng "Không chỉ thiếu mà chất lượng nguồn nhân lực còn yếu" [9]. Các địa phương,
đặc biệt là các địa phương vùng sâu vùng xa, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn trong
việc thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực du lịch bền vững.
Khả năng tiếp cận và ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ vào thực tiễn du lịch
bền vững còn hạn chế. Hạn chế về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị công nghệ phục vụ
cho phát triển du lịch bền vững.
2.3 Nguyên nhân sự không bền vững trong việc thực hiện phát triển du lịch bền
vững ở Việt Nam
Sự không bền vững trong việc thực hiện phát triển du lịch bền vững nguyên nhân chủ
yếu là do:
Mục tiêu phát triển du lịch bền vững “ thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, “
tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành và lĩnh vực khác” nhưng chiến lược lại
vẫn trong giai đoạn sơ khai chưa được cụ thể hóa bằng các mục tiêu, chỉ tiêu định
hướng rõ ràng; đề cập đến việc phát triển các sản phẩm du lịch bền vững, nâng cao ý
thức cộng đồng, ứng dụng khoa hoc công nghệ,... nhưng lại chưa có định hướng rõ
ràng chi tiết cho từng hoạt động như cần ứng dụng những công nghệ nào để quản lý du
lịch bền vững, hiệu quả,... Thiếu giải pháp thực thi huy động nguồn lực đầu tư cho
phát triển du lịch bền vững, chưa nêu rõ cụ thể nguồn lực nên được huy động từ đâu
với số lượng tỷ lệ huy động cụ thể (từ nhân sách nhà nước hay nguồn viện trợ từ nước
ngoài,...); cơ chế về sự phối hợp giữa các cơ quan, địa phương chưa được đề cập trong
việc thực hiện chiến lược, dẫn đến nguy cơ bị chồng chéo; lộ trình vẫn chưa được vạch
ra rõ ràng thể hiện từng chi tiết các bước ở từng giai đoạn; không phân kỳ mục tiêu
thực hiện dẫn đến việc đối diện với nhiều khó khăn ( việc theo dõi và đánh giá tiến độ
thực hiện, hiệu quả thực thi của chiến lược) khi triển khai thực hiện.
Thiếu nhận thức và cam kết mạnh mẽ từ một số doanh nghiệp, địa phương về tầm
quan trọng của du lịch bền vững, chỉ tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn. Thiếu ngân
sách đầu tư, nguồn lực cơ sở để nâng cấp hạ tầng, áp dụng công nghệ tiết kiệm nước,
năng lượng, hệ thống giao thông và dịch vụ du lịch bền vững bởi doanh nghiệp còn e
ngại chi phí cao, lợi nhuận chưa rõ ràng và thủ tục vay vốn phức tạp. Nhiều khu vực
(vùng sâu, hải đảo) thiếu hệ thống thu gom, xử lý rác thải dẫn đến ô nhiễm môi trường.
Sự khác biệt về quy định, tiêu chuẩn giữa các địa phương trong lĩnh vực cơ sở lưu trú,
du lịch sinh thái, khai thác tài nguyên thiên nhiên khiến du khách và doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn. Thiếu hệ thống tiêu chuẩn chung cho du lịch bền vững, khó đánh giá
chất lượng và hiệu quả hoạt động. Doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc áp
dụng tiêu chuẩn quốc tế do thiếu hướng dẫn cụ thể. Sự thay đổi liên tục trong chính
sách gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ và thích ứng, dẫn đến tăng chi
phí hoạt động và làm giảm lợi nhuận. Thiếu một cơ quan quản lý chuyên trách về du
lịch bền vững. Nhân sự quản lý du lịch bền vững thiếu chuyên môn cùng với thiếu
trang thiết bị, công nghệ hiện đại để theo dõi, giám sát chất lượng môi trường và kiểm
tra việc thực hiện các quy định về du lịch bền vững. Doanh nghiệp du lịch thiếu thông
tin, sự hướng dẫn và tập huấn từ cơ quan quản lý và các nghiên cứu khoa học về du
lịch bền vững.
Việc nâng cao ý thức của cộng đồng về du lịch bền vững ở Việt Nam vẫn gặp một số
hạn chế: Đối với du khách: thiếu ý thức bảo vệ môi trường, thể hiện qua các hành vi
như vứt rác bừa bãi, lãng phí nước, gây ồn ào, và có những hành vi không phù hợp với
văn hóa địa phương. Tuyên truyền, giáo dục về các nguyên tắc, tầm quan trọng du lịch
bền vững chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả khiến hiểu sai rằng du lịch bền vững
chỉ dành cho người giàu. Đối với người dân địa phương: nhận thức về tầm quan trọng,
lợi ích của du lịch bền vững vẫn còn hạn chế. Họ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức
và kỹ năng để tham gia vào các hoạt động du lịch bền vững, và một số vẫn khai thác
tài nguyên thiên nhiên một cách không bền vững. Các chương trình tuyên truyền, đào
tạo về du lịch bền vững cho cộng đồng địa phương còn ít, nội dung khô khan mang
tính học thuật, chưa sáng tạo và chưa được triển khai một cách có chiều sâu, chưa
được chú trọng và hiệu quả.
Thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam là
một thách thức đáng kể. Một số vấn đề cụ thể bao gồm: Năng lực quản lý nhà nước về
du lịch bền vững ở các địa phương chưa mạnh, thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ
chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước,
cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch chưa hiệu quả. Chất lượng đào tạo về du lịch
bền vững ở các cơ sở giáo dục chưa đồng đều, một số nội dung còn thiếu liên hệ với
thực tế công việc. Khó thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao do mức lương, phúc lợi,
điều kiện làm việc tại các vùng sâu vùng xa chưa hấp dẫn. Ứng dụng khoa học công
nghệ vào du lịch bền vững còn gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt về cơ sở vật chất và
trang thiết bị.
2.4. Biện pháp để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam đang trong quá trình phát triển du lịch theo hướng “ sản phẩm đặc sắc - dịch
vụ chuyên nghiệp - thủ tục thuận tiện, đơn giản - giá cả cạnh tranh - môi trường vệ
sinh sạch đẹp - điểm đến an toàn, văn minh, thân thiện. Ngày 3-1, Thủ tướng Chính
phủ giao nhiệm vụ ngành du lịch đón và phục vụ 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế,
110 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch ước đạt 850.000 tỉ đồng trong năm
2024 và đồng thời phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh gắn với chuyển đổi số
nhằm tăng cường kết nối hạ tầng dịch vụ, hỗ trợ và gia tăng trải nghiệm cho khách du
lịch, tăng cường ứng dụng công nghệ xanh, sạch trong du lịch [10]. Nhằm thực hiện
điều này và thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, cần triển khai đồng bộ
và toàn bộ các biện pháp sau để giải quyết những thử thách đang gặp phải:
Nhà nước nên ban hành bộ luật riêng dành cho du lịch bền vững ở Việt Nam với các
quy định rõ ràng, chính xác như về quy tắc chung về phát triển du lịch bền vững gồm:
bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân địa
phương và cũng như bảo tồn văn hóa truyền thống; và cả quy định cụ thể về các tiêu
chuẩn mà các doanh nghiệp, địa phương cần tuân thủ nghiêm ngặt để được công nhận
là các doanh nghiệp, địa phương phát triển du lịch bền vững như: tiêu chuẩn về sử
dụng năng lượng tái tạo thay thế cho loại năng lượng truyền thống, tiêu chuẩn quản lý
và xử lý rác thải, tiêu chuẩn về bảo tồn văn hóa, tiêu chuẩn phát triển cộng đồng, tiêu
chuẩn về sử dụng nước, tiêu chuẩn về quản lý môi trường. Cũng như trong quy trình
phát triển du lịch bền vững thì cơ quan quản lý du lịch các cấp, các doanh nghiệp, địa
phương phải tuân thủ theo các quy định như sau: lập kế hoạch với các mục tiêu, tiêu
chí, chiến lược, quy hoạch cụ thể theo từng năm và các hành động bắt buộc phải thực
hiện kèm theo tính toán các rủi ro có thể xảy ra và từ đó cho ngay biện pháp hoặc
phương án thay thế; thực hiện kế hoạch phát triển theo những gì kế hoạch đã phân
định ra và cuối cùng là phải giám sát và đánh giá hiệu quả tiến trình.
Ngoài việc Nhà nước ban hành bộ luật với các quy định và tiêu chuẩn để phát triển du
lịch bền vững thì cũng cần có những về hỗ trợ tài chính, thuế cho các doanh nghiệp,
địa phương. Với hỗ trợ tài chính: cung cấp nguồn vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp
đầu tư phát triển du lịch bền vững, hỗ trợ vay vốn tín dụng xanh và áp dụng các chính
sách sách bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp; cấp kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho các
doanh nghiệp xây dựng mô hình du lịch bền vững, hoạt động xúc tiến quảng bá và đào
tạo về du lịch bền vững; trong hỗ trợ phát triển thị trường: hỗ trợ doanh nghiệp tham
gia các hội chợ, triển lãm du lịch quốc tế, quảng bá du lịch bền vững trên các kênh
truyền thông. Đối với việc hỗ trợ về thuế ngoài việc đã ban hành quy định về việc
miễn, giảm thuế giá trị gia tăng đối với các dịch vụ, hàng hóa năm 2024 thì cũng nên
giảm thuế sử dụng đất đối với các khu du lịch phát triển du lịch bền vững và giảm thuế
thu nhập doanh nghiệp phát triển bền vững. Cuối cùng là ban hành luật xử phạt đối với
các trường hợp vi phạm pháp luật trong phát triển du lịch bền vững: phạt tiền theo quy
định của pháp luật, yêu cầu doanh nghiệp khắc phục hậu quả vi phạm và đối với vi
phạm nghiêm trọng thì tạm ngưng hoạt động kinh doanh hoặc tước giấy phép hành
nghề.
Kết hợp ban hành kế hoạch thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất đối với các
doanh nghiệp, địa phương hoạt động trong lĩnh vực du lịch với nội dung và hình thức
như sau: Nội dung kiểm tra: việc chấp hành các quy định về tiêu chuẩn du lịch bền
vững, thực hiện các cam kết về du lịch bền vững của doanh nghiệp, bảo vệ môi trường
trong hoạt động du lịch, bảo tồn văn hóa trong hoạt động du lịch, phát triển cộng đồng
trong hoạt động du lịch. Về hình thức thanh tra, kiểm tra gồm trực tiếp hoặc bằng hình
thức bí mật tại doanh nghiêp, địa phương hoặc qua hồ sơ, báo cáo được cung cấp.
Áp dụng công nghệ vào phát triển du lịch bền vững cũng là rất quan trọng và cần thiết:
Sử dụng các phần mềm quản lý du lịch chuyên nghiệp để tối ưu hóa quy trình vận
hành, theo dõi và đánh giá hiệu quả hoạt động, tiết kiệm chi phí và nhân lực ví dụ như:
Booking Engine, CMS. Triển khai hệ thống đặt phòng trực tuyến trên website, ứng
dụng di động hoặc kết nối với các kênh đặt phòng uy tín như Booking.com, Agoda,...
để họ dễ dàng đặt phòng, thanh toán và quản lý lịch trình cũng như có thể tham gia du
lịch bền vững. Khuyến khích và giới thiệu người dân Việt Nam thử sử dụng và trải
nghiệm AI Trip Planner [11]- công nghệ với chức năng đề xuất các lựa chọn về điểm
đến, chỗ ở hay hỗ trợ từng giai đoạn trong quá trình lập kế hoạch chuyến đi để có ngay
một chuyến du lịch linh hoạt, bền vững và đảm bảo tiết kiệm thời gian. Sử dụng các
công cụ phân tích dữ liệu du lịch như Google Analytics, Big Data,... để thu thập và
phân tích thông tin về hành vi, sở thích của du khách, từ đó xây dựng chiến lược phát
triển phù hợp và hiệu quả. Ứng dụng các phần mềm quản lý tài nguyên (năng lượng,
nước, rừng, biển…) để theo dõi, giám sát và tối ưu hóa việc sử dụng tài. Sử dụng các
thiết bị giám sát môi trường như camera thông minh, cảm biến,... để theo dõi chất
lượng môi trường tại các điểm du lịch. Phát triển và lắp đặt hệ thống cảnh báo thiên
tại. Sử dụng các phần mềm quản lý rác thải để theo dõi, giám sát lượng rác thải, phân
loại rác thải và xử lý rác thải theo đúng quy trình. Livestream, chia sẻ hình ảnh, video
về điểm đến và trải nghiệm du lịch bền vững trên các nền tảng mạng xã hội hoặc thuê
các influencer, blogger để thu hút du khách và quảng bá hiệu quả.
Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho du lịch bền vững có thể thực
hiện các giải pháp sau: Cập nhật nội dung đào tạo, các chương trình đào tạo chuyên
sâu về quản lý, marketing, bảo tồn di sản trong du lịch bền vững vào các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong lĩnh vực du lịch, văn hóa, môi trường.
Tuyển dụng và đào tạo đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao về du lịch bền
vững, có kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực này. Liên kết với các doanh nghiệp du
lịch để tổ chức các chương trình đào tạo thực tế mời chuyên gia từ các doanh nghiệp
tham gia giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm và tạo điều kiện cho sinh viên, học viên thực
tập. Cung cấp mức lương, thưởng cạnh tranh, các chế độ phúc lợi tốt (bảo hiểm, hỗ trợ
nhà ở) để thu hút và giữ chân nhân tài. Tạo cơ hội thăng tiến và xây dựng môi trường
làm việc năng động với các trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại và tổ chức các hoạt
động giao lưu, giải trí.
Kết luận chương II: Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu trong phát triển du
lịch bền vững, vẫn còn nhiều thách thức, bao gồm nhận thức và vai trò của các bên liên
quan chưa đầy đủ, cơ chế quản lý và chính sách chưa đồng bộ, hạ tầng chưa đáp ứng,
và công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập. Để vượt qua những thách thức này,
cần tập trung vào các giải pháp như nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên
liên quan, hoàn thiện khung pháp lý, và đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng xanh. Với sự
nỗ lực liên tục của Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương, Việt Nam có
thể trở thành điểm đến du lịch xanh, bền vững trong tương lai.
Kết luận:
Tiểu luận đã cung cấp hiểu biết quan trọng về mối quan hệ giữa môi trường và phát
triển bền vững, cũng như thực trạng và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam. Môi trường đóng vai trò quan trọng đối với phát triển bền vững, tuy nhiên thực
tế vẫn còn nhiều bất cập, thách thức. Đối với du lịch, phát triển du lịch bền vững ở
Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn do nhận thức, quản lý, cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi
trường chưa đáp ứng yêu cầu. Cần có các giải pháp đồng bộ về chính sách, quản lý,
đầu tư và nâng cao ý thức cộng đồng để du lịch bền vững trở thành xu hướng phát
triển. Với nỗ lực của các bên liên quan, Việt Nam có thể trở thành điểm đến du lịch
xanh, bền vững, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1/ Tiếng Việt
[1] Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Truy cập từ https://quochoi.vn/tintuc/Pages/he-thong-thong-tin-van-ban.aspx?
ItemID=72880
[2] Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014.
Truy cập từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Van-ban-hop-
nhat-13-VBHN-VPQH-2019-Luat-Bao-ve-moi-truong-424601.aspx
[3] Luật Du Lịch 2017 – số 09/2017/QH14, ngày 19/06/201, truy cập từ
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Luat-du-lich-2017-322936.aspx
[4] Truy cập từ https://papiu.vn/papiu-don-vi-duy-nhat-co-chung-nhan-travelife-gold-
for-accommodation-sustainability-con-han-tai-viet-nam-2/
[5] Truy cập từ https://canthotourism.vn/vi/detailnews/?t=victoria-can-tho-resort-dat-
chung-nhan-travelife&id=nspirituality_107
[6] Truy cập từ https://www.tuyengiao.vn/phat-trien-du-lich-xanh-ben-vung-than-
thien-150945
[7] Truy cập từ https://baoxaydung.com.vn/quang-ninh-no-luc-thu-gom-rac-troi-noi-
tren-vinh-ha-long-374101.html
[8] Truy cập từ https://vtv.vn/xa-hoi/du-khach-viet-nam-co-san-sang-chi-them-tien-
cho-du-lich-ben-vung-20230420192607238.htm
[9] Truy cập từ https://tienphong.vn/nganh-du-lich-lai-khat-nhan-luc-post1630405.tpo
[10] Truy cập từ https://nld.com.vn/du-lich-viet-nam-2024-chien-luoc-phat-trien-du-
lich-xanh-ben-vung-196240104200518515.htm
[11] Truy cập từ https://vneconomy.vn/techconnect//ap-dung-cong-nghe-moi-nhu-ai-
va-du-lich-ben-vung-dang-tro-thanh-cac-xu-huong-lon-trong-nganh-du-lich.htm

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
(Học kỳ 2, Năm học 2023-2024)
“MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG?
CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM” GVHD: Nguyễn Thị Kim Loan Khoa-Lớp: 2321DAI006L03
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Ngọc Tường Vy
Mã số sinh viên: 2357011143
............, ngày.......tháng....năm 2024 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
1.1. Khái niệm môi trường
1.2. Khái niệm phát triển
1.3. Những vấn đề chung về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
1.3.1. Khái niệm mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
1.3.2. Biểu hiện của mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
CHƯƠNG II: PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái niệm phát triển du lịch bền vững
2.2. Thực trạng du lịch bền vững ở Việt Nam 2.3. Nguyên nhân
2.4. Giải pháp để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang không ngừng
đẩy mạnh phát triển du lịch - ngành kinh tế mũi nhọn. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh
chóng của du lịch cũng đặt ra nhiều thách thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững. Gia tăng lượng khách du lịch quốc tế và nội địa cùng nhu cầu tiêu dùng cao đã
gây áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Các vấn đề như ô nhiễm, suy
thoái cảnh quan, tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương trở nên nghiêm trọng, đe
dọa sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển
và môi trường là cấp thiết, giúp đưa ra chiến lược, chính sách hợp lý để đảm bảo phát
triển hài hòa và bền vững cho ngành du lịch Việt Nam. Việc áp dụng các phương pháp
phát triển du lịch bền vững không chỉ bảo vệ môi trường mà còn nâng cao hình ảnh
của Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút khách du lịch có ý thức về giá trị bền
vững.Nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin và kiến thức cần thiết để các nhà
hoạch định chính sách, các doanh nghiệp du lịch, và cộng đồng địa phương có thể
cùng nhau hợp tác và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
2. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng: Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, các biện pháp để phát triển du
lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi: Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi “ Mối quan hệ giữa môi trường và
phát triển” và “ Các giải pháp để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay”
Phương pháp nghiên cứu: thông qua việc phân tích các tài liệu, số liệu, các bài báo,
các tác phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, nước ngoài đã được công
bố, các tài liệu, giáo trình môn môi trường và phát triển, các số liệu thống kê.
3. Mục tiêu đề tài nghiên cứu
Phân tích mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường tại Việt Nam.
Đánh giá các mô hình và chính sách hiện tại về phát triển du lịch bền vững.
Đề xuất các giải pháp và phương pháp cụ thể để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài :
Ý nghĩa lý luận: Góp phần mở rộng và làm rõ thêm về mối quan hệ phức tạp giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Cung cấp các cơ sở khoa học cho việc
hiểu hơn về vấn đề này. Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi
tiết và số liệu cụ thể về tác động du lịch bền vững ở Việt Nam, giúp có cái nhìn
toàn diện về tình hình hiện tại. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp cụ thể để
cải thiện tình trạng môi trường và phát triển du lịch bền vững.
Chương I: MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
1.1. Định nghĩa về môi trường
Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam:” Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự
nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người có ảnh hưởng đến
đời sống và kinh tế, sự tồn tại và phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.” [1]
1.2. Định nghĩa về phát triển bền vững
Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam: “ Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng
được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của
các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo
đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.” [2]
1.3. Những vấn đề chung về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
1.3.1. Định nghĩa về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững là một sự tương tác phức tạp, đòi
hỏi sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Mục tiêu là tạo ra một
mô hình phát triển toàn diện và bền vững, đảm bảo sự thịnh vượng cho thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Mối
quan hệ này là mối quan hệ tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau và vừa thống nhất
vừa đối lập: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là
nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
1.3.2. Biểu hiện mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
Môi trường là nền tảng cho phát triển bền vững: môi trường là hệ thống bao gồm tất cả
các yếu tố tự nhiên và xã hội tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên nền tảng cho sự tồn tại
và phát triển của con người. Môi trường đã cung cấp tài nguyên thiên nhiên hay còn
gọi là thành tố tự nhiên. Đầu tiên chính là không khí trong lành cung cấp oxy cho con
người hô hấp và duy trì sự sống. Nước chiếm vị trí quan trọng trong mọi hoạt động
sống của con người, từ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp đến tạo ra nguồn
điện. Khoáng sản là nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp như
khai thác, chế biến, sản xuất. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí
hậu, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất, bảo vệ đa dạng sinh học và cung cấp các
sản phẩm gỗ, lâm sản,... Môi trường hỗ trợ các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội như
với hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như khí hậu,
đất đai, nguồn nước; hay hoạt động công nghiệp cần sử dụng nhiều nước, khoáng sản,
năng lượng cũng như chất thải từ các hoạt động công nghiệp thải ra đã được môi
trường tiếp nhận, xử lý; đối với du lịch thì môi trường thu hút du khách bằng các giá
trị cảnh quan thiên nhiên và tạo nguồn thu nhập cho địa phương. Môi trường ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người như một môi trường trong lành, cảnh quan
thiên nhiên đẹp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người, tạo điều kiện cho
con người phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
Tuy nhiên, hoạt động phát triển không bền vững đang đe dọa nghiêm trọng đến môi
trường. Khai thác tài nguyên thiên nhiên vượt quá khả năng tái tạo của môi trường dẫn
đến cạn kiệt tài nguyên, suy thoái hệ sinh thái và ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt con người thải ra môi trường nhiều chất độc
hại như khí thải, nước thải, rác thải rắn gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe con
người và hệ sinh thái. Biến đổi khí hậu do các hoạt động phát khí thải nhà kính gây ra
các hiện tượng như nóng lên toàn cầu, nước biển dâng cao, lũ lụt.
Phát triển bền vững góp phần bảo vệ môi trường bởi nền tảng cốt lõi của phát triển bền
vững chính là khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý, trách nhiệm, trong giới hạn cho
phép tái tạo của tài nguyên. Ứng dụng các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi
trường để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường thông qua tuyên truyền, giáo dục. Khuyến khích lối sống xanh, tiết kiệm năng
lượng, sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo
vệ các hệ sinh thái tự nhiên, góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái và đảm bảo sự phát
triển lâu dài cho con người.
Kết luận chương I:
Môi trường và phát triển bền vững là gì đã được thể hiện thông qua các định nghĩa từ
các luật ở Việt Nam. Cũng như khẳng định được mối quan hệ mật thiết, phức tạp và
đầy thách thức giữa môi trường và phát triển. Môi trường là nền tảng cho sự sống và
phát triển của con người, cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho mọi hoạt dộng
kinh tế - xã hội và khi phát triển trở nên không bền vững sẽ gây ra những hậu quả
nghiêm trọng đến môi trường. Bởi phát triển bền vững với mục tiêu đảm bảo sự phát
triển kinh tế - xã hội đồng thời bảo vệ môi trường, là con đường duy nhất để giải quyết
mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và bảo vệ môi trường. Từ chương I, ta cũng cần có
sự phát triển bền vững ở mảng du lịch.
Chương II: DU LỊCH BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
Theo luật du lịch 2017: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng
đồng thời các yêu cầu kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các
chủ thẻ tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu
về du lịch trong tương lai.” [3]
2.2. Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay
Trong khi du lịch đại chúng chỉ nhắm đến mà thường bỏ qua mục tiêu bảo tồn thiên
nhiên, du lich bền vững hướng đến sự phát triển đa chiều: tôn trọng văn hoá, lịch sử,
bảo tồn thiên nhiên, nhu cầu trải nghiệm của du khách và cộng đồng địa phương. Đây
là xu hướng được quan tâm toàn cầu, Việt Nam cũng đã có những điểm sáng và vẫn
đang triển khai phát triển du lịch bền vững mạnh mẽ:
Nhu cầu du lịch bền vững của người Việt Nam ngày càng được gia tăng được thể hiện
rõ ràng. Booking.com công bố Báo cáo Du lịch Bền vững năm 2023 dựa trên những
thông tin thu thập từ hơn 33.000 khách du lịch đến từ 35 quốc gia bao gồm Việt Nam.
Trong đó nhấn mạnh rằng tác động của các chuyến đi vẫn là mối quan tâm hàng đầu
của du khách, với 96% du khách Việt nói rằng họ muốn du lịch bền vững hơn trong 12
tháng tới, tăng 8% so với số liệu năm 2021( theo Báo cáo Du lịch bền vững năm 2021
là 88%) và 75% du khách Việt Nam cho biết họ sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các lựa
chọn du lịch bền vững đã được cấp chứng nhận.
(Ảnh chụp từ Sustainable Travel Report 2023 – Booking.com)
Hay Milieu Insight đã thực hiện một nghiên cứu được ủy quyền bởi Booking.com với
gồm 8,800 người tham gia từ 11 thị trường và khu vực khác nhau trên khắp khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương bao gồm cả Việt Nam đã cho thấy Việt Nam xếp hạng cao
thứ hai trong phần đánh giá “tầm quan trọng của việc đưa ra các quyết định du lịch bền
vững” với 80% và Việt Nam đứng đầu ở tỉ lệ du khách sẵn sàng chi trả thêm để lưu trú
ở chỗ nghỉ bền vững hơn với 79%.
(Ảnh chụp từ Travel Confident Index 2023- APAC – Booking.com)
Nhiều doanh nghiệp du lịch đã quan tâm và thực hiện du lịch bền vững. P’ apiu
Resort- đơn vị có chứng nhận “ Travelife gold for Accommodation Sustainability” tại
Việt Nam từ Tổ chức quốc tế về Du lịch Bền Vững từ 8/07/2022 với những hoạt động
như: các villa được thiết kế tận dụng nguồn năng lượng tự nhiên; sử dụng đồ vật từ
gốm, thủy tinh và nguyên liệu phân hủy thay vì nhựa; giữ gìn văn hóa và phát triển văn
hóa Hà Giang trong kiến trúc, hoạt động trải nghiệm ẩm thực, lễ hội ;sử dụng toàn bộ
nhân viên là người bản địa. [4] Victoria Cần Thơ Resort của Tập đoàn Thiên Minh
Group chính thức nhận Chứng nhận “Travelife Gold for Accommodation
Sustainability” từ Tổ chức quốc tế về Du lịch Bền Vững Travelife từ ngày 12/10/2023
với những hoạt động như: Khám phá các tour sinh thái như tham quan chợ nổi Cái
Răng, Cồn Sơn, xóm thúng Yên Hạ… bằng xe đạp và phương tiện ít tác động môi
trường; nhiều workshop ý nghĩa như :“ Sống vui - Sống khỏe”; Trồng thêm cây xanh;
tổ chức trình diễn giới thiệu giữ gìn văn hóa bản địa như làm nón lá, xếp lá dứa [5].
Nhiều điểm đến du lịch tham gia vào du lịch bền vững với những hoạt động về du lịch
bền vững được tổ chức: Tháng 9/2023, Hội An chính thức ra mắt mô hình "Khách sạn
không rác thải nhựa" thải ra môi trường và du khách không còn đồ nhựa dùng một lần.
Trước đó, tháng 10/2022, Hội An đã ra mắt mô hình “Trạm đong đầy” ở chợ - một giải
pháp mua sắm không phát sinh bao bì, gia tăng vòng đời của rác, đặt biệt là rác thải
nhựa.Từ tháng 9/2023, huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh) bắt đầu thí điểm áp dụng quy
định du khách không mang chai nhựa, túi nilon, vật liệu có nguy cơ ô nhiễm môi
trường khi đi du lịch. [6]
Bên cạnh đó, vẫn thấy sự bất ổn định trong việc thực hiện phát triển du lịch bền vững ở nước ta hiện nay:
Chiến lược phát triển du lịch quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đề cao
phát triển du lịch bền vững. Tuy nhiên, một số quy hoạch, chính sách và luật ở cấp địa
phương lại tập trung khai thác du lịch ồ ạt, chưa chú trọng bảo vệ môi trường. Mục
tiêu đề ra thường mang tính tổng quan, chưa cụ thể hóa thành các chỉ tiêu định lượng
rõ ràng, dễ đo đếm, đánh giá, và việc thiếu các chỉ tiêu cụ thể khiến cho việc theo dõi
tiến độ, đánh giá hiệu quả thực thi trở nên khó khăn, thiếu tính thuyết phục. Các chiến
lược, quy hoạch du lịch thường thiếu đi lộ trình cụ thể, rõ ràng về cách thức thực hiện
các mục tiêu đề ra; việc thiếu lộ trình khiến cho việc triển khai, phân công trách nhiệm
và nguồn lực trở nên lúng túng, thiếu hiệu quả. Việc quản lý du lịch bền vững do nhiều
Bộ, ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phố
trực thuộc Trung ương, Hiệp hội du lịch Việt Nam, Cục du lịch quốc qua Việt Nam)
phụ trách dẫn đến chồng chéo chức năng, lãng phí nguồn lực, thiếu sự phối hợp và
giảm hiệu quả thực thi như việc quản lý chất thải rắn trong du lịch do Bộ Tài nguyên
và Môi trường và UBND địa phương đồng thời quản lý, dẫn đến tình trạng thiếu quy
hoạch chung, trách nhiệm quản lý không rõ ràng. Chưa có giải pháp huy động nguồn
lực hiệu quả cho phát triển du lịch bền vững từ ngân hàng nhà nước: nguồn lực đầu tư
cho du lịch cho du lịch bền vững, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; khu vực tư
nhân: khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào đầu tư du lịch bền vững còn gặp
nhiều rào cản; nguồn viện trợ quốc tế: việc tiếp cận và sử dụng nguồn viện trợ quốc tế
cho du lịch bền vững còn nhiều hạn chế.
Mỗi địa phương ban hành chính sách du lịch bền vững riêng, dẫn đến sự chênh lệch,
thiếu thống nhất trong việc quản lý và phát triển du lịch. Quy định về khai thác du lịch
sinh thái tại khu vực Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) khác biệt so với quy định tại khu
vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) về phân khu chức năng hay
hoạt động du lịch. Các tiêu chuẩn cơ sở lưu trú, hoạt động du lịch sinh thái, khai thác
tài nguyên thiên nhiên khác nhau giữa các địa phương gây khó khăn cho du khách
trong việc lựa chọn điểm đến và doanh nghiệp trong việc tuân thủ các quy định. Chưa
có hệ thống tiêu chuẩn chung cho du lịch bền vững, khiến việc đánh giá chất lượng và
hiệu quả của các hoạt động du lịch gặp nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng “ treo đầu dê
bán thịt chó”, các doanh nghiệp du lịch dễ dàng “lách luật” để trục lợi. Mặc dù Luật
Bảo vệ môi trường 2020 quy định các biện pháp bảo vệ môi trường trong du lịch, tuy
nhiên tình trạng xả rác thải bừa bãi, khai thác tài nguyên trái phép tại các điểm du lịch
vẫn diễn ra phổ biến. Mức phạt vi phạm đối với các hành vi vi phạm quy định về du
lịch bền vững còn thấp so với lợi nhuận doanh nghiệp thu được, chưa đủ sức răn đe
hay thống nhất giữa các địa phương.
Việc ứng dụng các nguyên tắc du lịch bền vững vào hoạt động du lịch còn hạn chế,
chưa đồng đều ở các địa phương và giữa các doanh nghiệp du lịch. Tuy một số địa
phương, doanh nghiệp đã áp dụng một số nguyên tắc du lịch bền vững như: sử dụng
năng lượng tái tạo, tiết kiệm nước, hạn chế rác thải nhựa... nhưng vẫn còn những
doanh nghiệp, địa phương khác chưa được ứng dụng phổ biến rộng rãi và hiệu quả.
Nhiều khu vực, đặc biệt là các điểm du lịch ở vùng sâu vùng xa, hải đảo còn thiếu hệ
thống xử lý rác thải hiệu quả, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường. Rác thải sinh
hoạt, rác thải du lịch không được thu gom, xử lý đúng cách,ảnh hưởng đến nguồn
nước, đất đai và cảnh quan. Từ năm 2024, việc triển khai thu gôm hàng chục tấn rác
thải ở Vịnh Hạ Long vẫn đang được diễn ra với nhiều đợt huy động lực lượng nhưng
thực sự vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề này [7]. Hoạt động sử dụng năng lượng,
nước và các nguồn tài nguyên khác trong các hoạt động du lịch chưa tiết kiệm, hiệu
quả. Nhiều cơ sở lưu trú, khu du lịch sử dụng năng lượng, nước lãng phí, không có
biện pháp tiết kiệm. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ du lịch chưa được
kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên. Một số doanh nghiệp du lịch
chỉ quan tâm đến lợi nhuận, chưa chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng.
Ý thức về việc chung tay phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam của cộng đồng vẫn
còn những hạn chế: Đối với du khách, tình trạng thiếu ý thức vệ sinh môi trường vẫn
phổ biến, thể hiện qua các hành vi như vứt rác bừa bãi, lãng phí nước trong sinh hoạt,
gây tiếng ồn, và có những hành vi không phù hợp với văn hóa địa phương. Cũng như
họ trở nên e ngại trong việc chọn lựa du lịch bền vững thay vì kiểu du lịch truyền
thống bởi giá tiền của nó : Theo khảo sát của Booking.com năm 2023, nhiều du khách
cũng lo ngại rằng chi phí cho du lịch bền vững là quá cao, với 42% du khách Việt Nam
cho biết họ cảm thấy du lịch bền vững quá đắt đỏ [8]. Đối với người dân địa phương,
nhận thức về tầm quan trọng của du lịch bền vững vẫn còn hạn chế. Họ chưa đầy đủ
kiến thức và kỹ năng để tham gia vào các hoạt động du lịch bền vững, và một số vẫn
khai thác tài nguyên một cách không bền vững. Các chương trình tuyên truyền, giáo
dục về du lịch bền vững cũng chưa được chú trọng và hiệu quả, do nội dung còn khô
khan, mang tính học thuật, chưa sáng tạo, và chủ yếu sử dụng các hình thức truyền
thống như báo chí, truyền hình thay vì tận dụng các kênh truyền thông hiện đại như mạng xã hội, internet.
Chưa có nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành du lịch bền vững, dẫn đến
tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao. Theo Giám đốc nhân
sự khách sạn Inter Continental Saigon Đặng Trần Phương Thảo, trong giai đoạn 2022-
2023, ngành Du lịch TP.HCM đang thiếu khoảng 40.000 lao động có trình độ, trong
khi các trường chỉ có thể đáp ứng khoảng 15.000 lao động. Bà Thảo cũng nhấn mạnh
rằng "Không chỉ thiếu mà chất lượng nguồn nhân lực còn yếu" [9]. Các địa phương,
đặc biệt là các địa phương vùng sâu vùng xa, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn trong
việc thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực du lịch bền vững.
Khả năng tiếp cận và ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ vào thực tiễn du lịch
bền vững còn hạn chế. Hạn chế về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị công nghệ phục vụ
cho phát triển du lịch bền vững.
2.3 Nguyên nhân sự không bền vững trong việc thực hiện phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Sự không bền vững trong việc thực hiện phát triển du lịch bền vững nguyên nhân chủ yếu là do:
Mục tiêu phát triển du lịch bền vững “ thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, “
tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành và lĩnh vực khác” nhưng chiến lược lại
vẫn trong giai đoạn sơ khai chưa được cụ thể hóa bằng các mục tiêu, chỉ tiêu định
hướng rõ ràng; đề cập đến việc phát triển các sản phẩm du lịch bền vững, nâng cao ý
thức cộng đồng, ứng dụng khoa hoc công nghệ,... nhưng lại chưa có định hướng rõ
ràng chi tiết cho từng hoạt động như cần ứng dụng những công nghệ nào để quản lý du
lịch bền vững, hiệu quả,... Thiếu giải pháp thực thi huy động nguồn lực đầu tư cho
phát triển du lịch bền vững, chưa nêu rõ cụ thể nguồn lực nên được huy động từ đâu
với số lượng tỷ lệ huy động cụ thể (từ nhân sách nhà nước hay nguồn viện trợ từ nước
ngoài,...); cơ chế về sự phối hợp giữa các cơ quan, địa phương chưa được đề cập trong
việc thực hiện chiến lược, dẫn đến nguy cơ bị chồng chéo; lộ trình vẫn chưa được vạch
ra rõ ràng thể hiện từng chi tiết các bước ở từng giai đoạn; không phân kỳ mục tiêu
thực hiện dẫn đến việc đối diện với nhiều khó khăn ( việc theo dõi và đánh giá tiến độ
thực hiện, hiệu quả thực thi của chiến lược) khi triển khai thực hiện.
Thiếu nhận thức và cam kết mạnh mẽ từ một số doanh nghiệp, địa phương về tầm
quan trọng của du lịch bền vững, chỉ tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn. Thiếu ngân
sách đầu tư, nguồn lực cơ sở để nâng cấp hạ tầng, áp dụng công nghệ tiết kiệm nước,
năng lượng, hệ thống giao thông và dịch vụ du lịch bền vững bởi doanh nghiệp còn e
ngại chi phí cao, lợi nhuận chưa rõ ràng và thủ tục vay vốn phức tạp. Nhiều khu vực
(vùng sâu, hải đảo) thiếu hệ thống thu gom, xử lý rác thải dẫn đến ô nhiễm môi trường.
Sự khác biệt về quy định, tiêu chuẩn giữa các địa phương trong lĩnh vực cơ sở lưu trú,
du lịch sinh thái, khai thác tài nguyên thiên nhiên khiến du khách và doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn. Thiếu hệ thống tiêu chuẩn chung cho du lịch bền vững, khó đánh giá
chất lượng và hiệu quả hoạt động. Doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc áp
dụng tiêu chuẩn quốc tế do thiếu hướng dẫn cụ thể. Sự thay đổi liên tục trong chính
sách gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ và thích ứng, dẫn đến tăng chi
phí hoạt động và làm giảm lợi nhuận. Thiếu một cơ quan quản lý chuyên trách về du
lịch bền vững. Nhân sự quản lý du lịch bền vững thiếu chuyên môn cùng với thiếu
trang thiết bị, công nghệ hiện đại để theo dõi, giám sát chất lượng môi trường và kiểm
tra việc thực hiện các quy định về du lịch bền vững. Doanh nghiệp du lịch thiếu thông
tin, sự hướng dẫn và tập huấn từ cơ quan quản lý và các nghiên cứu khoa học về du lịch bền vững.
Việc nâng cao ý thức của cộng đồng về du lịch bền vững ở Việt Nam vẫn gặp một số
hạn chế: Đối với du khách: thiếu ý thức bảo vệ môi trường, thể hiện qua các hành vi
như vứt rác bừa bãi, lãng phí nước, gây ồn ào, và có những hành vi không phù hợp với
văn hóa địa phương. Tuyên truyền, giáo dục về các nguyên tắc, tầm quan trọng du lịch
bền vững chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả khiến hiểu sai rằng du lịch bền vững
chỉ dành cho người giàu. Đối với người dân địa phương: nhận thức về tầm quan trọng,
lợi ích của du lịch bền vững vẫn còn hạn chế. Họ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức
và kỹ năng để tham gia vào các hoạt động du lịch bền vững, và một số vẫn khai thác
tài nguyên thiên nhiên một cách không bền vững. Các chương trình tuyên truyền, đào
tạo về du lịch bền vững cho cộng đồng địa phương còn ít, nội dung khô khan mang
tính học thuật, chưa sáng tạo và chưa được triển khai một cách có chiều sâu, chưa
được chú trọng và hiệu quả.
Thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam là
một thách thức đáng kể. Một số vấn đề cụ thể bao gồm: Năng lực quản lý nhà nước về
du lịch bền vững ở các địa phương chưa mạnh, thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ
chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước,
cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch chưa hiệu quả. Chất lượng đào tạo về du lịch
bền vững ở các cơ sở giáo dục chưa đồng đều, một số nội dung còn thiếu liên hệ với
thực tế công việc. Khó thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao do mức lương, phúc lợi,
điều kiện làm việc tại các vùng sâu vùng xa chưa hấp dẫn. Ứng dụng khoa học công
nghệ vào du lịch bền vững còn gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt về cơ sở vật chất và trang thiết bị.
2.4. Biện pháp để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam đang trong quá trình phát triển du lịch theo hướng “ sản phẩm đặc sắc - dịch
vụ chuyên nghiệp - thủ tục thuận tiện, đơn giản - giá cả cạnh tranh - môi trường vệ
sinh sạch đẹp - điểm đến an toàn, văn minh, thân thiện. Ngày 3-1, Thủ tướng Chính
phủ giao nhiệm vụ ngành du lịch đón và phục vụ 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế,
110 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch ước đạt 850.000 tỉ đồng trong năm
2024 và đồng thời phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh gắn với chuyển đổi số
nhằm tăng cường kết nối hạ tầng dịch vụ, hỗ trợ và gia tăng trải nghiệm cho khách du
lịch, tăng cường ứng dụng công nghệ xanh, sạch trong du lịch [10]. Nhằm thực hiện
điều này và thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, cần triển khai đồng bộ
và toàn bộ các biện pháp sau để giải quyết những thử thách đang gặp phải:
Nhà nước nên ban hành bộ luật riêng dành cho du lịch bền vững ở Việt Nam với các
quy định rõ ràng, chính xác như về quy tắc chung về phát triển du lịch bền vững gồm:
bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân địa
phương và cũng như bảo tồn văn hóa truyền thống; và cả quy định cụ thể về các tiêu
chuẩn mà các doanh nghiệp, địa phương cần tuân thủ nghiêm ngặt để được công nhận
là các doanh nghiệp, địa phương phát triển du lịch bền vững như: tiêu chuẩn về sử
dụng năng lượng tái tạo thay thế cho loại năng lượng truyền thống, tiêu chuẩn quản lý
và xử lý rác thải, tiêu chuẩn về bảo tồn văn hóa, tiêu chuẩn phát triển cộng đồng, tiêu
chuẩn về sử dụng nước, tiêu chuẩn về quản lý môi trường. Cũng như trong quy trình
phát triển du lịch bền vững thì cơ quan quản lý du lịch các cấp, các doanh nghiệp, địa
phương phải tuân thủ theo các quy định như sau: lập kế hoạch với các mục tiêu, tiêu
chí, chiến lược, quy hoạch cụ thể theo từng năm và các hành động bắt buộc phải thực
hiện kèm theo tính toán các rủi ro có thể xảy ra và từ đó cho ngay biện pháp hoặc
phương án thay thế; thực hiện kế hoạch phát triển theo những gì kế hoạch đã phân
định ra và cuối cùng là phải giám sát và đánh giá hiệu quả tiến trình.
Ngoài việc Nhà nước ban hành bộ luật với các quy định và tiêu chuẩn để phát triển du
lịch bền vững thì cũng cần có những về hỗ trợ tài chính, thuế cho các doanh nghiệp,
địa phương. Với hỗ trợ tài chính: cung cấp nguồn vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp
đầu tư phát triển du lịch bền vững, hỗ trợ vay vốn tín dụng xanh và áp dụng các chính
sách sách bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp; cấp kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho các
doanh nghiệp xây dựng mô hình du lịch bền vững, hoạt động xúc tiến quảng bá và đào
tạo về du lịch bền vững; trong hỗ trợ phát triển thị trường: hỗ trợ doanh nghiệp tham
gia các hội chợ, triển lãm du lịch quốc tế, quảng bá du lịch bền vững trên các kênh
truyền thông. Đối với việc hỗ trợ về thuế ngoài việc đã ban hành quy định về việc
miễn, giảm thuế giá trị gia tăng đối với các dịch vụ, hàng hóa năm 2024 thì cũng nên
giảm thuế sử dụng đất đối với các khu du lịch phát triển du lịch bền vững và giảm thuế
thu nhập doanh nghiệp phát triển bền vững. Cuối cùng là ban hành luật xử phạt đối với
các trường hợp vi phạm pháp luật trong phát triển du lịch bền vững: phạt tiền theo quy
định của pháp luật, yêu cầu doanh nghiệp khắc phục hậu quả vi phạm và đối với vi
phạm nghiêm trọng thì tạm ngưng hoạt động kinh doanh hoặc tước giấy phép hành nghề.
Kết hợp ban hành kế hoạch thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất đối với các
doanh nghiệp, địa phương hoạt động trong lĩnh vực du lịch với nội dung và hình thức
như sau: Nội dung kiểm tra: việc chấp hành các quy định về tiêu chuẩn du lịch bền
vững, thực hiện các cam kết về du lịch bền vững của doanh nghiệp, bảo vệ môi trường
trong hoạt động du lịch, bảo tồn văn hóa trong hoạt động du lịch, phát triển cộng đồng
trong hoạt động du lịch. Về hình thức thanh tra, kiểm tra gồm trực tiếp hoặc bằng hình
thức bí mật tại doanh nghiêp, địa phương hoặc qua hồ sơ, báo cáo được cung cấp.
Áp dụng công nghệ vào phát triển du lịch bền vững cũng là rất quan trọng và cần thiết:
Sử dụng các phần mềm quản lý du lịch chuyên nghiệp để tối ưu hóa quy trình vận
hành, theo dõi và đánh giá hiệu quả hoạt động, tiết kiệm chi phí và nhân lực ví dụ như:
Booking Engine, CMS. Triển khai hệ thống đặt phòng trực tuyến trên website, ứng
dụng di động hoặc kết nối với các kênh đặt phòng uy tín như Booking.com, Agoda,...
để họ dễ dàng đặt phòng, thanh toán và quản lý lịch trình cũng như có thể tham gia du
lịch bền vững. Khuyến khích và giới thiệu người dân Việt Nam thử sử dụng và trải
nghiệm AI Trip Planner [11]- công nghệ với chức năng đề xuất các lựa chọn về điểm
đến, chỗ ở hay hỗ trợ từng giai đoạn trong quá trình lập kế hoạch chuyến đi để có ngay
một chuyến du lịch linh hoạt, bền vững và đảm bảo tiết kiệm thời gian. Sử dụng các
công cụ phân tích dữ liệu du lịch như Google Analytics, Big Data,... để thu thập và
phân tích thông tin về hành vi, sở thích của du khách, từ đó xây dựng chiến lược phát
triển phù hợp và hiệu quả. Ứng dụng các phần mềm quản lý tài nguyên (năng lượng,
nước, rừng, biển…) để theo dõi, giám sát và tối ưu hóa việc sử dụng tài. Sử dụng các
thiết bị giám sát môi trường như camera thông minh, cảm biến,... để theo dõi chất
lượng môi trường tại các điểm du lịch. Phát triển và lắp đặt hệ thống cảnh báo thiên
tại. Sử dụng các phần mềm quản lý rác thải để theo dõi, giám sát lượng rác thải, phân
loại rác thải và xử lý rác thải theo đúng quy trình. Livestream, chia sẻ hình ảnh, video
về điểm đến và trải nghiệm du lịch bền vững trên các nền tảng mạng xã hội hoặc thuê
các influencer, blogger để thu hút du khách và quảng bá hiệu quả.
Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho du lịch bền vững có thể thực
hiện các giải pháp sau: Cập nhật nội dung đào tạo, các chương trình đào tạo chuyên
sâu về quản lý, marketing, bảo tồn di sản trong du lịch bền vững vào các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong lĩnh vực du lịch, văn hóa, môi trường.
Tuyển dụng và đào tạo đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao về du lịch bền
vững, có kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực này. Liên kết với các doanh nghiệp du
lịch để tổ chức các chương trình đào tạo thực tế mời chuyên gia từ các doanh nghiệp
tham gia giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm và tạo điều kiện cho sinh viên, học viên thực
tập. Cung cấp mức lương, thưởng cạnh tranh, các chế độ phúc lợi tốt (bảo hiểm, hỗ trợ
nhà ở) để thu hút và giữ chân nhân tài. Tạo cơ hội thăng tiến và xây dựng môi trường
làm việc năng động với các trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại và tổ chức các hoạt
động giao lưu, giải trí.
Kết luận chương II: Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu trong phát triển du
lịch bền vững, vẫn còn nhiều thách thức, bao gồm nhận thức và vai trò của các bên liên
quan chưa đầy đủ, cơ chế quản lý và chính sách chưa đồng bộ, hạ tầng chưa đáp ứng,
và công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập. Để vượt qua những thách thức này,
cần tập trung vào các giải pháp như nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên
liên quan, hoàn thiện khung pháp lý, và đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng xanh. Với sự
nỗ lực liên tục của Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương, Việt Nam có
thể trở thành điểm đến du lịch xanh, bền vững trong tương lai. Kết luận:
Tiểu luận đã cung cấp hiểu biết quan trọng về mối quan hệ giữa môi trường và phát
triển bền vững, cũng như thực trạng và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam. Môi trường đóng vai trò quan trọng đối với phát triển bền vững, tuy nhiên thực
tế vẫn còn nhiều bất cập, thách thức. Đối với du lịch, phát triển du lịch bền vững ở
Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn do nhận thức, quản lý, cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi
trường chưa đáp ứng yêu cầu. Cần có các giải pháp đồng bộ về chính sách, quản lý,
đầu tư và nâng cao ý thức cộng đồng để du lịch bền vững trở thành xu hướng phát
triển. Với nỗ lực của các bên liên quan, Việt Nam có thể trở thành điểm đến du lịch
xanh, bền vững, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1/ Tiếng Việt
[1] Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Truy cập từ https://quochoi.vn/tintuc/Pages/he-thong-thong-tin-van-ban.aspx? ItemID=72880
[2] Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014.
Truy cập từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Van-ban-hop-
nhat-13-VBHN-VPQH-2019-Luat-Bao-ve-moi-truong-424601.aspx
[3] Luật Du Lịch 2017 – số 09/2017/QH14, ngày 19/06/201, truy cập từ
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Luat-du-lich-2017-322936.aspx
[4] Truy cập từ https://papiu.vn/papiu-don-vi-duy-nhat-co-chung-nhan-travelife-gold-
for-accommodation-sustainability-con-han-tai-viet-nam-2/
[5] Truy cập từ https://canthotourism.vn/vi/detailnews/?t=victoria-can-tho-resort-dat-
chung-nhan-travelife&id=nspirituality_107
[6] Truy cập từ https://www.tuyengiao.vn/phat-trien-du-lich-xanh-ben-vung-than- thien-150945
[7] Truy cập từ https://baoxaydung.com.vn/quang-ninh-no-luc-thu-gom-rac-troi-noi- tren-vinh-ha-long-374101.html
[8] Truy cập từ https://vtv.vn/xa-hoi/du-khach-viet-nam-co-san-sang-chi-them-tien-
cho-du-lich-ben-vung-20230420192607238.htm
[9] Truy cập từ https://tienphong.vn/nganh-du-lich-lai-khat-nhan-luc-post1630405.tpo
[10] Truy cập từ https://nld.com.vn/du-lich-viet-nam-2024-chien-luoc-phat-trien-du-
lich-xanh-ben-vung-196240104200518515.htm
[11] Truy cập từ https://vneconomy.vn/techconnect//ap-dung-cong-nghe-moi-nhu-ai-
va-du-lich-ben-vung-dang-tro-thanh-cac-xu-huong-lon-trong-nganh-du-lich.htm