



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT TIỂU LUẬN NHÓM
MÔN HỌC: KINH TẾ DU LỊCH CHỦ ĐỀ:
VĂN HÓA TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn
: ThS. Nguyễn Thị Tuyết Ngân Mã lớp học phần : 241TM2501
Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm Xóm Văn Hóa
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 11 năm 2024 i
BẢNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC STT Họ và tên MSSV
Mức độ hoàn thành 1 Trần Như Huyền K224151766 100% 2 Lưu Đào Tiểu My K224151776 85% 3 Trần Thị Quỳnh Như K224151780 100% 4 Lường Thu Phương K224151782 100% 5 Phạm Lê Minh Thư K224151789 100% i
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC NHÂN SỰ Lời cảm ơn Tiểu My Phần mở đầu
Chương 1: Tổng quan về văn hóa trang phục Như Huyền Soạn
Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến trang phục của người Việt Nam Quỳnh Như nội Phần dung nội
Chương 3: Sự bảo tồn và phát huy văn hóa trang phục truyền thống trong bối cảnh hiện đại Thu Phương dung
Chương 4: Liên hệ, so sánh giữa văn hóa trang phục Việt Nam nói riêng, các nước phương Thu Phương
Đông nói chung với văn hóa trang phục phương Tây Minh Thư Phần kết luận Minh Thư Random 2 bạn và cố định 2 bạn : Thuyết trình Quỳnh Như và Tiểu My i Slide Minh Thư Word Quỳnh Như i i LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học
Kinh tế - Luật đã đưa môn Cơ sở văn hóa Việt Nam vào chương trình giảng dạy, tạo
điều kiện thuận lợi để chúng em có cơ hội tiếp xúc với môn học và tiếp thu thêm những
kiến thức quý giá. Việc tham gia vào môn học cũng như đóng góp vào bài tập tìm hiểu
“Văn hóa trang phục của người Việt Nam” vừa là thách thức thú vị, vừa là trải nghiệm
thực tế mới mẻ. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Nguyễn Thị Tuyết
Ngân (Giảng viên bộ môn), người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức
quý báu cho chúng em trong khoảng thời gian vừa qua, từ đó góp phần quan trọng để
chúng em hoàn thành bài tiểu luận này. Cơ sở văn hóa Việt Nam là môn học vô cùng bổ
ích và có tính thực tế cao, đảm bảo cung cấp đủ kiến thức gắn liền với nhu cầu thực tiễn
của sinh viên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, do còn hạn chế về mặt kiến thức nên
bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tiểu
luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm sinh viên thực hiện iv MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .i i
DANH MỤC HÌNH ẢNH. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . vi
PHẦN MỞ ĐẦU. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . vi
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TRANG PHỤC. . . . . . . . . . . . . .1
1.1. Khái niệm về trang phục và văn hóa trang phục. . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
1.2. Sự hình thành và phát triển của trang phục người Việt qua các thời kỳ
lịch sử. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
1.2.1. Trang phục thời Hùng Vương. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .1
1.2.2. Trang phục thời Lý - Trần. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .2
1.2.3. Trang phục thời Hậu Lê. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.2.4. Trang phục thời Nguyễn - Pháp thuộc. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1.2.5. Trang phục truyền thống Việt Nam. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.2.6. Trang phục hiện đại ngày nay. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.3. Chất liệu may mặc trang phục. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.3.1. Chất liệu truyền thống. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .7
1.3.2. Chất liệu hiện đại. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .9
1.4. Các yếu tố cấu thành trang phục. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.4.1. Trang phục phía trên. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.4.2. Trang phục phía dưới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.4.3. Phụ kiện. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .12
1.5. Vai trò của trang phục trong văn hóa xã hội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
CHƯƠNG II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HÓA TRANG
PHỤC CỦA NGƯỜI VIỆT NAM. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.1. Điều kiện tự nhiên. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.2. Yếu tố xã hội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.3. Yếu tố văn hóa. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.4. Yếu tố kinh tế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
CHƯƠNG III. SỰ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA TRANG PHỤC v
TRUYỀN THỐNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI. . . . . . . . . . . . . . . . . . .22
3.1. Xu hướng quay trở lại trang phục truyền thống. . . . . . . . . . . . . . . . . 22
3.2. Sự giao thoa giữa trang phục truyền thống và hiện đại. . . . . . . . . . . .26
3.3. Trang phục truyền thống và vai trò quảng bá văn hóa Việt Nam ra
quốc tế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .28
CHƯƠNG IV. LIÊN HỆ, SO SÁNH GIỮA VĂN HÓA TRANG PHỤC VIỆT
NAM NÓI RIÊNG, CÁC NƯỚC PHƯƠNG ĐÔNG NÓI CHUNG VÀ VĂN
HÓA TRANG PHỤC PHƯƠNG TÂY. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32
4.1. Điểm giống nhau. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .32
4.2. Điểm khác nhau. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 34
KẾT LUẬN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 42 vi DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.2.1. Trang phục thời Hùng Vương. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
Hình 1.2.2. Trang phục thời Lý – Trần. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
Hình 1.2.3. Trang phục thời Hậu Lê. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
Hình 1.2.4. Trang phục thời Nguyễn – Pháp thuộc. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
Hình 1.2.5.1. Áo cánh rộng với họa tiết Hippy và quần ống loe trong thập kỷ 70 theo xu
hướng Disco. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
Hình 1.2.5.2. Áo dài Lemur. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
Hình 1.2.5.3. Áo Nhật Bình. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
Hình 1.2.6. Trang phục của giới trẻ hiện nay. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
Hình 3.1.1. Giới trẻ tự hào và yêu mến lựa chọn các bộ trang phục truyền thống 23
Hình 3.1.2. Áo Giao Lĩnh thời Hậu Lê được phục dựng bởi đội ngũ Ỷ Vân Các 23
Hình 3.2. Trang phục áo dài qua các thời kỳ. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 26
Hình 3.3.1. Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam
Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam, ngày 27/01/1973, tại Trung
tâm hội nghị quốc tế ở Thủ đô Paris (Pháp). . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
Hình 3.3.2. Hương Giang diện áo dài tại Tuần lễ thời trang Thái Lan. . . . . . . . . . . . . .29
Hình 4.1.1. Vải tằm Ý. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
Hình 4.1.2. Hình ảnh trang phục váy Flamenco. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
Hình 4.1.3. Hình ảnh trang phục áo Kāṣāya. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 34 vi PHẦN MỞ ĐẦU
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc, Việt Nam trở thành một đất nước
hội tụ nhiều nền văn hóa và truyền thống. Từ thuở dựng nước và giữ nước cho đến thời
đại ngày nay, các giá trị văn hóa về vật chất và tinh thần không ngừng phát triển theo
từng ngày và được hiện hữu trong nhiều phương diện như nghệ thuật, kiến trúc, phong
tục… Không chỉ dừng lại ở đó, phong tục tập quán còn được in sâu từ những thứ thường
nhật nhất trong đời sống của người dân. Văn hóa trang phục chính là một phương diện
phản ánh lối sống và tư duy thẩm mỹ của người con đất Việt và mang trong mình những
giá trị biểu tượng sâu sắc về bản sắc dân tộc.
Trang phục là một trong những thứ không thể thiếu trong đời sống của chúng ta.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, trang phục dần biến từ vật dụng che chắn,
bảo vệ cơ thể trở thành một nét văn hóa mang nhiều giá trị của cộng đồng. Trong mỗi
quốc gia, mỗi vùng miền, trang phục phản ánh tính lịch sử, thẩm mỹ, và phong cách
sống, góp phần tạo nên bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó, thông qua trang phục, mỗi cá nhân
trong xã hội có thể thể hiện phong cách và cá tính riêng, cũng như gửi gắm những thông
điệp phi ngôn ngữ ẩn chứa trong mỗi bộ quần áo.
Qua từng giai đoạn phát triển, trang phục Việt Nam đã có những thay đổi và cải
tiến để phù hợp với xu hướng thời trang và nhu cầu của xã hội, song vẫn giữ được nét
đặc trưng vốn có. Khi so sánh trang phục Việt Nam xưa và nay, ta có thể thấy rõ sự thay
đổi không chỉ về kiểu dáng mà còn về chất liệu và cách phối hợp trang phục. Nếu như
trước đây, trang phục chủ yếu làm từ các loại vải tự nhiên như lụa, đay, hay tơ, thì ngày
nay, trang phục Việt Nam được làm từ nhiều loại chất liệu hiện đại, phù hợp với lối sống
nhanh của thời đại công nghiệp. Trang phục Việt Nam cũng đang ngày càng phát triển
và được quảng bá rộng rãi ra thế giới qua các chương trình văn hóa, nghệ thuật, và các
cuộc thi quốc tế. Những bộ trang phục truyền thống của Việt Nam, như áo dài, đã trở
thành biểu tượng văn hóa, giúp bạn bè quốc tế nhận diện và hiểu hơn về vẻ đẹp tinh tế
của người Việt. Việc cải tiến và quảng bá trang phục truyền thống không chỉ giữ gìn và
phát huy bản sắc dân tộc mà còn tạo cơ hội cho Việt Nam hội nhập, giao lưu văn hóa
với các quốc gia trên thế giới. vi i
Đề tài nghiên cứu văn hóa trang phục của nhóm chúng em không chỉ giúp mọi
người hiểu rõ hơn về thói quen, phong tục của từng cộng đồng, mà còn mở ra góc nhìn
phong phú về vai trò của trang phục trong việc thể hiện vị thế xã hội và những giá trị
tinh thần, gắn bó với truyền thống của một quốc gia hay nền văn hóa để ta thêm yêu và
thêm tự hào về một nét văn hóa của dân tộc. 1 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TRANG PHỤC
1.1. Khái niệm về trang phục và văn hóa trang phục
Trang phục hay y phục là từ dùng để chỉ những đồ để mặc như quần, áo, váy hay
để đội như mũ, nón, khăn và để đi như giày, dép, ủng,… Ngoài ra, trang phục còn có
thể thêm các phụ kiện khác như thắt lưng, găng tay, đồ trang sức,…
Văn hóa trang phục là một phần của văn hóa vật chất, thể hiện qua cách ăn mặc,
chất liệu, kiểu dáng và cách phối hợp trang phục. Văn hóa trang phục còn phản ánh đặc
trưng lịch sử, thẩm mỹ, sự phát triển của từng dân tộc, không chỉ là hình thức ăn mặc
hàng ngày, mà còn là biểu tượng của lối sống, tư duy và bản sắc văn hóa của một cộng đồng hay một quốc gia.
1.2. Sự hình thành và phát triển của trang phục người Việt qua các thời kỳ lịch sử
Việt phục đã trải qua hơn 3000 năm phát triển từ nhà nước Văn Lang đến hiện
đại, liên tục biến đổi và thích ứng với hoàn cảnh và tiến bộ trong ngành dệt. Các quy
chế của triều đình cũng phân biệt rõ trang phục giữa thường dân và hoàng tộc, tạo nên
sự đặc sắc cho cổ phục Việt Nam.
1.2.1. Trang phục thời Hùng Vương
Cách đây hơn hai nghìn năm, khi nhà nước Văn Lang vừa mới ra đời, người Việt
cổ bắt đầu chuyển từ săn bắn và hái lượm sang nông nghiệp. Việc sử dụng vỏ cây để
làm trang phục dần được thay thế bằng vải dệt từ cây đay, gai và dâu tằm. Qua các dấu
vết lịch sử như cán dao găm và mặt trống đồng, ta có cái nhìn tổng quát về trang phục
Việt Nam thời Hùng Vương.
Nam giới thường mặc áo trần, khố (một thước vải dài được quấn quanh bụng và
đặt thành khuôn vải để che phủ phần dưới của bộ trang phục) và để tóc dài. Ngoài ra, có
các họa tiết vẽ hình người nam mặc áo chui đầu hoặc khoác các loại áo choàng không
tay trang trí bằng lông thú. 2
Phụ nữ thường mặc váy dài, áo ngắn ở bụng, cổ áo khoét sâu, tay áo hẹp và mặc
yếm bên trong. Đa dạng hơn, có cả váy quấn quanh thân (váy mở) và váy chui (váy
đóng) với độ dài khác nhau.
Ngoài ra, trang phục thời này có các họa tiết như hình chim, hình người, hình
muông thú, thể hiện tư duy thẩm mỹ của người Việt cổ và chưa có sự phân biệt rõ rệt
giữa hoàng tộc và thường dân trong trang phục.
Hình 1.2.1. Trang phục thời Hùng Vương
1.2.2. Trang phục thời Lý - Trần
Đây là thời kỳ có sự phân biệt rõ rệt giữa hoàng tộc và dân thường trong cách
thiết kế trang phục. Trang phục thường dân thường mang tính đơn giản và kín đáo, với
áo xẻ bốn vạt cổ tròn (áo Viên Lĩnh) màu tối, xiêm đen (áo thường) và quần lụa trắng
cài trâm bạc hoặc sắt. Họ đi dép da, đội nón đinh tự, nông dân còn mặc khố (trang phục
lâu đời từ thời vua Hùng). Việc sử dụng vải vàng và chỉ thêu bị cấm để phân biệt thường
dân với tầng lớp quý tộc.
Trang phục phụ nữ thời Trần thường là áo Giao Lĩnh hoặc Trực Lĩnh màu lục,
cổ áo xếp chồng hoặc thẳng đứng, tay áo rộng, mặc cùng áo cánh cộc tay và yếm bên
trong, cùng với váy ngắn. Họ không được dùng màu tím, vàng, đỏ trong trang phục của
thường dân, nhưng kỹ thuật thêu tinh xảo và pha sợi độc đáo, tạo nên nét đặc trưng và
phong cách riêng đầy tinh tế cho trang phục thời Trần. Trang phục nam thời Lý - Trần
gồm áo giao lĩnh, quần dài, mũ xuân thu hoặc phốc đầu, chất liệu lụa gấm với hoa văn
tinh tế, thể hiện sự sang trọng và uy nghi. 3
Hình 1.2.2. Trang phục thời Lý – Trần
1.2.3. Trang phục thời Hậu Lê
Thời Hậu Lê, trang phục và phụ kiện như mũ nón, giày dép góp phần tạo nên sự
trang trọng và phong cách riêng biệt. Nghề dệt phát triển mạnh nhờ tiếp thu kỹ thuật từ
phương Bắc và giữ gìn truyền thống, cho ra đời các sản phẩm đẹp mắt, như lụa và vải
vóc dùng trong trang phục và làm quà ngoại giao. Cổ phục của nhân dân thời này vẫn
giữ nguyên kiểu áo Giao Lĩnh, Trực Lĩnh và đai quấn ngoài, mang dáng dấp của áo Kimono Nhật Bản.
Mặc dù Đại Việt chia cắt, nhưng trang phục hai Đàng vẫn tương đồng, nam và
nữ đều sử dụng áo dài làm trang phục chính, thể hiện sự kín đáo và trang trọng. Nam
giới Đàng Ngoài mặc áo giao lĩnh, quần dài và nhiều phụ kiện, còn nam giới Đàng Trong
mặc áo trực lĩnh, đóng khố, đơn giản hơn, phù hợp khí hậu và lao động. Nữ giới Đàng
Ngoài chuộng áo giao lĩnh hoặc tứ thân, quần dài và phụ kiện để thể hiện địa vị, trong
khi nữ giới Đàng Trong mặc áo bà ba hoặc áo dài ngắn hơn, ít phụ kiện, phù hợp với lối
sống giản dị và khí hậu ấm áp. 4
Hình 1.2.3. Trang phục thời Hậu Lê
1.2.4. Trang phục thời Nguyễn - Pháp thuộc
Trong thời kỳ Nguyễn, trang phục người Việt có sự thay đổi lớn với lệnh cấm áo
Giao Lĩnh trên toàn quốc. Năm 1818, vua Minh Mạng cải cách trang phục Việt Nam,
loại bỏ áo Giao Lĩnh và thay thế bằng áo ngũ thân.
Áo ngũ thân, với cổ đứng và bốn tà trước sau cùng một tà úp bên trong, thường
được phối với quần dài màu trắng, nhằm phân biệt vị trí xã hội giữa quan chức triều đình và dân thường.
Ở miền Trung và miền Nam, phụ nữ vẫn mặc áo ngũ thân kết hợp với quần đỏ
hoặc đen, trong khi những người giàu có thường chọn quần trắng và thêm phụ kiện. Họ
thường búi tóc phía sau, đội nón và đeo vòng kiềng vàng.
Ở nông thôn miền Nam, áo bà ba, có phần cài nút giữa và thoải mái khi lao động,
trở thành trang phục phổ biến, thường được mặc với quần lĩnh. Gia đình giàu có thường
chọn áo bà ba từ lụa, kết hợp với áo dài cho dịp trang trọng, trong khi nông dân mặc áo
từ vải bông màu nâu thâm. Người miền Nam thích đeo trang sức vàng.
Tại miền Bắc, nam giới vẫn mặc áo ngũ thân hoặc áo cánh ngắn tứ thân cài cúc
giữa khi làm việc, trong khi nữ giới thường mặc áo tứ thân, áo cộc tay và yếm, điểm
nhấn là váy dài. Khi làm nông, họ buộc váy bằng đai. Chỉ trong lễ hội, các cô gái miền
Bắc mới mặc áo ngũ thân chồng lớp (áo mớ ba) với màu sắc sặc sỡ, thể hiện sự đa dạng
văn hóa trong trang phục người Việt thời Nguyễn. 5
Hình 1.2.4. Trang phục thời Nguyễn – Pháp thuộc
1.2.5. Trang phục truyền thống Việt Nam
Từ đầu thế kỷ XX, trang phục truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ
từ phương Tây do sự đô hộ của người Pháp và Mỹ. Nam giới trong gia đình khá giả bắt
đầu mặc áo Vest, áo khoác ba đờ xuy (áo khoác lông dài qua gối), quần âu và áo sơ mi.
Đến thập kỷ 60, họ chuyển sang áo cánh rộng với họa tiết Hippy và quần ống loe trong
thập kỷ 70 theo xu hướng Disco. Chỉ một số gia đình theo đạo Nho Giáo vẫn giữ áo ngũ thân kèm quần dài.
Ngược lại, áo dài của phụ nữ đã biến đổi đáng kể, đặc biệt là khi áo dài Lemur
được họa sĩ Cát Tường giới thiệu vào năm 1930. Thiết kế mới này tôn vinh đường cong
cơ thể, loại bỏ phần cổ cao và thêm độn ngực, khiến áo dài trở thành biểu tượng thời
trang của Việt Nam, thay thế áo ngũ thân và áo Nhật Bình.
Hình 1.2.5.1. Áo cánh rộng với họa tiết Hippy và quần ống loe trong thập kỷ 70 theo xu hướng Disco 6
Hình 1.2.5.2. Áo dài Lemur
Hình 1.2.5.3. Áo Nhật Bình
1.2.6. Trang phục hiện đại ngày nay
Trang phục Việt Nam hiện nay là sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại.
Áo dài vẫn là trang phục truyền thống của phụ nữ trong các dịp lễ hội quan trọng, trong
khi trang phục hiện đại như quần jean, áo thun, váy đầm và jumpsuit ngày càng phổ
biến, đặc biệt trong giới trẻ.
Thương hiệu thời trang quốc tế cũng du nhập vào Việt Nam, mang đến nhiều lựa
chọn đa dạng. Các yếu tố truyền thống như họa tiết thêu tay, hoa văn truyền thống và 7
chất liệu lụa, gấm, thổ cẩm vẫn được lồng ghép tinh tế, tạo nên nét độc đáo cho trang
phục. Nhìn chung, trang phục Việt Nam ngày nay phong phú và phù hợp với xu hướng
thời trang thế giới, phản ánh sự quan tâm của người Việt trong việc chọn lựa trang phục
phù hợp với vóc dáng và hoàn cảnh.
Hình 1.2.6. Trang phục của giới trẻ hiện nay
1.3. Chất liệu may mặc trang phục
1.3.1. Chất liệu truyền thống
Để ứng phó hữu hiệu với môi trường tự nhiên, người phương Nam sở trường ở
việc tận dụng các chất liệu có nguồn gốc thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng
là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với xứ nóng. Tơ tằm
Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang có từ rất sớm. Trong những di chỉ khảo
cổ thuộc hậu kỳ đá mới cách nay khoảng 5.000 năm (như Bàu Tró), đã thấy có dấu vết
của vải, có dọi xe chỉ bằng đất nung. Cấy lúa và trồng dâu, nông và tang là hai công việc
chủ yếu luôn gắn liền nhau của nền nông nghiệp Việt Nam. Người Hán từ xưa cũng đã
luôn xem đó là hai đặc điểm tiêu biểu nhất của văn hóa phương Nam; trong chữ “Man”
mà người Hán dùng để chỉ người phương Nam có chứa bộ trùng chỉ con tằm. Các sách
cổ Trung Quốc như Thủy kinh chú, Tam đô phú, Tề dân yếu thuật đều nói rằng đến đầu
Công nguyên, trong khi Trung Quốc một năm chỉ nuôi được 3 lứa tằm thì năng suất tằm
ở Giao Chỉ, Nhật Nam, Lâm Ấp một năm đạt được tới 8 lứa. Để có được năng suất cao,
tổ tiên ta đã lai tạo ra được nhiều giống tằm khác nhau phù hợp với các loại thời tiết
nóng, lạnh, khô, ẩm. Từ tơ tằm, nhân dân ta đã dệt nên nhiều loại sản phẩm rất phong 8
phú: tơ, lụa, lượt, là, gấm, vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, đũi, địa, nái, sồi, thao, vân,. . mỗi
loại lại có hàng mấy chục mẫu mã khác nhau.
Thực vật đặc thù
Ngoài tơ tằm, nghề dệt truyền thống của Việt Nam còn sử dụng các chất liệu thực
vật đặc thù khác như tơ chuối, tơ đay, gai và sợi bông. Vải tơ chuối, một sản phẩm đặc
trưng của Việt Nam, đã được dệt từ thế kỷ VI và nổi tiếng với kỹ thuật cao, được người
Trung Quốc gọi là "vải Giao Chỉ". Các sách cổ như Nam phương dị vật chí và Quảng
chí đã ghi lại cách phụ nữ sử dụng tơ chuối để dệt thành các loại vải hi và khích, có màu
vàng nhạt và vẻ đẹp tự nhiên. Dù dễ rách, vải này vẫn rất được ưa chuộng cho đến thế
kỷ XVIII, với lời ca ngợi của Cao Hùng Trưng trong An Nam chí nguyên về sự mịn
màng của nó, phù hợp cho mùa hè nóng nực.
Vải dệt từ sợi tơ đay và gai cũng ra đời khá sớm, nhờ vào khí hậu và đất đai thuận
lợi ở Việt Nam. Các sách Trung Quốc thời Hán, Đường đều ghi nhận việc đay và gai
mọc thành rừng ở An Nam, được dùng để dệt vải bền và mịn. Sử sách Việt Nam cũng
ghi chép rằng vào mỗi ngày mồng Một hằng tháng, triều đình mặc áo tơ gai, cho thấy
sự phổ biến của vải này. Vải bông, mặc dù xuất hiện muộn hơn, cũng đã có mặt từ các
thế kỷ đầu Công nguyên. Sách Trung Hoa gọi loại vải này là "vải cát bối", được dệt từ
sợi bông trắng muốt, có chất lượng không thua gì vải đay. Vải bông từ phương Nam du
nhập vào Trung Hoa vào thế kỷ X và trở thành mốt vào thế kỷ XI, được gọi là "vải bông mặc kín cả thiên hạ".
Ngoài các chất liệu này, còn có vải lanh (Linen) được làm từ cây lanh, một loại
vải cứng, dễ phân hủy và thích hợp với khí hậu lạnh. Vải lanh không cần nhiều nước
hay thuốc trừ sâu, có khả năng chịu nhiệt cao, thoáng khí, bền bỉ và mang lại cảm giác
mát mẻ hơn cotton, nên được ưa chuộng trong may mặc. Cây gai dầu, lấy từ cây cần sa
Sativa, là một chất liệu thân thiện với môi trường, không cần thuốc trừ sâu và giúp chống
xói mòn đất. Vải gai dầu có khả năng chống tia cực tím, thoáng khí, mềm mại và giữ
ấm vào mùa đông, mát mẻ vào mùa hè.
Trong khi đó, các chất liệu như denim, làm từ bông, lại yêu cầu nhiều thuốc trừ
sâu trong quá trình sản xuất, gây tác động tiêu cực đến môi trường. Cashmere, sợi tự 9
nhiên từ dê cashmere và pashmina, mang đến cảm giác mềm mại và cách nhiệt tuyệt
vời, nhưng có độ bền không cao do nguồn cung hiếm và giá trị cao. Lông/da động vật
Sở trường của người phương Nam là các loại vải có nguồn gốc từ thực vật, như
vải lanh và cây gai dầu, với đặc tính thoáng mát và thân thiện với môi trường. Ngược
lại, người phương Bắc lại ưa chuộng các sản phẩm từ da và lông thú, những chất liệu có
giá trị cao nhờ độ bền và chất lượng vượt trội. Các sản phẩm này chủ yếu từ nghề chăn
nuôi động vật như cừu, báo hay cá sấu, mặc dù việc thu thập lông từ động vật hoang dã
có thể gây hại cho chúng, khiến lông thú trở thành chất liệu đắt tiền và đôi khi gây tranh
cãi. Ví dụ, sợi Angora lấy từ thỏ Angora, rất mềm mại và ấm áp, nhưng việc thu thập
lông này có thể gây đau đớn cho thỏ, dẫn đến việc sợi angora ít được sử dụng hiện nay.
Tuy nhiên, da và lông thú đặc biệt phù hợp với khí hậu lạnh của miền Bắc, giúp giữ ấm
và bảo vệ cơ thể khỏi thời tiết khắc nghiệt. Bên cạnh đó, da thuộc, thường được làm từ
da bò, nổi bật với độ bền cao, khả năng không nhăn và sự đa dạng trong kiểu dáng, là
nguyên liệu chủ yếu trong ngành sản xuất đồ da.
1.3.2. Chất liệu hiện đại
Trong ngành may mặc hiện đại tại Việt Nam, nhiều chất liệu vải được sử dụng
để tạo ra các bộ trang phục không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mà còn tối ưu hóa sự
thoải mái và tính năng sử dụng. Nylon (hay Polyamide) là một trong những chất liệu
phổ biến, được phát minh sau Thế chiến II. Với tính linh hoạt cao, khả năng phục hồi và
độ bền vượt trội, Nylon có thể chịu lực và chống mài mòn tốt, rất thích hợp cho các
trang phục hàng ngày. Polyester, được sản xuất từ dầu mỏ, là một chất liệu khác cũng
được sử dụng rộng rãi nhờ vào tính năng chống nhăn, mài mòn và độ bền cao. Polyester
có mặt trong nhiều sản phẩm như quần áo, giày dép và túi xách, mang lại sự nhẹ nhàng,
bền bỉ cho người sử dụng.
Acrylic, được sản xuất dưới dạng sợi siêu nhỏ, mang đến sự nhẹ nhàng, mềm mại
và ấm áp, thường được dùng để dệt áo khoác, áo len cho mùa đông. Còn Elastane là chất
liệu co giãn, giúp giữ dáng cho trang phục, rất lý tưởng cho các bộ đồ tôn dáng cơ thể,
đặc biệt là trong đồ bơi và các trang phục thể thao. Tuy nhiên, Elastane có nhược điểm
là khả năng ô nhiễm cao và chất lượng suy giảm theo thời gian. 10
Fleece, được làm từ sợi tổng hợp như Polyester, có đặc tính ấm áp và độ đàn hồi
tốt, lý tưởng cho các trang phục mùa đông như áo khoác hoặc chăn. PVC, một chất liệu
nhựa tổng hợp, có khả năng chịu lạnh tốt, thường được sử dụng để may các loại áo khoác
mùa đông, nhưng cũng có nhược điểm lớn là sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và
sử dụng năng lượng cao trong sản xuất.
Bên cạnh các chất liệu tổng hợp, một số nguyên liệu từ tự nhiên cũng được ưa
chuộng trong sản xuất trang phục. Viscose, hay Rayon, được sản xuất từ cellulose từ bột
gỗ, là một chất liệu phổ biến nhờ vào độ mềm mại và thoáng mát, tuy nhiên, việc sản
xuất Rayon có thể gây ra vấn đề về môi trường như phá rừng. Modal, một loại sợi Rayon
bán tổng hợp, thấm hút nước tốt hơn cotton và không dễ phai màu khi giặt, thường được
sử dụng cho đồ lót và trang phục năng động.
Cuối cùng, Tencel Lyocell, được làm từ cellulose, là một loại vải thân thiện với
môi trường nhờ vào quy trình sản xuất khép kín, giúp giảm thiểu tác động xấu đến thiên
nhiên. Với sự mềm mại, thoáng khí, Tencel Lyocell đang ngày càng được ưa chuộng
cho các trang phục năng động và thời trang hiện đại tại Việt Nam. Các chất liệu này
không chỉ nâng cao chất lượng trang phục mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về sự
bền vững trong ngành công nghiệp thời trang.
1.4. Các yếu tố cấu thành trang phục
1.4.1. Trang phục phía trên
Yếm là đồ mặc đặc thù của người Việt, có nhiều màu phong phú, dùng vào những
ngày lễ hội. Yếm dùng để che ngực, cho nên nó trở thành biểu tượng của tình yêu và sự nữ tính:
“Yếm trắng mà vã nước hồ
Vã đi vã lại anh đồ yêu thương Trầu em têm tối hôm qua
Cất trong dải yếm mở ra mời chàng
Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”