



















Preview text:
TIỂU LUẬN
Quản trị rủi ro cho dự án sản xuất ô tô VinFast
của tập đoàn Vingroup
Giảng viên hướng dẫn: PGS, TS Trần Kiều Trang Nhóm: 7 1. Trần Thị Hồng Tâm 2. Nguyễn Vinh Thành 3. Hoàng Thị Thủy 4. Phạm Văn Tình 5. Vũ Thị Quỳnh Trang 6. Nguyễn Thanh Trà
Hà Nội, tháng 10 năm 2022 2
BẢNG KÊ KHAI CÔNG VIỆC TT Họ Tên MSV Chức vụ Công việc 1 Trần Thị Hồng Thành
Phân công công việc, Chương Tâm viên
2. Nhận diện và đo lường rủi ro 2 Nguyễn Vinh Trưởng Chương 1, làm slide Thành nhóm 3 Hoàng Thị Thành
Chương 2. Giới thiệu tập đoàn Thủy viên và dự án 4 Phạm Văn Thành
Chương 2. Kiểm soát, tài trợ xử Tình viên lí rủi ro 5 Vũ Thị Quỳnh Thành
Chương 3. Đề xuất thêm giải Trang viên pháp 6 Nguyễn Thanh Thành
Chương 3. Đánh giá dự án Trà viên 3 4 LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển, mức sống của người dân
ngày càng tăng lên cùng với xu hướng ô tô hóa đang phổ cập, việc người dân có
mong muốn sở hữu một chiếc ô tô của riêng mình là không có điều gì khó hiểu.
Tốc độ đô thị hóa nhanh và nhu cầu sở hữu ô tô ngày càng cao khiến cho Việt
Nam trở thành một thị trường tiềm năng cho ngành ô tô. Ở một mặt khác, sau
nhiều năm nỗ lực, ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước vẫn chưa đạt được tiêu
chí của ngành sản xuất ô tô thực sự, phần lớn mới ở mức độ lắp ráp đơn giản. Vì
vậy, Bộ Công Thương mới đây thừa nhận mục tiêu phát triển ngành ô tô Việt
Nam đã thất bại, giá bán vẫn cao gấp đôi so với các nước trong khu vực; tỉ lệ nội
địa hóa cũng không đạt yêu cầu đề ra. Với những lý do trên, mới đây thôi, tập
đoàn Vingroup đã quyết định đầu tư vào ngành công nghiệp ô tô với thương hiệu
Vinfast nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước.
Đồng thời, tham vọng từng bước giành thế tự chủ và chủ động về công nghiệp ôtô.
Có thể nói, Việc Vingroup ra mắt thương hiệu Vinfast chính là “Hợp ý
Đảng, chiều lòng dân”, đem lại những lợi thế không nhỏ cho doanh nghiệp. Tuy
nhiên cơ hội thì luôn đi cùng những rủi ro, hơn nữa do đây là lần đầu tiên sản
xuất ô tô nên khiến cho những rủi ro càng trở nên nghiêm trọng hơn. Nếu
Vingroup không có những chiến lược, biện pháp quản trị rủi ro hợp lý sẽ có thể
gây đến những hậu quả nghiêm trọng, tệ hơn là làm thất bại dự án này. Bởi vậy
nhóm quyết định chọn đề tài: “Quản trị rủi ro cho dự án sản xuất ô tô VinFast
của tập đoàn Vingroup” nhằm tiến hành phân tích và đánh giá rủi ro cho dự án
này của tập đoàn Vingroup. Bài tiểu luận không tránh khỏi những sai sót nên
nhóm mong nhận được sự góp ý từ cô và các bạn. 5
CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT CHUNG
1.1. Khái niệm về rủi ro trong kinh doanh
1.1.1 Định nghĩa
Rủi ro là tập hợp tất cả những yếu tố ngẫu nhiên có thể đo lường được, liên
quan đến những vấn đề trong kinh doanh ảnh hưởng tới lợi ích của dự án kinh
doanh. Rủi ro là một phần không thể thiếu trong kinh doanh, do vậy việc thấu
hiểu rủi ro là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu tiến hành một dự án kinh doanh nào đó
1.1.2 Nguyên nhân của rủi ro
a. Nguyên nhân khách quan: Là những nguyên nhân không phát sinh từ
hành động trực tiếp của con người gây ra rủi ro, tổn thất cho tổ chức cá nhân.
Nguyên nhân khách quan có thể chia thành các nhóm sau:
• Nguyên nhân từ hiện tượng tự nhiên, ngẫu nhiên bất lợi: đó là những hiện
tượng diễn ra theo quy luật tự nhiên như mưa, gió, bão, ...
• Nguyên nhân từ hiện tượng tự nhiên bất lợi do con người gây ra: đó là
những hiện tượng xảy ra do hậu quả phá hủy môi trường của con người.
b. Nguyên nhân chủ quan:
• Do chính sách kinh tế vĩ mô sai lầm, hệ thống luật pháp, chính trị không
ổn định, pháp chế không nghiêm, ...
• Do sự sai lầm trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh, điều này
thường gây ra những hậu quả nặng nề kéo dài.
• Do những sai lầm trong việc lựa chọn chính sách quản lý tổ chức, sai lầm
trong lựa chọn phương thức kinh doanh, mặt hàng, thị trường, đối tác, ...
• Do trình độ năng lực của nhân sự trong công ty chưa đáp ứng được yêu cầu.
• Do tinh thần trách nhiệm, ý thức đạo đức của mọi thành viên trong công
ty không tuân theo quy tắc chuẩn mực chung.
• Do những mối quan hệ xung quanh.
Nguyên nhân chủ quan hay khách quan đều là nguồn gây ra những tổn 6
thất, rủi ro, là mối hiểm họa đối với mỗi doanh nghiệp. Nguyên nhân khách
quan thường rất khó loại bỏ trong khi nguyên nhân chủ quan tuy phức tạp
nhưng lại có thể kiểm soát bằng nhiều biện pháp khác nhau. Thực tế nhóm
nguyên nhân chủ quan chiếm nhiều hơn cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng trong kinh doanh.
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong kinh doanh:
Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro được hiểu là những tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp làm gia tăng rủi ro, nguy cơ rủi ro. Các nhân tố này có thể ảnh
hưởng theo hai hướng làm gia tăng hay giảm bớt nguy cơ rủi ro.
Có thể chia thành các nhóm nhân tố sau:
a) Thái độ của con người đối với rủi ro: Việc một người ưa thích rủi ro,
chán ghét rủi ro hay bàng quan với rủi ro quyết định đến hành động của người đó đối với rủi ro.
b) Hành vi của con người với rủi ro: Là yếu tố có tính quyết định trực tiếp
đối với rủi ro, hành vi đó có thể là có ý thức hoặc vô thức.
c) Nhóm nhân tố tác động đến rủi ro thuộc môi trường kinh doanh:
• Môi trường chính trị: rủi ro chính trị có tính chất nghiêm trọng vì là
nguyên nhân của nhiều rủi ro khác và có thể gây ra “chuỗi rủi ro”.
• Môi trường pháp lý: là những quy phạm, quy tắc, quy định về hành vi
hoạt động của tổ chức kinh doanh trên một lãnh thổ.
• Môi trường kinh tế: là những nhân tố như tài chính, tiền tệ, cung cầu,
cạnh tranh, lạm phát, sự biến động của chu kỳ kinh doanh, ...
d) Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên.
e) Nhóm nhân tố thuộc điều kiện công nghệ kỹ thuật: Đôi khi việc khoa
học kỹ thuật phát triển quá nhanh chóng làm doanh nghiệp không thể theo kịp
dẫn đến lạc hậu về công nghệ, hoặc không thể chuyển đổi từ việc sản xuất thử
sang sản xuất hàng loạt.
f) Nhóm nhân tố thuộc môi trường xã hội: Liên quan đến các vấn đề về tôn
giáo, văn hóa, tập quán, các mối quan hệ trong xã hội, ... Nếu kinh doanh mà 7
thiếu những kiến thức về xã hội thì có thể dẫn đến nhiều rủi ro nghiêm trọng.
Tóm lai: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong kinh doanh
quốc tế rất quan trọng bởi tính đa dạng, phức tạp, khó kiểm soát của nó. Nhận
thức đầy đủ những nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong kinh doanh giúp các
doanh nghiệp khuếch trương những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực
đối với kinh doanh. Phân loại các nhân tố ảnh hưởng theo khoa học là cơ sở để
đưa ra những biện pháp hạn chế rủi ro, cải thiện môi trường kinh doanh.
1.2 Quản lý rủi ro trong kinh doanh quốc tế
1.2.1 Quy trình quản lý rủi ro trong kinh doanh quốc tế
- Bước 1: Nhận diện và phân tích rủi ro
- Bước 2: Đo lường rủi ro
- Bước 3: Đề xuất biện pháp kiểm soát rủi ro
- Bước 4: Tài trợ và xử lý rủi ro
1.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh quốc tế
• Đối với rủi ro về tài chính doanh nghiệp nên lập những kế hoạch dự báo
về lãi suất, tỷ giá, luồng tiền vào và ra, khả năng thanh khoản của dòng tiền để
có cái nhìn tổng quát về tài chính của công ty và đưa ra những quyết định hợp lý khi cần thiết.
• Đối với rủi ro về công nghệ, kỹ thuật doanh nghiệp nên thường xuyên cải
tiến công nghệ để tránh bị thụt lùi so với thế giới.
• Đối với rủi ro về văn hóa, tôn giáo, phong tục tập quán doanh nghiệp nên
có những nghiên cứu kỹ lưỡng ngay từ khi tiến hành lập dự án.
• Đối với rủi ro về pháp lý doanh nghiệp nên nghiên cứu kỹ lưỡng những
quy định luật pháp liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình.
• Đối với rủi ro về chính trị doanh nghiệp nên xem xét môi trường chính trị
trước khi quyết định kinh doanh ở thị trường đó. 8
CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU VỀ DỰ ÁN VÀ CÁC BƯỚC QUẢN TRỊ RỦI RO
2.1 Giới thiệu về Tập đoàn Vingroup
2.1.1 Khái quát tập đoàn Vingroup
Tiền thân của Vingroup là Tập đoàn Technocom, thành lập năm 1993 tại
Ucraina. Đầu những năm 2000, Technocom trở về Việt Nam, tập trung đầu tư
vào lĩnh vực du lịch và bất động sản với hai thương hiệu chiến lược ban đầu là
Vinpearl và Vincom. Đến tháng 1/2012, công ty Cổ Phần Vincom và Công ty
Cổ Phần Vinpearl sáp nhập, chính thức hoạt động dưới mô hình Tập đoàn với
tên gọi Tập đoàn Vingroup. Hiện nay Vingroup tập trung phát triển với 7 lĩnh vực cốt lõi gồm:
• Bất động sản: Vincom hiện sở hữu hàng loạt các dự án, tổ hợp bất động
sản lớn như Vincom Center Bà Triệu, Landmark 81, Times City, Royal City, Vincom Mega Mall, ...
• Du lịch - Giải trí: Vinpearl đang sở hữu những tổ hợp dự án và du lịch
hàng đầu Việt Nam như Vinpearl Nha Trang (Vinpearl Resort Nha Trang,
Vinpearl Land, Vinpearl Luxury Nha Trang, Vinpearl Gofl Club), .
• Chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe: Vincharm Spa Bà Triệu, Vincharm Spa
Nha Trang, Vincharm Spa Đà Nẵng, ...
• Dịch vụ y tế chất lượng cao: Gồm bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec tại
khu đô thị Times City Hà Nội.
• Giáo dục: Vingroup hiện tại đã sở hữu hệ thống Giáo dục Vinschool liên
cấp từ Mầm non đến Trung học phổ thông và Trường Đại học VinUni.
• Công nghiệp nặng: Vinfast là thương hiệu ô tô - xe máy điện của tập đoàn Vingroup.
• Nông nghiệp: VinEco - sản phẩm nông nghiệp sạch.
Vingroup đã làm nên những điều kỳ diệu để tôn vinh thương hiệu Việt và 9
tự hào là một trong những Tập đoàn kinh tế tư nhân hàng đầu Việt Nam.
2.1.2 Tầm nhìn và sứ mệnh a) Tầm nhìn
Bằng khát vọng tiên phong cùng chiến lược đầu tư- phát triển bền vững,
Vingroup phấn đấu trở thành Tập đoàn kinh tế đa ngành hàng đầu Việt Nam, có
uy tín và vị thế trên bản đồ kinh tế thế giới, xây dựng thành công chuỗi sản
phẩm và dịch vụ đẳng cấp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người
Việt và nâng tầm vị thế của người Việt trên trường quốc tế. b) Sứ mệnh
Vingroup đặt ra sứ mệnh: “VÌ MỘT CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN CHO NGƯỜI VIỆT”
Đối với thị trường: Cung cấp các sản phẩm- dịch vụ cao cấp với chất lượng
quốc tế và am hiểu bản sắc địa phương, mang tính độc đáo và sáng tạo cao. Bên
cạnh giá trị chất lượng vượt trội, trong mỗi sản phẩm- dịch vụ đều chứa đựng
những thông điệp văn hóa, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu chính đáng của khách hàng.
Đối với cổ đông và đối tác: Đề cao tinh thần hợp tác cùng phát triển, cam
kết trở thành “Người đồng hành số 1” của các đối tác và cổ đông, luôn gia tăng
các giá trị đầu tư hấp dẫn và bền vững.
Đối với nhân viên: Xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, năng
động, sáng tạo và nhân văn, tạo điều kiện thu nhập cao và cơ hội phát triển công
bằng cho tất cả các nhân viên.
Đối với xã hội: Hài hòa lợi ích doanh nghiệp với lợi ích xã hội, đóng góp
tích cực vào các hoạt động hướng về cộng đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm
công dân và niềm tự hào dân tộc.
2.2 Giới thiệu dự án sản xuất xe ô tô VinFast
2.2.1. Giới thiệu chung
VinFast là thương hiệu ô tô - xe máy điện của Vingroup, và là lĩnh vực
kinh doanh cốt lõi thứ 7 của Tập đoàn. Sự ra đời của VinFast không chỉ góp 10
phần "viết nên giấc mơ xe hơi của người Việt" mà còn mở ra kỉ nguyên phát
triển dựa trên công nghệ và tri thức cho Vingroup, đồng thời tham gia thúc đẩy
ngành công nghiệp cơ giới tại Việt Nam.
Được viết tắt bởi các từ: "Việt Nam - Phong cách - An toàn - Sáng tạo -
Tiên phong" - VinFast mang hàm nghĩa tự tôn dân tộc, đáp ứng niềm mong mỏi
sở hữu một thương hiệu ô tô Việt trong nhiều thập kỉ của người dân Việt Nam.
Mục tiêu của VinFast là trở thành nhà sản xuất ô tô hàng đầu Đông Nam Á với
công suất thiết kế của tổ hợp sản xuất ô tô lên đến 500.000 xe/năm vào năm
2025. Sản phẩm chủ lực của VinFast là ô tô động cơ đốt trong, ô tô sử dụng
động cơ điện và xe máy điện thân thiện với môi trường.
2.2.2. Bước đi của VinFast
Với sự đồng hành của những tên tuổi hàng đầu thế giới trong chuỗi giá trị
của mình, VinFast tự tin sẽ cho ra đời những chiếc xe với “Bản sắc Việt - Thiết
kế Ý - Kĩ thuật Đức - Tiêu chuẩn Quốc tế”.
Tháng 11/2017, VinFast đồng loạt kí kết với các đối tác hàng đầu thế giới
về ô tô như hợp tác với Siemens về công nghệ xây dựng doanh nghiệp, nhà máy
số theo tiêu chuẩn công nghiệp 4.0, với Bosch trong lĩnh vực sản xuất ô tô - xe
máy điện và linh phụ kiện, với Hiệp hội các Phòng thương mại và Công nghiệp
Đức (AHK) tại Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo.
VinFast cũng đã mời các nhân sự cấp cao trong lĩnh vực ô tô toàn cầu về
làm việc, khởi đầu là chuyên gia Võ Quang Huệ về làm Phó Tổng giám đốc
Vingroup phụ trách dự án VinFast và ông James B. DeLuca - cựu Phó Chủ tịch
General Motors về làm Tổng Giám đốc Nhà máy sản xuất ô tô VinFast.
Tháng 01/2018, VinFast chính thức kí hợp đồng mua lại quyền sở hữu trí tuệ
từ BMW, qua đó hoàn thiện chuỗi giá trị do VinFast đứng đầu cùng những tên
tuổi hàng đầu thế giới như: Pininfarina (thiết kế), BMW (công nghệ, kĩ thuật,
phương pháp sản xuất), Magna Steyr và AVL (tư vấn kĩ thuật và sản xuất ô tô);
Siemens (thiết kế, quản lí và vận hành nhà máy), Bosch (linh kiện và công nghệ ô tô) ... 11
Tháng 3/2018, VinFast tiếp tục công bố 36 mẫu thiết kế ôtô dòng xe điện
và xe động cơ đốt trong cỡ nhỏ tiêu chuẩn quốc tế. Ngày 28/06/2018, VinFast
và General Motors (GM) đã ký kết một thoả thuận hợp tác chiến lược. Theo đó,
VinFast sẽ tiếp nhận hệ thống đại lý uỷ quyền hiện tại của thương hiệu
Chevrolet và trở thành nhà phân phối độc quyền các sản phẩm và dịch vụ mang
thương hiệu Chevrolet tại thị trường Việt Nam.
Đồng thời, VinFast nhận chuyển nhượng, tiếp quản toàn bộ nhà máy GM
tại Hà Nội phục vụ cho việc triển khai những hoạt động sản xuất dòng xe ô tô
cỡ nhỏ được VinFast mua bản quyền từ GM. Dây chuyền sản xuất mới dự kiến
sẽ khánh thành vào nửa đầu năm 2019, bổ sung năng lực sản xuất cho VinFast
bên cạnh nhà máy tại Hải Phòng.
Những sự kiện này khẳng định mục tiêu trở thành nhà sản xuất ô tô hàng
đầu Đông Nam Á của VinFast, với các sản phẩm toàn diện ở dòng xe động cơ
đốt trong (phân khúc Sedan, SUV, hatchback) và xe điện.
Tiếp đó, VinFast ký kết một loạt biên bản ghi nhớ: Thành lập nhà máy liên
doanh dập và hàn các chi tiết thân vỏ xe cùng Công ty AAPICO Hitech (Thái
Lan); hợp tác với Công ty LG Chem (Tập đoàn LG - Hàn Quốc), Lear... sản xuất
các dòng pin tiêu chuẩn quốc tế, được sử dụng cho xe điện của VinFast và các
sản phẩm khác, hướng tới hoàn thiện hệ sinh thái cho ngành công nghiệp sản xuất ô tô.
Đặc biệt, một lợi thế cạnh tranh khó sao chép của VinFast đến từ hệ sinh thái
của Vingroup. Hệ thống 83 trung tâm thương mại hiện tại của Vincom phủ khắp
toàn quốc sẽ được sử dụng để giới thiệu sản phẩm và hình ảnh của công ty. Đồng
thời, VinFast cũng nhận được sự tin tưởng từ gần 5 triệu khách hàng quen thuộc
của Vingroup, những người đã sử dụng và yêu thích các sản phẩm khác của Tập đoàn.
Với chiến lược này, Chủ tịch Tập đoàn Vingroup nói rằng: "VinFast đi sau
nhưng hoàn toàn có thể về trước".
2.2.3. Các dòng sản phẩm 12 - VinFast Fadil - VinFast Lux + SUV: Vinfast Lux SA2.0 + SEDAN: Vinfast Lux A2.0
2.2.4. Đánh giá a) Ưu điểm
- Tại triển lãm Paris 2018, ông Phạm Thành Lê, Phó tổng giám đốc Otofun:
“Rõ ràng Pininfarina đã làm rất tốt việc hiện thực hoá ý tưởng thiết kế, đảm bảo
độ ‘bảnh sang và thời thượng của concept”
- Ông Nguyễn Mạnh Thắng, Giám đốc Whatcar: “Xe mẫu của hãng nằm
trong dòng chảy thiết kế xe hơi hiện đại, thời thượng không kém gì các xe châu Âu”
- Günter K. Fraidl, phó Chủ tịch AVL: “Đây là một trong những động cơ
tốt nhất trên thế giới phù hợp nhất với nhu cầu cụ thể tại Việt Nam”
- David Beckham: “Những chiếc xe trông rất tuyệt và được tạo nên bởi sự
đam mê và niềm tự hào”
VinFast với 2 mẫu xe tham gia triển lãm ô tô Paris Mondial 2018 được tổ
chức Autobest trao giải “Ngôi sao mới” ghi nhận thương hiệu và mẫu xe mới ấn tượng nhất. b) Hạn chế
Nhận định về 2 mẫu xe của VinFast vừa ra mắt, ông chủ Vinaxuki Bùi
Ngọc Huyên cho rằng chưa thể gọi chúng là xe hơi Việt Nam khi hãng này vẫn
phải sử dụng động cơ và nhiều chi tiết của BMW.
Biên tập viên Constantin Bergander của báo Motor Talk của Đức cho biết
Lux A2.0 nhìn tương tự như một chiếc BMW seri 5, nhưng vì máy đời cũ (tiêu
chuẩn khí thải EURO 5), nó sẽ không được cho phép bán ở châu Âu nếu không
có sửa đổi. Sau buổi ra mắt, chỗ triển lãm trở nên trống vắng vì có rất ít để xem,
cảm nhận và sờ mó. Nắp ca-pô và nắp sau xe, ai muốn mở ra, ngay lập tức bị
ngăn chặn. Khi nhìn kỹ nó, người ta sẽ nhận tại sao không nên làm vậy: Cửa sổ 13
phía trước và phía sau được làm bằng nhựa, vỏ bọc ghế không được khâu kỹ.
Vỏ xe thì đẹp, nhưng xe thì chưa được hoàn tất.
2.3 Phân tích các bước quản trị rủi ro
2.3.1. Nhận diện rủi ro a) Rủi ro dự án
VinFast tuyên bố trong giai đoạn khởi đầu, VinFast có thể sản xuất và tiêu
thụ 250.000 xe/năm trong khoảng 5 năm tới, tương đương với 92% lượng xe
bán ra ở Việt Nam năm 2017, theo dữ liệu tổng hợp của Hiệp hội Các nhà sản
xuất ôtô Việt Nam (VAMA). Khả năng VinFast không thể tiêu thụ được hết số
lượng xe này trong một năm là hoàn toàn có cơ sở.
Đầu tiên, theo dự báo của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công
Thương (IPSI) đến năm 2020, nhu cầu thị trường ô tô trong nước cũng chỉ đạt
vào khoảng 500.000-600.000 xe/năm. Như vậy nếu VinFast chỉ tập trung vào
thị trường trong nước thì mục tiêu của họ là sẽ chiếm một nửa thị phần ô tô Việt
Nam. Đây là một thách thức vô cùng khó khăn cho một thương hiệu còn non trẻ
như VinFast khi mà thị phần này đang phần lớn nằm trong tay các thương hiệu
đình đám trên thế giới.
Dòng ô tô điện mà VinFast sẽ cho ra mắt thị trường trong tương lai dù có
nhiều ưu điểm nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế khiến người tiêu dùng e ngại
+) Hạn chế về cơ sở hạ tầng cho các trạm sạc đặc biệt ở vùng nông thôn và
chung cư. Những chuyến đi đường dài sẽ là một thách thức đối với xe điện vì
nhiều vùng nông thôn không có trạm nạp như trong thành phố. Đối với các
khách hàng ở trong các chung cư cao tầng, việc sạc xe cũng sẽ trở nên khó khăn
hơn vì thiếu tính cơ động khi sạc.
+) Phạm vi lái xe của xe điện bị ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết: Trong thời
tiết lạnh, phạm vi có thể giảm tới 40%, vì vậy không thích hợp cho nơi có khí hậu lạnh.
+) Chỉ hoạt động tốt với trọng lượng nhẹ, do đó sẽ không phù hợp với nhu
cầu chuyên chở hàng hóa. 14
Những bất lợi kể trên có thể khiến nhiều người tiêu dùng Việt không lựa
chọn ô tô điện của VinFast. Do đó, mục tiêu sản xuất và tiêu thụ 250.000
xe/năm của VinFast có thể sẽ không thực hiện được.
Nếu như VinFast xuất khẩu được ô tô sang các nước Đông Nam Á thì mục
tiêu này có thể khả thi hơn nhưng vẫn là một tham vọng rất lớn của VinFast đặt
trong bối cảnh ngành sản xuất ô tô thế giới đang cạnh tranh khốc liệt, nhiều các
hãng xe từ các nước khác trong khu vực có chất lượng và kiểu dáng không hề
thua kém VinFast. Ngoài ra khi VinFast tham gia vào sản phẩm ô tô điện, thì họ
sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh mới, áp lực đến từ ô tô điện với công nghệ
tự động- một lĩnh vực mà khoảng cách về năng lực của Việt Nam và các nước
trong khu vực là khá lớn.
Kết luận: mục tiêu sản xuất và tiêu thụ 250.000 ô tô/năm trong 5 năm tới
của VinFast tiềm ẩn nhiều rủi ro và khả năng thành công không cao.
b) Rủi ro cạnh tranh
Tại nhiều quốc gia khác như Ân Độ, Malaysia... họ cũng đã có những dự
án chế tạo ô tô nội địa nhưng hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều gặp khó
khăn và có trường hợp đã thất bại trong việc cạnh tranh, giành giật thị phần.
Tại thị trường Việt Nam, đầu tiên, họ sẽ phải cạnh tranh với nhiều các tên
tuổi lớn trong ngành ô tô thế giới đến từ Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc. Theo số
liệu của Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam, Toyota hiện đang là hãng xe
bán chạy nhất, chiếm 23% thị trường trong tháng 7/2018, Ford x ếp thứ hai với
12%. Top 10 xe bán chạy hàng tháng của VAMA có tới 7 xe Nhật Bản, 2 xe Hàn Quốc và 1 xe Mỹ.
Thêm vào đó, cạnh tranh còn trở nên gay gắt hơn khi bắt đầu từ 1/1/2018
này, thuế nhập khẩu ôtô (có tỷ lệ nội địa hoá ít nhất 40%) từ ASEAN về Việt
Nam sẽ về 0%. Điều này tạo điều kiện cho hàng loạt ô tô từ khu vực ASEAN đổ
vào thị trường Việt. VinFast vì thế mà phải cạnh tranh cả với ôtô nhập khẩu
không thuế từ các láng giềng.
Để cạnh tranh, gần đây VinFast đã thực hiện kế hoạch giảm giá cho các 15
dòng xe mới ra mắt bao gồm Lux A2.0, Lux SA2.0 và mẫu xe cỡ nhỏ VinFast
Fadil. Về giá gốc của 3 mẫu xe, rẻ nhất là VinFast Fadil có giá 423 triệu đồng,
mẫu Lux A2.0 có giá 1.366 tỷ đồng và mẫu xe VinFast Lux SA là 1.818 tỷ
đồng. Sau khi hưởng chính sách giảm giá giai đoạn 1, thì giá của 3 mẫu xe lần
lượt là VinFast Fadil là 336 triệu đồng, Lux A2.0 là 800 triệu đồng và mẫu xe
VinFast Lux SA 1.136 tỷ đồng.
Tuy nhiên, mức giá hỗ trợ nãy vẫn gặp được nhận định là còn cao so với
thu nhập trung bình của người Việt. Mẫu xe rẻ nhất là VinFast Fadil có giá ở
mức tương đương, thậm chí cao hơn so với một số mẫu xe như KIA Morning
(290 - 393 triệu đồng), Hyundai Grand i10 (315 - 415 triệu đồng), Suzuki
Celerio (329 - 359 triệu đồng) hay Toyota Wigo (345 - 405 triệu đồng). Tuy
nhiên bù lại, mẫu xe VinFast lại nhỉnh hơn các đối thủ xe cỡ nhỏ hạng A đang
bán trên thị trường về trang bị tính năng, an toàn.
Kết luận: Khi VinFast gia nhập vào thị trường ô tô đầy cạnh tranh và khắc
nghiệt, các rủi ro từ đối thủ cạnh tranh có thể khiến cho VinFast khó giành được
thị phần trong nước và khu vực, khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm và thực
hiện các chiến lược sản xuất kinh doanh của mình.
c) Rủi ro về thương hiệu
Thách thức lớn nhất của bất kỳ hãng xe mới nào gia nhập thị trường xe hơi
Việt là thắng được tâm lý trọng thương hiệu của người mua, chứng tỏ được chất
lượng và sự an toàn qua thực tế sử dụng và đặc biệt cần xây dựng cho mình một
bản sắc thương hiệu riêng.
Tuy nhiên hiện nay, có đến 45% linh kiện sản xuất ô tô VinFast đến từ các
công ty Đức. Để làm được xe tại Việt Nam, VinFast cũng cần đến nhiều kỹ sư,
chuyên gia nước ngoài làm việc tại nhà máy ở Hải Phòng. Và quan trọng hơn cả
là công nghệ sử dụng cho xe VinFast có xuất xức chủ yếu ở Đức như: thiết kế
dựa trên BMW 5 Series và BMW X5, động cơ BMW N20, hộp số 8 cấp của ZF.
Tuy nhiên phần quan trọng làm nên “linh hồn” của động cơ BMW N20 là hệ
thống điều khiển Valvetronic thì Vinfast lại không có được nên họ phải nhờ đến 16
công ty AVL của Áo để độ lại phần mềm điều khiển do đó công suất hoạt động
không bằng động cơ nguyên bản chỉ tối đa là 175hp và 227hp cho mỗi loại.
Qua đây ta có thể thấy hiện nay VinFast đang phải thuê ngoài thiết kế và
sản xuất đồng thời bị phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ và R&D của nước
ngoài, họ đang đi theo lối mòn điều mà khó có thể tạo ra được dấu ấn thương
hiệu riêng để cạnh tranh trong kỉ nguyên dịch vụ công nghệ số như hiện nay.
Nếu tiếp tục bị phụ thuộc vào công nghệ và R&D từ các thương hiệu lớn
trên thế giới có thể dẫn đến rủi ro VinFast không kịp đổi mới sản phẩm hoặc
dịch vụ cho phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường. Điều này có thể
ảnh hưởng lớn đến uy tín của VinFast cũng như tập đoàn Vingroup, nghiêm
trọng hơn là sự tồn vong của doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp công nghệ
mà điển hình là sự biến mất của Nokia, hãng điện thoại từng làm mưa làm gió
tại thị trường Việt Nam 10 năm về trước.
d) Rủi ro về khách hàng
Mặc dù lòng tự hào dân tộc được coi là một vũ khí lớn thu hút người tiêu
dùng mua xe VinFast tuy nhiên có thể có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc
sản phẩm của hãng không được chào đón như kì vọng.
+) Người Việt chuộng hàng hiệu.
Khảo sát của hãng Niesel cho thấy người Việt chuộng hàng hiệu thứ 3 thế
giới, chỉ sau Trung Quốc và Ân Độ. Hiện nay, các hãng xe của Nhật và Mỹ đều
đang chiếm thị phần khá cao ở Việt Nam. Điều này càng nhấn mạnh hơn về sở
thích hướng ngoại của người Việt.
+) Ở Việt Nam đa phần xe hơi được xem là tài sản chứ không đơn thuần là
phương tiện di chuyển, nên ngoài độ bền thì thương hiệu và tính giữ giá cũng
khá quan trọng trong quyết định mua xe của người dân.
Do đó, thay vì mua Vinfast, người tiêu dùng có quá nhiều sự lựa chọn cùng
phân khúc đến từ các thương hiệu lớn và uy tín như Toyota, Ford, và Honda
+) Hiện nay, người tiêu dùng vẫn chuộng xe máy hơn.
Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác ngoài điều kiện tài chính ví 17
dụ như cơ sở hạ tầng giao thông, phương tiện làm ăn.
Kết luận: Vì không phải người tiêu dùng Việt nào cũng mua xe vì lòng tự
hào dân tộc và việc thay đổi thói quen và tâm lí tiêu dùng thì cần phải có thời
gian mới thực hiện được do đó VinFast cần tính đến những rủi ro về tâm lí và
hành vi người tiêu dùng để có những thay đổi và kế hoạch kinh doanh phù hợp.
e) Rủi ro nhân lực
Dù doanh nghiệp khi bước chân vào một lĩnh vực kinh doanh mới luôn có
những chiến lược nguồn nhân lực cụ thể, tuy nhiên họ sẽ không thể tránh khỏi
những rủi ro như thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn đáp
ứng được yêu cầu công việc và khả năng chịu áp lực.
Thực thế, tại Việt Nam hiện đang thiếu rất nhiều kỹ sư về công nghệ xe hơi
do từ trước đến nay, chúng ta chỉ có lắp ráp và dịch vụ sau bán hàng cho nên
việc chế tạo xe mới, đối với đội ngũ công nhân sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Bên
cạnh đó là vấn đề về đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu. Các đối tác có thể
giúp VinFast tiếp cận những công nghệ tiên tiến nhất ở thời điểm hiện tại,
nhưng để áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 vào nhà
máy sản xuất ô tô thì VinFast cần một đội ngũ kĩ sư và chuyên gia chất lượng
cao để làm chủ công nghệ. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng nếu VinFast
muốn tiến xa trong nền công nghiệp xe hơn.
Để giải quyết bài toán nhân sự, hiện nay VinFast đã chiêu mộ được những
nhân tài có kinh nghiệm dày dặn trong ngành ô tô thế giới và ấn định vào các vị
trí quan trọng như ông James B. DeLuca (Cựu Phó Chủ tịch điều hành hoạt
động sản xuất toàn cầu General Motors); ông Võ Quang Huệ (Tổng giám đốc
Bosch Việt Nam). Tuy nhiên bên cạnh các vị trí chủ chốt, để có thể kịp cho ra
mắt xe vào năm 2019 như dự tính, VinFast cần chiêu mộ thêm đội ngũ kĩ sư
giỏi trên cả nước và đào tạo họ kịp lúc để đáp ứng được yêu cầu sản xuất.
Điều này là không hề dễ dàng do ngay cả các hãng ô tô nước ngoài nhiều
kinh nghiệm cũng phải mất nhiều năm huấn luyện đào tạo, kể cả đưa ra nước
ngoài học tập, thì mới có được đội ngủ thợ lành nghề như hôm nay. Vấn đề của 18
VinFast sẽ còn phức tạp hơn thế, bởi ô tô điện là một công nghệ hoàn toàn mới,
không dễ để tìm ra chỗ chịu dạy những công nghệ mới như này trừ khi VinFast
mua linh kiện từ họ và họ cũng sẽ chỉ dạy cho VinFast về linh kiện của họ chứ
không phải là tổng thể chiếc xe.
Kết luận: Các rủi ro về thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao là hoàn toàn
có thể xảy ra và có thể khiến làm giảm tiến độ công việc, giảm sản lượng cũng
như các kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
f) Rủi ro tài chính
Tổng vốn đầu tư cho dự án VinFast dự kiến lên tới 4,2 tỷ USD, một phần
từ nguồn tự có của Vingroup và huy động từ công ty thành viên, một phần lớn
đến từ việc huy động bên ngoài là đi vay.
Hiện nay, Ngân hàng đầu tư quốc tế tên tuổi Credit Suisse sẵn sàng thu xếp
cho Vingroup khoản tín dụng ban đầu là 800 triệu đôla. Và khoản tín dụng có
thể tăng lên theo nhu cầu phát triển của VinFast.
Tuy nhiên, do Vingroup làm việc tại Việt Nam do đó VinFast sẽ bị ảnh
hưởng bởi những vấn đề vĩ mô ở Việt Nam. Rủi ro tài chính xảy ra khi nếu
trong 10, 20 năm tới đây, nền kinh tế có biến động, số tiền vay vốn nước ngoài
lên tới nhiều tỉ đô bị lạm phát, biến động tỉ giá hoặc nếu đang thực hiện dự án
giữa chừng thì hết vốn hoặc Credit Suisse không giải ngân vốn như đã hứa thì
VinFast sẽ phải đối mặt với tình huống khó khăn.
Dòng vốn của họ lúc này sẽ không đủ để tái đầu tư cho các vòng sau, hoạt
động sản xuất kinh doanh sẽ không được liên tục, thậm chí rơi vào tình trạng nợ
nần trong khi dự án xe điện chưa đem lại doanh thu. Bài học từ Vinaxuki là một
ví dụ điển hình. Khủng hoảng của Vinaxuki ập tới vào năm 2010 khi ngân hàng
cắt vốn lưu động, thị trường lại đi xuống và lãi suất ngân hàng tăng cao khiến
Vinaxuki phải bán nhà xưởng để trả nợ.
Kết luận: Bài học từ Vinaxuki là một lời cảnh báo VinFast về những rủi ro
tài chính mà hãng có thể gặp phải khi thực hiện dự án sản xuất ô tô và có những
biện pháp quản lí rủi ro cho phù hợp tránh lâm vào tình trạng không có vốn để 19
sản xuất tiếp, nợ nần... g) Các rủi ro khác - Rủi ro kĩ thuật
Động cơ N20 được BMW bán cho VinFast là động cơ 2 lít 4 xy lanh có hệ
thống turbo tăng áp. Tuy nhiên BMW không bán bản quyền computer điều
khiển và Valetronic nên hệ thống turbo không thể hoạt động. Họ phải nhờ đến
công ty AVL của Áo để độ lại phầm mềm điều khiển. Theo một số chuyên gia
phân tích thì việc này có thể dẫn tới việc giảm công suất hay một số vấn đề về
khí thải, tiếng ồn, sự ổn định của động cơ.
Thêm vào đó, thông thường các mẫu xe mới của Nhật trước khi được đưa
ra thị trường họ đều phải cho chạy test kiểm tra 24/24 tối thiểu 2 năm với đủ
mọi địa hình để đánh giá độ an toàn. Do đó việc VinFast công bố sản phẩm quá
nhanh và tung ra bản thương mại vào năm 2019 có thể dẫn tới những lỗi kĩ thuật phát sinh khi vận hành.
- Rủi ro về ngành và thị trường
+) Ngành công nghiệp ô tô thế giới đang phải đối mặt với lợi nhuận giảm
Nguyên nhân là do chịu tác động từ Brexit, căng thẳng thương mại xuyên Đại Tây Dương.
+) Trong ngành, Vingroup thiếu kinh nghiệm. Điều này cũng gây khó khăn
cho việc sản xuất, lắp đặt xe hơi cũng như tiếp cận thị trường mới mẻ này.
+) Công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam chưa thật sự phát triển mạnh. Sự hiện
diện của các nhà cung cấp ở Việt Nam rất nhỏ lẻ, không đáng bao nhiêu so với
quy mô để sản xuất xe hơi. Con số các nhà cung cấp hiện tại ở Việt Nam rất khó
để đáp ứng cho một nhãn hiệu xe hơi sản xuất hoàn chỉnh. Điều này được thể
hiện rõ trong việc hơn 20 năm nay, tỷ lệ nội địa hóa mới chỉ đạt 7-10%, trong
khi mục tiêu đặt ra phải đạt tỷ lệ đến 60% vào năm 2010. Điều này càng nhấn
mạnh thêm, để có thể sản xuất được một chiếc ôtô “made in Vietnam” (sử dụng
nguyên liệu từ Việt Nam) là đầy thử thách.
2.3.2. Đo lường rủi ro 20
Dựa trên những phân tích về dự án sản xuất ô tô của VinFast như trên, ta
có thể đưa ra bản so sánh mức độ nghiêm trọng cũng như tần xuất của các rủi ro trên như sau: Mức Tần Loại rủi độ suất Giải thích ro nghiêm xảy trọng ra
Nếu rủi ro này xảy ra, mục tiêu sản xuất
250000 xe/ năm không thể đạt được thì sẽ một
lượng ô tô sản xuất ra chưa được tiêu thụ, theo
thời gian, công ty sẽ phải đối mặt với việc ô tô
xuống giá, ảnh hưởng đến khả năng quay
vòng vốn, dẫn đến giảm sản lượng của năm kế
tiếp, ảnh hưởng đến lòng tin của nhà đầu tư, Rủi ro Cao Thấp thương hiệu. dự án
Tần xuất xảy ra của rủi ro được đánh giá là
thấp, do về tổng thể dự án có thể vẫn thu được
những kết quả khả quan tuy nhiên mục tiêu
250.000 xe/năm nhiều khả năng là sẽ không
thực hiện được xét về phân khúc thị trường có
nhiều đối thủ, giá chưa sát với thu nhập của người Việt.
Anh hưởng đến việc không tiêu thụ được sản
phẩm, mất thương hiệu, mất khách hàng, dễ Rủi ro
bị đào thải khỏi thị trường. cạnh Cao Cao
Tần suất xảy ra cao do thị trường hiện đang tranh
có rất nhiều sản phẩm đến từ các hãng uy tín
và có thương hiệu trên thế giới Rủi ro Cao Thấp
Nếu rủi ro xảy ra sẽ ảnh hưởng lớn đến sự về
phát triển lâu dài của VinFast, không giữ
được khách hàng và khả tiêu thụ được sản