



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ TÀI SỐ 4 : Sức lao động là gì?
Phân tích tác động của đại dịch Covid 19
đến thị trường lao động Việt Nam.
Đề xuất giải pháp để phát triển thị trường
lao động sau khủng hoảng đại dịch Covid 19.
Giảng viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Văn Hoàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Phương Anh Lớp : K23TCD Mã sinhviên : 23A4010043
Hà Nội, ngày 09 tháng 6 năm 2021 TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ TÀI SỐ 4 : Sức lao động là gì?
Phân tích tác động của đại dịch Covid 19
đến thị trường lao động Việt Nam.
Đề xuất giải pháp để phát triển thị trường
lao động sau khủng hoảng đại dịch Covid 19. Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................3
Chương 1: Khái quát về sức lao động 3 1.1.
Khái niệm về sức lao động 3 1.2.
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 3 1.3.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 4 1.4.
Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt 5 1.5. Thị trường lao động 6
Chương 2: Phân tích tác động của đại dịch Covid - 19 đến thị trường lao động Việt Nam. 7 2.1.
Tác động của đại dịch Covid–19 đến thị trường lao động Việt Nam 7 2.2.
Những mặt tiêu cực của đại dịch Covid – 19 đối với thị trường lao động Việt Nam 8 2.3.
Những mặt tích cực của đại dịch Covid – 19 đối với thị trường lao động Việt Nam 11 2.4.
Nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tiêu cực mà đại dịch Covid – 19 đem đến….. 12
Chương 3: Giải pháp để phát triển thị trường lao động sau khủng hoảng đại dịch Covid 19. 14 3.1.
Tình hình dịch Covid - 19 trong nước và thế giới 14 3.2.
Giải pháp để phát triển thị trường lao động sau khủng hoảng đại dịch Covid 19 16
LIÊN HỆ..............................................................................................................19
KẾT LUẬN.........................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................21 LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn lao động là tài sản quý giá và to lớn của quốc gia; là một
trong những điều kiện tiên quyết thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Đồng
hành với nguồn lao động thì hàng hóa sức lao động chính là cơ sở quan
trọng trong việc nghiên cứu giá trị thặng dư và quan hệ cũng như phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ngày nay, hàng hóa sức lao động trở
thành một vấn đề đáng quan tâm, được mở rộng ra thành thị trường sức
lao động, mang tầm chiến lược quốc gia, trở thành cơ sở để phát triển nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, việc đào tạo, phát triển và những chính sách đãi ngộ
người lao động trên thế giới vẫn còn nhiều bất cập. Nhất là trong bối cảnh
tình hình dịch Covid – 19 hiện nay thì vấn đề sức lao động càng được
quan tâm hơn nữa bởi sự tác động của dịch bệnh lên con người là quá lớn,
ảnh hưởng đến kinh tế và nhiều mặt khác trên toàn thế giới.
Vì vậy, việc nghiên cứu để hiểu rõ hơn sức lao động cũng như thị
trường sức lao động là điều vô cùng quan trọng và cần thiết, từ đó đưa ra
giải pháp để phát triển thị trường lao động một cách hiệu quả nhất cũng
như phát triển nền kinh tế đất nước.
Chính vì lí do đó nên tôi đã chọn đề tài: “Sức lao động là gì? Phân
tích tác động của đại dịch Covid 19 đến thị trường lao động Việt
Nam. Đề xuất giải pháp để phát triển thị trường lao động sau khủng
hoảng đại dịch Covid 19” làm đề tài kết thúc học phần môn Kinh tế Chính trị của mình. 2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ về sức lao động, tình hình 1
thị trường sức lao động trong tình hình dịch Covid – 19 ngày nay, đưa ra
giải pháp để phát triển thị trường sức lao động.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về sức lao động nói chung cũng như sự ảnh hưởng
của dịch bệnh đối với lao động Việt Nam nói riêng, giải pháp phát triển thị
trường sức lao động sau khủng khoảng của dịch bệnh Covid – 19.
Phạm vi nghiên cứu là sức lao động trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành của kinh tế chính trị vào việc phân tích; thu nhập thông tin, tài liệu, phân tích.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: giải quyết được lý luận về sức lao động, giải pháp phát
triển của thị trường lao động.
Về thực tiễn: khẳng định được tầm quan trọng và ý nghĩa của sức lao
động cũng như tác động của dịch bệnh đến thị trường lao động và giải pháp.
6. Kết cấu của đề tài Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về sức lao động.
Chương 2: Phân tích tác động của đại dịch Covid 19 đến thị trường lao động Việt Nam.
Chương 3: Đề xuất giải pháp để phát triển thị trường lao động sau
khủng hoảng đại dịch Covid 19. 2 NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát về sức lao động
1.1. Khái niệm về sức lao động
C. Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những
năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người
đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá
trị sử dụng nào đó”.
Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên
quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu
của xã hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao
động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực.
1.2. Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất nhưng
không phải trong xã hội nào có cũng là hàng hóa. Sức lao động chỉ trở
thành hàng hóa khi có những điều kiện lịch sử nhất định.
Sức lao động trở thành hàng hóa khi có đủ hai điều kiện sau:
Thứ nhất: người có sức lao động phải được tự do về thân thể, tức là
có quyền chi phối sức lao động; và do đó có quyền bán sức lao động như một là hàng hóa. 3
Nếu người có sức lao động không được tự do về thân thể (người nô
lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ), thì anh ta không có quyền bán sức lao
động. Trong trường hợp này thì chủ nô là người có quyền quyết định đối
với thân thể (kể cả sức lao động) của người nô lệ.
Thứ hai: người có sức lao động không có tư liệu sản xuất (tức là
không có những phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện sức lao động
của mình). Vì vậy anh ta buộc phải bán sức lao động của mình để kiếm sống.
Nếu người có sức lao động có tư liệu sản xuất (người sản xuất nhỏ),
thì anh ta sẽ không phải bán sức lao động. Nếu cần anh ta có thể bán sản
phẩm được tạo ra bằng chính sức lao động và tư liệu sản xuất của anh ta.
Con đường tạo ra hai điều kiện trên: trong lịch sử, hai điều kiện trên
được tạo ra chủ yếu bằng hai con đường sau:
Sự phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ dưới tác động của
các quy luật kinh tế khách quan, trước hết là quy luật giá trị.
Sự phân hóa trên diễn ra chậm chạp. Trong thực tế, ở Tây Âu thế kỷ
XVI – XVII, hai điều kiện trên được tạo ra nhanh chóng bằng con đường thứ hai.
Sự tích lũy nguyên thủy của tư bản: giai cấp thống trị sử dụng bạo
lực tước đoạt tư liệu sản xuất của những người sản xuất nhỏ (chủ yếu là
nông dân), biến họ thành những người làm thuê (bán sức lao động).
Như vậy, sức lao động trở thành hàng hóa một cách phổ biến khi nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa ra đời, với đầy đủ hai điều kiện cần và đủ như trên.
1.3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng như các hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính: 4 Giá trị:
Giá trị của hàng hóa sức lao động: là hao phí lao động xã hội cần
thiết để sản xuất vài tài sản xuất ra sức lao động. Một người sản xuất và
tái sản xuất ra sức lao động bằng cách tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt
cần thiết cho bản thân và con cái anh ta. Vì vậy, giá trị sức lao động được
tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó.
Về mặt cơ cấu: giá trị hàng hóa sức lao động gồm:
Giá trị những tư liệu sinh hoạt (cả vật chất và tinh thần) cần thiết cho con cái người lao động.
Giá trị những tư liệu sinh hoạt (cả vật chất và tinh thần) cần thiết cho con cái người lao động.
Chi phí đào tạo người lao động
Là hàng hóa đặc biệt nên giá trị hàng hóa sức lao động còn bao hàm
cả yếu tố tinh thần và lịch sử.
Yếu tố tinh thần: trong các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao
động và vợ con anh ta, có bộ phận nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của họ (sách báo, ...)
Yếu tố lịch sử: những nhu cầu vật chất và tinh thần trên phụ thuộc
vào điều kiện địa lý, xã hội cũng như trình độ văn minh của mỗi nước và
mỗi thời kỳ lịch sử, … Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động cũng là thỏa mãn nhu cầu của người mua.
Được thể hiện trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình
người công nhân lao động. 5
Hàng hóa sức lao động có giá trị sử dụng độc đáo: khi người công
nhân lao động, anh ta có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản
thân sức lao động. Một phần giá trị mới đó chính là giá trị thặng dư mà
nhà tư bản bỏ túi. Nhờ vậy, số tiền nhà tư bản bỏ ra mua các yếu tố sản
xuất (trong đó có sức lao động) đã trở thành tư bản (T T’).
1.4. Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt
So sánh hàng hóa sức lao động với hàng hóa thông thường, ta thấy
bên cạnh một số điểm giống nhau (đều là hàng hóa, có hai thuộc tính, …),
thì hàng hóa có rất nhiều điểm khác với hàng hóa thông thường, ở chỗ:
Người lao động chỉ bán quyền sử dụng, không bán quyền sở hữu;
chỉ được bán có thời hạn, không bán vĩnh viễn.
Giá trị của hàng hóa sức lao động bao gồm yếu tố tinh thần và lịch sử.
Càng sử dụng thì người lao động càng tích lũy được kinh nghiệm,
nâng cao tay nghề, năng suất lao động cao hơn.
Trong quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động có khả năng tạo
ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó.
Cho nên, sức lao động là hàng hóa đặc biệt, có khả năng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.
1.5. Thị trường lao động
Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó
diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên
là người có nhu cầu sử dụng lao động. Sự trao đổi này được thoả thuận
trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm
việc...thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng. 6
Chương 2: Phân tích tác động của đại dịch Covid - 19 đến thị
trường lao động Việt Nam.
2.1. Tác động của đại dịch Covid–19 đến thị trường lao động Việt Nam
Sự bùng phát của đại dịch Covid - 19 đã mang lại những thách thức
chưa từng có trong mấy chục năm qua đối với ngành y tế và đối với toàn
bộ các hoạt động phát triển kinh tế và xã hội trên toàn cầu. Tình hình diễn
biến cho thấy những tác động của đại dịch tới thị trường lao động, mức
động trầm trọng từ việc giảm giờ làm do tác động của đại dịch và các biện
pháp phòng chống dịch toàn diện khiến lực lượng rất lớn lao động nói
chung rơi vào tình trạng thất nghiệp, mất thu nhập, trong đó các nhóm lao
động dễ bị tổn thương như lao động khu vực phi chính thức, lao động di
cư, lao động nghèo, lao động là phụ nữ… rơi vào tình trạng tuyệt vọng
hơn. Bên cạnh đó, nhóm lao động dễ bị tổn thương còn phải nói đến nhóm
thanh niên trẻ bị mất việc, nhóm người lao động cao tuổi, nhóm lao động
tật nguyền, lao động trẻ em,... những lao động này cũng phải chịu những
tác động nghiêm trọng, thậm chí cùng cực do bị giảm việc làm, mất việc,
giảm thu nhập mạnh hoặc mất hẳn thu nhập vì cuộc khủng hoảng.
Lĩnh vực lao động và việc làm đang trải qua những thay đổi lớn ở
quy mô chưa từng có do sự chuyển dịch của một số yếu tố như sự cải tiến
của công nghệ, tác động của biến đổi khí hậu, rủi ro dịch bệnh, ... ở cả cấp
độ toàn cầu, khu vực và quốc gia. Đặc biệt, đại dịch Covid-19 xuất hiện
tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020 đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình
lao động việc làm trong các ngành và tại tất cả các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương. Trong bối cảnh đó, lao động và việc làm ở khu vực sản
xuất công nghiệp nói chung và khu công nghiệp ở Việt Nam nói riêng
đang và sẽ chịu những tác động ở nhiều khía cạnh như: thất nghiệp và mất
an ninh việc làm tạm thời. 7
Dịch Coivd -19 đã tác động mạnh đến toàn mặt của xã hội, đặc biệt
là kinh tế, đã khiến người lao động rơi vào hoàn cảnh lao đao trong dịch
bệnh, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, mà còn ảnh hưởng đến tinh
thần tăng ra sản xuất. Ta có thể thấy được hiện nay, điển hình nhất là hai ổ
dịch lớn ở Khu công nghiệp Quang Châu và Khu công nghiệp Vân Trung
ở Bắc Giang, ở đây đã trở thành những ổ dịch lớn của nước ta, hàng nghìn
người lao động bị ảnh hưởng, số công nhân nhiễm bệnh đã khiến mất đi
một phần lực lượng sản xuất, sản xuất ngưng đọng, tác động trực tiếp đến
sức khỏe cũng như tinh thần của mọi người. Đó chỉ là một phần trong suốt
một năm qua kể từ khi bắt đầu có dịch, tất cả như một đòn nặng nề lên thị
trường lao động không chỉ trong nước mà còn cả thế giới.
Nhưng song song với những khó khăn mà ta đang trải qua thì cùng
với đó là sự khởi tạo và chuyển đổi việc làm, cách mạng số và đảm bảo
việc làm trong cách mạng số, chuyển đổi và bổ sung kỹ năng, chuyển đổi
tiêu chuẩn và công cụ bảo vệ người lao động, thúc đẩy phát triển chiến
lược lao động và an ninh việc làm trong bối cảnh mới. Từ đó nâng cao
trình độ nguồn nhân lực, người lao động học hỏi thêm những kĩ năng mới
áp dụng vào công việc, phát triển bản thân cũng như đi đôi với phát triển kinh tế đất nước.
2.2. Những mặt tiêu cực của đại dịch Covid – 19 đối với thị trường lao động Việt Nam
Xuất hiện đầu tiên vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, tính đến nay đại
dịch Covid – 19 đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với con người
cũng như đối với các khía cạnh khác của xã hội trong đó, nền kinh tế Việt
Nam cũng bị ảnh hưởng không nhỏ từ dịch bệnh. Trải qua hơn một năm
từ ngày nước ta có ca bệnh đầu tiên cho đến hiện nay thì thị trường lao
động nước ta đã phải gánh chịu nhiều mặt tiêu cực.
Tác động của dịch COVID-19 đến lực lượng lao động 8
Năm 2020, nước ta ghi nhận đây là năm mức giảm sâu kỷ lục của lực
lượng lao động từ trước đến nay. Cụ thể, trong 9 tháng đầu năm 2020, lực
lượng lao động từ 15 giảm 2,4 triệu người so với cùng kỳ năm ngoái, lực
lượng lao động trong độ tuổi lao động giảm 2,2 triệu người so với cùng kỳ
năm trước. Covid – 19 đã tạo nên bất bình đẳng mới, trước đại dịch hầu
như không có sự chênh lệch trong tỉ lệ thất nghiệp giữa nam giới và nữ
giới nhưng đến nay tình trạng này đã xuất hiện. Như vậy, đối với cả nhóm
lực lượng lao động trong độ tuổi và ngoài độ tuổi, lực lượng lao động nữ
luôn là nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề hơn so với lực lượng lao động nam
trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động sâu rộng tới thị trường lao động tại
Việt Nam. Dịch bệnh đã cướp đi cơ hội việc làm của hơn triệu người lao
động, tạo ra cho họ cũng như xã hội những gánh nặng về kinh tế, gây đảo
lộn đời sống xã hội. Vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động
tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ dưới 35
tuổi, việc tận dụng nhóm lao động này trở nên hạn chế hơn trong bối cảnh dịch Covid – 19.
Có thể nói, Covid - 19 đã ảnh hưởng, tác động nghiêm trọng đến tất
cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu
chuyển thương mại, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ; nhiều doanh nghiệp đến phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp
quy mô... điều này ảnh hưởng trực tiếp tình hình lao động và việc làm.
Tác động của dịch COVID-19 đến lao động có việc làm
Dưới tác động của dịch Covid, không ít lao động phải lao đao với
guồng quay mất việc, không tìm được việc làm hoặc làm trái ngành bởi vì
các công ty, doanh nghiệp cắt giảm hàng loạt nhân sự, cắt giảm giờ làm,
nghỉ giãn việc hoặc nghỉ luân phiên, giảm thu nhập. Điển hình là những
ngành nghề như: dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông – lâm – ngư
nghiệp – thủy hải sản. 9
Lao động trong ngành dịch vụ là lao động bị chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất. Ngành dịch vụ chịu tác động mạnh do tổng cầu giảm (cả trong và
ngoài nước). Ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất là ngành du lịch (gồm
dịch vụ du lịch, lưu trú, ăn uống và lữ hành). Lượng khách quốc tế đến
Việt Nam sụt giảm, lượng khách trong nước cũng giảm do thực hiện chỉ
thị giãn cách xã hội của Chính phủ. Trong khi đó, doanh thu từ ngành
hàng dịch vụ ăn uống và lưu trú giảm, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt
động trong dịch vụ ăn uống và lưu trú lại tăng.
Bên cạnh ngành du lịch đang gặp phải khó khăn thì ngành công
nghiệp – xây dựng cũng không mất khả quan, các ngành sản xuất với
chuỗi cung ứng bị gián đoạn, đứt gãy và ngành xây dựng sụt giảm do
bất động sản khó khăn. Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rõ nét tới
nhiều lĩnh vực sản xuất công nghiệp: Việt Nam đang hội nhập sâu rộng,
nhiều ngành sản xuất theo mô hình chuỗi cung ứng đều đang bị ảnh
hưởng tiêu cực do chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, đứt gãy, gây
thiếu nguồn cung đầu vào; nhiều lĩnh vực sản xuất của Việt Nam chỉ
tập trung vào phân khúc gia công xuất khẩu, tuy nhiên, dịch Covid-19
đã gây nhiều khó khăn trong hoạt động ngoại thương, làm sụt giảm nhu cầu tiêu thụ đầu ra.
Dưới tác động của dịch Covid, việc giao thương quốc tế giữa các
nước là điều khó khắn và gặp nhiều trở ngại. Chính vì lí do đó, ngành
nông – lâm – ngư nghiệp – thủy hải sản khó khăn trong xuất khẩu hàng
hóa và nhập khẩu phụ trợ nông nghiệp. Nhiều mặt hàng nông nghiệp,
chủ yếu là nông - thủy sản xuất khẩu gặp khó khăn đại dịch Covid-19,
lúc đầu là thị trường Trung Quốc, sau đó là thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản.
Khủng hoảng dịch bệnh Covid - 19 đặt ra nhiều thách thức mới về 10
đảm bảo an ninh việc làm. Việc xuất hiện dịch bệnh đã thay đổi hoàn toàn
viễn cảnh và sự vận hành thông thường của cấu trúc sản xuất và thương
mại toàn cầu, ít nhất trong ngắn hạn. Các thị trường tiêu thụ lớn đình trệ
dẫn tới đứt gãy tạm thời trong chuỗi cung ứng, xảy ra cả ở cấp độ địa
phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu. Thị trường lao động thời Covid
-19 được đánh giá sẽ có tác động sâu rộng đến kết quả thị trường lao
động. Ngoài những lo ngại cấp bách về sức khỏe của công nhân và gia
đình họ, virus và các cú sốc kinh tế tiếp theo sẽ tác động đến việc làm.
Cung lao động đang giảm vì các biện pháp cách ly và suy giảm hoạt động kinh tế.
Trước tình hình trên, đã cho ta thấy được ảnh hưởng tiêu cực của
dịch bệnh đối với thị trường lao động Việt Nam lớn như thế nào. Tỉ lệ
thất nghiệp gia tăng, lao động xuất khẩu mắc kẹt ở nông thôn vì ngừng
khai thác các chuyến bay quốc tế, doanh nghiệp rơi vào cảnh phá sản,
xuất nhập khẩu trì trệ và khó khăn, nhiều ngành nghề, lĩnh vực bị ảnh
hưởng nghiêm trọng, dịch Covid còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe
con người, khi một người bị bệnh cũng đã gây ra tổn thất một phần nào
đó tổn hại đến nền kinh tế nước nhà.
2.3. Những mặt tích cực của đại dịch Covid – 19 đối với thị trường lao động Việt Nam
Trong bối cảnh của đại dịch Covid – 19 hiện nay, đã cho ta thấy được
mức độ nguy hiểm của dịch bệnh đem đến cho con người cũng như sự ảnh
hưởng nặng nề đến toàn bộ mọi mặt của xã hội. Nhưng bên cạnh những
tiêu cực mà dịch bệnh để lại, tuy nhiên có những tác động tích cực đối với
thị trường lao động Việt Nam.
Trong khi những ngành như ngân hàng, khách sạn, du lịch đang lao
đao và phải liên tục cắt giảm nhân sự trong thời đểm đại dịch Covid-19
đang có diễn biến phức tạp, thì ngành thương mại điện tử, viễn thông vẫn 11
đang có nhu cầu tuyển dụng. Việc hạn chế những nơi đông người và tăng
cường mua sắm trực tuyến khiến các doanh nghiệp chuyển đổi hành vi
mua sắm tại điểm bán sang đẩy mạnh phát triển các nền tảng mua sắm
online, dẫn đến nhu cầu tuyển dụng các vị trí liên quan đến phát triển
thương mại điện tử. Người lao động làm trong lĩnh vực này dù làm việc ở
nhà cũng không ảnh hưởng nhiều đến công việc, và mức lương của họ
cũng không thay đổi quá nhiều so với thời điểm trước đó.
Dịch bệnh cũng là cơ hội để người lao động và các doanh nghiệp
chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh, ứng dụng triệt để công nghệ
thông tin thì người lao động có được kỹ năng mới, việc làm có hình thức
mới để cho họ tham gia được thị trường lao động đóng góp sức lao động
của họ trong quá trình sản xuất kinh tế cũng như đóng góp vào thu nhập
tăng thêm của người lao động.
Trong tình hình diễn biến dịch bệnh còn gia tăng phức tạp thì việc áp
dụng công nghệ hiện đại vào làm việc là điều vô cùng hợp lí, bởi robot có
thể thay thế con người làm việc trong những môi trường nguy hiểm, …
hay chỉ đơn giản thói quen mua sắm của người dân cũng thay đổi nhờ có
thiết bị thông minh dẫn đến những ngành nghề về điện tử vẫn tăng dù các
ngành nghề khác đang trong đà giảm về số người lao động cũng như các
doanh nghiệp phải phá sản vì không trụ được. Đó chính là sự tác động tích
cực từ dịch bệnh để ta thấy được tầm quan trọng của chuyển đổi số và áp
dụng công nghệ thông minh vào sản xuất, tăng năng suất lao động cả về
số lượng và chất lượng việc làm, chất lượng nguồn nhân lực, với nền tảng
tảng công nghệ số, tích hợp tất cả các thông tin về công nghệ, quy trình,
phương thức sản xuất, nhu cầu về ngành, nghề, kỹ năng... và nhất là khả
năng kết nối, chia sẻ trên toàn thế giới thông qua các thiết bị công nghệ sẽ
làm thay đổi cách thức kết nối giữa cung và cầu trên thị trường lao động. 12
2.4. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tiêu cực mà đại dịch Covid – 19 đem đến
Dịch bệnh hoành hành, mọi khuyến cáo đều hạn chế người dân
không đi đến chỗ đông người để giảm tiếp xúc và nguy cơ lây nhiễm.
Xuất phát từ vấn đề đó đã tác động khiến một lượng khách du lịch
nội địa cũng như khách quốc tế giảm một lượng rõ rệt đến Việt Nam.
Hàng loạt tour du lịch bị hủy bỏ, khách sạn ngừng trệ vì không có khách,
điều đó đã kéo theo doanh thu từ dịch vụ du lịch sụt giảm ảnh hưởng
không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam. Các ngành vận tải, nhất là vận tải
hàng không cũng dở khách, dở cười vì ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián
tiếp từ du lịch giảm sút một lượng khách, người dân hạn chế đi lại khiến
ngành hàng không và vận tải nói chung chịu thiệt hại không hề nhỏ.
Từ khi dịch bệnh phán tán rộng, hoành hành khắp khu vực, hàng loạt
các biện pháp hạn chế giao thương giữa các quốc gia được triển khai.
Chính vì sự hạn chế giao thương để phòng chống dịch đã dẫn đến sự giảm
mạnh về các mặt hàng xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Trong thời điểm hiện
tại xuất nhập khẩu bị đình trệ đã gián tiếp ảnh hưởng đến nhiều ngành liên
quan khác, từ đó dẫn đến kinh tế chịu thiệt hại nặng về nhiều mặt.
Sản xuất ngắn hạn bị đình chỉ, chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế
bị chặn và việc bán hàng rất khó thực hiện. Để ngăn chặn việc lây lan của
virus, nhiều doanh nghiệp đã trì hoãn việc nối lại công việc và sản xuất
trong một thời gian khá dài, nhiều doanh nghiệp đối mặt với tình trạng
người lao động giảm đồng thời nhu cầu tiêu dùng giảm, hoạt động kinh tế
bị giãn đoạn, thời gian để công nhân trở lại làm việc không đồng đều ảnh
hưởng xấu đến sản xuất. Ngay cả khi sản xuất và hoạt động bị đình trệ thì
các công ty vẫn phải trả tiền an sinh xã hội và thuế và để duy trì các chi
phí như giá thuê mặt bằng, vận hành xây dựng nhà máy, lãi ngân hàng, 13
các công ty vừa và nhỏ có nợ cao và dòng tiền ngắn đang phải đối mặt với thách thức khó khăn.
Tất cả đều tác động nghiêm trọng đến thị trường lao động, lao động
bị giảm lương, giảm giờ làm, mất việc làm dẫn đến thất nghiệp, lao đao
trong con đường tìm lối đi mới trong mùa dịch Covid – 19 hoành hành.
Chương 3: Giải pháp để phát triển thị trường lao động sau
khủng hoảng đại dịch Covid 19.
3.1. Tình hình dịch Covid - 19 trong nước và thế giới
Tình hình dịch bệnh trên thế giới:
Thế giới đã trải qua nhiều đại dịch, gây tổn thất nặng nề đối với quá
trình phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Đại dịch Covid - 19 được
biết đến như đại dịch về bệnh truyền nhiễm, với tác nhân là virus SARS-
CoV-2, diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Đại dịch Covid - 19 đã tàn phá
nghiêm trọng tổng thể nền kinh tế và thị trường lao động toàn cầu, là cú
sốc kinh tế lớn nhất trong vòng 35 năm qua. Sự tàn phá của đại dịch
không chỉ với các nền kinh tế dễ bị tổn thương mà còn khiến cho nhiều
nền kinh tế lớn rơi vào tình trạng bế tắc: kinh tế suy giảm, thất nghiệp tràn
lan, nghèo đói và thất nghiệp gia tăng, ... Tác động nghiêm trọng của đại
dịch đối với lao động việc làm nói chung và những nhóm lao động dễ bị
tổn thương nói riêng là một trong những khó khăn lớn mà mỗi quốc gia đặc biệt quan tâm.
Đại dịch Covid - 19 đã gây nên sự sụt giảm chưa từng có đối với
hoạt động kinh tế và số giờ làm việc trên toàn thế giới. Trong đó, tình
trạng mất việc làm và số giờ làm việc bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Uớc
tính có 1,25 tỷ lao động, chiếm 38% lực lượng lao động toàn cầu đang
làm việc trong các lĩnh vực phải đối diện với sự sụt giảm trầm trọng về
sản lượng, nguy cơ cao bị sa thải, bao gồm các ngành: thương mại bán lẻ, 14
dịch vụ lưu trú và ăn uống và sản xuất. Đặc biệt đối với các nước có thu
nhập thấp và trung bình, các ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất lại có tỷ
lệ cao người lao động làm các công việc phi chính thức và người lao động
ít được tiếp cận với các dịch vụ y tế cũng như an sinh xã hội. Đại dịch này
không chỉ cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người mà còn đe dọa
làm bùng nổ một cuộc khủng hoảng về xã hội khi từ quý hai năm 2020 nó
xóa sổ 198 triệu việc làm (tính theo mức 48 giờ làm việc mỗi tuần). Báo
cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế, công bố hôm 7/4/2020 vừa qua cũng
cho thấy, châu Á - Thái Bình Dương bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất -
nơi trong quý hai năm 2020 sẽ có tới khoảng 125 triệu lao động (làm việc
toàn phần) mất việc làm so với con số 20 triệu ở châu Âu.
Tình hình dịch bệnh trong nước:
Đại dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020 đã
ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động và việc làm trong các ngành và
tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong các khu vực
kinh tế thì khu vực dịch vụ là chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch
Covid-19, ngoài ra trong các khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng bị ảnh hưởng. Ước tính sơ bộ có 19%
doanh nghiệp đã tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô; 98% lao động khu
vực du lịch, dịch vụ nghỉ việc; 78% lao động ngành vận tải, giày da, dệt
may bị giảm việc làm, giãn việc hoặc ngừng việc; 98% lao động hàng
không tạm nghỉ việc. Hàng triệu lao động đã và đang bị ảnh hưởng nặng
nề, đặc biệt là lao động giản đơn có thu nhập thấp và không thường
xuyên. Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong 10 năm qua và tỷ lệ tham gia thị
trường lao động giảm sâu hơn ở khu vực nông thôn và lực lượng lao động
nữ. Đến hết tháng 6/2020, Việt Nam có 30,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên
bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch Covid-19, bao gồm: mất việc, giảm giờ
làm, giảm thu nhập, … Thu nhập bình quân/tháng của người lao động là 15
5,2 triệu đồng, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Những nhóm lao
động dễ bị tổn thương nhất đang phải gánh chịu những tác động kinh tế
nặng nề nhất của đại dịch.
Với những ước tính trên của cuộc khủng hoảng kinh tế và lao động
cho thấy một bức tranh tổng thể về giờ làm giảm và tình trạng thất nghiệp
trầm trọng trên toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Đại dịch đã
khiến hàng triệu người rơi vào tình trạng thất nghiệp, giảm giờ làm, giảm
tiền lương và rơi xuống nghèo đói. Sự tổn thất thu nhập của lao động dẫn
đến sự sụt giảm các chỉ tiêu của hàng hóa và dịch vụ, tới khả năng duy trì
kinh doanh liên tục của các doanh nghiệp và những khó khăn đảm bảo
khả năng phục hồi cho nền kinh tế trong thời gian tới.
3.2. Giải pháp để phát triển thị trường lao động sau khủng hoảng đại dịch Covid 19
Ngay khi có dịch bệnh bùng phát, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả hệ
thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, cùng với sự đồng lòng, đoàn kết
của toàn dân, toàn quân, công tác phòng, chống dịch, thực hiện khuyến
cáo "5K: Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tập trung –
Khai báo y tế" của Bộ Y tế đã đạt kết quả tốt, Việt Nam đã đẩy lùi và kiểm
soát được dịch bệnh. Đồng thời, đã có những chính sách kịp thời để từng
bước hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn của đại dịch
COVID-19; các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội đang được khôi
phục; tình hình kinh tế - xã hội đã có những chuyển biến tích cực; được
cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và sự chỉ đạo của Chính phủ. Những chính
sách đó cụ thể như sau:
Một là, hoàn thiện khung pháp lý thị trường lao động, tạo môi
trường thông suốt để phát triển thị trường lao động đồng bộ với các thị trường khác. 16
Rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về
cung - cầu lao động, kết nối cung - cầu lao động và vai trò, trách nhiệm
của công chức, viên chức và người lao động trong lĩnh vực lao động, việc
làm phù hợp với quy luật của thị trường lao động, công ước, tiêu chuẩn
quốc tế đã được Việt Nam phê chuẩn và phù hợp với lợi ích chính đáng,
hợp pháp của người lao động và doanh nghiệp. Xây dựng và tổ chức thực
hiện các chương trình, đề án hỗ trợ tạo việc làm, tham gia thị trường lao
động cho các nhóm lao động đặc thù (người khuyết tật, lao động khu vực
nông thôn, lao động phi chính thức, lao động nữ, học sinh, sinh viên mới
tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, ...)
Hai là, hỗ trợ phát triển cung - cầu lao động
Xây dựng và cung cấp các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng
công nghiệp trước khi đi làm cho sinh viên mới tốt nghiệp; các chương
trình đào tạo kỹ năng nâng cao cho công nhân để nâng cao kỹ năng; các
chương trình đào tạo để nâng cao các kỹ năng nghề nghiệp cho các khu
vực địa lý, dân số, lao động đặc thù, phù
hợp với tính chất đặc thù của
từng đối tượng. Khuyến khích doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động
tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp. Xây dựng
tổ chức bộ máy, nhân sự và các công cụ để tổ chức giám sát, đánh giá và
công nhận kỹ năng nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc gia để người lao
động được đánh giá và công nhận, phản ánh đúng năng lực làm việc thực tế.
Ba là, hỗ trợ phát triển hệ thống thông tin thi trường lao động và dịch vụ việc làm
Hoàn thiện quy trình, phương pháp để tổ chức thu thập, cập nhật, lưu
trữ, tổng hợp dữ liệu về thông tin về thị trường lao động phục vụ xây
dựng chính sách, quản trị thị trường lao động trên cơ sở tối ưu hóa việc
kết nối, chia sẻ với dữ liệu đã có. Đầu tư trang thiết bị, đẩy mạnh ứng 17