HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Kinh tế chính trị Mác – Lênin
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ NHÂN VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Mai Phương
Sinh viên thực hiện : Vũ Hải Bình
: F16HLớp
Mã sinh viên : F17-314
Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2024
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................1
NỘI DUNG.........................................................................................................................2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN......................................................2
1.1. Khái niệm xuất khẩu tư bản.................................................................................2
1.2. Hình thức xuất khẩu tư bản..................................................................................3
1.3. Chủ thể xuất khẩu tư bản......................................................................................5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU BẢN NHÂN VÀO
VIỆT NAM HIỆN NAY.....................................................................................................7
2.1. Xuất khẩu tư bản trực tiếp....................................................................................7
2.1.1. Chủ trương, quan điểm của Đảng về thu hút FDI ở Việt Nam........................10
2.1.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam.............................................................12
2.1.3. Hạn chế trong việc thu hút FDI vào Việt Nam................................................13
2.2. Xuất khẩu tư bản gián tiếp..................................................................................14
2.2.1. Chủ trương của nhà nước về việc vay, nợ nước ngoài....................................14
2.2.2. Thực trạng nợ nước ngoài đa phương của Việt Nam......................................15
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ NHÂN VÀO VIỆT
NAM HIỆN NAY.............................................................................................................17
3.1. Giải pháp từ phía Chính phủ về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam.....17
3.2. Giải pháp doanh nghiệp về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam..............17
3.3. Giải pháp từ phía người lao động.......................................................................19
3.4. Liên hệ sinh viên Học viện Ngân hàng................................................................23
KẾT LUẬN......................................................................................................................25
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................26
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các dòng vốn đầu quốc
tế, đặc biệt xuất khẩu bản nhân, đang đóng vai trò ngày càng quan trọng
trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hội nhập quốc tế của các quốc gia. Đối
với Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển với nhu cầu vốn lớn để phục vụ quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thu hút dòng vốn bảnnhân từ nước
ngoài không chỉ một lựa chọn chiến lược còn điều kiện thiết yếu để thúc
đẩy sự chuyển đổi mạnh mẽ về cấu kinh tế, công nghệ, năng lực cạnh tranh
quốc gia.
Tầm quan trọng của xuất khẩu bản nhân đối với Việt Nam thể hiện
nhiều khía cạnh. Trước hết, dòng vốn nhân này góp phần quan trọng trong việc
giải quyết vấn đề thiếu hụt vốn đầu nội địa, một trong những trở ngại lớn nhất
đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Thứ hai, bản tư nhân thường đi
kèm với các yếu tố giá trị gia tăng như chuyển giao công nghệ hiện đại, cải thiện kỹ
năng lao động, thúc đẩy sáng tạo trong quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
dòng vốn này còn giúp Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế với các quốc gia, nâng
cao vị thế trên trường quốc tế tạo động lực cho các doanh nghiệp nội địa tham
gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, thực trạng xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam vẫn còn tồn tại
nhiều thách thức. Mặc dù đã thu hút được sự quan tâm lớn từ các tập đoàn đa quốc
gia như Samsung, Intel, LG, hay các quỹ đầu tư lớn như Warburg Pincus, dòng vốn
tư nhân vào Việt Nam vẫn chưa được khai thác hết tiềm năng. Một số nguyên nhân
chính bao gồm sở hạ tầng chưa đồng bộ, môi trường pháp lý còn nhiều bất cập,
những hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, việc bảo đảm ổn
định kinh tế vĩ mô, duy trì tính minh bạch, và cải thiện khả năng dự báo rủi ro kinh
tế là những yêu cầu cấp thiết để gia tăng sự hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà
đầu tư tư nhân quốc tế.
1
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu ngày càng khốc liệt, việc
nghiên cứu các giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu bản nhân vào Việt Nam
không chỉ ý nghĩa quan trọng về mặt lý thuyếtcòn mang lại giá trị thực tiễn
cao. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện năng lực thu hút vốn mà còn hỗ
trợ Việt Nam tận dụng tối đa các hội phát triển, đồng thời giảm thiểu các tác
động tiêu cực có thể phát sinh từ sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài Thực trạng và giải pháp thúc
đẩy xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu của
mình.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN
1.1. Khái niệm xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu bản xuất khẩu giá trị ra nước ngoài hay còn gọi đầu
bản ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá tri thặng các nguồi lợi
nhuân kháccác nước nhập khẩu tư bản. Nó được coichỉ việc di chuyển giá trị
từ một quốc gia sang quốc gia khác thông qua các hoạt động đầu tưbảnnước
ngoài. Đây hình thức đầu quốc tế của các chủ thể tư nhân hoặc nhà nước với
mục tiêu chiếm đoạt giá trị thặng các nguồn lợi nhuận khác nước nhập
khẩu bản. Xuất khẩu bản không chỉ đơn thuần việc chuyển giao hàng hóa
dịch vụ còn bao gồm cả việc đưa tài sản, vốn đầu tư, công nghệ các
nguồn lực kinh tế khác ra ngoài biên giới quốc gia nhằm khai thác lợi ích kinh tế từ
sự phát triển ở nước ngoài.
Một trong những đặc trưng chính của xuất khẩu tư bản là khả năng tạo ra lợi
nhuận vượt trội cho các nhà đầu từ nước xuất khẩu bản. Họ thể đạt được
điều này thông qua các hình thức sở hữu hoặc kiểm soát các doanh nghiệp, dự án
và công trình nước ngoài. Quá trình này thường bao gồm các hoạt động như đầu
2
trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó doanh nghiệp hoặc nhân nước ngoài
thành lập các chi nhánh hoặc sở sản xuất, kinh doanh tại nước tiếp nhận, hoặc
các khoản đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư. Mục đích chính
của các nhà đầu trong xuất khẩu bản tối đa hóa lợi nhuận, khai thác giá trị
thặng tiếp cận thị trường, tài nguyên thiên nhiên, nhân công rẻ hoặc các ưu
đãi từ chính phủ nước nhập khẩu tư bản.
Xuất khẩu tư bản góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu thông qua
việc huy động sử dụng vốn hiệu quả giữa các quốc gia. Đồng thời, cũng tạo
ra sự cạnh tranh, chuyển giao công nghệ nâng cao trình độ quản lý, kỹ năng lao
động cho quốc gia tiếp nhận. Tuy nhiên, xuất khẩu bản cũng thể gây ra các
tác động tiêu cực như tạo ra sự phụ thuộc kinh tế, làm mất đi một phần quyền kiểm
soát kinh tế của quốc gia nhập khẩu, hoặc gia tăng chênh lệch giàu nghèo và áp lực
đối với tài nguyên thiên nhiên. Do đó, để khai thác hiệu quả những lợi ích mà xuất
khẩu bản mang lại, các nước nhập khẩu cần xây dựng các chính sách phù hợp
nhằm thu hút đầu tư nước ngoài nhưng đồng thời bảo vệ lợi ích kinh tế nội địa.
1.2. Hình thức xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu bản một khái niệm quan trọng trong thuyết kinh tế chính
trị, phản ánh quá trình di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm đạt
được lợi nhuận cao hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của
các thị trường tài chính quốc tế, xuất khẩu bản được chia thành hai hình thức
chính: xuất khẩu bản hoạt động hay còn gọi đầu trực tiếp xuất khẩu
bản cho vay được gọi là đầu tư gián tiếp.
Xuất khẩu bản hoạt động, còn được gọi đầu trực tiếp (FDI) hình
thức đầu nhà đầu nước ngoài tham gia trực tiếp vào việc thành lập hoặc
quản lý một doanh nghiệp tại quốc gia khác. Điều này có nghĩa là tư bản không chỉ
đơn thuần chuyển sang quốc gia tiếp nhận còn kèm theo các yếu tố sản xuất
khác như công nghệ, kỹ năng quản nhân lực, mang đến sự thay đổi đáng kể
3
trong nền kinh tế của nước tiếp nhận. Các hoạt động FDI thường bao gồm việc xây
dựng nhà máy sản xuất, thiết lập công ty con hoặc chi nhánh của công ty mẹ tại
quốc gia sở tại, hay thậm chí mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp hiện
trong thị trường mục tiêu. FDIthể tác động lâu dài và sâu rộng không chỉ
cung cấp vốn còn thúc đẩy công nghệ mới, kỹ năng quản lý, các phương
pháp làm việc tiên tiến cho nền kinh tế tiếp nhận. Nhờ đó, quốc gia tiếp nhận có thể
cải thiện năng suất lao động, tăng cường năng lực cạnh tranh, giảm bớt sự phụ
thuộc vào công nghệ từ bên ngoài. Hình thức đầu này thường tập trung vào các
ngành công nghiệp sản xuất dịch vụ giá trị cao, tạo ra công ăn việc làm
phát triển thị trường nội địa thông qua liên kết chặt chẽ giữa các nhà cung cấp
doanh nghiệp nội địa. FDI còn giúp tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành
mạnh, góp phần vào việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, hỗ trợ sản xuất.
Khi một công ty đa quốc gia đầu vào quốc gia khác, họ thường đưa ra các tiêu
chuẩn sản phẩm quy trình sản xuất cao hơn, điều này thể dẫn đến cải thiện
chất lượng sản phẩm dịch vụ nội địa. Hơn nữa, sự hiện diện của các doanh
nghiệp nước ngoài thể khuyến khích các doanh nghiệp trong nước nỗ lực nâng
cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, FDI cũng thể gặp những thách thức nhất
định, bao gồm sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài nguy mất kiểm soát
đối với các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Một ví dụ điển hình của xuất khẩu
tư bản hoạt độngcác tập đoàn đa quốc gia như Samsung, LG hay Toyota đầu tư
vào các nhà máy sản xuất tại Việt Nam. Samsung, chẳng hạn, đã xây dựng các nhà
máy sản xuất điện thoại tại Bắc Ninh Thái Nguyên, tạo ra hàng nghìn việc làm
thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển. Đây minh chứng ràng cho việc
xuất khẩu tư bản hoạt động mang lại nhiều lợi ích lâu dài cho cả quốc gia xuất khẩu
và quốc gia nhận đầu tư.
Xuất khẩu bản cho vay, hay đầu gián tiếp, hình thức đầu nhà
đầu nước ngoài không tham gia vào quá trình quản hay sản xuất trực tiếp tại
4
quốc gia tiếp nhận. Thay vào đó, vốn được chuyển giao thông qua các công cụ tài
chính như cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay. Nhà đầu sẽ nhận lợi tức hoặc
cổ tức từ các khoản đầu này không tham gia vào hoạt động hàng ngày của
doanh nghiệp hay nền kinh tế nước sở tại. Hình thức này lợi cho các quốc gia
muốn huy động vốn không muốn sự can thiệp sâu từ nhà đầu nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp cung cấp một lượng lớn vốn lưu động, tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp mở rộng quy sản xuất, cải thiện sở hạ tầng, hoặc đáp ứng
các nhu cầu tài chính ngắn hạn. Đây cũng hình thức đầu giúp tăng tính thanh
khoản của thị trường tài chính, làm giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp tạo
điều kiện cho sự phát triển của thị trường chứng khoán địa phương. Hình thức này
chủ yếu do các nhà đầu tư tài chính, các ngân hàng hay các quỹ đầu quốc tế lựa
chọn. Tuy nhiên, do tính chất linh hoạt và dễ chuyển đổi, dòng vốn gián tiếp có thể
gây ra bất ổn cho nền kinh tế nếu bị rút lui đột ngột, đặc biệt trong các tình huống
khủng hoảng tài chính hoặc biến động kinh tế toàn cầu. Một dụ tiêu biểu sự
tham gia của các quỹ đầu lớn như BlackRock, Vanguard trong các thị trường
chứng khoán tại Việt Nam. Các quỹ này thường đầu vào các công ty lớn trong
nước thông qua việc mua cổ phần, hoặc cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi
nhuận.
1.3. Chủ thể xuất khẩu tư bản
Chủ thể của xuất khẩu bản đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành
và phát triển các hình thức di chuyển vốn quốc tế. Chủ thể này được chia thành hai
loại chính xuất khẩu bản nhà nước xuất khẩu bản nhân, mỗi loại
những đặc điểm riêng biệt và mục tiêu khác nhau.
Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước tư bản
độc quyền sử dụng nguồn vốn từ ngân quỹ quốc gia để đầu vào các nước nhập
khẩu tư bản. Điều này thể được thực hiện thông qua các khoản đầutrực tiếp,
hoặc thông qua các chương trình viện trợ kinh tế, chính trị quân sự. Các khoản
5
viện trợ này thể hoàn lại hoặc không hoàn lại, nhưng mục tiêu thường vượt xa
lợi nhuận kinh tế đơn thuần. Ví dụ, Chính phủ Nhật Bản đã đầu tư vào nhiều dự án
cơ sở hạ tầng lớn ở Việt Nam thông qua nguồn vốn ODA (viện trợ phát triển chính
thức). Các dự án như tuyến đường sắt đô thị tại Nội hay TP.HCM đều sử dụng
vốn ODA từ Nhật Bản, không chỉ nhằm hỗ trợ phát triển hạ tầng còn tạo điều
kiện để các công ty Nhật Bản tiếp cận thị trường Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ cũng
thực hiện xuất khẩubản nhà nước thông qua các khoản viện trợ quân sự và kinh
tế cho các quốc gia đồng minh nhằm củng cố vị thế chính trị trên trường quốc tế.
Xuất khẩubản tư nhân, mặt khác, là hình thức xuất khẩu tư bản do các
nhân hoặc doanh nghiệp nhân nguồn lực tài chính mong muốn m rộng
hoạt động kinh tế ra ngoài biên giới quốc gia của họ. Đây một trong những lực
lượng kinh tế chính thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa thông qua việc khai thác cơ hội
thị trường lợi nhuận độc quyền các quốc gia nhận vốn, bao gồm Việt Nam.
Các chủ thể nhân thường tập trung vào những ngành kinh tế tiềm năng sinh
lợi cao vòng quay vốn nhanh, nhắm đến việc tối ưu hóa nguồn lực lợi ích
kinh tế. Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) một trong những chủ thể chính
trong lĩnh vực này. Các công ty như Apple, Coca-Cola hay Unilever không chỉ đầu
tư trực tiếp vào việc xây dựng nhà máy, mà còn mở rộng các chi nhánh kinh doanh
trên toàn cầu để khai thác tối đa lợi ích thị trường địa phương. Tại Việt Nam, các
tập đoàn như Samsung, LG, Intel đã đầu mạnh mẽ vào Việt Nam, đặc biệt
trong các ngành công nghệ cao sản xuất. Những công ty này không chỉ mang
vốn đến Việt Nam còn đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công
nghệ, kỹ năng quản lý, tạo việc làm. Chẳng hạn, Samsung đã trở thành một
trong những nhà đầulớn nhất tại Việt Nam, với tổng vốn đầuvượt mức 20 tỷ
USD cho đến năm 2023. Điều này không chỉ giúp Việt Nam trở thành trung tâm
sản xuất điện thoại lớn trên thế giới còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành
công nghiệp phụ trợ. Bên cạnh các tập đoàn lớn, các quỹ đầu tư tư nhân và tổ chức
6
tài chính quốc tế cũng những chủ thể quan trọng trong xuất khẩu tư bản tư nhân
vào Việt Nam. Các quỹ như Warburg Pincus và KKR thường đầu tư thông qua việc
mua cổ phần hoặc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp trong nước. Ví dụ, Warburg
Pincus đã đầu vào Tập đoàn Masan Techcombank, không chỉ hỗ trợ các
doanh nghiệp này mở rộng quy còn tăng cường tính cạnh tranh trên thị
trường quốc tế. Những khoản đầu tư này không chỉ mang lại lợi nhuận cho các quỹ
còn giúp nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Ngoài các tập đoàn quỹ đầu quốc tế, các doanh nghiệp nhân trong
nước cũng một chủ thể đang nổi trong lĩnh vực xuất khẩu bản nhân. Các
công ty như VinFast, thuộc Tập đoàn Vingroup, đã bắt đầu thực hiện các dự án đầu
nước ngoài. dụ, VinFast đã đầu xây dựng nhà máy sản xuất ô tại Mỹ
với hy vọng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Đây minh chứng cho sựơn
lên mạnh mẽ của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò
ngày càng lớn của họ trong dòng chảy xuất khẩu tư bản tư nhân.
Mặc hai chủ thể này vai trò khác nhau, nhưng chúng đều góp phần
quan trọng vào sự phát triển kinh tế toàn cầu. Xuất khẩu bản nhà nước thường
hướng đến mục tiêu dài hạn tính chất chiến lược, trong khi xuất khẩu bản
nhân lại mang tính linh hoạt hơn nhắm đến lợi ích kinh tế trực tiếp. Tuy
nhiên, mỗi loại cũng gặp phải những thách thức riêng, chẳng hạn như áp lực chính
trị đối với các khoản đầu nhà nước, hoặc nguy mất cân đối thị trường do sự
tập trung quyền lực kinh tế của các công ty tư nhân.
Việc phân tích hiểu các chủ thể của xuất khẩu bản không chỉ giúp
nhận diện các xu hướng đầu quốc tế, còn đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng các chính sách phù hợp để tận dụng tối đa nguồn lực vốn và đảm bảo sự
phát triển bền vững cho quốc gia nhận đầu tư.
7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ
NHÂN VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Xuất khẩu tư bản trực tiếp
Xuất khẩubản trực tiếp hình thức xuất khẩubản để xây dựng những
nghiệp mới hoặc mua lại những nghiệp đang hoạt động nước nhận đầu tư,
biến thành một chi nhánh của công ty mẹ. Các nghiệp mới được hình thành
thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương, nhưng cũng những nghiệp
toàn bộ số vốn của một công ty nước ngoài. Chủ thể xuất khẩu tư bản sự
thay đổi lớn, trong đó vai trò các công ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu bản
ngày càng to lớn, đặc biệt là trong FDI. Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất
khẩu bản từ các nước đang phát triển nổi bật các Nics châu Á. Đây cũng
chính là hình thức xuất khẩu FDI vào Việt Nam.
FDI viết tắt của Foreign Direct InvestmentĐầu trực tiếp nước ngoài.
Vốn đầu này đề cập đến khoản đầu được thực hiện bởi một công ty hoặc
nhân ở nước ngoài, thường liên quan đến việc mua lại hoặc thiết lập hiện diện kinh
doanh quốc gia đó. Do đó, doanh nghiệp FDI công ty nhận được vốn đầu
trực tiếp từ tổ chức nước ngoài đã thành lập hoạt động kinh doanh nước
ngoài. Khái niệm FDI thường đặc trưng bởi việc nhà đầu nước ngoài chiếm
một tỷ lệ cổ phần đáng kể trong doanh nghiệp nhỏ lớn nằm trong mục tiêu
chung.
FDI có thể mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên. Đối với quốc gia đón nhận,
nó có thể giúp thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm, cung cấp nguồn vốn đầu tư,
chuyển giao công nghệ kiến thức. Đối với nhà đầu nước ngoài, FDI thể
mang lại lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh quốc gia đích mở rộng sự hiện
diện toàn cầu. Quyết định đầu trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện dựa
trên nhiều yếu tố, bao gồm tiềm năng lợi nhuận, rủi ro, môi trường kinh doanh
8
chính trị của quốc gia đích. FDI là một phần quan trọng của quan hệ kinh tế quốc tế
và thường được theo dõi và thúc đẩy bởi chính phủ và các tổ chức quốc tế.
Kể từ khi mở cửa đến ngay, quốc gia nhận đầuViệt Nam cũng trải qua
nhiều giai đoạn thăng trầm. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn nước thu hút đầu tư do
nền kinh tế, chính trị, xã hội ổn định cùng nguồn nhân công giá cả cạnh tranh. Hiện
hoạt động đầu tư nước ngoài trong nước có bức tranh toàn cảnh theo từng giai đoạn
như sau.
Trong giai đoạn 1990-2000, nhiều công ty đã chính thức trở thành doanh
nghiệp fdi là trụ cột kinh tế của đất nước từ đầu thập niên 2000. Theo đó, khối đầu
họ tạo ra 19% GDP, doanh nghiệp trong nước cũng cung cấp tỷ lệ việc làm
cho người lao động chính thức 35%, chiếm 3% số lượng doanh nghiệp. Đây
được xem giai đoạn mở rộng thu hút đầu trực tiếp từ nước ngoài, Việt Nam
bắt đầu gia nhập WTO tham gia FTA. Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt
Nam duy trì ở mức khá cao (9,54% năm 1995 và 9,34% năm 1996). Trong việc thu
hút đầu FDI tính từ giai đoạn 1991 2000, dòng vốn FDI đạt khoản 19,462 tỷ
USD, bình quân 1,95 tỷ USD/năm.
Trong giai đoạn 2000-2010, doanh nghiệp được đầu nhiều điều chỉnh
và gặp nhiều thách thức phát triển. Cụ thể, trong giai đoạn 2005, Luật Đầu tư chung
được ban hành và thay thế luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đầu tư trong nước. Điều
này cũng tạo làn sóng thu hút nhiều nhà đầu vốn nước ngoài đầu vào các
doanh nghiệp tại Việt Nam. Từ năm 2001 2010, điểm nhấn lớn nhất làn sóng
đầu thứ hai nguồn vốn đầu FDI thực hiện đạt 58,497 tỷ USD, gấp 3 lần
thập niên trước.
Trong giai đoạn hiện tại (2010-nay). Từ năm 2014, Luật đầu được ban
hành áp dụng chung hầu hết các nhà đầu trong ngoài nước. 1 điểm mới
được sửa đổi trong luật đầu năm 2014 được bổ sung, sửa đổi chia tách thủ tục
9
đầu và thủ tục thành lập doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam, giúp tăng tính
hấp dẫn cho việc thu hút FDI tại Việt Nam.Tính tới giai đoạn dịch covid 19 bùng
phát, vốn đầu nước ngoài xuớng chững lại, nhưng tới 10 tháng đầu năm
2023 lại có những chuyển biến tích cực, con số đầu tư vượt mức mong đợi.
2.1.1. Chủ trương, quan điểm của Đảng về thu hút FDI ở Việt Nam.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn nước Nga sau khi giành thắng lợi trong Cách
mạng Tháng Mười, V.I. Lê-nin không chỉ chỉ ra những vấn đề kinh tế chính trị của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, còn điểm lại những thành phần trong nền
kinh tế nước Nga. Trong các thành phần kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; sản xuất
hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã
hội, V.I. Lê-nin đặc biệt nhấn mạnh đến kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đây
vẫn là một bước tiến to lớn dù cho chúng ta phải trả một khoản lớn hơn hiện nay, vì
trả “học phí” một việc đáng giá, vì cái đó ích cho công nhân... Để trả lời cho
câu hỏi mời tư bản vào có nguy hiểm không, V.I. Lê-nin đã khẳng định:
Thứ nhất, thông qua chế độ nhượng, chính quyền nhà nước Xô-viết phát
triển lực lượng sản xuất, học tập khoa học - kỹ thuật hiện đại, cách thức quản
kinh tế hiệu quả của chủ nghĩa bản hay các chuyên gia sản. nhượng, theo
V.I. Lê-nin, một loại hợp đồng giữa nhà nước nhà bản, một loại hợp
đồng cho thuê đó nhà bản đi thuê tài sản của nhà nước (nhà bản đây
được xác định ở cả hai đối tượng là nhà tư bản trong nước và nước ngoài).
Thứ hai, chủ nghĩa bản nhà nước sự chuẩn bị những mảnh ghép cho
một quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất của hội hội chủ nghĩa. Trong
luận điểm trên, V.I. Lê-nin đã chỉ ra sự cần thiết phát triển chủ nghĩa tư bản nhà
nước với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá
độ. Còn về mặt quan hệ sản xuất, chủ nghĩa bản nhà nước cũng không nguy
10
hiểm đối với chính quyền nhà nước sản. Bởi chủ nghĩa tư bản nhà nước hay sự
liên kết giữa nhà nước vô sản và nhà tư bản là một biện pháp, công cụ để xây dựng
xã hội xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu, kỳ vọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Thứ nhất, phát triển lực lượng sản xuất. Kỳ vọng thu hút FDI để thúc đẩy
quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất thể hiện ở việc bảo đảm các nguồn thu từ
thuế của doanh nghiệp FDI; học tập, tiếp thu được các giá trị tri thức; giải quyết
vấn đề lao động, việc làm; phát triển hàng hóa. Cụ thể:
Về thuế, V.I.Lê-nin nhấn mạnh, nhượng như một loại hợp đồng kết,
đó, nhàbản thuê lại các tài sản của nhà nướctrả tiền cho việc thuê lại các tài
sản đó. Doanh nghiệp FDI tại một quốc gia sẽ đóng góp vào ngân sách quốc gia đó
các khoản thuê tư liệu sản xuất, như đất đai, tiền thuế theo quy định pháp luật thuế.
Với vị trí mắt xích ngày càng quan trọng hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, khu
vực và độ mở thương mại lớn, Việt Nam có lợi thế trong thu hút nguồn vốn FDI.
Về lao động, việc làm, cùng với thuế, thu hút FDI cũng mục tiêu để giúp
Việt Nam nói riêng các nước đang phát triển nói chung giải quyết vấn đề lao
động, việc làm. Nguồn vốn đầu trực tiếp được các nhà bản nước ngoài mang
đến nước khác thường phụ thuộc vào nước nhận tư bảnhai yếu tố: đất đai và lao
động. Doanh nghiệp FDI càng phát triển, quy mô lớn thì càng tạo ra nhiều việc làm
tại nước mà họ đầu tư.
Về các giá trị tri thức, không chỉ đóng góp cho ngân sách quốc gia tiền thuế,
thuê đất và các nghĩa vụ tài chính khác, mà doanh nghiệp FDI còn được kỳ vọng sẽ
mang đến khoa học - công nghệ hiện đại. Với nền đại công nghiệp đã phát triển và
dần bước sang thời kỳ hậu công nghiệp, chuyên gia sản nước ngoài thường trả
11
lời cho câu hỏi “sản xuất như thế nào” bằng khoa học - công nghệ hiện đại. Do đó,
với việc cho thuê liệu sản xuất, “quan sát” những chuyên gia sản nước ngoài
này tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản trên chính quốc gia
mình, những nước thu hút FDI như Việt Nam kỳ vọng không chỉ tiếp cận, còn
dần làm chủ khoa học - công nghệ, quay lại cải tiến năng suất lao động của chính
mình, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, tiến đến giảm thiểu phụ thuộc vào
sự hiện diện của doanh nghiệp FDI.
Về hàng hóa, thu hút FDI trong giai đoạn hiện nay được kỳ vọng sẽ góp phần
xây dựng một thị trường với nhiều hàng hóa đa dạng, phong phú hơn cao hơn
nữa nền sản xuất trong nước sẽ phát triển khi trở thành nơi cung cấp những sản
phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp mà doanh nghiệp FDI mang tới.
Thứ hai, xây dựng quan hệ sản xuất. V.I. Lê-nin nhiều lần đề cập đến những
đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chủ nghĩa tư bản
là mảnh ghép không thể tránh khỏi, là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao
đổi. Do đó, những quan hệ sản xuất chủ nghĩa bản mặc không giữ địa vị
thống trị, nhưng cũng không thể ngay lập tức mất đi, trái lại, nó còn là kiểu quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất ở mức thấp, trung bình.
2.1.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam.
Trong gần 4 thập kỷ (1986-2022), Việt Nam được xem hình mẫu thành
công trong thu hút FDI nhờ môi trường đầu hấp dẫn, nền tảng chính trị ổn định
tiềm năng tăng trưởng kinh tế khá cao. Từ năm 2017 đến nay, các nhà đầu tư
nước ngoài tiếp tục rót vốn mạnh vào Việt Nam, vẫn xem Việt Nam điểm đến
hấp dẫn với những lợi thế về địa lý, thể chế môi trường đầu ngày càng được
hoàn thiện.
12
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về thu hút nguồn vốn FDI
trong khoảng 10 năm trở lại đây. Theo Cục Đầu nước ngoài (Bộ Kế hoạch
Đầu tư), giai đoạn 2013-2022 đã 23.706 dự án FDI được cấp phép đăng đầu
tại Việt Nam với tổng số vốn đăng 288,66 t USD. Trong đó, số vốn thực
hiện là 173,4 tỷ USD, chiếm 60,07% số vốn đăng ký (Bảng 1).
Năm 2022, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỷ USD, mức
vốn FDI thực hiện đạt kỷ lục 22,4 tỉ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2021.
Đây số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm (2017-2022). Tính lũy kế trong
giai đoạn 1986-2022, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỷ USD vốn FDI; trong
đó, 274 tỷ USD đã được giải ngân, chiếm 62,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu
lực.
Năm 2022, nhiều dự án được tăng vốn đầu tư từ đầu năm như dự án sản xuất,
chế tạo các sản phẩm điện tử, công nghệ cao được tăng vốn với quy mô lớn; Dự án
13
Samsung Electro-mechanics Việt Nam (Thái Nguyên) tăng vốn 2 lần: tăng 920
triệu USD (lần 1) và tăng 267 triệu USD (lần 2).
2.1.3. Hạn chế trong việc thu hút FDI vào Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả quan trọng nêu trên, xét về xu hướng
trong những năm gần đây, hoạt động thu hút FDI đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế,
như: gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trốn thuế, chuyển giá, trả công lao
động thấp, cấu đầu bất lợp giữa các ngành nghề vùng miền. Cùng với
đó, chế, chính sách, công cụ quản FDI vẫn còn nhiều bất cập, chậm được
khắc phục. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư này dấu hiệu chững lại do ảnh hưởng của
dịch bệnh Covid-19 tác động của cuộc canh tranh thu hút FDI với các nước
trong khu vực.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về
định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác
đầu tư nước ngoài đến năm 2030, ngày 02/6/2022, Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt Chiến lược hợp tác đầu nước ngoài giai đoạn 2021-2030. Trong đó, nêu
rõ: Tập trung thu hút đầu tư nước ngoài có trọng tâm, trọng điểm; thu hút các dự án
sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao của Cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa
tích cực, kết nối chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu; thu hút đầu xanh, công
nghệ cao, công nghệ phụ trợ, phương pháp quản lý, quản trtiên tiến; đề cao trách
nhiệm với hội bảo vệ môi trường nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác đầu
nước ngoài…
2.2. Xuất khẩu tư bản gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp thông thường sẽ được các doanh nghiệp quy nhỏ
vừa hoặc chưa nhiều kinh nghiệm xuất khẩu hàng ra quốc tế. Các doanh
14
nghiệp không đủ nguồn lực để xây dựng đội ngũ xuất khẩu chuyên biệt thì cần
đơn vị trung gian để giúp đỡ việc xuất khẩu hàng hóa.
2.2.1. Chủ trương của nhà nước về việc vay, nợ nước ngoài.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 219/2013/NĐ-CP thì vay nước ngoàiviệc
bên đi vay nhận khoản tín dụng từ người không trú thông qua việc kết
thực hiện các thỏa thuận vay nước ngoài dưới hình thức hợp đồng vay, hợp đồng
mua bán hàng trả chậm, hợp đồng ủy thác cho vay, hợp đồng cho thuê tài chính
hoặc phát hành công cụ nợ của bên đi vay.
2.2.2. Thực trạng nợ nước ngoài đa phương của Việt Nam
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy về tình hình vay và trả nợ của Chính phủ,
tính đến hết năm 2023, dư nợ của Chính phủ mức 3,4 triệu tỷ đồng, tương ứng
tăng khoảng 180 nghìn tỷ so với thời điểm cuối năm 2022 tăng 531 nghìn tỷ
đồng so với cuối năm 2019.
Trong đó, nợ nước ngoài tính đến hết năm 2023 đạt khoảng 960 nghìn tỷ
đồng, giảm 14 nghìn tỷ so với cuối năm 2022. Tính trong cả giai đoạn, nợ vay nước
ngoài có dấu hiệu giảm dần, đến cuối năm 2023 giảm tới 176 nghìn tỷ đồng so với
mức đỉnh 1,136 triệu tỷ đồng (năm 2020).
Ở chiều ngược lại, nợ vay trong nước tiếp tục chiếm thế áp đảo, tăng lên hơn
2,47 triệu tỷ đồng (tăng 194 nghìn tỷ đồng) so với cuối năm 2022, chiếm 72%
nợ Chính phủ. Nợ trong nước chủ yếuTrái phiếu chính phủ có kỳ hạn phát hành
dài, góp phần quản lý nợ công an toàn, bền vững.
15
Như vậy, trong giai đoạn 2019 - 2023, các khoản vay trong nước của Chính
phủ có xu hướng tăng đều đặn hàng năm, tương ứng tăng 674 nghìn tỷ đồng cả giai
đoạn và ngày càng đóng vai trò chủ đạo, với tỷ trọng tăng từ 61% lên 72%.
Trái với xu hướng tăng các khoản vay trong nước, dư nợ vay nước ngoài của
Chính phủ đang xu hướng giảm dần trong cấu nợ vay của Chính phủ, từ tỷ
trọng 38% xuống còn 28%, tương ứng giảm 176 nghìn tỷ đồng trong cả giai đoạn
2019-2023, giúp giảm rủi ro về tỷ giá, đảm bảo an toàn nợ công an ninh tài
chính quốc gia.
Phân theo từng bên cho vay, chủ nợ song phương lớn nhất của Việt Nam vẫn
là Nhật Bản với trên 247 nghìn tỷ đồng nhưng vốn vay từ quốc gia này giảm mạnh
nhất 5 năm vừa qua, tương ứng giảm 88 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, Hàn Quốc,
Pháp và Đức lần lượt cho vay hơn 29,5 nghìn tỷ, 27 nghìn tỷ và 13,5 nghìn tỷ đồng.
Tính theo đối tác đa phương, Ngân hàng Thế giới (WB) đứng đầu danh sách
chủ nợ với gần 347 nghìn tỷ, tiếp đến Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) với
gần 183 nghìn tỷ...
16
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ NHÂN
VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Giải pháp từ phía Chính phủ về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam.
Một là, thực hiện thành công chủ trương đúng đắn, nhất quán về hội nhập
quốc tế.
Toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế xu hướng mang tính thời đại.
Nhận thức đầy đủ, đúng đắn xu hướng đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế từ năm 1986. Nhận thức và thực hiện con đường
hội nhập quốc tế đã có bước phát triển cả về lượng và chất, từ thấp đến cao
Hai là, mô hình kinh tế thị trường ngày càng được hoàn thiện.
Chuyển sang kinh tế thị trường một chủ trương đúng đắn sáng tạo của
Đảng, Nhà nước ta. Nhận thức về hình kinh tế thị trường Việt Nam ngày càng
đúng đắn, khoa học. Các quy luật khách quan của kinh tế thị trường được coi trọng
và quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước phù hợp hơn. Kinh tế thị trường ngày càng
được hoàn thiện về lý luận và triển khai thực hiện thành công ở Việt Nam.
Ba là, khủng hoảng, suy thoái kinh tế và đại dịch COVID-19.
Trong hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam phải đối mặt với nhiều cuộc khủng
hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu. Khủng hoảng tài chính, khởi đầu tại Thái Lan
vào tháng 7-1997 đã lan rất nhanh sang các nước khác trong khu vực. Những rối
loạn ban đầu về tiền tệ và tài chính đã nhanh chóng chuyển thành suy thoái kinh tế
châu Á.
3.2. Giải pháp doanh nghiệp về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam.
Một là, khai thác, mở rộng thị trường xuất khẩu.
17
Duy trì và phát triển các thị trường trọng điểm, thị trường truyền thống, khai
thác hiệu quả các thị trường đã kết FTA với Việt Nam (CPTPP, EVFTA,
UKVFTA,…).
Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh, xuất khẩu các ngành hàng: Triển khai
nhiều biện pháp hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp
ứng yêu cầu xuất khẩu.
Ba là, cung cấp thông tin thị trường, nâng cao hiệu quả xúc tiến xuất khẩu:
Tăng cường cập nhật, cung cấp thông tin về hội xuất khẩu biến động
chính sách tại các thị trường xuất khẩu cho các địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp,
đặc biệt thị trường các nước tham gia các Hiệp định thương mại tự do với Việt
Nam để doanh nghiệp kịp thời khai thác.
Bốn là, tchức phổ biến, hướng dẫn về nội dung các cam kết cách thức
tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến các doanh nghiệp,
Hiệp hội ngành hàng các quan quản chuyên ngành tại địa phương bằng
nhiều hình thức trực tiếp, trực tuyến, tiện tra cứu, khai thác.
Năm là, hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ lợi ích hợp pháp tại nước ngoài: Chủ
động nắm bắt thông tin, phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả với các vụ
việc phòng vệ thương mại tại nước ngoài, bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp Việt Nam.
Sáu là, đơn giản hóa thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ, đẩy mạnh chuyển đổi
số cấp chứng nhận xuất xứ điện tử. Từ ngày 01/01/2024, Việt Nam đã thực hiện
việc cấp C/O điện t cho doanh nghiệp bao gồm các mẫu C/O: AANZ, AJ, E,
AHK, RCEP, CPTPP, VJ, VC, VN-CU S. Đối với C/O mẫu D (sang các nước
ASEAN) C/O mẫu AK, VK (sang Hàn Quốc), Việt Nam đã thực hiện việc
truyền dữ liệu C/O điện tử.
18

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Kinh tế chính trị Mác – Lênin
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ NHÂN VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Mai Phương
Sinh viên thực hiện : Vũ Hải Bình Lớp : F16H
Mã sinh viên : F17-314
Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2024 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 1
NỘI DUNG......................................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN......................................................2
1.1. Khái niệm xuất khẩu tư bản.................................................................................2
1.2. Hình thức xuất khẩu tư bản..................................................................................3
1.3. Chủ thể xuất khẩu tư bản......................................................................................5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ NHÂN VÀO
VIỆT NAM HIỆN NAY.....................................................................................................7
2.1. Xuất khẩu tư bản trực tiếp....................................................................................7
2.1.1. Chủ trương, quan điểm của Đảng về thu hút FDI ở Việt Nam........................10
2.1.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam.............................................................12
2.1.3. Hạn chế trong việc thu hút FDI vào Việt Nam................................................13
2.2. Xuất khẩu tư bản gián tiếp..................................................................................14
2.2.1. Chủ trương của nhà nước về việc vay, nợ nước ngoài....................................14
2.2.2. Thực trạng nợ nước ngoài đa phương của Việt Nam......................................15
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ NHÂN VÀO VIỆT
NAM HIỆN NAY............................................................................................................. 17
3.1. Giải pháp từ phía Chính phủ về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam.....17
3.2. Giải pháp doanh nghiệp về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam..............17
3.3. Giải pháp từ phía người lao động.......................................................................19
3.4. Liên hệ sinh viên Học viện Ngân hàng................................................................23
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................26 MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các dòng vốn đầu tư quốc
tế, đặc biệt là xuất khẩu tư bản tư nhân, đang đóng vai trò ngày càng quan trọng
trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế của các quốc gia. Đối
với Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển với nhu cầu vốn lớn để phục vụ quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thu hút dòng vốn tư bản tư nhân từ nước
ngoài không chỉ là một lựa chọn chiến lược mà còn là điều kiện thiết yếu để thúc
đẩy sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, công nghệ, và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tầm quan trọng của xuất khẩu tư bản tư nhân đối với Việt Nam thể hiện ở
nhiều khía cạnh. Trước hết, dòng vốn tư nhân này góp phần quan trọng trong việc
giải quyết vấn đề thiếu hụt vốn đầu tư nội địa, một trong những trở ngại lớn nhất
đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Thứ hai, tư bản tư nhân thường đi
kèm với các yếu tố giá trị gia tăng như chuyển giao công nghệ hiện đại, cải thiện kỹ
năng lao động, và thúc đẩy sáng tạo trong quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
dòng vốn này còn giúp Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế với các quốc gia, nâng
cao vị thế trên trường quốc tế và tạo động lực cho các doanh nghiệp nội địa tham
gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, thực trạng xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam vẫn còn tồn tại
nhiều thách thức. Mặc dù đã thu hút được sự quan tâm lớn từ các tập đoàn đa quốc
gia như Samsung, Intel, LG, hay các quỹ đầu tư lớn như Warburg Pincus, dòng vốn
tư nhân vào Việt Nam vẫn chưa được khai thác hết tiềm năng. Một số nguyên nhân
chính bao gồm cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, môi trường pháp lý còn nhiều bất cập,
và những hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, việc bảo đảm ổn
định kinh tế vĩ mô, duy trì tính minh bạch, và cải thiện khả năng dự báo rủi ro kinh
tế là những yêu cầu cấp thiết để gia tăng sự hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà
đầu tư tư nhân quốc tế. 1
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư ngày càng khốc liệt, việc
nghiên cứu các giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam
không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt lý thuyết mà còn mang lại giá trị thực tiễn
cao. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện năng lực thu hút vốn mà còn hỗ
trợ Việt Nam tận dụng tối đa các cơ hội phát triển, đồng thời giảm thiểu các tác
động tiêu cực có thể phát sinh từ sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài Thực trạng và giải pháp thúc
đẩy xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu của mình. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN
1.1. Khái niệm xuất khẩu tư bản

Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài hay còn gọi là đầu tư tư
bản ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá tri thặng dư và các nguồi lợi
nhuân khác ở các nước nhập khẩu tư bản. Nó được coi là chỉ việc di chuyển giá trị
từ một quốc gia sang quốc gia khác thông qua các hoạt động đầu tư tư bản ở nước
ngoài. Đây là hình thức đầu tư quốc tế của các chủ thể tư nhân hoặc nhà nước với
mục tiêu chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở nước nhập
khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản không chỉ đơn thuần là việc chuyển giao hàng hóa
và dịch vụ mà còn bao gồm cả việc đưa tài sản, vốn đầu tư, công nghệ và các
nguồn lực kinh tế khác ra ngoài biên giới quốc gia nhằm khai thác lợi ích kinh tế từ
sự phát triển ở nước ngoài.
Một trong những đặc trưng chính của xuất khẩu tư bản là khả năng tạo ra lợi
nhuận vượt trội cho các nhà đầu tư từ nước xuất khẩu tư bản. Họ có thể đạt được
điều này thông qua các hình thức sở hữu hoặc kiểm soát các doanh nghiệp, dự án
và công trình ở nước ngoài. Quá trình này thường bao gồm các hoạt động như đầu 2
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó doanh nghiệp hoặc cá nhân nước ngoài
thành lập các chi nhánh hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh tại nước tiếp nhận, hoặc
các khoản đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư. Mục đích chính
của các nhà đầu tư trong xuất khẩu tư bản là tối đa hóa lợi nhuận, khai thác giá trị
thặng dư và tiếp cận thị trường, tài nguyên thiên nhiên, nhân công rẻ hoặc các ưu
đãi từ chính phủ nước nhập khẩu tư bản.
Xuất khẩu tư bản góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu thông qua
việc huy động và sử dụng vốn hiệu quả giữa các quốc gia. Đồng thời, nó cũng tạo
ra sự cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ quản lý, kỹ năng lao
động cho quốc gia tiếp nhận. Tuy nhiên, xuất khẩu tư bản cũng có thể gây ra các
tác động tiêu cực như tạo ra sự phụ thuộc kinh tế, làm mất đi một phần quyền kiểm
soát kinh tế của quốc gia nhập khẩu, hoặc gia tăng chênh lệch giàu nghèo và áp lực
đối với tài nguyên thiên nhiên. Do đó, để khai thác hiệu quả những lợi ích mà xuất
khẩu tư bản mang lại, các nước nhập khẩu cần xây dựng các chính sách phù hợp
nhằm thu hút đầu tư nước ngoài nhưng đồng thời bảo vệ lợi ích kinh tế nội địa.
1.2. Hình thức xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản là một khái niệm quan trọng trong lý thuyết kinh tế chính
trị, phản ánh quá trình di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm đạt
được lợi nhuận cao hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của
các thị trường tài chính quốc tế, xuất khẩu tư bản được chia thành hai hình thức
chính: xuất khẩu tư bản hoạt động hay còn gọi là đầu tư trực tiếp và xuất khẩu tư
bản cho vay được gọi là đầu tư gián tiếp.
Xuất khẩu tư bản hoạt động, còn được gọi là đầu tư trực tiếp (FDI) là hình
thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài tham gia trực tiếp vào việc thành lập hoặc
quản lý một doanh nghiệp tại quốc gia khác. Điều này có nghĩa là tư bản không chỉ
đơn thuần chuyển sang quốc gia tiếp nhận mà còn kèm theo các yếu tố sản xuất
khác như công nghệ, kỹ năng quản lý và nhân lực, mang đến sự thay đổi đáng kể 3
trong nền kinh tế của nước tiếp nhận. Các hoạt động FDI thường bao gồm việc xây
dựng nhà máy sản xuất, thiết lập công ty con hoặc chi nhánh của công ty mẹ tại
quốc gia sở tại, hay thậm chí mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp hiện có
trong thị trường mục tiêu. FDI có thể có tác động lâu dài và sâu rộng vì không chỉ
cung cấp vốn mà còn thúc đẩy công nghệ mới, kỹ năng quản lý, và các phương
pháp làm việc tiên tiến cho nền kinh tế tiếp nhận. Nhờ đó, quốc gia tiếp nhận có thể
cải thiện năng suất lao động, tăng cường năng lực cạnh tranh, và giảm bớt sự phụ
thuộc vào công nghệ từ bên ngoài. Hình thức đầu tư này thường tập trung vào các
ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ có giá trị cao, tạo ra công ăn việc làm và
phát triển thị trường nội địa thông qua liên kết chặt chẽ giữa các nhà cung cấp và
doanh nghiệp nội địa. FDI còn giúp tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành
mạnh, góp phần vào việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, hỗ trợ sản xuất.
Khi một công ty đa quốc gia đầu tư vào quốc gia khác, họ thường đưa ra các tiêu
chuẩn sản phẩm và quy trình sản xuất cao hơn, điều này có thể dẫn đến cải thiện
chất lượng sản phẩm và dịch vụ nội địa. Hơn nữa, sự hiện diện của các doanh
nghiệp nước ngoài có thể khuyến khích các doanh nghiệp trong nước nỗ lực nâng
cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, FDI cũng có thể gặp những thách thức nhất
định, bao gồm sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài và nguy cơ mất kiểm soát
đối với các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Một ví dụ điển hình của xuất khẩu
tư bản hoạt động là các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, LG hay Toyota đầu tư
vào các nhà máy sản xuất tại Việt Nam. Samsung, chẳng hạn, đã xây dựng các nhà
máy sản xuất điện thoại tại Bắc Ninh và Thái Nguyên, tạo ra hàng nghìn việc làm
và thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc
xuất khẩu tư bản hoạt động mang lại nhiều lợi ích lâu dài cho cả quốc gia xuất khẩu
và quốc gia nhận đầu tư.
Xuất khẩu tư bản cho vay, hay đầu tư gián tiếp, là hình thức đầu tư mà nhà
đầu tư nước ngoài không tham gia vào quá trình quản lý hay sản xuất trực tiếp tại 4
quốc gia tiếp nhận. Thay vào đó, vốn được chuyển giao thông qua các công cụ tài
chính như cổ phiếu, trái phiếu, và các khoản vay. Nhà đầu tư sẽ nhận lợi tức hoặc
cổ tức từ các khoản đầu tư này mà không tham gia vào hoạt động hàng ngày của
doanh nghiệp hay nền kinh tế nước sở tại. Hình thức này có lợi cho các quốc gia
muốn huy động vốn mà không muốn sự can thiệp sâu từ nhà đầu tư nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp cung cấp một lượng lớn vốn lưu động, tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, cải thiện cơ sở hạ tầng, hoặc đáp ứng
các nhu cầu tài chính ngắn hạn. Đây cũng là hình thức đầu tư giúp tăng tính thanh
khoản của thị trường tài chính, làm giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp và tạo
điều kiện cho sự phát triển của thị trường chứng khoán địa phương. Hình thức này
chủ yếu do các nhà đầu tư tài chính, các ngân hàng hay các quỹ đầu tư quốc tế lựa
chọn. Tuy nhiên, do tính chất linh hoạt và dễ chuyển đổi, dòng vốn gián tiếp có thể
gây ra bất ổn cho nền kinh tế nếu bị rút lui đột ngột, đặc biệt trong các tình huống
khủng hoảng tài chính hoặc biến động kinh tế toàn cầu. Một ví dụ tiêu biểu là sự
tham gia của các quỹ đầu tư lớn như BlackRock, Vanguard trong các thị trường
chứng khoán tại Việt Nam. Các quỹ này thường đầu tư vào các công ty lớn trong
nước thông qua việc mua cổ phần, hoặc cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi nhuận.
1.3. Chủ thể xuất khẩu tư bản
Chủ thể của xuất khẩu tư bản đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành
và phát triển các hình thức di chuyển vốn quốc tế. Chủ thể này được chia thành hai
loại chính là xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân, mỗi loại có
những đặc điểm riêng biệt và mục tiêu khác nhau.
Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước tư bản
độc quyền sử dụng nguồn vốn từ ngân quỹ quốc gia để đầu tư vào các nước nhập
khẩu tư bản. Điều này có thể được thực hiện thông qua các khoản đầu tư trực tiếp,
hoặc thông qua các chương trình viện trợ kinh tế, chính trị và quân sự. Các khoản 5
viện trợ này có thể hoàn lại hoặc không hoàn lại, nhưng mục tiêu thường vượt xa
lợi nhuận kinh tế đơn thuần. Ví dụ, Chính phủ Nhật Bản đã đầu tư vào nhiều dự án
cơ sở hạ tầng lớn ở Việt Nam thông qua nguồn vốn ODA (viện trợ phát triển chính
thức). Các dự án như tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội hay TP.HCM đều sử dụng
vốn ODA từ Nhật Bản, không chỉ nhằm hỗ trợ phát triển hạ tầng mà còn tạo điều
kiện để các công ty Nhật Bản tiếp cận thị trường Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ cũng
thực hiện xuất khẩu tư bản nhà nước thông qua các khoản viện trợ quân sự và kinh
tế cho các quốc gia đồng minh nhằm củng cố vị thế chính trị trên trường quốc tế.
Xuất khẩu tư bản tư nhân, mặt khác, là hình thức xuất khẩu tư bản do các cá
nhân hoặc doanh nghiệp tư nhân có nguồn lực tài chính và mong muốn mở rộng
hoạt động kinh tế ra ngoài biên giới quốc gia của họ. Đây là một trong những lực
lượng kinh tế chính thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa thông qua việc khai thác cơ hội
thị trường và lợi nhuận độc quyền ở các quốc gia nhận vốn, bao gồm Việt Nam.
Các chủ thể tư nhân thường tập trung vào những ngành kinh tế có tiềm năng sinh
lợi cao và vòng quay vốn nhanh, nhắm đến việc tối ưu hóa nguồn lực và lợi ích
kinh tế. Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) là một trong những chủ thể chính
trong lĩnh vực này. Các công ty như Apple, Coca-Cola hay Unilever không chỉ đầu
tư trực tiếp vào việc xây dựng nhà máy, mà còn mở rộng các chi nhánh kinh doanh
trên toàn cầu để khai thác tối đa lợi ích thị trường địa phương. Tại Việt Nam, các
tập đoàn như Samsung, LG, và Intel đã đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam, đặc biệt
trong các ngành công nghệ cao và sản xuất. Những công ty này không chỉ mang
vốn đến Việt Nam mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công
nghệ, kỹ năng quản lý, và tạo việc làm. Chẳng hạn, Samsung đã trở thành một
trong những nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, với tổng vốn đầu tư vượt mức 20 tỷ
USD cho đến năm 2023. Điều này không chỉ giúp Việt Nam trở thành trung tâm
sản xuất điện thoại lớn trên thế giới mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành
công nghiệp phụ trợ. Bên cạnh các tập đoàn lớn, các quỹ đầu tư tư nhân và tổ chức 6
tài chính quốc tế cũng là những chủ thể quan trọng trong xuất khẩu tư bản tư nhân
vào Việt Nam. Các quỹ như Warburg Pincus và KKR thường đầu tư thông qua việc
mua cổ phần hoặc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp trong nước. Ví dụ, Warburg
Pincus đã đầu tư vào Tập đoàn Masan và Techcombank, không chỉ hỗ trợ các
doanh nghiệp này mở rộng quy mô mà còn tăng cường tính cạnh tranh trên thị
trường quốc tế. Những khoản đầu tư này không chỉ mang lại lợi nhuận cho các quỹ
mà còn giúp nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Ngoài các tập đoàn và quỹ đầu tư quốc tế, các doanh nghiệp tư nhân trong
nước cũng là một chủ thể đang nổi trong lĩnh vực xuất khẩu tư bản tư nhân. Các
công ty như VinFast, thuộc Tập đoàn Vingroup, đã bắt đầu thực hiện các dự án đầu
tư ở nước ngoài. Ví dụ, VinFast đã đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ô tô tại Mỹ
với hy vọng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Đây là minh chứng cho sự vươn
lên mạnh mẽ của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò
ngày càng lớn của họ trong dòng chảy xuất khẩu tư bản tư nhân.
Mặc dù hai chủ thể này có vai trò khác nhau, nhưng chúng đều góp phần
quan trọng vào sự phát triển kinh tế toàn cầu. Xuất khẩu tư bản nhà nước thường
hướng đến mục tiêu dài hạn và có tính chất chiến lược, trong khi xuất khẩu tư bản
tư nhân lại mang tính linh hoạt hơn và nhắm đến lợi ích kinh tế trực tiếp. Tuy
nhiên, mỗi loại cũng gặp phải những thách thức riêng, chẳng hạn như áp lực chính
trị đối với các khoản đầu tư nhà nước, hoặc nguy cơ mất cân đối thị trường do sự
tập trung quyền lực kinh tế của các công ty tư nhân.
Việc phân tích và hiểu rõ các chủ thể của xuất khẩu tư bản không chỉ giúp
nhận diện các xu hướng đầu tư quốc tế, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng các chính sách phù hợp để tận dụng tối đa nguồn lực vốn và đảm bảo sự
phát triển bền vững cho quốc gia nhận đầu tư. 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ
NHÂN VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Xuất khẩu tư bản trực tiếp
Xuất khẩu tư bản trực tiếp là
hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những
xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư,
biến nó thành một chi nhánh của công ty mẹ. Các xí nghiệp mới được hình thành
thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương, nhưng cũng có những xí nghiệp
mà toàn bộ số vốn là của một công ty nước ngoài. Chủ thể xuất khẩu tư bản có sự
thay đổi lớn, trong đó vai trò các công ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản
ngày càng to lớn, đặc biệt là trong FDI. Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất
khẩu tư bản từ các nước đang phát triển mà nổi bật là các Nics châu Á. Đây cũng
chính là hình thức xuất khẩu FDI vào Việt Nam.
FDI là viết tắt của Foreign Direct Investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Vốn đầu tư này đề cập đến khoản đầu tư được thực hiện bởi một công ty hoặc cá
nhân ở nước ngoài, thường liên quan đến việc mua lại hoặc thiết lập hiện diện kinh
doanh ở quốc gia đó. Do đó, doanh nghiệp FDI là công ty nhận được vốn đầu tư
trực tiếp từ tổ chức nước ngoài và đã thành lập hoạt động kinh doanh ở nước
ngoài. Khái niệm FDI nó thường đặc trưng bởi việc nhà đầu tư nước ngoài chiếm
một tỷ lệ cổ phần đáng kể trong doanh nghiệp nhỏ và lớn nằm trong mục tiêu chung.
FDI có thể mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên. Đối với quốc gia đón nhận,
nó có thể giúp thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm, cung cấp nguồn vốn đầu tư,
chuyển giao công nghệ và kiến thức. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, FDI có thể
mang lại lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ở quốc gia đích và mở rộng sự hiện
diện toàn cầu. Quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện dựa
trên nhiều yếu tố, bao gồm tiềm năng lợi nhuận, rủi ro, môi trường kinh doanh và 8
chính trị của quốc gia đích. FDI là một phần quan trọng của quan hệ kinh tế quốc tế
và thường được theo dõi và thúc đẩy bởi chính phủ và các tổ chức quốc tế.
Kể từ khi mở cửa đến ngay, quốc gia nhận đầu tư là Việt Nam cũng trải qua
nhiều giai đoạn thăng trầm. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là nước thu hút đầu tư do có
nền kinh tế, chính trị, xã hội ổn định cùng nguồn nhân công giá cả cạnh tranh. Hiện
hoạt động đầu tư nước ngoài trong nước có bức tranh toàn cảnh theo từng giai đoạn như sau.
Trong giai đoạn 1990-2000, nhiều công ty đã chính thức trở thành doanh
nghiệp fdi là trụ cột kinh tế của đất nước từ đầu thập niên 2000. Theo đó, khối đầu
tư mà họ tạo ra 19% GDP, doanh nghiệp trong nước cũng cung cấp tỷ lệ việc làm
cho người lao động chính thức là 35%, chiếm 3% số lượng doanh nghiệp. Đây
được xem là giai đoạn mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, Việt Nam
bắt đầu gia nhập WTO và tham gia FTA. Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt
Nam duy trì ở mức khá cao (9,54% năm 1995 và 9,34% năm 1996). Trong việc thu
hút đầu tư FDI tính từ giai đoạn 1991 – 2000, dòng vốn FDI đạt khoản 19,462 tỷ
USD, bình quân 1,95 tỷ USD/năm.
Trong giai đoạn 2000-2010, doanh nghiệp được đầu tư có nhiều điều chỉnh
và gặp nhiều thách thức phát triển. Cụ thể, trong giai đoạn 2005, Luật Đầu tư chung
được ban hành và thay thế luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đầu tư trong nước. Điều
này cũng tạo làn sóng thu hút nhiều nhà đầu tư có vốn nước ngoài đầu tư vào các
doanh nghiệp tại Việt Nam. Từ năm 2001 – 2010, điểm nhấn lớn nhất là làn sóng
đầu tư thứ hai có nguồn vốn đầu tư FDI thực hiện đạt 58,497 tỷ USD, gấp 3 lần thập niên trước.
Trong giai đoạn hiện tại (2010-nay). Từ năm 2014, Luật đầu tư được ban
hành áp dụng chung hầu hết các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Có 1 điểm mới
được sửa đổi trong luật đầu tư năm 2014 được bổ sung, sửa đổi chia tách thủ tục 9
đầu tư và thủ tục thành lập doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam, giúp tăng tính
hấp dẫn cho việc thu hút FDI tại Việt Nam.Tính tới giai đoạn dịch covid 19 bùng
phát, vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng chững lại, nhưng tới 10 tháng đầu năm
2023 lại có những chuyển biến tích cực, con số đầu tư vượt mức mong đợi.
2.1.1. Chủ trương, quan điểm của Đảng về thu hút FDI ở Việt Nam.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn nước Nga sau khi giành thắng lợi trong Cách
mạng Tháng Mười, V.I. Lê-nin không chỉ chỉ ra những vấn đề kinh tế chính trị của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà còn điểm lại những thành phần trong nền
kinh tế nước Nga. Trong các thành phần kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; sản xuất
hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã
hội, V.I. Lê-nin đặc biệt nhấn mạnh đến kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đây
vẫn là một bước tiến to lớn dù cho chúng ta phải trả một khoản lớn hơn hiện nay, vì
trả “học phí” là một việc đáng giá, vì cái đó có ích cho công nhân... Để trả lời cho
câu hỏi mời tư bản vào có nguy hiểm không, V.I. Lê-nin đã khẳng định:
Thứ nhất, thông qua chế độ tô nhượng, chính quyền nhà nước Xô-viết phát
triển lực lượng sản xuất, học tập khoa học - kỹ thuật hiện đại, cách thức quản lý
kinh tế hiệu quả của chủ nghĩa tư bản hay các chuyên gia tư sản. Tô nhượng, theo
V.I. Lê-nin, là một loại hợp đồng giữa nhà nước và nhà tư bản, là một loại hợp
đồng cho thuê mà ở đó nhà tư bản đi thuê tài sản của nhà nước (nhà tư bản ở đây
được xác định ở cả hai đối tượng là nhà tư bản trong nước và nước ngoài).
Thứ hai, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự chuẩn bị những mảnh ghép cho
một quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong
luận điểm ở trên, V.I. Lê-nin đã chỉ ra sự cần thiết phát triển chủ nghĩa tư bản nhà
nước với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá
độ. Còn về mặt quan hệ sản xuất, chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng không nguy 10
hiểm đối với chính quyền nhà nước vô sản. Bởi chủ nghĩa tư bản nhà nước hay sự
liên kết giữa nhà nước vô sản và nhà tư bản là một biện pháp, công cụ để xây dựng
xã hội xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu, kỳ vọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Thứ nhất, phát triển lực lượng sản xuất. Kỳ vọng thu hút FDI để thúc đẩy
quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất thể hiện ở việc bảo đảm các nguồn thu từ
thuế của doanh nghiệp FDI; học tập, tiếp thu được các giá trị tri thức; giải quyết
vấn đề lao động, việc làm; phát triển hàng hóa. Cụ thể:
Về thuế, V.I.Lê-nin nhấn mạnh, tô nhượng như một loại hợp đồng ký kết, ở
đó, nhà tư bản thuê lại các tài sản của nhà nước và trả tiền cho việc thuê lại các tài
sản đó. Doanh nghiệp FDI tại một quốc gia sẽ đóng góp vào ngân sách quốc gia đó
các khoản thuê tư liệu sản xuất, như đất đai, tiền thuế theo quy định pháp luật thuế.
Với vị trí là mắt xích ngày càng quan trọng hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, khu
vực và độ mở thương mại lớn, Việt Nam có lợi thế trong thu hút nguồn vốn FDI.
Về lao động, việc làm, cùng với thuế, thu hút FDI cũng là mục tiêu để giúp
Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung giải quyết vấn đề lao
động, việc làm. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp được các nhà tư bản nước ngoài mang
đến nước khác thường phụ thuộc vào nước nhận tư bản ở hai yếu tố: đất đai và lao
động. Doanh nghiệp FDI càng phát triển, quy mô lớn thì càng tạo ra nhiều việc làm
tại nước mà họ đầu tư.
Về các giá trị tri thức, không chỉ đóng góp cho ngân sách quốc gia tiền thuế,
thuê đất và các nghĩa vụ tài chính khác, mà doanh nghiệp FDI còn được kỳ vọng sẽ
mang đến khoa học - công nghệ hiện đại. Với nền đại công nghiệp đã phát triển và
dần bước sang thời kỳ hậu công nghiệp, chuyên gia tư sản nước ngoài thường trả 11
lời cho câu hỏi “sản xuất như thế nào” bằng khoa học - công nghệ hiện đại. Do đó,
với việc cho thuê tư liệu sản xuất, “quan sát” những chuyên gia tư sản nước ngoài
này tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý trên chính quốc gia
mình, những nước thu hút FDI như Việt Nam kỳ vọng không chỉ tiếp cận, mà còn
dần làm chủ khoa học - công nghệ, quay lại cải tiến năng suất lao động của chính
mình, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, tiến đến giảm thiểu phụ thuộc vào
sự hiện diện của doanh nghiệp FDI.
Về hàng hóa, thu hút FDI trong giai đoạn hiện nay được kỳ vọng sẽ góp phần
xây dựng một thị trường với nhiều hàng hóa đa dạng, phong phú hơn và cao hơn
nữa là nền sản xuất trong nước sẽ phát triển khi trở thành nơi cung cấp những sản
phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp mà doanh nghiệp FDI mang tới.
Thứ hai, xây dựng quan hệ sản xuất. V.I. Lê-nin nhiều lần đề cập đến những
đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chủ nghĩa tư bản
là mảnh ghép không thể tránh khỏi, là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao
đổi. Do đó, những quan hệ sản xuất chủ nghĩa tư bản mặc dù không giữ địa vị
thống trị, nhưng cũng không thể ngay lập tức mất đi, trái lại, nó còn là kiểu quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất ở mức thấp, trung bình.
2.1.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam.
Trong gần 4 thập kỷ (1986-2022), Việt Nam được xem là hình mẫu thành
công trong thu hút FDI nhờ môi trường đầu tư hấp dẫn, nền tảng chính trị ổn định
và tiềm năng tăng trưởng kinh tế khá cao. Từ năm 2017 đến nay, các nhà đầu tư
nước ngoài tiếp tục rót vốn mạnh vào Việt Nam, vẫn xem Việt Nam là điểm đến
hấp dẫn với những lợi thế về địa lý, thể chế và môi trường đầu tư ngày càng được hoàn thiện. 12
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về thu hút nguồn vốn FDI
trong khoảng 10 năm trở lại đây. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và
Đầu tư), giai đoạn 2013-2022 đã có 23.706 dự án FDI được cấp phép đăng ký đầu
tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 288,66 tỷ USD. Trong đó, số vốn thực
hiện là 173,4 tỷ USD, chiếm 60,07% số vốn đăng ký (Bảng 1).
Năm 2022, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỷ USD, mức
vốn FDI thực hiện đạt kỷ lục 22,4 tỉ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2021.
Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm (2017-2022). Tính lũy kế trong
giai đoạn 1986-2022, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỷ USD vốn FDI; trong
đó, 274 tỷ USD đã được giải ngân, chiếm 62,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Năm 2022, nhiều dự án được tăng vốn đầu tư từ đầu năm như dự án sản xuất,
chế tạo các sản phẩm điện tử, công nghệ cao được tăng vốn với quy mô lớn; Dự án 13
Samsung Electro-mechanics Việt Nam (Thái Nguyên) tăng vốn 2 lần: tăng 920
triệu USD (lần 1) và tăng 267 triệu USD (lần 2).
2.1.3. Hạn chế trong việc thu hút FDI vào Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả quan trọng nêu trên, xét về xu hướng
trong những năm gần đây, hoạt động thu hút FDI đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế,
như: gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trốn thuế, chuyển giá, trả công lao
động thấp, cơ cấu đầu tư bất lợp lý giữa các ngành nghề và vùng miền. Cùng với
đó, cơ chế, chính sách, công cụ quản lý FDI vẫn còn nhiều bất cập, chậm được
khắc phục. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư này có dấu hiệu chững lại do ảnh hưởng của
dịch bệnh Covid-19 và tác động của cuộc canh tranh thu hút FDI với các nước trong khu vực.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về
định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác
đầu tư nước ngoài đến năm 2030, ngày 02/6/2022, Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030. Trong đó, nêu
rõ: Tập trung thu hút đầu tư nước ngoài có trọng tâm, trọng điểm; thu hút các dự án
sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao của Cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa
tích cực, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; thu hút đầu tư xanh, công
nghệ cao, công nghệ phụ trợ, phương pháp quản lý, quản trị tiên tiến; đề cao trách
nhiệm với xã hội và bảo vệ môi trường nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài…
2.2. Xuất khẩu tư bản gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp thông thường sẽ được các doanh nghiệp có quy mô nhỏ
và vừa hoặc chưa có nhiều kinh nghiệm xuất khẩu hàng ra quốc tế. Các doanh 14
nghiệp không có đủ nguồn lực để xây dựng đội ngũ xuất khẩu chuyên biệt thì cần
đơn vị trung gian để giúp đỡ việc xuất khẩu hàng hóa.
2.2.1. Chủ trương của nhà nước về việc vay, nợ nước ngoài.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 219/2013/NĐ-CP thì vay nước ngoài là việc
bên đi vay nhận khoản tín dụng từ người không cư trú thông qua việc ký kết và
thực hiện các thỏa thuận vay nước ngoài dưới hình thức hợp đồng vay, hợp đồng
mua bán hàng trả chậm, hợp đồng ủy thác cho vay, hợp đồng cho thuê tài chính
hoặc phát hành công cụ nợ của bên đi vay.
2.2.2. Thực trạng nợ nước ngoài đa phương của Việt Nam
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy về tình hình vay và trả nợ của Chính phủ,
tính đến hết năm 2023, dư nợ của Chính phủ ở mức 3,4 triệu tỷ đồng, tương ứng
tăng khoảng 180 nghìn tỷ so với thời điểm cuối năm 2022 và tăng 531 nghìn tỷ
đồng so với cuối năm 2019.
Trong đó, nợ nước ngoài tính đến hết năm 2023 đạt khoảng 960 nghìn tỷ
đồng, giảm 14 nghìn tỷ so với cuối năm 2022. Tính trong cả giai đoạn, nợ vay nước
ngoài có dấu hiệu giảm dần, đến cuối năm 2023 giảm tới 176 nghìn tỷ đồng so với
mức đỉnh 1,136 triệu tỷ đồng (năm 2020).
Ở chiều ngược lại, nợ vay trong nước tiếp tục chiếm thế áp đảo, tăng lên hơn
2,47 triệu tỷ đồng (tăng 194 nghìn tỷ đồng) so với cuối năm 2022, chiếm 72% dư
nợ Chính phủ. Nợ trong nước chủ yếu là Trái phiếu chính phủ có kỳ hạn phát hành
dài, góp phần quản lý nợ công an toàn, bền vững. 15
Như vậy, trong giai đoạn 2019 - 2023, các khoản vay trong nước của Chính
phủ có xu hướng tăng đều đặn hàng năm, tương ứng tăng 674 nghìn tỷ đồng cả giai
đoạn và ngày càng đóng vai trò chủ đạo, với tỷ trọng tăng từ 61% lên 72%.
Trái với xu hướng tăng các khoản vay trong nước, dư nợ vay nước ngoài của
Chính phủ đang có xu hướng giảm dần trong cơ cấu nợ vay của Chính phủ, từ tỷ
trọng 38% xuống còn 28%, tương ứng giảm 176 nghìn tỷ đồng trong cả giai đoạn
2019-2023, giúp giảm rủi ro về tỷ giá, đảm bảo an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia.
Phân theo từng bên cho vay, chủ nợ song phương lớn nhất của Việt Nam vẫn
là Nhật Bản với trên 247 nghìn tỷ đồng nhưng vốn vay từ quốc gia này giảm mạnh
nhất 5 năm vừa qua, tương ứng giảm 88 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, Hàn Quốc,
Pháp và Đức lần lượt cho vay hơn 29,5 nghìn tỷ, 27 nghìn tỷ và 13,5 nghìn tỷ đồng.
Tính theo đối tác đa phương, Ngân hàng Thế giới (WB) đứng đầu danh sách
chủ nợ với gần 347 nghìn tỷ, tiếp đến là Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) với gần 183 nghìn tỷ... 16
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TƯ BẢN TƯ NHÂN VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Giải pháp từ phía Chính phủ về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam.
Một là, thực hiện thành công chủ trương đúng đắn, nhất quán về hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng mang tính thời đại.
Nhận thức đầy đủ, đúng đắn xu hướng đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế từ năm 1986. Nhận thức và thực hiện con đường
hội nhập quốc tế đã có bước phát triển cả về lượng và chất, từ thấp đến cao
Hai là, mô hình kinh tế thị trường ngày càng được hoàn thiện.
Chuyển sang kinh tế thị trường là một chủ trương đúng đắn và sáng tạo của
Đảng, Nhà nước ta. Nhận thức về mô hình kinh tế thị trường Việt Nam ngày càng
đúng đắn, khoa học. Các quy luật khách quan của kinh tế thị trường được coi trọng
và quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước phù hợp hơn. Kinh tế thị trường ngày càng
được hoàn thiện về lý luận và triển khai thực hiện thành công ở Việt Nam.
Ba là, khủng hoảng, suy thoái kinh tế và đại dịch COVID-19.
Trong hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam phải đối mặt với nhiều cuộc khủng
hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu. Khủng hoảng tài chính, khởi đầu tại Thái Lan
vào tháng 7-1997 đã lan rất nhanh sang các nước khác trong khu vực. Những rối
loạn ban đầu về tiền tệ và tài chính đã nhanh chóng chuyển thành suy thoái kinh tế châu Á.
3.2. Giải pháp doanh nghiệp về xuất khẩu tư bản tư nhân vào Việt Nam.
Một là, khai thác, mở rộng thị trường xuất khẩu. 17
Duy trì và phát triển các thị trường trọng điểm, thị trường truyền thống, khai
thác hiệu quả các thị trường đã ký kết FTA với Việt Nam (CPTPP, EVFTA, UKVFTA,…).
Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh, xuất khẩu các ngành hàng: Triển khai
nhiều biện pháp hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp
ứng yêu cầu xuất khẩu.
Ba là, cung cấp thông tin thị trường, nâng cao hiệu quả xúc tiến xuất khẩu:
Tăng cường cập nhật, cung cấp thông tin về cơ hội xuất khẩu và biến động
chính sách tại các thị trường xuất khẩu cho các địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp,
đặc biệt là thị trường các nước tham gia các Hiệp định thương mại tự do với Việt
Nam để doanh nghiệp kịp thời khai thác.
Bốn là, tổ chức phổ biến, hướng dẫn về nội dung các cam kết và cách thức
tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến các doanh nghiệp,
Hiệp hội ngành hàng và các cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương bằng
nhiều hình thức trực tiếp, trực tuyến, tiện tra cứu, khai thác.
Năm là, hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ lợi ích hợp pháp tại nước ngoài: Chủ
động nắm bắt thông tin, phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả với các vụ
việc phòng vệ thương mại tại nước ngoài, bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam.
Sáu là, đơn giản hóa thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ, đẩy mạnh chuyển đổi
số cấp chứng nhận xuất xứ điện tử. Từ ngày 01/01/2024, Việt Nam đã thực hiện
việc cấp C/O điện tử cho doanh nghiệp bao gồm các mẫu C/O: AANZ, AJ, E,
AHK, RCEP, CPTPP, VJ, VC, VN-CU và S. Đối với C/O mẫu D (sang các nước
ASEAN) và C/O mẫu AK, VK (sang Hàn Quốc), Việt Nam đã thực hiện việc
truyền dữ liệu C/O điện tử. 18