HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. Thực trạng và
những vấn đề đặt ra.
Giảng viên hướng dẫn : Trần Mạnh Dũng
Sinh viên thực hiện : Trần Thu Nga
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2020
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………… 2
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu …………………………..
Các câu hỏi nghiên cứu ……………………………………..
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO ……………… 3
1.1. Định nghĩa về đói nghèo .
1.2. Thước đo nghèo đói ………………………………………… 5
1.3. Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam ……………………….. 6
1.4. Sự cần thiết của công tác xóa đói, giảm nghèo ……………… 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở
VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT ĐẶT RA ........................... 8
2.1. Thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo ………………….
2.2. Những tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ………………… 12
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA …………………….. 13
3.1. Giải pháp …………………………………………….
3.2. Kiến nghị …………………………………………….
BÀI HỌC KINH NGHIỆM ………………………………… 14
KẾT LUẬN ..............................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………….............. 15
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ……………………………..
1
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nghèo nàn, lạc hậu, lại là nạn nhân của hai cuộc chiến
tranh thế giới, chịu sự xâm lược và tàn phá nặng nề về cả người và của. Sau chiến
tranh, do sai lầm trong đường lối tổ chức khiến đất nước rơi vào cảnh đói càng
thêm đói, nghèo càng thêm nghèo.
Sau hơn hai thập kỷ thực hiện việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở
cửa và hội nhập, kinh tế nước nhà đã có nhiều bước phát triển ngoạn mục. Từ một
quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo có mức thu nhập rất thấp (chưa đến 100
USD/người), Việt Nam đã vươn lên nằm trong nhóm các nước có thu nhập bình
quân đầu người ở mức thu nhập trung bình thấp (trên 1.000 USD/người). Trong
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, từ một nước hàng nam phải nhập khẩu lương thực,
Việt Nam đã trở thành một trong hai quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, an
ninh lương thực được đảm bảo vứng vàng.
Cùng với những biến đổi về kinh tế, bộ mặt xã hội Việt Nam cũng có những
bước chuyển biến mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu trong việc giải quyết các vấn
đề nóng của xã hội, điển hình là trong công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được
thành công đáng kể và được quốc tế ghi nhận: tỷ lệ nghèo trên đầu người (tính theo
chi tiêu tiền tệ) đã giảm mạnh từ 57% năm 1990 xuống còn 13.5% năm 2014. Trong
bài viết này, thông qua các số liệu thống kê, kết quả điều tra về mức sống của người
dân… tôi muốn chỉ ra thực trạng cũng như phân tích những tồn tại và bài học kinh
nghiệm rút ra được từ công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong những năm gần
đây.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ chủ yếu xoáy sâu vào tình trạng đói nghèo ở Việt Nam trong
những năm gần đây. Đối tượng được đề cập đến là những người nghèo đói. Họ là
ai? Mức khốn khổ của họ đến đâu? Cần phải làm gì để cuộc sống của họ trở nên tốt
đẹp hơn?
Các câu hỏi nghiên cứu
Để đánh giá chính xác tình trạng đói nghèo ta cần trả lời các câu hỏi:
- Đói nghèo là gì?
- Các nguyên nhân sinh ra nghèo đói?
- Thước đo nghèo đói?
-Sự cấp thiết của công tác xóa đói, giảm nghèo?
- Hậu quả của vấn đề này?
-Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam trong những năm gần đây?
-Các vấn đề cấp thiết đặt ra?
- Các biện pháp khắc phục?
2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO.
1.1. Định nghĩa về đói nghèo
1.1.1. Đói nghèo từ tiếng nói của chính người nghèo
Tiếng nói của người nghèo đem đến cho ta những cảm nhận chân thực, rõ ràng
nhất về các khía cạnh của nghèo đói ( Nó không chỉ bao gồm sự khốn cùng về vật
chất mà đó còn là sự thiếu thốn về giáo dục và y tế…). Có một người nghèo ở
Keenia đã từng nói về sự nghèo đói: “ Hãy quan sát ngồi nhà và đếm xem có bao
nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo tôi đang mặc
trên người. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy. Cái mà ông thấy chính
là nghèo đói”. Có một nhóm thảo luận Brazil đã định nghĩa về nghèo đói như sau:
“Tiền lương thấp và thiếu việc làm, và cũng có nghĩa là không được thụ hưởng về y
tế, không có thức ăn và quần áo.” Ngoài ra, khái niệm nghèo đói còn được mở rộng
để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và quyền lực.
Và cũng từ tiếng nói của người nghèo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái
niệm khác nhau về nghèo đói tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và
sự phát triển kinh tế của quốc gia đó.
1.1.2. Quan niệm trước đây:
Trước đây, người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp. Coi
thu nhập là tiêu chí để đánh giá về sự nghèo đói của con người. Quan niệm này
thuận tiện cho việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo.
Nhưng thực tế cho thấy, nó chỉ phản ánh được một khía cạnh nhỏ trong đời sống
chứ chưa thể bao quát, phản ánh rõ sự khốn cùng, cơ cực của người nghèo. Do vậy,
quan niệm này còn rất nhiều hạn chế.
1.1.3. Quan điểm hiện nay:
Trong thời đại kinh tế thế giới phát triển mạnh như hiện nay, quan điểm về đói
nghèo cũng theo đó được hiểu một cách sâu rộng hơn theo nhiều cách tiếp cận khác
nhau:
Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc
Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã đưa ra định nghĩa về đói nghèo: Nghèo đói
bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập
quán của địa phương.
3
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mước trung
bình của cộng đồng.
- Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và
thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là
trong lĩnh vực kinh tế.
- Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội
trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một
vùng.
Năm 1998, UNĐP công bố một báo cáo với nhan đề “Khắc phục sự nghèo
khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo:
- Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như
biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi
dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thỏa
mãn những nhu cầu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định
như không có khả năng thỏa mãn nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ
yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc
nước khác.
1.1.4. Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam
Ở Việt Nam tách riêng đói và nghèo thành hai khái niệm riêng biệt
-Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu, cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp
hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
-Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc
sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, dứt bữa từ 1 đến 3 tháng,
thường phải vay mượn cộng dồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng
trong nhà không đáng kể, nhà cửa mục nát, con thất học, bình quân thu nhập
dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000 VNĐ).
Qua đây, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Đói nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn,
mặc, ở, giáo dục, y tế, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng
đồng,”
4
1.2. Thước đo nghèo đói
1.2.1. Phương pháp của Ngân hàng Thế giới
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), từ những năm 80 cho đến nay chuẩn mực để
xác định ranh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và
các nước ở khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực, thực
phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100-2300
calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm.
Ở Ấn Độ: Lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/người/ngày.
BănglaĐesh lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày.
Ở INĐÔNÊXIA: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là
2100 calo/người/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với
nghèo.
Ở Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150 calo/người/ngày.
Các nước công nghiệp phát triển châu âu: 2570 calo/người/ngày.
1.2.2. Phương pháp ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay có phương pháp tiếp cận về nghèo đói như sau:
Phương pháp dựa cả vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người (phương pháp
của tổng cục thống kê). Phương pháp này đã xác định 2 ngưỡng nghèo:
Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua được một số lương thực
hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng. Như vậy, phương pháp tiếp cận
này tương tự cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (đã nói ở trên). Ngưỡng
nghèo thứ hai, thường được gọi là “ngưỡng nghèo chung”, ngưỡng này bao
gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực.
Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình (phương pháp của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội). Phương pháp này hiện đang được dùng để
xác định chuẩn nghèo đói của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia
(chuẩn nghèo quốc gia). Chuẩn nghèo áp dụng cho thời kì 2001-2005 được
xác định dựa trên thu nhập theo 3 vùng. Cụ thể là:
- Vùng hải đảo và vùng núi nông thôn: Bình quân thu nhập là 80.000
VNĐ/người/tháng.
- Vùng đồng bằng nông thôn: 100.000 VNĐ/người/tháng.
- Khu vực thành thị: 150.000 VNĐ/người/tháng.
Người được coi là nghèo khổ về thu nhập là những người mà thu nhập của họ nằm
bên dưới các “giới hạn” đã được quy định ở trên.
5
1.2.3. Chỉ số đánh giá
Để đánh giá “nghèo khổ của con người”, LHQ đã sử dụng chỉ số nghèo khổ của
con người – HPI (Human Poor Index) hay còn gọi là chỉ số nghèo tổng hợp. Giá trị
HPI của một nước nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng lên bao
nhiêu phần dân số nước đó. So sánh các giá trị HDI và HPI cho thấy sự phân phối
thành tựu của tiến bộ con người. Các nước có thể có giá trị HDI như nhau nhưng giá
trị HPI sẽ khác nhau.
VD: Trường hợp của Ttung Quốc và Gioócđani (1999), chỉ số phát triển con
người HDI của mỗi nước đều là 0,718 và 0,714: chỉ số nghèo khổ con người HPI
của Trung Quốc là 15,1% và của Gioócđani là 8,5%. Ở Việt Nam, HPI năm 1999 là
29,1% xếp hạng theo HPI đứng thứ 45 trên 90 quốc gia được LHQ nghiên cứu.
1.3. Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra đói nghèo ở Việt Nam nhưng nhìn
chung nghèo đói ở Việt Nam có những nguyên nhân khách quan và chủ quan
như sau:
1.3.1. Nguyên nhân khách quan
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một chiến tranh lâu
dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn,
nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị giảm sút do mất mát trong
chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học
tập cải tạo một thời gian dài.
Chính sách nhà nước thất bại: Sau khi chiến tranh kết thúc, việc áp dụng
chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính
sách giá lương tiền đã tiếp tục tàn phá nền kinh tế ốm yếu của nước ta làm
kiệt quệ nguồn nhân lực của đất nước, lạm phát tăng cao, có lúc tăng đến
đỉnh điểm.
Huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm tách rời
sản xuất với thị trường, sản suất nông nghiệp còn thô sơ, công nghiệp thiếu
hiệu quả, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu
hàng hóa làm thu nhập của người dân giảm sút trong khi dân số thì ngày
càng tăng cao.
Dư thừa lao động ở nông thôn nhưng không được khuyến khích ra thành thị
lao động, không được đào tạo về mảng công nghiệp, sử dụng biệp pháp
hành chính trong chính sách quản lý bằng hộ khẩu để ngăn người dân di cư,
nhập cư vào thành thị.
6
Thất nghiệp tăng cao trong thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do vốn đầu tư
còn hạn chế, thiếu hiệu quả vào các công trình thâm hụt vốn của Nhà nước.
1.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Sau 20 năm đổi mới, tính đến năm 2005, nền kinh tế nước ta đã có những bước
chuyển biến mạnh mẽ, đạt được một số thành tựu nhưng số lượng người nghèo vẫn
còn đông, có thể lên đến 26% (4,6 triệu hộ) do các nguyên nhân sau:
Sai lệch thống kê: Do sự điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần
với chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) làm cho tỷ lệ nghèo tăng lên.
Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, năm 2004 vẫn còn 74,1% dân số
sống ở nông thôn, trong khi tỉ lệ đóng góp của nông nghiệp vào GDP ở mức
thấp. Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất bình đẳng cao
trong khi thu nhập bình quân đầu người còn thấp.
Người dân còn phải chịu nhiều rủi ro, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch
bệnh, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá sản phẩm đầu vào và đầu
ra do biến động trên thị trường thế giới như cuộc khủng hoảng dầu mỏ làm
giá dầu tăng mạnh ảnh hưởng lớn đến CPSX đầu vào và giá đầu ra; hệ thống
hành chính kém minh bạch, quan liêu, tham nhũng…
Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy biết bao tuổi thơ
em nhỏ. Các em không được hưởng quyền có một tuổi thơ êm đẹp, được
thương yêu, chăm sóc và được bao bọc bởi mái ấm gia đình. Sau này, khi
trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến lượt các con em có nguy cơ phải hứng
chịu tiếp nỗi bất hạnh ấy, và cứ vậy nó cứ luân chuyển từ thế hệ này qua thế
hệ khác làm một bộ phận người dân bị hủy hoại.
Sự chênh lệch giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa các dân
tộc còn cao.
Môi trường bị hủy hoại, ô nhiễm nạng nề trong khi đại bộ phận người nghèo
đều sống dựa vào nông nghiệp.
Hiệu năng quản lý của Chính phủ còn thấp.
1.4. Sự cần thiết của công tác xóa đói, giảm nghèo
Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý
nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân ổn
định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn
còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển 1 nền kinh tế
7
bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có
ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội:
- Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ
nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập
vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh,
giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn
định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và
chủ trương của đảng và Nhà nước.
- Hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái.
1.5. Hậu quả của nghèo đói
Có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ và yêu cầu xoá
đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng
phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự
bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội làm
chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế-xã hội.
Không giải quyết thành công các chương trình xoá đói giảm nghèo sẽ không
thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như
thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được.
Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ
không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực con người
phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới trình
độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, thoát khỏi nguy cơ lạc hậu
và tụt hậu.
Nghèo đói là một trong những nguyên nhân gây nên suy thoái và ô nhiễm
môi trường, biến đổi khí hậu.
Nghèo đói làm gia tăng các tệ nạn xã hội, bất bình đẳng xã hội, làm giảm
chất lượng cuộc sống của người dân và làm tăng quy mô dân số.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở
VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT ĐẶT RA.
1.1. Thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo
“Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện
thành công nhất trong phát triển kinh tế” ( Nguồn: Báo cáo phát triển Việt
Nam năm 2004 của Ngân hàng Thế giới).
Việt Nam đã trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á -
TBD trong việc áo dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều ( y tế, giáo
dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) để giảm nghèo ở tất cả các khía
cạnh,
8
Theo báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt
Nam”, được NHTG công bố ngày 5/4/2018, tỷ lệ nghèo giảm ở mọi nơi đối
với cả dân độc đa số và thiểu số.
Tất cả các phép đo nghèo đều cho thấy những tăng trưởng trên diện rộng và
nhất quán (Hình 1). Được xác định theo chuẩn nghèo quốc gia của TCTK-
Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ người nghèo giảm từ 20,8% vào năm 2010 xuống
9,8% năm 2016, giảm gần 4 điểm phần trăm trong 2 năm từ 2014-1016.
Hình 1. Tỷ lệ nghèo dựa theo chuẩn nghèo quốc tế và quốc gia, 2010-1016
Trong khi đó, ước tính dựa trên chuẩn nghèo của các nước có mức thu nhập
dưới trung bình (ở mức 3,2 USD/người/ngày theo PPP 2011) cho thấy một tỷ
lệ nghèo thấp hơn với mức là 8,6% vào năm 2016. Khoảng cách nghèo, chỉ
số đo xem mức tiêu dùng của người nghèo thấp hơn bao nhiêu so với chuẩn
nghèo cũng giảm từ từ. Điều này chỉ ra rằng nghèo đã trở nên ít nghiêm
trọng hơn, đồng thời cho thấy thành công đáng chú ý của Việt Nam trong
công cuộc giảm nghèo vẫn tiếp tục.
Rất nhiều hô¤ gia đình Viê ¤ t Nam đang thoát nghèo và các thành tựu đạt được
gần đây dường như bền vững. Nghèo được xác định ở mức chuẩn nghèo
quốc gia theo TCKT-Ngân hàng thế giới giảm gần 4 điểm phần trăm kể từ
năm 2014, xuống còn 9.8 phần trăm trong năm 2016. Đáng chú ý, tỷ lệ
nghèo số hô¤ nghèo thuô¤c dân tô¤c thiểu số giảm 13 điểm phần trăm, và đây là
mức giảm tỷ lê ¤ nghèo lớn nhất của các hô¤ dân tô¤c thiểu số trong thâ ¤p kỷ vừa
qua.
Vào năm 2010, ước tính 98% các hộ gia đình được kết nối với lưới điện quốc
gia, Các chỉ số khác cũng lần lượt cải thiện. Sóng điện thoại di động có ở
mọi nơi, số hộ có ít nhất một điện thoại di động tăng từ 73% năm 2010 lên
93% năm 2016. Khả năng tiếp cận vệ sinh được cải thiện từ 70% lên 83% và
khả năng tiếp cận nguồn nước uống tốt tăng từ 72% lên 78%. Số hộ có nước
máy trong nhà tăng từ 26% lên 38% ( Bảng 1).
9
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được thành công trong giáo dục
và tiếp tục cải thiện:
oTỷ lệ hoàn thành bậc học trung học phổ thông tăng, bằng chứng là số
lượng người từ 20-24 tuổi hoàn thành chương trình THPT tăng từ
52% năm 2010 lên 59% năm 2016.
oTỷ lệ đăng ký chương trình giáo dục mầm non (ECD) cũng tăng,
khoảng 2/3 số trẻ trong độ tuổi từ 3-5 tuổi đăng ký học mầm non vào
năm 2016, tăng 13 điểm % so với năm 2010.
o Tỷ lệ trẻ em thuộc các hộ gia đình trong nhóm 40% phía dưới nhóm
dưới và vùng nông thôn đăng ký học mầm non tăng 15 điểm %. Tỷ lệ
đăng ký học mầm non tăng owr tất cả các khu vực, từ 10 điểm % ở
khu vực Đông Nam Bộ lên tới 18 điểm % ở vùng Trung du và miền
núi Bắc Bộ (Bảng 1).
oSự chênh lệch giữa tỷ lệ nhập học THPT giữ trẻ em thuộc hộ nghèo
và hộ không nghèo đã mở rộng lên tới hơn 24 điểm % vào năm 2016.
Bảng 1. Xu thế của các chỉ số thịnh vượng phi tiền tệ, 2010-2016
ECD Hoàn tất ĐH,
CĐ, trường
nghề
Nước máy Nước được
cải thiện
Nhà vệ sinh
được cải thiện
Điện thoại
2010 2016 2010 2016 2010 2016 2010 2016 2010 2016 2010 2016
Nam 53.6 66.1 47.7 50.9 22.4 35.1 69.6 76.2 68.7 82.5 79.3 94.6
Nữ 52.9 67.4 56.0 66.6 37.0 47.2 78.2 83.6 74.1 85.4 75.0 87.7
DT thiểu số 44.6 54.5 26.2 31.5 5.7 10.8 43.4 46.9 23.1 45.3 51.0 85.0
Người Kinh
và người
Hoa
55.2 67.3 56.8 66.0 29.2 42.6 76.0 83.2 77.0 89.4 81.9 94.0
Không
nghèo
59.2 69.1 59.0 64.2 30.4 40.8 76.4 81.3 78.1 87.7 84.1 94.4
Nghèo 38.7 53.2 18.7 16.2 6.7 7.1 50.9 40.2 33.5 30.5 49.0 72.6
60% trên 62.2 74.4 64.1 71.9 35.7 49.3 79.6 86.1 84.0 93.4 87.6 96.6
40% dưới 42.4 57.9 24.9 33.4 9.4 18.2 58.2 63.8 45.6 65.0 60.8 86.0
Nông thôn 49.0 64.2 44.8 53.2 8.7 20.5 63.4 69.9 60.4 77.0 74.4 90.9
ĐBSH 68.2 81.5 72.8 80.7 27.6 46.6 61.4 73.1 87.4 97.8 81.1 91.6
Trung du và
miền núi
BB
60.8 78.0 43.3 43.2 13.1 15.3 58.8 60.4 52.2 69.5 69.7 93.4
BTB và
duyên hải
miền Trung
54.2 66.6 55.3 63.0 21.1 31.1 79.5 81.4 72.1 83.4 75.3 90.1
Tây
Nguyên
38.7 52.3 41.2 49.0 12.8 18.0 78.6 81.9 51.2 66.6 78.8 89.4
Đông Nam
Bộ
54.7 64.7 51.4 57.8 43.8 56.0 93.7 97.6 90.2 95.7 84.8 97.4
10
ĐB SCL 33.0 44.1 29.9 43.0 27.3 42.8 64.2 74.9 44.5 67.8 77.1 94.2
Việt Nam 53.3 66.7 51.9 58.8 26.2 38.2 71.9 78.1 70.1 83.3 78.2 92.8
1.1.1. Nhà nước ban hành Nhóm chính sách cải thiện tiếp cận dịch vụ xã
hội cơ bản:
Nhóm chính sách về giáo dục - đào tạo
oHiện nay chính sách giáo dục - đào tạo nhằm giải quyết vấn đề chênh lệch
giáo dục giữa các nhóm xã hội khác nhau đang đi theo hướng tiếp cận đa
chiều. Các nhóm chính sách chính có thể kể đến là: hỗ trợ trực tiếp cho
người đi học (ví dụ cấp học bổng, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập,
hỗ trợ bán trú, hỗ trợ gạo); tín dụng giáo dục (cho vay học sinh, sinh viên);
cử tuyển; thu hút giáo viên về các vùng khó khăn; giáo dục song ngữ cho trẻ
em DTTS; đầu tư CSHT cho giáo dục.
Các chính sách hỗ trợ trực tiếp thể hiện nỗ lực của Nhà nước nhằm hỗ trợ
con em các hộ nghèo, hộ DTTS vùng khó khăn vượt qua các rào cản của
nghèo đói, đường sá xa xôi để có thể đến trường. Các hỗ trợ có từ bậc mầm
non đến đại học và giúp được nhiều hộ gia đình bớt đi gánh nặng về chi phí
học tập cho con em.
oNăm 2016, Ngân sách trung ương bố trí khoảng 5.649.031 tỷ đồng để thực
hiện chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho khoảng
3.807.187 đối tượng theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP. Trong đó Miễn học phí
là 1.720.463 đối tượng ước tính 3.060.586 tỷ đồng; Giảm học phí 351.180
đối tượng ước tính 1.491.867 tỷ đồng; hỗ trợ chi phí học tập 1.735.545 đối
tượng ước tính 1.096.578 tỷ đồng.
Nhóm chính sách hỗ trợ y tế
oTừ năm 2002, các thành viên hộ nghèo được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế.
Việc triển khai chính sách này đã tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp
cận với dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, chia sẻ một phần gánh nặng về chi phí
khám chữa bệnh của người nghèo. Từ năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg đã bổ sung chính sách cho các nhóm đối
tượng hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ làm nông,lâm, ngư, diêm nghiệp
có mức sống trung bình được hỗ trợ mua bảo hiểm y tế và hỗ trợ gián tiếp để
nhóm đối tượng này có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lượng ngay
tại tuyến cơ sở và với trường hợp mắc bệnh nặng với chi phí lớn khi phải
điều trị tại tuyến trên.
oTrong năm 2016, ngân sách đã bố trí khoảng 9.000 tỷ đồng để thực hiện mua
thẻ bảo hiểm y tế cho khoảng trên 14 triệu đối tượng (người nghèo, đồng bào
dân tộc thiểu số và nhân dân sống ở vùng đặc biệt khó khăn, hải đảo); bố trí
khoảng 1.172 tỷ đồng hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho khoảng 1.825.000
người thuộc hộ cận nghèo.
11
Nhóm chính sách về nhà ở
oQuyết định số 33/2015/QĐ-TTg ban hành ngày 10/8/2015 của Thủ tướng
Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo chưa có nhà ở
hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập
đổ. Thực hiện hỗ trợ theo phương thức Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn để xây
dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở với lãi suất ưu đãi, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia
đình tự tổ chức xây dựng nhà ở. Sau khi được hỗ trợ, các hộ gia đình phải
xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đang có, đảm bảo
diện tích sử dụng tối thiểu 24 m2 (đối với những hộ độc thân không nơi
nương tựa, có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không
thấp hơn 18m2) và “3 cứng” (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng); tuổi
thọ căn nhà từ 10 năm trở lên. Nhà ở phải đảm bảo an toàn khi xảy ra bão, tố,
lốc. Theo ước tính, từ 2016-2020 sẽ có khoảng 311 nghìn hộ nghèo sẽ được
hỗ trợ theo chính sách này.
1.2. Những tồn tại trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
Bên cạnh những thành quả trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo thì vẫn còn
tồn tại những bất cập:
Tốc độ giảm nghèo không đều giữa các vùng:
- Các hộ ở khu vực Trung du và miền núi BB không có tiến bộ lắm đối với
giáo dục bậc trung học và tiếp cận nguồn nước. Tỷ lệ hoàn thành bậc THPT
ở đây cơ bản không đổi ở mức 43% trong giai đoạn 2010-2016. Tuy nhiên,
tỷ lệ hoàn thành có thể tăng trong tương lai gần vì tỷ lệ nhập học THPT đã
tăng 5 điểm %.
- Số các hộ có nước máy hay tiếp cận nguồn nước sạch ở Trung du và miền
núi BB cải thiện nhưng tăng chưa đến 2 điểm % từ 2010-2016.
- Tương tự có thể thấy tiến bộ hạn chế này tương tự đối với các hộ trên và
dưới ngưỡng nghèo (Bảng 1).
Tồn tại bất bình đằng trong thu nhập giữa các vùng
- Ở góc độ vùng, dù căn cứ theo thước đo nào, Đông Nam Bộ hiện nay vẫn là
vùng bình đẳng nhất trong cả nước, trong khi Tây Nguyên và Trung du và
miền núi phía Bắc là 2 vùng bất bình đẳng nhất và cách biệt khá nhiều so với
các vùng còn lại. Vùng Đông Nam Bộ đã thực hiện tốt công cuộc giảm bất
bình đẳng, khi đây đã từng là khu vực bất bình đẳng nhất trong cả nước
Chênh lệch giữa các nhóm thu nhập:
12
Dù đã đưa đưa các chính sách nhằm hỗ trợ người nghèo nhưng:
- Các văn bản chính sách về giáo dục hiện nay được đánh giá là hướng đến
giải quyết chênh lệch về tiếp cận giáo dục nhiều hơn chênh lệch về chất
lượng giáo dục. Một số chính sách còn bỏ sót một số nhóm đối tượng khó
khăn. Các chính sách cấp học bổng hiện nay đối với sinh viên người DTTS
học đại học mới chỉ áp dụng với hệ cử tuyển, còn những sinh viên DTTS tự
thi đỗ không được nhận học bổng này. Các chính sách cấp học bổng, hỗ trợ
bán trú, hỗ trợ gạo, hỗ trợ học sinh THPT vùng khó khăn chỉ áp dụng với học
sinh tại các trường công lập mà không áp dụng đối với khu vực tư.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA.
3.1. Giải pháp:
3.1.1. Mở rộng phạm vi bao phủ các chương trình/chính sách cả về chiều rộng
và chiều sâu, tập trung vào các nhóm yếu thế
oBảo đảm an sinh xã hội cho toàn dân. Trong tương lai, cần phải thay đổi cách
thiết kế chính sách, trong đó, tầng thấp nhất nhằm bảo đảm cho mọi người
dân được an sinh tối thiểu và không phụ thuộc vào mức độ tham gia đóng
góp.
oTiếp tục mở rộng đối tượng, chính sách và điều kiện để thực hiện an sinh xã
hội, ưu tiên đối với nhóm yếu thế và chịu tác động của biến cố tự nhiên, xã
hội, ưu tiên vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chuyển dần từ hỗ
trợ hộ nghèo sang hỗ trợ các đối tượng dễ dàng xác định, đồng thời cũng dễ
bị tổn thương như trẻ em, người già, người tàn tật, những người sinh sống
trong một số địa bàn khó khăn ở các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây
Nguyên, một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo cao đi kèm
với tốc độ giảm nghèo chậm như H’mông, Xơ Đăng, Gia Rai...
3.1.2. Khuyến khích việc xây dựng các tổ chức, các quỹ từ thiện để giúp đỡ
những người nghèo hoặc các chương trình truyền hình thực tế như:
Chung một tấm lòng, Vượt lên chính mình, Ngôi nhà mơ ước….
3.1.3. Xây dựng thêm các cơ sở hạ tầng cho vùng nông thôn, đẩy mạnh phát
triển thủy lợi…
13
3.1.4. Mở thêm những lớp huấn luyện, giảng dạy cho người dân, giúp họ cải
thiện vốn tri thức, nâng cao giá trị bản thân, phát triển tay nghề kỹ
thuật, biết cách ứng dụng công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất
nhằm tạo điều kiện cho họ có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với Nhà nước:
- Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giåm nghèo, tất cå mọi cán bộ
Đảng, chính quyền đều phåi quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giåi
pháp một cách đồng bộ và phåi có sự tham gia của toàn thể cộng đồng.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý từ bên ngoài bằng cách thiết lập một hệ
thống bảo trợ xã hội phù hợp với nền kinh tế tiền lương.
- Cần xem xét lại các tiêu chí cho điểm của các dịch vụ xã hội cơ bản như: nhà
ở, trình độ tay nghề của người dân, BHXH…
3.2.2. Đối với từng hộ gia đình
- Cần phải nhận thức rõ việc giảm đói nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà
nước mà nó là nhiệm vụ của cả cộng đồng, của từng thành viên trong gia
đình, bởi gia đình là tế bào của xã hội. Chỉ khi từng gia đình nhỏ ý thức
được, tự giác thực hiện thì mới tạo nên một tập thể xã hội vững mạnh, đưa
đất nước phát triển.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Thứ nhất, xã hội hóa công tác xóa đói, giảm nghèo, thu hút mọi tổ chức, mọi
nguồn lực tham gia, hoàn thành tái định cư, tạo cồn ăn việc làm cho người
nghèo.
Thứ hai, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng còn yếu kém, đồng thời
tổ chức dạy nghề, chuyển giao KH-KT, hướng dẫn cách làm ăn cho người
nghèo.
Thứ ba, xác định đúng đối tượng nghèo đói và nguyên nhân cụ thể dẫn đến
vấn đề này để đưa ra chính sách hỗ trợ cho phù hợp với từng nhóm dân.
Tranh thủ được các nguồn lực nước ngoài cả về mặt vật chất, vốn, kỹ thuật
và kinh nghiệm để giúp đỡ người lao động nghèo.
KẾT LUẬN
Ngày nay, vấn đề giảm nghèo phải được nhìn nhận theo nghĩa rộng, không chỉ
giảm nghèo với ý nghĩa tăng thu nhập giảm nghèo bền vững phải được nhìn
nhận dưới góc độ cải thiện các nguồn lực đầu vào cho người nghèo như trình độ
giáo dục, điều kiện y tế, chăm sóc sức khỏe, các nguồn tín dụng hỗ trợ cho sản xuất
và đất đai. Những nguồn lực này sẽ quyết định sự công bằng trong phân phối đầu ra
như tiền công tiền lương giảm bất bình đẳng về thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư.
14
Qua việc phân tích thực trạng các vấn đề còn tồn tại trong công tác xóa đói,
giảm nghèo, tôi đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị bài học kinh nghiệm
nhân tôi rút ra được góp phần phát triển công tác giảm đói nghèo.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004” của Ngân hàng Thế giới.
2. Báo cáo cập nhật về đói nghèo và thịnh vượng chung ở Việt Nam
2018 của World Bank.
3. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2002-2018.
4. Nguồn số liệu: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của Tổng cục
Thống kê.
5. Nguồn số liệu: Tính toán của các tác giả từ KSMS 2010, 2012,
2014,2016.
6. Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới WPS6414,
Ngân hàng Thế giới. Washington, DC, Hoa Kỳ.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng
ĐB SCL: Đồng bằng sông Cửu long
DT: Dân tộc
LHQ: Liên Hợp Quốc
CSHT: Cơ sở hạ tầng
DTTS: Dân tộc thiểu số
THPT: Trung học phổ thông
TBD: Thái Bình Dương
NHTG: Ngân hàng Thế giới
KH-KT: Khoa học – Kỹ thuật
ĐH: Đại học
CĐ: Cao đằng
BB: Bắc Bộ
BTB: Bắc Trung Bộ
15
BHXH : Bảo hiểm xã hội
16

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. Thực trạng và những vấn đề đặt ra.
Giảng viên hướng dẫn : Trần Mạnh Dũng
Sinh viên thực hiện : Trần Thu Nga
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2020 MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………… 2
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu …………………………..
Các câu hỏi nghiên cứu ……………………………………..
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO ……………… 3 1.1.
Định nghĩa về đói nghèo . 1.2.
Thước đo nghèo đói ………………………………………… 5 1.3.
Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam ……………………….. 6 1.4.
Sự cần thiết của công tác xóa đói, giảm nghèo ……………… 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở
VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT ĐẶT RA ........................... 8 2.1.
Thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo …………………. 2.2.
Những tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ………………… 12
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA …………………….. 13
3.1. Giải pháp …………………………………………….
3.2. Kiến nghị …………………………………………….
BÀI HỌC KINH NGHIỆM ………………………………… 14
KẾT LUẬN ..............................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………….............. 15
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT …………………………….. 1 LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nghèo nàn, lạc hậu, lại là nạn nhân của hai cuộc chiến
tranh thế giới, chịu sự xâm lược và tàn phá nặng nề về cả người và của. Sau chiến
tranh, do sai lầm trong đường lối tổ chức khiến đất nước rơi vào cảnh đói càng
thêm đói, nghèo càng thêm nghèo.

Sau hơn hai thập kỷ thực hiện việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở
cửa và hội nhập, kinh tế nước nhà đã có nhiều bước phát triển ngoạn mục. Từ một
quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo có mức thu nhập rất thấp (chưa đến 100
USD/người), Việt Nam đã vươn lên nằm trong nhóm các nước có thu nhập bình
quân đầu người ở mức thu nhập trung bình thấp (trên 1.000 USD/người). Trong
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, từ một nước hàng nam phải nhập khẩu lương thực,
Việt Nam đã trở thành một trong hai quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, an
ninh lương thực được đảm bảo vứng vàng.

Cùng với những biến đổi về kinh tế, bộ mặt xã hội Việt Nam cũng có những
bước chuyển biến mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu trong việc giải quyết các vấn
đề nóng của xã hội, điển hình là trong công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được
thành công đáng kể và được quốc tế ghi nhận: tỷ lệ nghèo trên đầu người (tính theo
chi tiêu tiền tệ) đã giảm mạnh từ 57% năm 1990 xuống còn 13.5% năm 2014. Trong
bài viết này, thông qua các số liệu thống kê, kết quả điều tra về mức sống của người
dân… tôi muốn chỉ ra thực trạng cũng như phân tích những tồn tại và bài học kinh
nghiệm rút ra được từ công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong những năm gần đây.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ chủ yếu xoáy sâu vào tình trạng đói nghèo ở Việt Nam trong
những năm gần đây. Đối tượng được đề cập đến là những người nghèo đói. Họ là
ai? Mức khốn khổ của họ đến đâu? Cần phải làm gì để cuộc sống của họ trở nên tốt đẹp hơn?

Các câu hỏi nghiên cứu
Để đánh giá chính xác tình trạng đói nghèo ta cần trả lời các câu hỏi:
- Đói nghèo là gì?
- Các nguyên nhân sinh ra nghèo đói? - Thước đo nghèo đói?
-Sự cấp thiết của công tác xóa đói, giảm nghèo?
- Hậu quả của vấn đề này?
-Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam trong những năm gần đây?
-Các vấn đề cấp thiết đặt ra?
- Các biện pháp khắc phục?
2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO. 1.1.
Định nghĩa về đói nghèo
1.1.1. Đói nghèo từ tiếng nói của chính người nghèo
Tiếng nói của người nghèo đem đến cho ta những cảm nhận chân thực, rõ ràng
nhất về các khía cạnh của nghèo đói ( Nó không chỉ bao gồm sự khốn cùng về vật
chất mà đó còn là sự thiếu thốn về giáo dục và y tế…). Có một người nghèo ở
Keenia đã từng nói về sự nghèo đói: “ Hãy quan sát ngồi nhà và đếm xem có bao
nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo tôi đang mặc
trên người. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy. Cái mà ông thấy chính
là nghèo đói
”. Có một nhóm thảo luận Brazil đã định nghĩa về nghèo đói như sau:
“Tiền lương thấp và thiếu việc làm, và cũng có nghĩa là không được thụ hưởng về y
tế, không có thức ăn và quần áo.”
Ngoài ra, khái niệm nghèo đói còn được mở rộng
để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và quyền lực.
Và cũng từ tiếng nói của người nghèo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái
niệm khác nhau về nghèo đói tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và
sự phát triển kinh tế của quốc gia đó.
1.1.2. Quan niệm trước đây:
Trước đây, người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp. Coi
thu nhập là tiêu chí để đánh giá về sự nghèo đói của con người. Quan niệm này
thuận tiện cho việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo.
Nhưng thực tế cho thấy, nó chỉ phản ánh được một khía cạnh nhỏ trong đời sống
chứ chưa thể bao quát, phản ánh rõ sự khốn cùng, cơ cực của người nghèo. Do vậy,
quan niệm này còn rất nhiều hạn chế.
1.1.3. Quan điểm hiện nay:
Trong thời đại kinh tế thế giới phát triển mạnh như hiện nay, quan điểm về đói
nghèo cũng theo đó được hiểu một cách sâu rộng hơn theo nhiều cách tiếp cận khác nhau:
 Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc
Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã đưa ra định nghĩa về đói nghèo: Nghèo đói
bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương. 3
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mước trung bình của cộng đồng.
- Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và
thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế.
- Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội
trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng.
 Năm 1998, UNĐP công bố một báo cáo với nhan đề “Khắc phục sự nghèo
khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo:
- Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như
biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thỏa
mãn những nhu cầu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định
như không có khả năng thỏa mãn nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ
yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác.
1.1.4. Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam
Ở Việt Nam tách riêng đói và nghèo thành hai khái niệm riêng biệt
-Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu, cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp
hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
-Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc
sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, dứt bữa từ 1 đến 3 tháng,
thường phải vay mượn cộng dồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng
trong nhà không đáng kể, nhà cửa mục nát, con thất học, bình quân thu nhập
dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000 VNĐ).
Qua đây, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Đói nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn,
mặc, ở, giáo dục, y tế, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng,” 4 1.2.
Thước đo nghèo đói
1.2.1. Phương pháp của Ngân hàng Thế giới
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), từ những năm 80 cho đến nay chuẩn mực để
xác định ranh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và
các nước ở khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực, thực
phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100-2300
calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm.
Ở Ấn Độ: Lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/người/ngày.
BănglaĐesh lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày.
Ở INĐÔNÊXIA: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là
2100 calo/người/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với nghèo.
Ở Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150 calo/người/ngày.
Các nước công nghiệp phát triển châu âu: 2570 calo/người/ngày.
1.2.2. Phương pháp ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay có phương pháp tiếp cận về nghèo đói như sau:
Phương pháp dựa cả vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người (phương pháp
của tổng cục thống kê). Phương pháp này đã xác định 2 ngưỡng nghèo:
Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua được một số lương thực
hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng. Như vậy, phương pháp tiếp cận
này tương tự cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (đã nói ở trên). Ngưỡng
nghèo thứ hai, thường được gọi là “ngưỡng nghèo chung”, ngưỡng này bao
gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực.
Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình (phương pháp của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội). Phương pháp này hiện đang được dùng để
xác định chuẩn nghèo đói của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia
(chuẩn nghèo quốc gia). Chuẩn nghèo áp dụng cho thời kì 2001-2005 được
xác định dựa trên thu nhập theo 3 vùng. Cụ thể là:
- Vùng hải đảo và vùng núi nông thôn: Bình quân thu nhập là 80.000 VNĐ/người/tháng.
- Vùng đồng bằng nông thôn: 100.000 VNĐ/người/tháng.
- Khu vực thành thị: 150.000 VNĐ/người/tháng.
Người được coi là nghèo khổ về thu nhập là những người mà thu nhập của họ nằm
bên dưới các “giới hạn” đã được quy định ở trên. 5
1.2.3. Chỉ số đánh giá
Để đánh giá “nghèo khổ của con người”, LHQ đã sử dụng chỉ số nghèo khổ của
con người – HPI (Human Poor Index) hay còn gọi là chỉ số nghèo tổng hợp. Giá trị
HPI của một nước nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng lên bao
nhiêu phần dân số nước đó. So sánh các giá trị HDI và HPI cho thấy sự phân phối
thành tựu của tiến bộ con người. Các nước có thể có giá trị HDI như nhau nhưng giá trị HPI sẽ khác nhau.
VD: Trường hợp của Ttung Quốc và Gioócđani (1999), chỉ số phát triển con
người HDI của mỗi nước đều là 0,718 và 0,714: chỉ số nghèo khổ con người HPI
của Trung Quốc là 15,1% và của Gioócđani là 8,5%. Ở Việt Nam, HPI năm 1999 là
29,1% xếp hạng theo HPI đứng thứ 45 trên 90 quốc gia được LHQ nghiên cứu. 1.3.
Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra đói nghèo ở Việt Nam nhưng nhìn
chung nghèo đói ở Việt Nam có những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:
1.3.1. Nguyên nhân khách quan
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một chiến tranh lâu
dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn,
nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị giảm sút do mất mát trong
chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học
tập cải tạo một thời gian dài.
 Chính sách nhà nước thất bại: Sau khi chiến tranh kết thúc, việc áp dụng
chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính
sách giá lương tiền đã tiếp tục tàn phá nền kinh tế ốm yếu của nước ta làm
kiệt quệ nguồn nhân lực của đất nước, lạm phát tăng cao, có lúc tăng đến đỉnh điểm.
 Huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm tách rời
sản xuất với thị trường, sản suất nông nghiệp còn thô sơ, công nghiệp thiếu
hiệu quả, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu
hàng hóa làm thu nhập của người dân giảm sút trong khi dân số thì ngày càng tăng cao.
 Dư thừa lao động ở nông thôn nhưng không được khuyến khích ra thành thị
lao động, không được đào tạo về mảng công nghiệp, sử dụng biệp pháp
hành chính trong chính sách quản lý bằng hộ khẩu để ngăn người dân di cư, nhập cư vào thành thị. 6
 Thất nghiệp tăng cao trong thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do vốn đầu tư
còn hạn chế, thiếu hiệu quả vào các công trình thâm hụt vốn của Nhà nước.
1.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Sau 20 năm đổi mới, tính đến năm 2005, nền kinh tế nước ta đã có những bước
chuyển biến mạnh mẽ, đạt được một số thành tựu nhưng số lượng người nghèo vẫn
còn đông, có thể lên đến 26% (4,6 triệu hộ) do các nguyên nhân sau:
Sai lệch thống kê: Do sự điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần
với chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) làm cho tỷ lệ nghèo tăng lên.
Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, năm 2004 vẫn còn 74,1% dân số
sống ở nông thôn, trong khi tỉ lệ đóng góp của nông nghiệp vào GDP ở mức
thấp. Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất bình đẳng cao
trong khi thu nhập bình quân đầu người còn thấp.
Người dân còn phải chịu nhiều rủi ro, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch
bệnh, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá sản phẩm đầu vào và đầu
ra do biến động trên thị trường thế giới như cuộc khủng hoảng dầu mỏ làm
giá dầu tăng mạnh ảnh hưởng lớn đến CPSX đầu vào và giá đầu ra; hệ thống
hành chính kém minh bạch, quan liêu, tham nhũng…
Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy biết bao tuổi thơ
em nhỏ. Các em không được hưởng quyền có một tuổi thơ êm đẹp, được
thương yêu, chăm sóc và được bao bọc bởi mái ấm gia đình. Sau này, khi
trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến lượt các con em có nguy cơ phải hứng
chịu tiếp nỗi bất hạnh ấy, và cứ vậy nó cứ luân chuyển từ thế hệ này qua thế
hệ khác làm một bộ phận người dân bị hủy hoại.
Sự chênh lệch giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa các dân tộc còn cao.
Môi trường bị hủy hoại, ô nhiễm nạng nề trong khi đại bộ phận người nghèo
đều sống dựa vào nông nghiệp.
Hiệu năng quản lý của Chính phủ còn thấp. 1.4.
Sự cần thiết của công tác xóa đói, giảm nghèo
Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý
nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân ổn
định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn
còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển 1 nền kinh tế 7
bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có
ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội:
- Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ
nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập
vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh,
giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn
định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và
chủ trương của đảng và Nhà nước.
- Hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái. 1.5.
Hậu quả của nghèo đói
Có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ và yêu cầu xoá
đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng
phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự
bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội làm
chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế-xã hội.
Không giải quyết thành công các chương trình xoá đói giảm nghèo sẽ không
thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như
thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được.
Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ
không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực con người
phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới trình
độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, thoát khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu.
Nghèo đói là một trong những nguyên nhân gây nên suy thoái và ô nhiễm
môi trường, biến đổi khí hậu.
Nghèo đói làm gia tăng các tệ nạn xã hội, bất bình đẳng xã hội, làm giảm
chất lượng cuộc sống của người dân và làm tăng quy mô dân số.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở
VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT ĐẶT RA.
1.1.
Thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo
“Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện
thành công nhất trong phát triển kinh tế” ( Nguồn: Báo cáo phát triển Việt
Nam năm 2004 của Ngân hàng Thế giới).
Việt Nam đã trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á -
TBD trong việc áo dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều ( y tế, giáo
dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) để giảm nghèo ở tất cả các khía cạnh, 8
Theo báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt
Nam”, được NHTG công bố ngày 5/4/2018, tỷ lệ nghèo giảm ở mọi nơi đối
với cả dân độc đa số và thiểu số.
Tất cả các phép đo nghèo đều cho thấy những tăng trưởng trên diện rộng và
nhất quán (Hình 1). Được xác định theo chuẩn nghèo quốc gia của TCTK-
Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ người nghèo giảm từ 20,8% vào năm 2010 xuống
9,8% năm 2016, giảm gần 4 điểm phần trăm trong 2 năm từ 2014-1016.
Hình 1. Tỷ lệ nghèo dựa theo chuẩn nghèo quốc tế và quốc gia, 2010-1016
Trong khi đó, ước tính dựa trên chuẩn nghèo của các nước có mức thu nhập
dưới trung bình (ở mức 3,2 USD/người/ngày theo PPP 2011) cho thấy một tỷ
lệ nghèo thấp hơn với mức là 8,6% vào năm 2016. Khoảng cách nghèo, chỉ
số đo xem mức tiêu dùng của người nghèo thấp hơn bao nhiêu so với chuẩn
nghèo cũng giảm từ từ. Điều này chỉ ra rằng nghèo đã trở nên ít nghiêm
trọng hơn, đồng thời cho thấy thành công đáng chú ý của Việt Nam trong
công cuộc giảm nghèo vẫn tiếp tục.
Rất nhiều hô ¤ gia đình Viê ¤ t Nam đang thoát nghèo và các thành tựu đạt được
gần đây dường như bền vững. Nghèo được xác định ở mức chuẩn nghèo
quốc gia theo TCKT-Ngân hàng thế giới giảm gần 4 điểm phần trăm kể từ
năm 2014, xuống còn 9.8 phần trăm trong năm 2016. Đáng chú ý, tỷ lệ
nghèo số hô ¤ nghèo thuô ¤c dân tô ¤c thiểu số giảm 13 điểm phần trăm, và đây là
mức giảm tỷ lê ¤ nghèo lớn nhất của các hô ¤ dân tô ¤c thiểu số trong thâ ¤p kỷ vừa qua.
Vào năm 2010, ước tính 98% các hộ gia đình được kết nối với lưới điện quốc
gia, Các chỉ số khác cũng lần lượt cải thiện. Sóng điện thoại di động có ở
mọi nơi, số hộ có ít nhất một điện thoại di động tăng từ 73% năm 2010 lên
93% năm 2016. Khả năng tiếp cận vệ sinh được cải thiện từ 70% lên 83% và
khả năng tiếp cận nguồn nước uống tốt tăng từ 72% lên 78%. Số hộ có nước
máy trong nhà tăng từ 26% lên 38% ( Bảng 1). 9
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được thành công trong giáo dục
và tiếp tục cải thiện:
oTỷ lệ hoàn thành bậc học trung học phổ thông tăng, bằng chứng là số
lượng người từ 20-24 tuổi hoàn thành chương trình THPT tăng từ
52% năm 2010 lên 59% năm 2016.
oTỷ lệ đăng ký chương trình giáo dục mầm non (ECD) cũng tăng,
khoảng 2/3 số trẻ trong độ tuổi từ 3-5 tuổi đăng ký học mầm non vào
năm 2016, tăng 13 điểm % so với năm 2010.
o Tỷ lệ trẻ em thuộc các hộ gia đình trong nhóm 40% phía dưới nhóm
dưới và vùng nông thôn đăng ký học mầm non tăng 15 điểm %. Tỷ lệ
đăng ký học mầm non tăng owr tất cả các khu vực, từ 10 điểm % ở
khu vực Đông Nam Bộ lên tới 18 điểm % ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ (Bảng 1).
oSự chênh lệch giữa tỷ lệ nhập học THPT giữ trẻ em thuộc hộ nghèo
và hộ không nghèo đã mở rộng lên tới hơn 24 điểm % vào năm 2016.
Bảng 1. Xu thế của các chỉ số thịnh vượng phi tiền tệ, 2010-2016 ECD Hoàn tất ĐH, Nước máy Nước được Nhà vệ sinh Điện thoại CĐ, trường cải thiện được cải thiện nghề 2010 2016
2010 2016 2010 2016 2010 2016 2010 2016 2010 2016 Nam 53.6 66.1 47.7 50.9 22.4 35.1 69.6 76.2 68.7 82.5 79.3 94.6 Nữ 52.9 67.4 56.0 66.6 37.0 47.2 78.2 83.6 74.1 85.4 75.0 87.7 DT thiểu số 44.6 54.5 26.2 31.5 5.7 10.8 43.4 46.9 23.1 45.3 51.0 85.0 Người Kinh 55.2 67.3 56.8 66.0 29.2 42.6 76.0 83.2 77.0 89.4 81.9 94.0 và người Hoa Không 59.2 69.1 59.0 64.2 30.4 40.8 76.4 81.3 78.1 87.7 84.1 94.4 nghèo Nghèo 38.7 53.2 18.7 16.2 6.7 7.1 50.9 40.2 33.5 30.5 49.0 72.6 60% trên 62.2 74.4 64.1 71.9 35.7 49.3 79.6 86.1 84.0 93.4 87.6 96.6 40% dưới 42.4 57.9 24.9 33.4 9.4 18.2 58.2 63.8 45.6 65.0 60.8 86.0 Nông thôn 49.0 64.2 44.8 53.2 8.7 20.5 63.4 69.9 60.4 77.0 74.4 90.9 ĐBSH 68.2 81.5 72.8 80.7 27.6 46.6 61.4 73.1 87.4 97.8 81.1 91.6 Trung du và 60.8 78.0 43.3 43.2 13.1 15.3 58.8 60.4 52.2 69.5 69.7 93.4 miền núi BB BTB và 54.2 66.6 55.3 63.0 21.1 31.1 79.5 81.4 72.1 83.4 75.3 90.1 duyên hải miền Trung Tây 38.7 52.3 41.2 49.0 12.8 18.0 78.6 81.9 51.2 66.6 78.8 89.4 Nguyên Đông Nam 54.7 64.7 51.4 57.8 43.8 56.0 93.7 97.6 90.2 95.7 84.8 97.4 Bộ 10 ĐB SCL 33.0 44.1 29.9 43.0 27.3 42.8 64.2 74.9 44.5 67.8 77.1 94.2 Việt Nam 53.3 66.7 51.9 58.8 26.2 38.2 71.9 78.1 70.1 83.3 78.2 92.8
1.1.1. Nhà nước ban hành Nhóm chính sách cải thiện tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản:
Nhóm chính sách về giáo dục - đào tạo
oHiện nay chính sách giáo dục - đào tạo nhằm giải quyết vấn đề chênh lệch
giáo dục giữa các nhóm xã hội khác nhau đang đi theo hướng tiếp cận đa
chiều. Các nhóm chính sách chính có thể kể đến là: hỗ trợ trực tiếp cho
người đi học (ví dụ cấp học bổng, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập,
hỗ trợ bán trú, hỗ trợ gạo); tín dụng giáo dục (cho vay học sinh, sinh viên);
cử tuyển; thu hút giáo viên về các vùng khó khăn; giáo dục song ngữ cho trẻ
em DTTS; đầu tư CSHT cho giáo dục.
Các chính sách hỗ trợ trực tiếp thể hiện nỗ lực của Nhà nước nhằm hỗ trợ
con em các hộ nghèo, hộ DTTS vùng khó khăn vượt qua các rào cản của
nghèo đói, đường sá xa xôi để có thể đến trường. Các hỗ trợ có từ bậc mầm
non đến đại học và giúp được nhiều hộ gia đình bớt đi gánh nặng về chi phí học tập cho con em.
oNăm 2016, Ngân sách trung ương bố trí khoảng 5.649.031 tỷ đồng để thực
hiện chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho khoảng
3.807.187 đối tượng theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP. Trong đó Miễn học phí
là 1.720.463 đối tượng ước tính 3.060.586 tỷ đồng; Giảm học phí 351.180
đối tượng ước tính 1.491.867 tỷ đồng; hỗ trợ chi phí học tập 1.735.545 đối
tượng ước tính 1.096.578 tỷ đồng.
Nhóm chính sách hỗ trợ y tế
oTừ năm 2002, các thành viên hộ nghèo được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế.
Việc triển khai chính sách này đã tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp
cận với dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, chia sẻ một phần gánh nặng về chi phí
khám chữa bệnh của người nghèo. Từ năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg đã bổ sung chính sách cho các nhóm đối
tượng hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ làm nông,lâm, ngư, diêm nghiệp
có mức sống trung bình được hỗ trợ mua bảo hiểm y tế và hỗ trợ gián tiếp để
nhóm đối tượng này có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lượng ngay
tại tuyến cơ sở và với trường hợp mắc bệnh nặng với chi phí lớn khi phải
điều trị tại tuyến trên.
oTrong năm 2016, ngân sách đã bố trí khoảng 9.000 tỷ đồng để thực hiện mua
thẻ bảo hiểm y tế cho khoảng trên 14 triệu đối tượng (người nghèo, đồng bào
dân tộc thiểu số và nhân dân sống ở vùng đặc biệt khó khăn, hải đảo); bố trí
khoảng 1.172 tỷ đồng hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho khoảng 1.825.000
người thuộc hộ cận nghèo. 11
Nhóm chính sách về nhà ở
oQuyết định số 33/2015/QĐ-TTg ban hành ngày 10/8/2015 của Thủ tướng
Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo chưa có nhà ở
hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập
đổ. Thực hiện hỗ trợ theo phương thức Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn để xây
dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở với lãi suất ưu đãi, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia
đình tự tổ chức xây dựng nhà ở. Sau khi được hỗ trợ, các hộ gia đình phải
xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đang có, đảm bảo
diện tích sử dụng tối thiểu 24 m2 (đối với những hộ độc thân không nơi
nương tựa, có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không
thấp hơn 18m2) và “3 cứng” (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng); tuổi
thọ căn nhà từ 10 năm trở lên. Nhà ở phải đảm bảo an toàn khi xảy ra bão, tố,
lốc. Theo ước tính, từ 2016-2020 sẽ có khoảng 311 nghìn hộ nghèo sẽ được
hỗ trợ theo chính sách này. 1.2.
Những tồn tại trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
Bên cạnh những thành quả trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo thì vẫn còn
tồn tại những bất cập:
Tốc độ giảm nghèo không đều giữa các vùng:
- Các hộ ở khu vực Trung du và miền núi BB không có tiến bộ lắm đối với
giáo dục bậc trung học và tiếp cận nguồn nước. Tỷ lệ hoàn thành bậc THPT
ở đây cơ bản không đổi ở mức 43% trong giai đoạn 2010-2016. Tuy nhiên,
tỷ lệ hoàn thành có thể tăng trong tương lai gần vì tỷ lệ nhập học THPT đã tăng 5 điểm %.
- Số các hộ có nước máy hay tiếp cận nguồn nước sạch ở Trung du và miền
núi BB cải thiện nhưng tăng chưa đến 2 điểm % từ 2010-2016.
- Tương tự có thể thấy tiến bộ hạn chế này tương tự đối với các hộ trên và
dưới ngưỡng nghèo (Bảng 1).
Tồn tại bất bình đằng trong thu nhập giữa các vùng
- Ở góc độ vùng, dù căn cứ theo thước đo nào, Đông Nam Bộ hiện nay vẫn là
vùng bình đẳng nhất trong cả nước, trong khi Tây Nguyên và Trung du và
miền núi phía Bắc là 2 vùng bất bình đẳng nhất và cách biệt khá nhiều so với
các vùng còn lại. Vùng Đông Nam Bộ đã thực hiện tốt công cuộc giảm bất
bình đẳng, khi đây đã từng là khu vực bất bình đẳng nhất trong cả nước
Chênh lệch giữa các nhóm thu nhập: 12
Dù đã đưa đưa các chính sách nhằm hỗ trợ người nghèo nhưng:
- Các văn bản chính sách về giáo dục hiện nay được đánh giá là hướng đến
giải quyết chênh lệch về tiếp cận giáo dục nhiều hơn chênh lệch về chất
lượng giáo dục. Một số chính sách còn bỏ sót một số nhóm đối tượng khó
khăn. Các chính sách cấp học bổng hiện nay đối với sinh viên người DTTS
học đại học mới chỉ áp dụng với hệ cử tuyển, còn những sinh viên DTTS tự
thi đỗ không được nhận học bổng này. Các chính sách cấp học bổng, hỗ trợ
bán trú, hỗ trợ gạo, hỗ trợ học sinh THPT vùng khó khăn chỉ áp dụng với học
sinh tại các trường công lập mà không áp dụng đối với khu vực tư.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA.
3.1. Giải pháp:
3.1.1. Mở rộng phạm vi bao phủ các chương trình/chính sách cả về chiều rộng
và chiều sâu, tập trung vào các nhóm yếu thế
oBảo đảm an sinh xã hội cho toàn dân. Trong tương lai, cần phải thay đổi cách
thiết kế chính sách, trong đó, tầng thấp nhất nhằm bảo đảm cho mọi người
dân được an sinh tối thiểu và không phụ thuộc vào mức độ tham gia đóng góp.
oTiếp tục mở rộng đối tượng, chính sách và điều kiện để thực hiện an sinh xã
hội, ưu tiên đối với nhóm yếu thế và chịu tác động của biến cố tự nhiên, xã
hội, ưu tiên vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chuyển dần từ hỗ
trợ hộ nghèo sang hỗ trợ các đối tượng dễ dàng xác định, đồng thời cũng dễ
bị tổn thương như trẻ em, người già, người tàn tật, những người sinh sống
trong một số địa bàn khó khăn ở các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây
Nguyên, một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo cao đi kèm
với tốc độ giảm nghèo chậm như H’mông, Xơ Đăng, Gia Rai...
3.1.2. Khuyến khích việc xây dựng các tổ chức, các quỹ từ thiện để giúp đỡ
những người nghèo hoặc các chương trình truyền hình thực tế như:
Chung một tấm lòng, Vượt lên chính mình, Ngôi nhà mơ ước….

3.1.3. Xây dựng thêm các cơ sở hạ tầng cho vùng nông thôn, đẩy mạnh phát triển thủy lợi… 13
3.1.4. Mở thêm những lớp huấn luyện, giảng dạy cho người dân, giúp họ cải
thiện vốn tri thức, nâng cao giá trị bản thân, phát triển tay nghề kỹ
thuật, biết cách ứng dụng công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất
nhằm tạo điều kiện cho họ có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với Nhà nước:
- Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giåm nghèo, tất cå mọi cán bộ
Đảng, chính quyền đều phåi quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giåi
pháp một cách đồng bộ và phåi có sự tham gia của toàn thể cộng đồng.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý từ bên ngoài bằng cách thiết lập một hệ
thống bảo trợ xã hội phù hợp với nền kinh tế tiền lương.
- Cần xem xét lại các tiêu chí cho điểm của các dịch vụ xã hội cơ bản như: nhà
ở, trình độ tay nghề của người dân, BHXH…
3.2.2. Đối với từng hộ gia đình
- Cần phải nhận thức rõ việc giảm đói nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà
nước mà nó là nhiệm vụ của cả cộng đồng, của từng thành viên trong gia
đình, bởi gia đình là tế bào của xã hội. Chỉ khi từng gia đình nhỏ ý thức
được, tự giác thực hiện thì mới tạo nên một tập thể xã hội vững mạnh, đưa đất nước phát triển.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Thứ nhất, xã hội hóa công tác xóa đói, giảm nghèo, thu hút mọi tổ chức, mọi
nguồn lực tham gia, hoàn thành tái định cư, tạo cồn ăn việc làm cho người nghèo.
Thứ hai, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng còn yếu kém, đồng thời
tổ chức dạy nghề, chuyển giao KH-KT, hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo.
Thứ ba, xác định đúng đối tượng nghèo đói và nguyên nhân cụ thể dẫn đến
vấn đề này để đưa ra chính sách hỗ trợ cho phù hợp với từng nhóm dân.
Tranh thủ được các nguồn lực nước ngoài cả về mặt vật chất, vốn, kỹ thuật
và kinh nghiệm để giúp đỡ người lao động nghèo. KẾT LUẬN
Ngày nay, vấn đề giảm nghèo phải được nhìn nhận theo nghĩa rộng, không chỉ
giảm nghèo với ý nghĩa tăng thu nhập mà giảm nghèo bền vững phải được nhìn
nhận dưới góc độ cải thiện các nguồn lực đầu vào cho người nghèo như trình độ
giáo dục, điều kiện y tế, chăm sóc sức khỏe, các nguồn tín dụng hỗ trợ cho sản xuất
và đất đai. Những nguồn lực này sẽ quyết định sự công bằng trong phân phối đầu ra
như tiền công tiền lương và giảm bất bình đẳng về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. 14
Qua việc phân tích thực trạng và các vấn đề còn tồn tại trong công tác xóa đói,
giảm nghèo, tôi đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị và bài học kinh nghiệm cá
nhân tôi rút ra được góp phần phát triển công tác giảm đói nghèo.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004” của Ngân hàng Thế giới.
2. Báo cáo cập nhật về đói nghèo và thịnh vượng chung ở Việt Nam
2018 của World Bank.
3. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2002-2018.
4. Nguồn số liệu: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê.
5. Nguồn số liệu: Tính toán của các tác giả từ KSMS 2010, 2012, 2014,2016.
6. Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới WPS6414,
Ngân hàng Thế giới. Washington, DC, Hoa Kỳ.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng
ĐB SCL: Đồng bằng sông Cửu long DT: Dân tộc LHQ: Liên Hợp Quốc CSHT: Cơ sở hạ tầng DTTS: Dân tộc thiểu số THPT: Trung học phổ thông TBD: Thái Bình Dương NHTG: Ngân hàng Thế giới
KH-KT: Khoa học – Kỹ thuật ĐH: Đại học CĐ: Cao đằng BB: Bắc Bộ BTB: Bắc Trung Bộ 15 BHXH : Bảo hiểm xã hội 16