HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI SỐ 14: Phân tích hàng hóa sức lao động. Từ đánh giá
khái quát về triển vọng của thị trường sức lao động Việt Nam, hãy
nêu giải pháp cho bản thân để sau khi ra trường, anh/chị việc
làm với mức thu nhập như kỳ vọng.
Giảng viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Văn Hoàng
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Hà My
Lớp : K24KTB
Mã sinh viên : 24A4021194
Bắc Ninh, ngày 07 tháng 04 năm 2022
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................1
I. HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG.................................................................1
1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:.........1
1.1. Khái niệm sức lao động:.....................................................................1
1.2. Khái niệm hàng hóa sức lao động......................................................2
1.3. Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá........................2
2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động.............................................3
2.1. Giá trị hàng hóa..................................................................................3
2.2. Giá trị sử dụng....................................................................................4
3.Giá cả của hàng hóa sức lao động - tiền công.........................................4
3.1. Bản chất của tiền công.......................................................................4
3.2. Hình thức tiền công cơ bản................................................................4
3.3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế........................................5
II. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC
TRẠNG SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG............................................5
1. Khái niệm thị trường lao động................................................................5
2. Thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay.............................................5
2.1. Thực trạng thị trường sức lao động (thị trường lao động) Việt
Nam.............................................................................................................5
2.2. Vấn đề việc làm sự mâu thuẫn cung - cầu trong thị trường lao
động............................................................................................................6
3. Thực trạng sinh viên sau khi ra trường.................................................7
4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp và không đạt được mức
thu nhập ổn định như kỳ vọng của sinh viên hiện nay.............................8
III. GIẢI PHÁP.............................................................................................10
KẾT LUẬN....................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................12
LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn lao động tài sản quý giá to lớn đối với một quốc gia, đó vừa
tiền đề, vừa là động lực và là mục tiêu để thực hiện chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Quan tâm đến nguồn lao động tức là quan tâm đến mọi
mặt vấn đề liên quan đến người lao động, từ đó bộc lộ bản chất, tính ưu việt
của chế độ. Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin về hàng hóa sức lao động
cùng với thực trạng thị trường sức lao động của nước ta hiện nay thì việc hoàn
thiện thị trường sức lao động không chỉ mang tính kinh tế còn mang ý
nghĩa chính trị, một vấn đề cấp thiết. Vậy nên tôi muốn nghiên cứu đi sâu
vào phân tích: hàng hóa sức lao động và ý nghĩa đối với việc hoàn thiện thị
trường sức lao động Việt Nam hiện nay” Bài tiểu luận sẽ giải thích, phân tích,
làm các khái niệm hàng hóa”, “hàng hóa sức lao động”, “thị trường”,
thị trường sức lao động” theo chủ nghĩa Mác - Lênin từ đó rút ra ý nghĩa việc
nghiên cứu hàng hóa sức lao động đối với việc hoàn thiện thị trường sức lao
động việt nam trong thời kỳ đổi mới. Phân tích thực trạng thị trường hàng hóa
sức lao động Việt nam hiện nay, từ đó đề xuất ra một số giải pháp góp phần
nâng cao và hoàn thiện thị trường sức lao động tại Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới
I. HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
1.1. Khái niệm sức lao động:
Theo C.Mác: “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong cơ thể
con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con
người phải làm trong hoạt động để sản xuất ra những vật có ích.”
1
Sức lao động khả năng lao động của con người điều kiện tiên quyết
của mọi quá trình sản xuất lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của
hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu
dùng sức lao động trong hiện thực
1.2. Khái niệm hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động là chỉ sức lao động hay năng lực lao động cả về năng
lực thể chất lẫn năng lực tinh thần tồn tại trong thể của 1 người. người
đó dùng nó để vận dụng vào các công tác hoạt động cho 1 giá trị sử dụng nào
đó.
Hiểu 1 cách đơn giản thì, Hàng hóa sức lao động hàng hóa đặc biệt trên thị
trường, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế.
1.3. Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá
Từ trước đến nay, sức lao động luôn là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động
sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng hàng hoá. Sức lao
động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện lịch sử sau:
Một là, tự do về thân thể
Người sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao
động và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
Hai là, mất tư liệu sản xuất.
Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất để trở thành người sản
bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác để sinh sống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động
biến thành hàng hoá. Sức lao động trở thành hàng hóađiều kiện quyết định
để tiền biến thành bản. Tuy nhiên để tiền biến thành bản thì lưu thông
hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức nhất định.
Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó:
Cách mạng sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể
vào chủ nô và chúa phong kiến.
2
tác động của quy luật giá trị các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư
bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập
trung liệu sản xuất vào trong tay một số ít người. Việc mua bán sức lao
động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn.
VD về hàng hóa sức lao động: bàn, ghế, điện thoại, tivi,… hàng hóa từ sức
lao động rất gần gũi và quen thuộc.
2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động.
2.1. Giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa sức lao động giá trị của những liệu sinh hoạt cần
thiết để duy trì cuộc sống bản thân người lao động và gia đình về mặt vật chất
lẫn tinh thần. Các yếu tố hợp thành lượng giá trị hàng hóa sức lao động:
Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất
sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân.
Phí tổng đào tạo người công nhân.
Giá trị những liệu sinh hoạt về vật chất tinh thần cần thiết cho gia đình
người công nhân.
Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả
yếu tố tinh thần lịch sử. Điều đó thể hiện chỗ: nhu cầu của công nhân
không chỉ nhu cầu về vật chấtcòn gồm cả những nhu cầu về tinh thần
(giải trí, học hành,…).
Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho
công nhân không phải lúc nào đâu cũng giống nhau. tùy thuộc hoàn
cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã
đạt được của mỗi nước.
Trong điều kiện bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật những điều kiện khác, sự khác biệt của công nhân về trình độ
lành nghề, về sự phức tạp của lao động mức độ sử dụng năng lực trí óc
tinh thần của họ tăng lên.
3
Tất cả những điều kiện đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao
động. Không thể không dẫn đến sự khác biệt theo ngành theo lĩnh vực của
nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động.
2.2. Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá
khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, chính quá trình
sản xuất hàng hóa.
Những tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là:
Thứ nhất, sức lao động tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần
giá trị mới này chính giá trị thặng dư. Như vậy, hàng hoá sức lao động
thuộc tính nguồn gốc sinh ra giá trị. Đó đặc điểm bản nhất của giá trị
sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác. Nó là chìa khoá
để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của bản. Như vậy, tiền chỉ
thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
Thứ hai, hàng hóa sức lao động đặc điểm khác biệt, đó nguồn gốc trực
tiếp tạo ra giá trị thặng dư, chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức
chung của tư bản.
3.Giá cả của hàng hóa sức lao động - tiền công
3.1. Bản chất của tiền công
Tiền công giá cả của hàng hóa sức lao động nhà bản đã mua của
người công nhân. Vì vậy, giá trị của hàng hóa sức lao động sẽ quyết định tiền
công. Tiền công phụ thuộc vào quan hệ cung – cầucuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân cũng như các chính sách điều tiết của nhà nước.
3.2. Hình thức tiền công cơ bản
Tiền công có hai hình thức cơ bản sau đây:
Tiền công tính theo thời gian hình thức tiền công tính theo thời gian lao
động của người công nhân (giờ, ngày, tuần, tháng). Tùy vào độ dài hay ngắn
của thời gian lao động, nhà bản sẽ trả mức tiền công tương ứng cho người
4
công nhân. Tiền công tính theo sản phẩm hình thức tiền công tính theo số
lượng sản phẩm đã làm ra hoặc việc hoàn thành xong số lượng công việc
người công nhân trong một thời gian nhất định.
3.3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa số tiền người công nhân nhận được do bán sức
lao động của mình cho nhà bản. Tiền công thực tế tiền công được biểu
hiện bằng số lượng hàng hóa dịch vụ người công nhân mua được bằng
tiền công danh nghĩa của mình.
II. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN
NAYTHỰC TRẠNG SINH VIÊN SAU KHI RA
TRƯỜNG
1. Khái niệm thị trường lao động
Thị trường lao động nơi thực hiện các quan hệ hội giữa người bán sức
lao động (người công nhân làm thuê) người mua sức lao động (người sử
dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả ( tiền công,
tiền lương) các điều kiện làm việc khác trên sở một hợp đồng lao động
bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận
khác.
2. Thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay
2.1. Thực trạng thị trường sức lao động (thị trường lao động) ở Việt Nam.
2.1.1. Thực trạng cung lao động:
Về số lượng
Nguồn lao động của nước ta rất dồi dào về cả hiện tại tương lai. Hiện nay,
số lượng người lao động chiếm khoảng 60% dân số. Hằng năm, nước ta lại
được bổ sung thêm khoảng hơn 1 triệu lao động mới. Nguyên nhân của sự gia
tăng nhanh chóng về số lượng lao động nước ta do tốc độ tăng dân số
5
cũng như hậu quả từ cuộc bùng nổ dân số trước đây xu hướng trẻ hóa dân
số đang diễn ra. Năm 2013, dân số Việt Nam đã đạt khoảng 90 triệu
người,trong đó nhóm dân số có độ tuổi từ 15-64 chiếm 69% tổng số dân.
Về chất lượng
Người lao động nước ta cần cù, có kinh nghiệm trong sản xuất gắn với truyền
thống của dân tộc được tích lũy qua nhiều thế hệ, đặc biệt trong các ngành
nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp. Nguồn lao động trẻ đang xu
hướng tăng, khả năng ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học-kĩ
thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động của nước ta còn
thấp. Năm 2012, số người lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 17.6%.
2.1.2. Sự phân bố nguồn lao động
Hiện nay, thị trường lao động đang sự phát triển không đồng đều, dẫn tới
sự
chênh lệch về tỷ suất cung cầu trong thị trường lao động mỗi ngành nghề
mỗi vùng miền khác nhau. Trong các ngành kinh tế, tỉ trọng người lao
động hoạt động trong ngành nông lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm phần lớn với
trên 50%. Trong khu vực nông thôn thành thị, tỉ trọng người lao động
nông thôn chiếm tới khoảng 70% những người lao động đã qua đào tạo lại tập
trung chủ yếu thành thị. Điều này làm cho thị trường lao động của nước ta
phát triển không đồng đều giữa các ngành giữa các vùng với nhau, khiến
nhịp độ phát triển kinh tế đất nước cũng trở nên không đồng bộ, thống nhất.
2.2. Vấn đề việc làm và sự mâu thuẫn cung - cầu trong thị trường lao động
Với nguồn lao động đông đảo về số lượng nhưng chất lượng lại hạn chế, tình
trạng thất nghiệp thiếu việc làm hoặc phải làm trái ngành nghề đào tạo
đang diễn ra phổ biếndần trở thành một vấn nạn của hội ở nước ta, gây
lãng phí nguồn
lao động. Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, sáu tháng đầu năm
2013, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính 2.28% (tăng
0.32% so với năm 2012), còn tỷ lệ thiếu việc làm là 2.95% (tăng 0.21% so với
6
năm 2012). Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp thiếu việc làm ở nước ta đang có xu
hướng gia tăng. Điều này đồng nghĩa với hiện nay trong thị trường lao động,
cung đang lớn hơn cầu. Mặt khác, hằng năm, nước ta lại được bổ sung thêm
khoảng 1 triệu lao động mới, trong đókhoảng trên 200 nghìn sinh viên đại
học, cao đẳng tốt nghiệp, cung cấp một lượng lớn nguồn nhân lực cho hội
nhưng các công ty, doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nước ngoài vẫn
kêu ca “khan hiếm nguồn lực” dẫn đến tình trạng “vừa thiếu vừa thừa” nguồn
lao động.
3. Thực trạng sinh viên sau khi ra trường
Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, đến quý 1 năm 2017, trong
tổng lực lượng lao động cả nước có gần 918 nghìn lao động thiếu việc làm
lao động thất nghiệp 1,14 triệu người. Thông thường, tình trạng thiếu việc
luôn là vấn đề phổ biến khu vực nông thôn. Trong quý 1 năm 2017, hiện
gần 85,0% lao động thiếu việc làm sinh sống khu vực này. Xét về khác biệt
giới, thị phần lao động nam thiếu việc cao hơn so với lao động nữ (52,2%
47,8 % tổng số lao động thiếu việc cả nước). Đồng thời, tình trạng thất
nghiệp lại được quan tâm hơn ở khu vực thành thị. Mặc dù, tỷ trọng lao động
thất nghiệp thành thị hiện thấp hơn, chỉ chiếm khoảng 47,6% tổng số lao động
thất nghiệp cả nước. Hơn nữa, dựa trên kết quả điều tra lao động việc làm quý
1 năm 2017 cũng cho thấy lao động thất nghiệp nam đông hơn so với lao
động nữ (chiếm 58,9% và 41,1% trong tổng số lao động thất nghiệp cả nước).
Nếu xem xét tình trạng thất nghiệp theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
(CMKT) tức sinh viên ra trường trình độ chuyên môn nhất định, trong
quý 1 năm 2016, tới hơn 32,3% số lao động thất nghiệp cả nước lao
động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc nghề từ 3 tháng trở lên. Trong đó,
nhóm lao độngtrình độ từ đại học trở lên chiếm thị phần lớn nhất, khoảng
38,6% tổng số lao động thất nghiệp nhóm này. 6 nhóm ngành/nghề đào tạo
hiện tỷ trọng lao động thất nghiệp trình độ CMKT từ 3 tháng trở lên
7
theo thứ tự “Kinh doanh quản - 30,3%”, “Công nghệ kỹ thuật -
13,4%”, “Sức khỏe - 10,7%”, “Dịch vụ vận tải - 9,5%” “Khoa học giáo
dục đào tạo giáo viên - 9,0%”. Chỉ khoảng 3,6% nhóm lao động thất
nghiệp có trình độ CMKT là có 2 bằng/chứng chỉ đào tạo trở lên.
Bảng biểu 1: Phần trăm lao động việc làm theo các tiêu chí tự đánh giá
công việc chính hiện tại, thành thị, nông thôn, giới tính, quý 1/2017
4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp và không đạt được mức
thu nhập ổn định như kỳ vọng của sinh viên hiện nay
4.1. Không có định hướng nghề nghiệp trước khi học
Việt Nam, việc chọn nghề phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của các bậc
phụ huynh. Với tâm luôn muốn che chở, bao bọc con, các bậc cha mẹ
thường thiên về những ngành “an toàn”, mang lại danh tiếng, như kỹ sư, bác
sĩ,… con cái thì cũng thụ động, cha mẹ chọn ngành con học ngành đó.
Mặt khác, xu hướng thị trường cũng là một điều đáng nói. Một số bạn trẻ còn
xu hướng chạy theo các nghề “hot” để theo kịp bạn bè, chứ không thực sự
vì đam mê và đúng sở trường.
8
Không biết định hướng và lựa chọn cho mình ngành học phù hợp, sinh viên sẽ
dẫn đến tình trạng chán nản, kết quả học tập sút kèm, không sự yêu thích
tâm huyết,… Vì vậy, việc định hướng nghề nghiệp cho tương lại đóng vai
trò hết sức quan trọng trong việc tạo dựng một sự nghiệp thành công.
4.2. Sinh viên ra trường thiếu kỹ năng làm việc
Nhiều doanh nghiệp lớn cho biết:“Kỹ năng của sinh viên mới ra trường
chưa hình thành nếu không muốn nói không có”. Sinh viên ra trường hiện
nay có kiến thức nhưng thiếu kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng cần thiết để làm
việc. Một số bạn trẻ còn cho rằng, các nhà tuyển dụng chỉ cần tuyển người
năng lực chuyên môn, vi tính thành thạo, ngoại ngữ bằng A, B, C… Chính
thế, các bạnchỉ tập trung học chuyên môn không chịu trau dồi kỹ năng
mềm. Trong khi đó các chủ doanh nghiệp, nhất các doanh nghiệp nước
ngoài luôn chú trọng đến các kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ
năng làm việc theo nhóm, khả năng lập kế hoạch mục tiêu, xử lý nhanh những
khó khăn trong tình huống bất ngờ…
4.3. Chất lượng đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu xã hội
Trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ đã đầu tư rất nhiều vào các trường đại
học quốc gia nhưng kết quả không khả quan khi số lượng sinh viên ra
trường vẫn thất nghiệp. Bên cạnh đó, với tiếp cận hội hóa giáo dục cho
phép nhiều trường đại học được mở ra rộng kích thích cạnh tranh giữa các
trường nhà nước và trường tư.
Tuy nhiên, chúng ta cũng chẳng mong đợi nhiều kết quả này, bởi các đại
học lợi nhuận chỉ cấp bằng, họ không đào tạo “đúng trúng”. Cả hai
cách cải tiến trên đều làm nảy sinh số người tốt nghiệp cao nhưng không
kỹ năng để làm việc trong công nghiệp. Bên cạnh đó, thành tích của các cấp
học dưới đẩy lên các cấp học trên đã khiến những người làm giáo dục bất
chấp hậu quả chính người học hội phải gánh tạo ra những sản
phẩm không đủ chất lượng, dẫn đến hậu quả đầu ra của đội ngũ nhân lực nước
ta yếu và nền giáo dục Việt Nam ngày càng tụt hậu.
9
Một nguyên nhân khác do các trường đại học, cao đẳng còn xem nhẹ phần
thực hành mà quá đặt nặng lý thuyết.
4.4 Trình độ ngoại ngữ vẫn còn nhiều hạn chế
Một trong các do tạo nên làn sóng “cử nhân thất nghiệp” chính vấn đề
tiếng Anh. Chúng ta đều biết tiếng Anh được xem như tấm thông hành
trong tất cả mọi ngành nghề trong thời kỳ hiện đại. Thực ra, hầu hết sinh viên
các trường đại học đều được học tiếng Anh, nhưng chính thái độ học thụ
động, không áp dụng thực tế thì khi ra trường, kỹ năng ngoại ngữ chỉ con
số 0. Chỉ được động lực học, cách học phù hợp, khoa học, áp dụng vào
môi trường thực tế mới có thể nâng cao trình độ tiếng Anh, đáp ứng được nhu
cầu của nhà tuyển dụng.
4.5. Luôn than trách và đổ lỗi cho số phận
Đó là điều mà sinh viên vẫn thường làm để che đậy sự lười nhác của bản thân.
Luôn đổ lỗi cho không chỉ tiêu rồi đào tạo nhưng không đảm bảo đầu ra.
Tốt nghiệp ngồi chờ nhà tuyển dụng. Luôn than trách không việc làm,
đó là điều càng khiến sinh viên vùi mình sâu hơn vào nguy cơ thất nghiệp.
III. GIẢI PHÁP
Hiện nay, Việt Nam đã đang tiếp cận áp dụng các khuyến nghị mới của
Tổ chức Lao động Quốc tế về lao động việc làm. Tuy nhiên, với những
nước đang phát triển - nền kinh tế vẫn mang đậm dấu ấn nông nghiệp hoặc
việc làm phi chính thức chiếm thị phần đáng kể trong nền kinh tế hay mức
sống của người dân chưa cao an sinh hội chưa đầy đủ, vì vậy người lao
động thường chấp nhận làm bất cứ loại công việc gì, kể cả những công việc
mức thu nhập thấp, bấp bênh, điều kiện làm việc không đảm bảo nhằm
nuôi sống bản thân và gia đình hơn là thất nghiệp dài để chờ đợi công việc tốt
hơn. vậy, để giải quyết rệt tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi ra
trường hiện nay, cần:
- Về phía sinh viên:
10
Thứ nhất, học sinh; sinh viên cần định hướng bộ về nghề nghiệp của mình
trong tương lai. Học sinh, sinh viên cần thay đổi nhận thức, hiểu được đầu ra
của ngành học. Học sinh, sinh viên cần học những ngành nghề mà trong đó có
sự đam mê, yêu thích của bản thân phù hợp với khả năng của mình. Đồng
thời, các giảng viên của nhà trường nên kết hợp cùng với lãnh đạo của các
doanh nghiệp trao đổi định hướng nghề nghiệp phù hợp với từng tân sinh
viên, dựa trên việc phân tích tính cách, đặc điểm gia đình, sở thích...của từng
nhân để đưa ra lời khuyên cho các em nên chọn ngành nào phù hợp với
mình, có cơ hội việc là tốt nhất và phát huy được năng lực cao nhất.
Thứ hai, trải nghiệm thực tế tại các doanh nghiệp điều cùng quan trọng.
Nâng cao chất lượng đào tạo, kỹ năng làm việc cho sinh viên cần sự kết
hợp giữa sinh viên và nhà trường. Việc học đi đôi với thực hành, học đến đâu
thể thực hành đến đó để việc giảng dạy không còn mang ý nghĩa trừu
tượng mà còn mang tính ứng dụng thiết thực. Sinh viên cần thực hiện nghiêm
túc trong quá trình đi kiến tập, thực tập. Nếu sinh viên coi hoạt động kiến tập,
thực tập cho hết môn thì sẽ không khác vẫn chạy theo thuyết không
có thực tế.
Thứ ba, sinh viên cần nghiêm túc học hành ngay khi đang còn ngồi trên ghế
nhà trường. Sự nghiêm khắc trong quá trình học tập của bản thân sẽ giúp sinh
viên tự rèn luyện tính cách, kỹ năng đồng thời đạt kết quả tốt trong quá trình
học tập, sẽ giúp ích rất nhiều cho công việc chuyên môn ngay sau khi ra
trường.
- Về phía Nhà nước:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp,
bảo đảm đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động người lao động.
Thực hiện đúng các luật về lao động, tiền lương tối thiểu, bảo hiểm lao động,
xuất khẩu lao động, pháp lệnh đình công... Người lao động được quyền hưởng
lương đúng với số lượng chất lượng lao động họ đã bỏ ra, phải được bảo
11
đảm về chỗ những điều kiện môi trường lao động, an sinh khác theo
đúng luật pháp.
Thứ hai, Nhà nước cùng các doanh nghiệp cần phải quan tâm đào tạo công
nhân trình độ cao, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa đối với lao động trẻ,
khỏe, nhất khu vực nông thôn để cung ứng cho các vùng kinh tế trọng
điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao động.
Thứ ba, đa dạng hóa các loại hình thị trường, các lớp dạy nghề của Nhà nước,
của nhân quốc tế; áp dụng chế thị trường trong dạy nghề, dần dần
hình thành thị trường dạy nghề phù hợp với pháp luật. Thực hiện quy hoạch
đầu tư tập trung hệ thống dạy nghề, kỹ thuật thực hành qua lao động trực tiếp;
đặc biệt là xây dựng các trường dạy nghề trọng điểm quốc gia.
Thứ tư, thực hiện hiệu quả dự án hỗ trợ đào tạo giảng viên; xây dựng chế
xác định chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo trung cấp, đào tạo cao đẳng, đại học hàng
năm trên sở nhu cầu của thị trường lao động, năng lực đào tạo tỷ lệ
người học tốt nghiệp có việc làm của cơ sở đào tạo; chỉ đạo các cơ sở đào tạo
đầu nâng cao điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, hợp tác với đơn vị sử
dụng lao động để xây dựng chương trình đào tạo cân đối giữa thuyết
thực hành, xây dựng chuẩn đầu ra, hỗ trợ sinh viên thực tập đánh giá sinh
viên tốt nghiệp theo yêu cầu của thị trường lao động.
KẾT LUẬN
Thông qua việc phân tích luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động
thực
trạng thị trường lao động Việt Nam hiện nay, ta đã thấy được những ưu
điểm hạn chế còn gặp phải của thị trường lao động trong nước. Từ đó,
cũng dựa trên luận của Mác căn cứ vào thực tế nền kinh tế - hội, từ
đó tìm ra giải pháp bồi dưỡng bản thân đúng hướng để được việc làm
thu nhập như kỳ vọng của bản thân. Trong quá trình làm bài, em còn gặp phải
nhiều sai sót, mong nhận được sự bổ khuyết từ phía các thầy giáo để em
12
điều kiện hoàn thiện hiểu biết về cả luận thực tiễn, rút kinh nghiệm cho
những bài làm tiếp theo.
Em xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. https://wikiluat.com/2021/09/01/li-luan-ve-hang-hoa-suc-lao-dong-cua-
cmac-voi-thi-truong-suc-lao-dong-thi-truong-lao-dong-o-viet-nam-hien-nay/?
fbclid=IwAR22PN6Y1ec7A7TFEkZCGWqDoMuZ9IqfHpsQ1iuT_pxlEG35J
hoQtwljGMM
2. https://luanvan99.com/hang-hoa-suc-lao-dong-la-gi-bid67.html?
fbclid=IwAR3IB1JCudKnY5_b-GNf9T0vY9twy5Vq3jd-
PuM3N4MBlDzgQwlAiMGx8UE
3. https://luanvan24.com/ly-luan-ve-hang-hoa-suc-lao-dong/?
fbclid=IwAR3QTGAqREf-
g3_Hu2RHvDRSPEOLBWKEANW4eHpCcJsLt1-
qIrmrz2b5Eq0#7_Thuc_trang_hang_hoa_suc_lao_dong_o_Viet_Nam_hien_n
ay
4. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin – Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
5. https://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/sinh-vien-that-nghiep-sau-khi-
ra-truong-nguyen-nhan-va-cach-khac-phuc-48972.htm
13

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI SỐ 14: Phân tích hàng hóa sức lao động. Từ đánh giá
khái quát về triển vọng của thị trường sức lao động Việt Nam, hãy
nêu giải pháp cho bản thân để sau khi ra trường, anh/chị có việc
làm với mức thu nhập như kỳ vọng.
Giảng viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Văn Hoàng
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Hà My Lớp : K24KTB Mã sinh viên : 24A4021194
Bắc Ninh, ngày 07 tháng 04 năm 2022 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................1
I. HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG.................................................................1
1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:.........1
1.1. Khái niệm sức lao động:.....................................................................1
1.2. Khái niệm hàng hóa sức lao động......................................................2
1.3. Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá........................2
2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động.............................................3
2.1. Giá trị hàng hóa..................................................................................3
2.2. Giá trị sử dụng....................................................................................4
3.Giá cả của hàng hóa sức lao động - tiền công.........................................4
3.1. Bản chất của tiền công.......................................................................4
3.2. Hình thức tiền công cơ bản................................................................4
3.3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế........................................5
II. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC
TRẠNG SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG............................................5
1. Khái niệm thị trường lao động................................................................5
2. Thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay.............................................5
2.1. Thực trạng thị trường sức lao động (thị trường lao động) ở Việt
Nam.............................................................................................................5
2.2. Vấn đề việc làm và sự mâu thuẫn cung - cầu trong thị trường lao
động............................................................................................................6
3. Thực trạng sinh viên sau khi ra trường.................................................7
4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp và không đạt được mức
thu nhập ổn định như kỳ vọng của sinh viên hiện nay.............................8
III. GIẢI PHÁP.............................................................................................10
KẾT LUẬN....................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................12 LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn lao động là tài sản quý giá và to lớn đối với một quốc gia, đó vừa là
tiền đề, vừa là động lực và là mục tiêu để thực hiện chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Quan tâm đến nguồn lao động tức là quan tâm đến mọi
mặt vấn đề liên quan đến người lao động, từ đó bộc lộ bản chất, tính ưu việt
của chế độ. Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin về hàng hóa sức lao động
cùng với thực trạng thị trường sức lao động của nước ta hiện nay thì việc hoàn
thiện thị trường sức lao động không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang ý
nghĩa chính trị, là một vấn đề cấp thiết. Vậy nên tôi muốn nghiên cứu đi sâu
vào phân tích: “ hàng hóa sức lao động và ý nghĩa đối với việc hoàn thiện thị
trường sức lao động Việt Nam hiện nay” Bài tiểu luận sẽ giải thích, phân tích,
làm rõ các khái niệm “ hàng hóa”, “hàng hóa sức lao động”, “thị trường”, “
thị trường sức lao động” theo chủ nghĩa Mác - Lênin từ đó rút ra ý nghĩa việc
nghiên cứu hàng hóa sức lao động đối với việc hoàn thiện thị trường sức lao
động việt nam trong thời kỳ đổi mới. Phân tích thực trạng thị trường hàng hóa
sức lao động Việt nam hiện nay, từ đó đề xuất ra một số giải pháp góp phần
nâng cao và hoàn thiện thị trường sức lao động tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
I. HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
1.1. Khái niệm sức lao động:
Theo C.Mác: “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong cơ thể
con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con
người phải làm trong hoạt động để sản xuất ra những vật có ích.” 1
Sức lao động là khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết
của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã
hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu
dùng sức lao động trong hiện thực
1.2. Khái niệm hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động là chỉ sức lao động hay năng lực lao động cả về năng
lực thể chất lẫn năng lực tinh thần tồn tại trong cơ thể của 1 người. Và người
đó dùng nó để vận dụng vào các công tác hoạt động cho 1 giá trị sử dụng nào đó.
Hiểu 1 cách đơn giản thì, Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt trên thị
trường, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế.
1.3. Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá
Từ trước đến nay, sức lao động luôn là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động
sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá. Sức lao
động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện lịch sử sau:
Một là, tự do về thân thể
Người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao
động và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
Hai là, mất tư liệu sản xuất.
Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất để trở thành người vô sản và
bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác để sinh sống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động
biến thành hàng hoá. Sức lao động trở thành hàng hóa là điều kiện quyết định
để tiền biến thành tư bản. Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông
hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức nhất định.
Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó:
Cách mạng tư sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể
vào chủ nô và chúa phong kiến. 2
Có tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư
bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập
trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người. Việc mua bán sức lao
động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn.
VD về hàng hóa sức lao động: bàn, ghế, điện thoại, tivi,… hàng hóa từ sức
lao động rất gần gũi và quen thuộc.
2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động. 2.1. Giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần
thiết để duy trì cuộc sống bản thân người lao động và gia đình về mặt vật chất
lẫn tinh thần. Các yếu tố hợp thành lượng giá trị hàng hóa sức lao động:
Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất
sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân.
Phí tổng đào tạo người công nhân.
Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho gia đình người công nhân.
Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả
yếu tố tinh thần và lịch sử. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân
không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần
(giải trí, học hành,…).
Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho
công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau. Nó tùy thuộc hoàn
cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã
đạt được của mỗi nước.
Trong điều kiện tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học
– kỹ thuật và những điều kiện khác, sự khác biệt của công nhân về trình độ
lành nghề, về sự phức tạp của lao động và mức độ sử dụng năng lực trí óc và
tinh thần của họ tăng lên. 3
Tất cả những điều kiện đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao
động. Không thể không dẫn đến sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của
nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động. 2.2. Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá
khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, chính là quá trình sản xuất hàng hóa.
Những tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là:
Thứ nhất, sức lao động tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần
giá trị mới này chính là giá trị thặng dư. Như vậy, hàng hoá sức lao động có
thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị
sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác. Nó là chìa khoá
để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Như vậy, tiền chỉ
thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
Thứ hai, hàng hóa sức lao động có đặc điểm khác biệt, đó là nguồn gốc trực
tiếp tạo ra giá trị thặng dư, là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản.
3.Giá cả của hàng hóa sức lao động - tiền công
3.1. Bản chất của tiền công
Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động mà nhà tư bản đã mua của
người công nhân. Vì vậy, giá trị của hàng hóa sức lao động sẽ quyết định tiền
công. Tiền công phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu và cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân cũng như các chính sách điều tiết của nhà nước.
3.2. Hình thức tiền công cơ bản
Tiền công có hai hình thức cơ bản sau đây:
Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công tính theo thời gian lao
động của người công nhân (giờ, ngày, tuần, tháng). Tùy vào độ dài hay ngắn
của thời gian lao động, nhà tư bản sẽ trả mức tiền công tương ứng cho người 4
công nhân. Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công tính theo số
lượng sản phẩm đã làm ra hoặc việc hoàn thành xong số lượng công việc mà
người công nhân trong một thời gian nhất định.
3.3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức
lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công thực tế là tiền công được biểu
hiện bằng số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng
tiền công danh nghĩa của mình.
II. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY VÀ THỰC TRẠNG SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG
1. Khái niệm thị trường lao động
Thị trường lao động là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức
lao động (người công nhân làm thuê) và người mua sức lao động (người sử
dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả ( tiền công,
tiền lương) và các điều kiện làm việc khác trên cơ sở một hợp đồng lao động
bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác.
2. Thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay
2.1. Thực trạng thị trường sức lao động (thị trường lao động) ở Việt Nam.
2.1.1. Thực trạng cung lao động: Về số lượng
Nguồn lao động của nước ta rất dồi dào về cả hiện tại và tương lai. Hiện nay,
số lượng người lao động chiếm khoảng 60% dân số. Hằng năm, nước ta lại
được bổ sung thêm khoảng hơn 1 triệu lao động mới. Nguyên nhân của sự gia
tăng nhanh chóng về số lượng lao động ở nước ta là do tốc độ tăng dân số 5
cũng như hậu quả từ cuộc bùng nổ dân số trước đây và xu hướng trẻ hóa dân
số đang diễn ra. Năm 2013, dân số Việt Nam đã đạt khoảng 90 triệu
người,trong đó nhóm dân số có độ tuổi từ 15-64 chiếm 69% tổng số dân. Về chất lượng
Người lao động nước ta cần cù, có kinh nghiệm trong sản xuất gắn với truyền
thống của dân tộc được tích lũy qua nhiều thế hệ, đặc biệt là trong các ngành
nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp. Nguồn lao động trẻ đang có xu
hướng tăng, có khả năng ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học-kĩ
thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động của nước ta còn
thấp. Năm 2012, số người lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 17.6%.
2.1.2. Sự phân bố nguồn lao động
Hiện nay, thị trường lao động đang có sự phát triển không đồng đều, dẫn tới sự
chênh lệch về tỷ suất cung – cầu trong thị trường lao động ở mỗi ngành nghề
và mỗi vùng miền khác nhau. Trong các ngành kinh tế, tỉ trọng người lao
động hoạt động trong ngành nông lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm phần lớn với
trên 50%. Trong khu vực nông thôn – thành thị, tỉ trọng người lao động ở
nông thôn chiếm tới khoảng 70% những người lao động đã qua đào tạo lại tập
trung chủ yếu ở thành thị. Điều này làm cho thị trường lao động của nước ta
phát triển không đồng đều giữa các ngành và giữa các vùng với nhau, khiến
nhịp độ phát triển kinh tế đất nước cũng trở nên không đồng bộ, thống nhất.
2.2. Vấn đề việc làm và sự mâu thuẫn cung - cầu trong thị trường lao động
Với nguồn lao động đông đảo về số lượng nhưng chất lượng lại hạn chế, tình
trạng thất nghiệp và thiếu việc làm hoặc phải làm trái ngành nghề đào tạo
đang diễn ra phổ biến và dần trở thành một vấn nạn của xã hội ở nước ta, gây lãng phí nguồn
lao động. Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, sáu tháng đầu năm
2013, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2.28% (tăng
0.32% so với năm 2012), còn tỷ lệ thiếu việc làm là 2.95% (tăng 0.21% so với 6
năm 2012). Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở nước ta đang có xu
hướng gia tăng. Điều này đồng nghĩa với hiện nay trong thị trường lao động,
cung đang lớn hơn cầu. Mặt khác, hằng năm, nước ta lại được bổ sung thêm
khoảng 1 triệu lao động mới, trong đó có khoảng trên 200 nghìn sinh viên đại
học, cao đẳng tốt nghiệp, cung cấp một lượng lớn nguồn nhân lực cho xã hội
nhưng các công ty, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài vẫn
kêu ca “khan hiếm nguồn lực” dẫn đến tình trạng “vừa thiếu vừa thừa” nguồn lao động.
3. Thực trạng sinh viên sau khi ra trường
Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, đến quý 1 năm 2017, trong
tổng lực lượng lao động cả nước có gần 918 nghìn lao động thiếu việc làm và
lao động thất nghiệp là 1,14 triệu người. Thông thường, tình trạng thiếu việc
luôn là vấn đề phổ biến ở khu vực nông thôn. Trong quý 1 năm 2017, hiện có
gần 85,0% lao động thiếu việc làm sinh sống ở khu vực này. Xét về khác biệt
giới, thị phần lao động nam thiếu việc là cao hơn so với lao động nữ (52,2%
và 47,8 % tổng số lao động thiếu việc cả nước). Đồng thời, tình trạng thất
nghiệp lại được quan tâm hơn ở khu vực thành thị. Mặc dù, tỷ trọng lao động
thất nghiệp thành thị hiện thấp hơn, chỉ chiếm khoảng 47,6% tổng số lao động
thất nghiệp cả nước. Hơn nữa, dựa trên kết quả điều tra lao động việc làm quý
1 năm 2017 cũng cho thấy lao động thất nghiệp nam là đông hơn so với lao
động nữ (chiếm 58,9% và 41,1% trong tổng số lao động thất nghiệp cả nước).
Nếu xem xét tình trạng thất nghiệp theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
(CMKT) tức là sinh viên ra trường có trình độ chuyên môn nhất định, trong
quý 1 năm 2016, có tới hơn 32,3% số lao động thất nghiệp cả nước là lao
động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc nghề từ 3 tháng trở lên. Trong đó,
nhóm lao động có trình độ từ đại học trở lên chiếm thị phần lớn nhất, khoảng
38,6% tổng số lao động thất nghiệp nhóm này. 6 nhóm ngành/nghề đào tạo
hiện có tỷ trọng lao động thất nghiệp có trình độ CMKT từ 3 tháng trở lên 7
theo thứ tự là “Kinh doanh và quản lý - 30,3%”, “Công nghệ kỹ thuật -
13,4%”, “Sức khỏe - 10,7%”, “Dịch vụ vận tải - 9,5%” và “Khoa học giáo
dục và đào tạo giáo viên - 9,0%”. Chỉ khoảng 3,6% nhóm lao động thất
nghiệp có trình độ CMKT là có 2 bằng/chứng chỉ đào tạo trở lên.
Bảng biểu 1: Phần trăm lao động có việc làm theo các tiêu chí tự đánh giá
công việc chính hiện tại, thành thị, nông thôn, giới tính, quý 1/2017
4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp và không đạt được mức
thu nhập ổn định như kỳ vọng của sinh viên hiện nay
4.1. Không có định hướng nghề nghiệp trước khi học
Ở Việt Nam, việc chọn nghề phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của các bậc
phụ huynh. Với tâm lý luôn muốn che chở, bao bọc con, các bậc cha mẹ
thường thiên về những ngành “an toàn”, mang lại danh tiếng, như kỹ sư, bác
sĩ,… và con cái thì cũng thụ động, cha mẹ chọn ngành gì con học ngành đó.
Mặt khác, xu hướng thị trường cũng là một điều đáng nói. Một số bạn trẻ còn
có xu hướng chạy theo các nghề “hot” để theo kịp bạn bè, chứ không thực sự
vì đam mê và đúng sở trường. 8
Không biết định hướng và lựa chọn cho mình ngành học phù hợp, sinh viên sẽ
dẫn đến tình trạng chán nản, kết quả học tập sút kèm, không có sự yêu thích
và tâm huyết,… Vì vậy, việc định hướng nghề nghiệp cho tương lại đóng vai
trò hết sức quan trọng trong việc tạo dựng một sự nghiệp thành công.
4.2. Sinh viên ra trường thiếu kỹ năng làm việc
Nhiều doanh nghiệp lớn cho biết:“Kỹ năng của sinh viên mới ra trường là
chưa hình thành nếu không muốn nói là không có”. Sinh viên ra trường hiện
nay có kiến thức nhưng thiếu kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng cần thiết để làm
việc. Một số bạn trẻ còn cho rằng, các nhà tuyển dụng chỉ cần tuyển người có
năng lực chuyên môn, vi tính thành thạo, ngoại ngữ bằng A, B, C… Chính vì
thế, các bạnchỉ tập trung học chuyên môn mà không chịu trau dồi kỹ năng
mềm. Trong khi đó các chủ doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nước
ngoài luôn chú trọng đến các kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ
năng làm việc theo nhóm, khả năng lập kế hoạch mục tiêu, xử lý nhanh những
khó khăn trong tình huống bất ngờ…
4.3. Chất lượng đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu xã hội
Trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ đã đầu tư rất nhiều vào các trường đại
học quốc gia nhưng kết quả không có gì khả quan khi số lượng sinh viên ra
trường vẫn thất nghiệp. Bên cạnh đó, với tiếp cận xã hội hóa giáo dục cho
phép nhiều trường đại học tư được mở ra rộng kích thích cạnh tranh giữa các
trường nhà nước và trường tư.
Tuy nhiên, chúng ta cũng chẳng mong đợi gì nhiều ở kết quả này, bởi các đại
học tư vì lợi nhuận chỉ cấp bằng, họ không đào tạo “đúng và trúng”. Cả hai
cách cải tiến trên đều làm nảy sinh số người tốt nghiệp cao nhưng không có
kỹ năng để làm việc trong công nghiệp. Bên cạnh đó, thành tích của các cấp
học dưới đẩy lên các cấp học trên đã khiến những người làm giáo dục bất
chấp hậu quả mà chính người học và xã hội phải gánh là tạo ra những sản
phẩm không đủ chất lượng, dẫn đến hậu quả đầu ra của đội ngũ nhân lực nước
ta yếu và nền giáo dục Việt Nam ngày càng tụt hậu. 9
Một nguyên nhân khác là do các trường đại học, cao đẳng còn xem nhẹ phần
thực hành mà quá đặt nặng lý thuyết.
4.4 Trình độ ngoại ngữ vẫn còn nhiều hạn chế
Một trong các lý do tạo nên làn sóng “cử nhân thất nghiệp” chính là vấn đề
tiếng Anh. Chúng ta đều biết tiếng Anh được xem như là tấm vé thông hành
trong tất cả mọi ngành nghề trong thời kỳ hiện đại. Thực ra, hầu hết sinh viên
ở các trường đại học đều được học tiếng Anh, nhưng chính thái độ học thụ
động, không áp dụng thực tế thì khi ra trường, kỹ năng ngoại ngữ chỉ là con
số 0. Chỉ có được động lực học, cách học phù hợp, khoa học, áp dụng vào
môi trường thực tế mới có thể nâng cao trình độ tiếng Anh, đáp ứng được nhu
cầu của nhà tuyển dụng.
4.5. Luôn than trách và đổ lỗi cho số phận
Đó là điều mà sinh viên vẫn thường làm để che đậy sự lười nhác của bản thân.
Luôn đổ lỗi cho không có chỉ tiêu rồi đào tạo nhưng không đảm bảo đầu ra.
Tốt nghiệp và ngồi chờ nhà tuyển dụng. Luôn than trách không có việc làm,
đó là điều càng khiến sinh viên vùi mình sâu hơn vào nguy cơ thất nghiệp. III. GIẢI PHÁP
Hiện nay, Việt Nam đã và đang tiếp cận và áp dụng các khuyến nghị mới của
Tổ chức Lao động Quốc tế về lao động và việc làm. Tuy nhiên, với những
nước đang phát triển - nền kinh tế vẫn mang đậm dấu ấn nông nghiệp hoặc
việc làm phi chính thức chiếm thị phần đáng kể trong nền kinh tế hay mức
sống của người dân chưa cao và an sinh xã hội chưa đầy đủ, vì vậy người lao
động thường chấp nhận làm bất cứ loại công việc gì, kể cả những công việc
có mức thu nhập thấp, bấp bênh, điều kiện làm việc không đảm bảo nhằm
nuôi sống bản thân và gia đình hơn là thất nghiệp dài để chờ đợi công việc tốt
hơn. Vì vậy, để giải quyết rõ rệt tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi ra trường hiện nay, cần: - Về phía sinh viên: 10
Thứ nhất, học sinh; sinh viên cần định hướng sơ bộ về nghề nghiệp của mình
trong tương lai. Học sinh, sinh viên cần thay đổi nhận thức, hiểu được đầu ra
của ngành học. Học sinh, sinh viên cần học những ngành nghề mà trong đó có
sự đam mê, yêu thích của bản thân và phù hợp với khả năng của mình. Đồng
thời, các giảng viên của nhà trường nên kết hợp cùng với lãnh đạo của các
doanh nghiệp trao đổi và định hướng nghề nghiệp phù hợp với từng tân sinh
viên, dựa trên việc phân tích tính cách, đặc điểm gia đình, sở thích...của từng
cá nhân để đưa ra lời khuyên cho các em nên chọn ngành nào phù hợp với
mình, có cơ hội việc là tốt nhất và phát huy được năng lực cao nhất.
Thứ hai, trải nghiệm thực tế tại các doanh nghiệp là điều vô cùng quan trọng.
Nâng cao chất lượng đào tạo, kỹ năng làm việc cho sinh viên cần có sự kết
hợp giữa sinh viên và nhà trường. Việc học đi đôi với thực hành, học đến đâu
có thể thực hành đến đó để việc giảng dạy không còn mang ý nghĩa trừu
tượng mà còn mang tính ứng dụng thiết thực. Sinh viên cần thực hiện nghiêm
túc trong quá trình đi kiến tập, thực tập. Nếu sinh viên coi hoạt động kiến tập,
thực tập cho hết môn thì sẽ không khác gì vẫn chạy theo lý thuyết mà không có thực tế.
Thứ ba, sinh viên cần nghiêm túc học hành ngay khi đang còn ngồi trên ghế
nhà trường. Sự nghiêm khắc trong quá trình học tập của bản thân sẽ giúp sinh
viên tự rèn luyện tính cách, kỹ năng đồng thời đạt kết quả tốt trong quá trình
học tập, sẽ giúp ích rất nhiều cho công việc chuyên môn ngay sau khi ra trường. - Về phía Nhà nước:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp,
bảo đảm đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Thực hiện đúng các luật về lao động, tiền lương tối thiểu, bảo hiểm lao động,
xuất khẩu lao động, pháp lệnh đình công... Người lao động được quyền hưởng
lương đúng với số lượng và chất lượng lao động họ đã bỏ ra, phải được bảo 11
đảm về chỗ ở và những điều kiện môi trường lao động, an sinh khác theo đúng luật pháp.
Thứ hai, Nhà nước cùng các doanh nghiệp cần phải quan tâm đào tạo công
nhân trình độ cao, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa đối với lao động trẻ,
khỏe, nhất là khu vực nông thôn để cung ứng cho các vùng kinh tế trọng
điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao động.
Thứ ba, đa dạng hóa các loại hình thị trường, các lớp dạy nghề của Nhà nước,
của tư nhân và quốc tế; áp dụng cơ chế thị trường trong dạy nghề, dần dần
hình thành thị trường dạy nghề phù hợp với pháp luật. Thực hiện quy hoạch
đầu tư tập trung hệ thống dạy nghề, kỹ thuật thực hành qua lao động trực tiếp;
đặc biệt là xây dựng các trường dạy nghề trọng điểm quốc gia.
Thứ tư, thực hiện hiệu quả dự án hỗ trợ đào tạo giảng viên; xây dựng cơ chế
xác định chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo trung cấp, đào tạo cao đẳng, đại học hàng
năm trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động, năng lực đào tạo và tỷ lệ
người học tốt nghiệp có việc làm của cơ sở đào tạo; chỉ đạo các cơ sở đào tạo
đầu tư nâng cao điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, hợp tác với đơn vị sử
dụng lao động để xây dựng chương trình đào tạo cân đối giữa lý thuyết và
thực hành, xây dựng chuẩn đầu ra, hỗ trợ sinh viên thực tập và đánh giá sinh
viên tốt nghiệp theo yêu cầu của thị trường lao động. KẾT LUẬN
Thông qua việc phân tích lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động và thực
trạng thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay, ta đã thấy được những ưu
điểm và hạn chế còn gặp phải của thị trường lao động trong nước. Từ đó,
cũng dựa trên lý luận của Mác và căn cứ vào thực tế nền kinh tế - xã hội, từ
đó tìm ra giải pháp bồi dưỡng bản thân đúng hướng để có được việc làm và
thu nhập như kỳ vọng của bản thân. Trong quá trình làm bài, em còn gặp phải
nhiều sai sót, mong nhận được sự bổ khuyết từ phía các thầy giáo để em có 12
điều kiện hoàn thiện hiểu biết về cả lý luận và thực tiễn, rút kinh nghiệm cho
những bài làm tiếp theo. Em xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. https://wikiluat.com/2021/09/01/li-luan-ve-hang-hoa-suc-lao-dong-cua-
cmac-voi-thi-truong-suc-lao-dong-thi-truong-lao-dong-o-viet-nam-hien-nay/?
fbclid=IwAR22PN6Y1ec7A7TFEkZCGWqDoMuZ9IqfHpsQ1iuT_pxlEG35J hoQtwljGMM
2. https://luanvan99.com/hang-hoa-suc-lao-dong-la-gi-bid67.html?
fbclid=IwAR3IB1JCudKnY5_b-GNf9T0vY9twy5Vq3jd- PuM3N4MBlDzgQwlAiMGx8UE
3. https://luanvan24.com/ly-luan-ve-hang-hoa-suc-lao-dong/? fbclid=IwAR3QTGAqREf-
g3_Hu2RHvDRSPEOLBWKEANW4eHpCcJsLt1-
qIrmrz2b5Eq0#7_Thuc_trang_hang_hoa_suc_lao_dong_o_Viet_Nam_hien_n ay
4. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin – Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
5. https://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/sinh-vien-that-nghiep-sau-khi-
ra-truong-nguyen-nhan-va-cach-khac-phuc-48972.htm 13