Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUN TR NHÂN LC
HC PHN TƯ TƯỞNG H CHÍ MINH
ĐỀ TÀI THO LUN
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Nhóm thảo luận: 08 Lớp học phần: 251_HCMI0111_40 Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lan Phương Hà Ni, 2025 MỤC LỤC
BNG PHÂN CÔNG CÔNG VIC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
LI M ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG H CHÍ MINH . . . . . . . . . 5
1.1. Khái niệm Tư tưởng H Chí Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1. Khái nim chính thc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2. Phân tích ni dung khái nim . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.3. Quá trình nhn thc của Đảng v Tư tưởng H Chí Minh. . . . . . . . . . 6
CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG H CHÍ MINH . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.1. Đối vi Cách mng Vit Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.2. Đối vi s phát trin ca tiến b nhân loi . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
2.2.1. Tư tưởng H Chí Minh góp phn m ra cho các dân tc thuộc địa con
đường gii phóng dân tc gn vi s tiến b xã hi . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
2.2.2. Tư tưởng H Chí Minh góp phn tích cc vào cuộc đấu tranh vì độc lp
dân t
c, dân ch, hòa bình, hp tác và phát trin trên thế gii . . . . . . . . . . . 22
CHƯƠNG III: Liên hệ thc tin giá tr tư tưởng H Chí Minh . . . . . . . 24
3.1. Đối vi Vit Nam. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
3.2. Đối vi thế gii . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 26
LI KT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 28
TÀI LIU THAM KHO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29 2
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC STT Tên thành viên Mã sinh viên Công việc 1 Bùi Thị Phương Thảo
22D210082 - Xây đề cương - Sửa nội dung bài - Mở bài + Kết luận 2 Hoàng Phương Thảo
23D210177 - Nội dung Chương 2 (2.1)
- Đặt câu hỏi phản biện 3 Nguyễn Phương Thảo 23D210038 - Làm slide - Trả lời phản biện 4 Nguyễn Phương Thảo
23D210131 - Nội dung Chương 3 - Trả lời phản biện 5 Nguyễn Thị Thu Thảo
23D210224 - Nội dung Chương 1 - Làm word
- Đặt câu hỏi phản biện 6 Nguyễn Toàn Thắng
23D210225 - Nội dung Chương 2 (2.2)
- Nhận xét bài nhóm khác 7 Vũ Thị Mai Thoa 23D210132 - Thuyết trình
- Nhận xét bài nhóm khác 8 Trần Thu Trang 23D210229 - Thuyết trình - Làm slide 9 Vương Thu Trang
23D210089 - Nội dung Chương 3
- Tóm tắt nội dung làm slide 10 Trần Anh Trà
23D210090 - Nội dung Chương 3
- Nhận xét bài nhóm khác 3 LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ
thiên tài, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế
giới. Cuộc đời và sự nghiệp của Người gắn liền với những thắng lợi vĩ đại của cách
mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, đồng thời để lại cho dân tộc ta một di sản tinh thần
to lớn – tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kết quả của quá trình vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, mà còn là
sự kết tinh của những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại
và kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng thế giới. Đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta trong suốt quá trình đấu tranh giành độc
lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó giúp chúng ta giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng con
người Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh.
Chính vì vậy, nhóm 8 chúng em chọn đề tài “Tìm hiểu giá trị tư tưởng Hồ Chí
Minh” với mong muốn góp phần nhận thức sâu sắc hơn về nội dung, ý nghĩa và giá
trị to lớn của tư tưởng ấy – một ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của cách
mạng Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai. 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1. Khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Khái niệm chính thức
Theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm
2011), khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định như sau: “Tư tưởng Hồ Chí
Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng
to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta giành thắng lợi”.
1.1.2. Phân tích nội dung khái niệm
Tính hệ thống và toàn diện
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản chi phối cách mạng Việt Nam. Những quan điểm này được đúc
kết từ những vấn đề cả về lý luận và thực tiễn, vốn được rút ra từ cuộc đời hoạt động
phong phú của Người, diễn ra ở cả trong nước và trên thế giới. Toàn bộ hoạt động và
suy nghĩ của Người đều hướng tới mục tiêu đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng. Cơ sở hình thành
Cơ sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn của cá
nguồn gốc chính. Thứ nhất và quan trọng nhất là kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào bối cảnh cụ thể và đặc thù của Việt Nam.
Tiếp đến là sự kế thừa và phát triển có chọn lọc các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam. Đồng thời, nó còn là sự tiếp thu và chắt lọc tinh hoa văn hoá nhân loại. Mục tiêu giải phóng
Mục tiêu cốt lõi mà Tư tưởng Hồ Chí Minh hướng đến là giải phóng, không
chỉ giới hạn ở tầm dân tộc Việt Nam mà còn vươn ra tầm thế giới. Phạm vi giải phóng
này rất rộng lớn, bao gồm Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp,
và giải phóng con người. Vấn đề có tính phương pháp luận xuyên suốt trong tư tưởng
của Người là: mọi suy nghĩ và hành động cách mạng, mọi lúc, mọi nơi, đều phải
hướng tới mục tiêu giải phóng con người. Hồ Chí Minh coi con người được giải 5
phóng toàn diện là mục tiêu cuối cùng và cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng. Các
công cuộc giải phóng khác trước đó đều chỉ là mục tiêu của từng chặng đường cụ thể. Giá trị và vai trò
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng
và dân tộc ta. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng này mãi mãi là nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó
đã dẫn dắt chúng ta trên mỗi chặng đường xây dựng và phát triển đất nước, và có vai
trò mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
1.1.3. Quá trình nhận thức của Đảng về Tư tưởng Hồ Chí Minh
Quá trình Đảng nhận thức về Tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng đầy đủ hơn
được thể hiện qua các kỳ Đại hội:
Đại hội II (2-1951) là một mốc quan trọng ban đầu, khi Đảng nêu rõ: "Đường
lối chính trị, nền nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta hiện nay là đường
lối, tác phong và đạo đức Hồ Chủ tịch". Đảng coi việc toàn Đảng ra sức học tập đường
lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch là điều kiện tiên quyết
để làm cho Đảng mạnh và đưa cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn.
Sau khi Người qua đời vào ngày 2-9-1969, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã tôn vinh Người là "người anh hùng dân tộc vĩ đại". Sự đánh giá này
tiếp nối tại Đại hội IV (12-1976), khi Đảng đánh giá rằng thắng lợi to lớn của cách
mạng Việt Nam trong gần nửa thế kỷ mãi mãi gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Người được tôn vinh là người sáng lập và rèn luyện Đảng, người khai sinh nền
Cộng hoà Dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc, và là người
chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Đại hội V (3-1982), Đảng đã nhấn mạnh rằng phải "đặc biệt coi trọng việc tổ
chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức tác phong của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong toàn Đảng". Đến Đại hội VI (12-1986), khi đề ra đường lối đổi mới, Đảng
đã nhấn mạnh việc "kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh".
Đại hội VII (1991) được xem là một mốc lớn khi Đảng chính thức nêu cao tư
tưởng Hồ Chí Minh. Thực tiễn đã chứng minh rằng không chỉ chủ nghĩa Mác - Lênin,
mà cả Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố chỉ đạo làm nên thắng lợi cho cách
mạng Việt Nam. Đại hội này khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động". Đồng thời,
Đại hội VII cũng nhận thức rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng 6
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta và là một tài sản
tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc. Khẳng định này cũng đã được ghi nhận trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước và trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (năm 1992 và năm 2013).
Sự nhận thức tiếp tục được làm sâu sắc hơn tại Đại hội IX (4-2001). Tại đây,
Đảng đã đưa ra định nghĩa đầy đủ hơn so với Đại hội VII, chi tiết hóa về hệ thống
quan điểm toàn diện, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, sự kế thừa truyền
thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Đại hội XI (2011) là nơi Đảng đã nêu khái niệm đầy đủ và chính thức về Tư
tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung rõ vai trò là "mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta giành thắng lợi".
1.2. Những nội dung cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc ở Việt Nam
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc. Việt Nam luôn bị
các nước sang xâm lược, dân tộc Việt Nam luôn khát khao có một nền độc lập dân
tộc, tự do cho nhân dân. Với tinh thần dựng nước và giữ nước nhân dân ta đã đứng
dậy đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Hiện thân tiêu biểu cho tinh thần đó chính là Hồ
Chí Minh, Người đã đề ra bốn tư tưởng về vấn đề độc lập dân tộc. Một là độc lập, tự
do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Hai là độc lập dân
tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Ba là độc lập dân tộc là nền độc
lập thực sự, hoàn toàn và triệt để. Bốn là độc lập phải gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
Hồ Chí Minh xác định mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phương Đông là mâu
thuẫn giữa dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc; do đó tính chất của cuộc cách
mạng ở thuộc địa là đấu tranh giải phóng dân tộc. Đối tượng cần quật khởi là chủ
nghĩa thực dân và bè lũ tay sai. Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là chống đế quốc,
giành độc lập dân tộc, còn mục tiêu cấp thiết là bảo vệ quyền lợi chung, sự tự quyết
và lợi ích của toàn dân tộc.
Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách
mạng vô sản để giành thắng lợi. Từ bài học thất bại của các con đường “cứu nước”
trước đó và tính không triệt để của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, cùng với thắng
lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh
rút ra rằng con đường cách mạng vô sản là con đường đúng đắn để giải phóng dân
tộc thuộc địa và đem lại độc lập bền vững.
Cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi
phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: để thành công, cách
mạng phải có một Đảng lãnh đạo - Đảng đề ra đường lối, tập hợp lực lượng, tổ chức 7
và lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác–Lênin làm
cốt lõi, tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh và luôn mật thiết liên hệ với quần
chúng. ĐCSVN là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn
dân tộc, là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng.
Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đoàn kết toàn dân tộc,
lấy liên minh công- nông- trí làm nền tảng. Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò quần
chúng và coi khởi nghĩa vũ trang do quần chúng lao động làm chủ lực là nhân tố then
chốt quyết định thắng lợi. Người phê phán hành động ám sát cá nhân, bạo động manh
mún; thay vào đó phải dựa vào lực lượng rộng rãi của nhân dân. Lực lượng cách mạng
gồm toàn dân: đại bộ phận công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc chuyển
về phe vô sản; phú nông, trung địa chủ, tư bản An Nam nếu còn trung lập thì lợi dụng,
dụ động để trung lập; bộ phận phản cách mạng thì phải bị đánh đổ - trong đó giai cấp
công nhân và nông dân giữ vai trò động lực chính.
Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo và có khả năng giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Hồ Chí Minh phê phán quan điểm
quốc tế cộng sản trước kia chưa quan tâm đúng mức đến cách mạng thuộc địa và cho
rằng thắng lợi thuộc địa phụ thuộc tuyệt đối vào cách mạng ở chính quốc. Người nêu
quan điểm sáng tạo rằng cách mạng thuộc địa cần tiến hành chủ động, sáng tạo, đồng
thời khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô
sản ở chính quốc: cả hai cùng chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc nhưng cách mạng
thuộc địa hoàn toàn có khả năng giành thắng lợi trước. Cơ sở của luận điểm này là
khi chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, thuộc địa trở thành nguồn
sống, nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ cho tư bản - vì vậy khối thuộc địa mang
sức sống và tính phản kháng lớn; đoàn kết các dân tộc thuộc địa đặt nền tảng cho một
liên minh phương Đông, góp phần cho cuộc cách mạng thế giới.
Cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách
mạng. Hồ Chí Minh cho rằng bạo lực cách mạng là tất yếu khi kẻ thù dùng bạo lực
để xâm lược, nên con đường giành và giữ độc lập chỉ có thể là cách mạng bạo lực do
quần chúng tiến hành - bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang
nhân dân; tùy điều kiện mà sử dụng các hình thức đấu tranh phù hợp. Tuy nhiên bạo
lực cách mạng gắn bó hữu cơ với nhân đạo và hòa bình: Hồ Chí Minh luôn tranh thủ
giải quyết xung đột bằng đàm phán khi có thể, coi chiến tranh là biện pháp bắt buộc
cuối cùng, và kết hợp thắng lợi quân sự với giải pháp ngoại giao để chấm dứt chiến
tranh. Hình thái bạo lực trong tư tưởng Người là khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh
nhân dân, kết hợp các mặt quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa và tư tưởng; phương
châm là tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội:
Hồ Chí Minh tiếp cận khái niệm chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ nhiều góc độ
khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Theo Người, CNXH là một xã hội
“có lý, có tình”, trong đó không còn áp bức, bóc lột và bất công. Đó là xã hội do nhân
dân lao động làm chủ, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và được phát
triển toàn diện. Ngay từ Luận cương chính trị đầu tiên năm 1930, Hồ Chí Minh đã 8
khẳng định mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam là tiến lên CNXH, rồi đến chủ nghĩa cộng sản.
Hồ Chí Minh cho rằng, tiến lên CNXH là một tất yếu khách quan, phù hợp với
quy luật phát triển của lịch sử. Người vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế
- xã hội của C.Mác, khẳng định rằng quá trình đi lên CNXH ở mỗi quốc gia có thể
khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể. Đối với Việt Nam, đi lên CNXH là con đường
tất yếu của lịch sử, đồng thời đáp ứng khát vọng của nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ.
Về đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN, Hồ Chí Minh chỉ rõ: về chính trị, đó
là xã hội do nhân dân làm chủ; về kinh tế, là nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; về văn hóa –
đạo đức, là xã hội có trình độ cao, bảo đảm công bằng và hợp lý trong các quan hệ xã
hội; và cuối cùng, chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng CNXH ở Việt Nam:
Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của CNXH ở Việt Nam là vì độc lập, tự do cho
dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân. Mục tiêu cao nhất là nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân. Cụ thể, về chính trị, phải xây dựng chế độ do nhân dân lao
động làm chủ, thiết lập Nhà nước của dân, do dân, vì dân, phát huy quyền dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện.
Về kinh tế, phải xây dựng nền kinh tế hiện đại, trong đó công – nông nghiệp
giữ vai trò chủ đạo, kết hợp hài hòa các loại lợi ích kinh tế, khuyến khích sản xuất,
thực hiện chế độ khoán, cải thiện đời sống nhân dân.
Về văn hóa – xã hội, cần xóa nạn mù chữ, phát triển giáo dục, xây dựng nền
văn hóa mới dân tộc, khoa học, đại chúng, đồng thời đào tạo con người mới XHCN
có tư tưởng, đạo đức và tài năng.
Về động lực của CNXH ở Việt Nam, Hồ Chí Minh coi con người là yếu tố
trung tâm. Động lực con người bao gồm cả cộng đồng và cá nhân; muốn phát huy
cần đề cao sức mạnh đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của người lao động
trong sản xuất và phân phối. Bên cạnh đó, cần phát triển động lực kinh tế, giải phóng
sức sản xuất, gắn kinh tế với khoa học – kỹ thuật và đời sống xã hội. Động lực tinh
thần như văn hóa, khoa học, giáo dục cũng được Người coi trọng. Ngoài ra, cần tranh
thủ ngoại lực, học hỏi kinh nghiệm và thành tựu khoa học – kỹ thuật của các nước
tiên tiến, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng cảnh báo rằng chủ nghĩa cá nhân là “bệnh mẹ”
sinh ra nhiều tiêu cực như tham ô, lãng phí, quan liêu... và phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Hồ Chí Minh cho rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là giai đoạn chuyển biến
phức tạp, lâu dài, gian khổ và sâu sắc nhất trong lịch sử dân tộc. Theo học thuyết Mác
– Lênin, có hai con đường quá độ: trực tiếp và gián tiếp. Việt Nam đi theo con đường
quá độ gián tiếp, tức là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế lạc hậu, sau
khi giành được độc lập sẽ tiến lên CNXH mà không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. 9
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến
thẳng lên CNXH. Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản là xóa bỏ tàn tích của xã hội cũ, đồng thời
xây dựng những yếu tố mới của CNXH trên tất cả các lĩnh vực. Hồ Chí Minh cũng
nêu rõ các nguyên tắc trong xây dựng CNXH thời kỳ quá độ:
(1) Mọi tư tưởng và hành động phải đặt trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin;
(2) Giữ vững độc lập dân tộc;
(3) Đoàn kết, học tập kinh nghiệm của các nước XHCN anh em;
(4) Xây phải đi đôi với chống.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có quan hệ mật thiết,
không thể tách rời. Người khẳng định, độc lập dân tộc là tiền đề, cơ sở để tiến lên
CNXH. Giải phóng dân tộc là mục tiêu đầu tiên của cách mạng, còn xây dựng CNXH
là mục tiêu tiếp theo để bảo đảm độc lập được bền vững. Ngay từ đầu, khi nêu khẩu
hiệu “Độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân”, Người đã kết hợp chặt
chẽ giữa hai lý tưởng ấy. Cách mạng dân tộc dân chủ càng triệt để thì càng tạo tiền
đề thuận lợi cho cách mạng XHCN.
Mặt khác, CNXH là điều kiện để bảo đảm nền độc lập dân tộc vững chắc. Theo
Hồ Chí Minh, CNXH ở Việt Nam trước hết là một chế độ dân chủ, bảo đảm quyền
lực thuộc về nhân dân, tạo nền tảng xã hội và ý thức chính trị vững mạnh để giữ gìn
chủ quyền quốc gia. CNXH phát triển trên mọi lĩnh vực – kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội – sẽ làm cho đất nước giàu mạnh, tạo cơ sở vật chất và tinh thần để bảo vệ độc
lập. Khi CNXH trở thành hiện thực, nó còn góp phần hạn chế chiến tranh phi nghĩa,
bảo vệ hòa bình thế giới và củng cố độc lập dân tộc.
Để đảm bảo độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, Hồ Chí Minh nhấn mạnh ba điều kiện quan trọng:
(1) Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
toàn bộ tiến trình cách mạng;
(2) Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó nòng cốt
là liên minh công – nông;
(3) Đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới để phát huy
sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam
Hồ Chí Minh khẳng định sự ra đời của ĐCSVN là kết quả của sự kết hợp giữa
chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Người đánh
giá giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng, còn phong trào yêu nước là
yếu tố nền tảng thúc đẩy sự ra đời của Đảng. Hai phong trào này thống nhất ở mục
tiêu chung là giải phóng dân tộc, làm cho đất nước độc lập, nhân dân hạnh phúc. Đảng
ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam và đánh dấu bước ngoặt
vĩ đại trong lịch sử dân tộc.
ĐCSVN ra đời là tất yếu lịch sử, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội và
sự phát triển của phong trào cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định Đảng là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, có vai trò lãnh đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt
Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng 10
lợi vĩ đại, chứng minh Đảng là trong sạch, vững mạnh, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam mang mục tiêu giải phóng dân tộc, giai cấp và con
người, luôn trung thành với lợi ích của dân tộc. Đảng phải là tấm gương sáng về đạo
đức, trí tuệ và bản lĩnh, trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và là người lãnh
đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng
tư tưởng, đồng thời vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam. Đảng phải thực hiện
tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh, tự chỉnh đốn và
đoàn kết thống nhất. Người cho rằng sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ kỷ luật, đạo
đức và sự gắn bó với nhân dân, vì thế mỗi đảng viên cần thường xuyên tu dưỡng, tự
soi, tự sửa để xứng đáng là người lãnh đạo cách mạng. Hồ Chí Minh coi cán bộ là
“cái gốc của mọi công việc”. Người yêu cầu phải đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đánh
giá cán bộ đúng năng lực, chú trọng cả đức và tài, coi trọng nêu gương và giáo dục
đạo đức cách mạng. Theo Người, muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ
quyết định, vì vậy công tác cán bộ phải được đặt lên hàng đầu.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước dân chủ:
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam là một nhà nước dân chủ – nghĩa là
tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Về bản chất giai cấp, Nhà nước ta mang bản chất
của giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo. Chính sự
lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho Nhà nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
trong quá trình phát triển đất nước. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước
là nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, đồng thời phát huy
dân chủ rộng rãi trong xã hội.
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước thống nhất hài hòa với tính nhân
dân và tính dân tộc, bởi Nhà nước Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu
dài, gian khổ của toàn dân tộc. Nhà nước luôn kiên trì mục tiêu vì quyền lợi của nhân
dân và đảm đương sứ mệnh mà toàn thể dân tộc giao phó. • Nhà nước của dân:
Hồ Chí Minh khẳng định, mọi quyền lực trong Nhà nước và xã hội đều thuộc
về nhân dân – nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực. Quyền làm chủ của nhân
dân được thể hiện qua hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Dân chủ trực tiếp là khi nhân dân trực tiếp quyết định những vấn đề hệ trọng
của đất nước, liên quan đến vận mệnh dân tộc và quyền lợi của chính họ. Dân chủ đại
diện là khi nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các đại biểu mà họ tự
do lựa chọn, bầu ra trong các cơ quan quyền lực. Quyền lực của Nhà nước là quyền
lực được nhân dân ủy quyền, vì vậy nhân dân có quyền kiểm soát, phê bình, bãi miễn
hoặc giải tán những đại biểu, cơ quan không còn xứng đáng. Luật pháp trong Nhà
nước dân chủ là công cụ thể hiện và bảo vệ quyền lực của nhân dân, bảo đảm mọi
quyền dân chủ được thực thi công bằng và minh bạch.
• Nhà nước do nhân dân:
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước do nhân dân lập nên, do nhân dân làm chủ.
Nhân dân có cả quyền lợi và nghĩa vụ làm chủ. Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để
nhân dân được thực hiện đầy đủ quyền dân chủ mà Hiến pháp và pháp luật quy định, 11
được hưởng quyền lợi chính đáng và làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Người cũng
nhấn mạnh, Nhà nước cần quan tâm giáo dục, nâng cao dân trí, giúp nhân dân hiểu
và biết sử dụng quyền dân chủ của mình; đồng thời, nhân dân phải tự giác học tập,
rèn luyện để có đủ năng lực tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội.
• Nhà nước vì nhân dân:
Nhà nước của Hồ Chí Minh là Nhà nước vì nhân dân, nghĩa là phục vụ lợi ích
và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần,
kiệm, liêm, chính. Thước đo cao nhất của một Nhà nước vì dân là lòng tin và sự ủng
hộ của nhân dân. Trong nhà nước ấy, cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ
trung thành của nhân dân. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi cán bộ, công chức phải tận tụy
phục vụ nhân dân, coi “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”
Nhà nước pháp quyền:
• Nhà nước hợp pháp, hợp hiến
Hồ Chí Minh luôn chú trọng việc xây dựng nền tảng pháp lý cho Nhà nước
Việt Nam mới. Ngày 2/9/1945, Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn
Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên
ở Đông Nam Á. Ngay sau đó, Người đề nghị tổ chức Tổng tuyển cử để lập Quốc hội,
từ đó hình thành Chính phủ và bộ máy Nhà nước hợp hiến, thể hiện quyền lực tối cao
của nhân dân. Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức với chế độ
phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đến ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I
họp phiên đầu tiên, lập ra các tổ chức, bộ máy và chức vụ chính thức của Nhà nước
– khẳng định tính hợp pháp, hợp hiến của nhà nước dân chủ nhân dân.
• Nhà nước thượng tôn pháp luật
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước quản lý xã hội bằng nhiều biện pháp, nhưng
quan trọng nhất là quản lý bằng Hiến pháp và pháp luật. Người yêu cầu phải làm tốt
công tác lập pháp, đưa pháp luật vào đời sống, bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu lực
thực tế của pháp luật. Cần có cơ chế giám sát việc thi hành pháp luật, đồng thời
khuyến khích nhân dân tham gia phê bình, giám sát hoạt động của Nhà nước. Cán bộ,
đảng viên – đặc biệt là những người trong ngành hành pháp và tư pháp – phải gương
mẫu chấp hành pháp luật. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật”, không ai được đứng trên pháp luật.
• Pháp quyền nhân nghĩa
Hồ Chí Minh luôn coi nhân nghĩa là nền tảng của pháp quyền. Pháp luật phải
tôn trọng và bảo đảm quyền con người, chăm lo lợi ích của nhân dân, thể hiện tính
nhân văn và khuyến thiện. Pháp quyền nhân nghĩa không chỉ là công cụ quản lý xã
hội mà còn là phương tiện để giáo dục, cảm hóa con người, hướng con người đến chân – thiện – mỹ.
Nhà nước trong sạch, vững mạnh
Theo Hồ Chí Minh, việc kiểm soát quyền lực nhà nước là điều tất yếu để tránh
lạm quyền và đảm bảo sự trong sạch của bộ máy. Kiểm soát được thực hiện qua ba
cơ chế: (1) Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giám sát Nhà nước;
(2) Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; 12
(3) Nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực, thông qua bầu cử, giám sát và phản biện xã hội.
Hồ Chí Minh luôn cảnh báo về những biểu hiện tiêu cực trong bộ máy Nhà
nước như đặc quyền, đặc lợi, tham ô, lãng phí, quan liêu, chia rẽ, kiêu ngạo. Người
cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân, sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện
của cán bộ, đồng thời do công tác cán bộ và cơ chế tổ chức, giám sát chưa thật hiệu
quả. Để khắc phục, cần nâng cao dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân;
xây dựng pháp luật và kỷ luật nghiêm minh, coi trọng giáo dục, cảm hóa, và đặc biệt
là nêu gương của cán bộ, nhất là người đứng đầu. Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh việc
huy động sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước để đấu tranh chống tiêu cực trong con
người, xã hội và trong bộ máy Nhà nước.
1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết toàn dân tộc và Đoàn kết quốc tế
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết toàn dân tộc
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có thể khái quát một số nội dung cơ bản sau:
Một là, vị trí, vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc. Về vị trí vai trò của đại
đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Không đoàn kết thì suy và
mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh,
giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chỉ khi nào
toàn dân tộc ta đoàn kết, thống nhất một lòng thì dân tộc sẽ trường tồn, phát triển, đạt
được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Ngược lại, khi dân ta không
đoàn kết, đồng lòng, nội bộ chia rẽ thì dân tộc sẽ suy yếu và nguy cơ mất nước sẽ lên
cao. Vì vậy, chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ một lòng ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là
trong những giai đoạn khó khăn, thử thách càng cần phải nêu cao tinh thần đoàn kết.
Qua thực tiễn các phong trào đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược của dân tộc, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng, sở dĩ các cuộc đấu tranh bị thất bại là
do không có sự đoàn kết, tập hợp các lực lượng, bộ phận trong một tổ chức tập trung
thống nhất, đòi quyền lợi trước mắt và lâu dài cho từng giai cấp, giai tầng của xã hội.
Do đó, yêu cầu đặt ra là phải biết tập hợp những ý kiến, quan điểm riêng lẻ thành một
phương hướng, mục tiêu chung thống nhất đó là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội, muốn vậy phải:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công”.
Đó là chân lý bất di bất dịch; là cách thức, phương pháp, điều kiện để chúng ta vượt
qua khó khăn, thách thức; là cội nguồn thành công của sự nghiệp kháng chiến và kiến
quốc. Hai là, mục đích, nhiệm vụ của đại đoàn kết toàn dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh, mục đích, nhiệm vụ của đoàn kết là: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN,
PHỤNG SỰ TỔ QUỐC” “... đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ
quốc;... đoàn kết để xây dựng nước nhà”. Từ thực tiễn lịch sử có thể khẳng định,
đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được truyền từ đời này sang
đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, như là sợi dây gắn kết, trao truyền giữa các
thời kỳ, giai đoạn với nhau. Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống đó của ông cha
trong lịch sử, nâng tầm thành những tư tưởng triết lý sâu sắc về giáo dục, nhằm bồi 13
dưỡng, vận động, tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân vào mặt trận dân tộc thống
nhất thực hiện sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng CNXH. Hồ Chí
Minh nhấn mạnh: “Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng ta nhất định xây dựng được
nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh”.
Ba là, đối tượng, nội dung và cách thức, phương pháp thực hiện đại đoàn kết
toàn dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, đoàn kết là phải mang tính toàn dân, rộng khắp,
không phân biệt già, trẻ, gái, trai, thành phần, dân tộc, vùng, miền, hễ là người Việt
Nam đều phải yêu nước, tham gia vào các phong trào cách mạng khác nhau. Người
chỉ rõ phải: “Đoàn kết rộng rãi và lâu dài... Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng
sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Với nội dung, cách thức,
phương pháp đoàn kết rất cụ thể, thiết thực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên phong
trào thi đua yêu nước sôi nổi, rộng khắp, ai cũng ra sức thi đua giết giặc lập công, đẩy
mạnh tăng gia sản xuất, phát triển văn hóa, y tế, giáo dục. Hồ Chí Minh đã nhìn thấy
ở dân tộc ta có tinh thần đoàn kết rất cao, Người ví tinh thần đoàn kết như bức tường
đồng vô cùng kiên cố, vững chắc mà không súng ống, quân địch nào có thể công phá
được. Hồ Chí Minh là bậc thầy về thực hiện cách thức, phương pháp đại đoàn kết
toàn dân tộc, đó là lấy cái chung, đề cao cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác biệt;
đó là phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, lấy gương người tốt, việc tốt
và tự mình là tấm gương mẫu mực về thực hiện đoàn kết. Mỗi lời kêu gọi, động viên,
nhắc nhở, chỉ dạy của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc đều có sức lan tỏa
mạnh mẽ, biến thành sức mạnh vật chất to lớn đưa cuộc đấu tranh cách mạng giải
phóng dân tộc của nhân dân ta đến thắng lợi cuối cùng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Hồ Chí Minh cho rằng, việc thực hiện đoàn kết quốc tế là nhằm kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, từ đó tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cách mạng
Việt Nam. Sức mạnh dân tộc bao gồm chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường
của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, sức mạnh ấy còn thể hiện ở tinh thần độc lập, tự
do, ý chí đấu tranh bền bỉ, bất khuất để bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Bên cạnh đó,
sức mạnh thời đại thể hiện qua sự phát triển vĩ đại của các trào lưu cách mạng trên
thế giới, đặc biệt là phong trào cách mạng vô sản quốc tế. Cách mạng Việt Nam là
một bộ phận của cách mạng thế giới, và chỉ có thể giành thắng lợi khi gắn liền với
phong trào cách mạng toàn cầu.
Việc thực hiện đoàn kết quốc tế vì thế không chỉ giúp nhân dân Việt Nam đạt
được mục tiêu cách mạng của mình, mà còn góp phần cùng nhân dân thế giới thực
hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh
rằng, đoàn kết quốc tế là sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô
sản. Đây là nền tảng để các dân tộc cùng nhau đấu tranh vì mục tiêu chung của nhân
loại. Người cũng chỉ rõ, để tăng cường khối đoàn kết quốc tế, Đảng Cộng sản Việt
Nam cần phải đấu tranh chống lại chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa cơ hội, vị kỷ, phân
biệt chủng tộc; đồng thời giáo dục cho nhân dân tinh thần yêu nước chân chính gắn
liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Về lực lượng đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các lực lượng cần đoàn kết
bao gồm: Phong trào cộng sản và công nhân thế giới, đây là lực lượng nòng cốt của
đoàn kết quốc tế. Hồ Chí Minh khẳng định rằng sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản quốc
tế là cơ sở vững chắc để đảm bảo thắng lợi của phong trào cách mạng toàn cầu. Bên
cạnh đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cũng đóng vai trò quan trọng trong 14
việc làm suy yếu hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc, góp phần củng cố phong
trào cách mạng thế giới. Ngoài ra, các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng
hòa bình, dân chủ và công lý cũng là bộ phận quan trọng của mặt trận đoàn kết quốc
tế. Hồ Chí Minh coi đây là sự kết hợp giữa cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và mục
tiêu hòa bình, tiến bộ của nhân loại, qua đó tạo nên tiếng nói chung mạnh mẽ được
ủng hộ từ các tầng lớp nhân dân và các tổ chức tiến bộ trên toàn thế giới.
Về hình thức tổ chức, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng mặt trận đoàn kết
quốc tế bao gồm bốn tầng: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt –
Miên – Lào; Mặt trận nhân dân Á – Phi đoàn kết với Việt Nam; Mặt trận nhân dân
thế giới đoàn kết với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược.
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế phải dựa trên hai nguyên tắc cơ bản. Thứ
nhất, đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý có tình. Với phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, Người giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản làm nền
tảng. Với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh đề cao độc lập, tự do và quyền bình
đẳng, còn với các lực lượng tiến bộ, Người nêu cao ngọn cờ hòa bình và công lý. Thứ
hai, đoàn kết phải gắn liền với độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Hồ Chí Minh khẳng
định, muốn có đoàn kết quốc tế vững chắc, trước hết phải có nội lực mạnh; sự giúp
đỡ bên ngoài chỉ phát huy tác dụng khi quốc gia có bản lĩnh và đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn.
1.2.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa, Đạo đức, Con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
Hồ Chí Minh có nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa. Người tiếp cận
theo nghĩa rộng, coi văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra; theo nghĩa hẹp, văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội; theo nghĩa
hẹp hơn, là các lĩnh vực văn học, nghệ thuật; và theo phương thức sử dụng công cụ
sinh hoạt, văn hóa gắn với cách con người sống, lao động và ứng xử. Người khẳng
định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật… Toàn bộ những sáng tạo đó tức là văn hóa.”
Theo Hồ Chí Minh, văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác.
Với chính trị, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là công cụ phục vụ nhiệm vụ chính trị;
chính trị mở đường cho văn hóa phát triển, đồng thời mọi hoạt động chính trị đều
phải thấm đẫm tính văn hóa. Với kinh tế, Người cho rằng khi cơ sở hạ tầng được kiến
thiết, văn hóa mới có điều kiện phát triển; song văn hóa cũng tác động ngược lại, góp
phần thúc đẩy kinh tế. Với xã hội, văn hóa phản ánh trình độ phát triển xã hội – “xã
hội thế nào, văn hóa thế ấy”; xã hội được giải phóng thì văn hóa càng có điều kiện phát triển.
Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng
thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Bản sắc dân tộc thể hiện ở lòng yêu nước,
tinh thần độc lập tự cường, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp.
Người yêu cầu phải phát huy giá trị văn hóa dân tộc, loại bỏ tàn dư nô dịch và tiếp
thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa thế giới, coi “văn hóa dân tộc là gốc” để
tiếp biến và làm giàu thêm văn hóa Việt Nam. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai
trò của văn hóa thì xem văn hóa là mục tiêu và động lực của cách mạng. Văn hóa là
mục tiêu vì nó gắn liền với khát vọng của nhân dân về quyền sống, quyền tự do, 15
quyền mưu cầu hạnh phúc và hướng tới các giá trị chân – thiện – mỹ. Đồng thời, văn
hóa là động lực vì nó thúc đẩy sự phát triển đất nước trên cả phương diện vật chất và
tinh thần, thể hiện trong các lĩnh vực như văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa
giáo dục, văn hóa pháp luật và văn hóa văn nghệ. Người còn coi văn hóa là một mặt
trận, nơi diễn ra cuộc đấu tranh cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng và tinh thần. Trên
mặt trận này, văn nghệ sĩ là những “chiến sĩ văn hóa”, có nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc
và phục vụ nhân dân. Hơn nữa, Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa phải phục vụ quần
chúng nhân dân – nghĩa là mọi hoạt động văn hóa phải bắt nguồn từ đời sống, phản
ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và hướng dẫn họ tiến tới những giá trị tốt đẹp
hơn. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới: Trong thời kỳ
trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra việc xây dựng một nền
văn hóa mới với năm nội dung cơ bản: dân tộc, khoa học, đại chúng, yêu nước và tiến
bộ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người xác định nền văn hóa mới phải
mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng, phục vụ kháng chiến và kiến quốc. Đến
thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định nền văn hóa Việt Nam
phải có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc sâu sắc, góp phần hình thành con
người mới xã hội chủ nghĩa, vừa kế thừa truyền thống dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa
nhân loại, để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội và của người
cách mạng. Theo Người, đạo đức là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của con người;
là yếu tố quyết định sự thành bại trong mọi công việc. Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí
Minh luôn gắn đức với tài, đặt hiệu quả thực tế làm thước đo giá trị. Đạo đức là thước
đo lòng cao thượng và phẩm giá của mỗi con người, là yếu tố hình thành nhân cách,
phẩm chất và niềm tin cách mạng.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng:
Trước hết là trung với nước, hiếu với dân – phẩm chất bao trùm, chi phối mọi
đức tính khác. Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, đồng thời
nâng lên tầm cao mới: trung thành với lý tưởng cách mạng, với con đường xã hội chủ
nghĩa, và hết lòng phục vụ nhân dân. Trung với nước luôn gắn liền với hiếu với dân
– yêu thương, tôn trọng và hết lòng chăm lo đời sống nhân dân.
Thứ hai là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, những phẩm chất đạo đức
gắn liền với đời sống hằng ngày của người cách mạng. Cần là siêng năng, chăm chỉ,
có kế hoạch, sáng tạo trong lao động; kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang
phí; liêm là trong sạch, không tham lam; chính là ngay thẳng, trung thực; và chí công
vô tư là đặt lợi ích tập thể lên trên hết, không vụ lợi, không thiên vị, luôn công bằng, chính trực.
Thứ ba là thương yêu con người, sống có tình có nghĩa. Hồ Chí Minh coi tình
yêu thương con người là một phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất, thể hiện ở lòng nhân
ái, bao dung, sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn, bị áp bức. Tình thương đó
dựa trên lập trường giai cấp công nhân, gắn liền với lý tưởng cách mạng và mục tiêu giải phóng con người.
Thứ tư là tinh thần quốc tế trong sáng, thể hiện ở tinh thần đoàn kết, tương trợ
giữa các dân tộc bị áp bức, chống lại chủ nghĩa đế quốc và mọi sự bất công. Hồ Chí 16
Minh luôn hướng tới tình hữu nghị, bình đẳng, hợp tác vì hòa bình, tiến bộ của nhân
loại. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách
mạng: Hồ Chí Minh nêu ba nguyên tắc cơ bản trong xây dựng đạo đức: nói đi đôi với
làm, nêu gương về đạo đức; xây đi đôi với chống; và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
Trước hết, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức là nguyên tắc quan trọng
nhất. Theo Người, cán bộ, đảng viên phải thực hành đạo đức, nói ít làm nhiều, lấy
hành động thực tế làm gương cho quần chúng noi theo. Xây dựng nền đạo đức mới
phải bắt đầu từ sự nêu gương, nhất là của người lãnh đạo.
Hai là, xây đi đôi với chống, tức là xây dựng phẩm chất tốt đẹp phải gắn liền
với đấu tranh loại bỏ thói hư tật xấu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống hưởng thụ, xa hoa.
Người nhấn mạnh phải kiên trì chống lại các biểu hiện tiêu cực, đồng thời bồi dưỡng,
củng cố phẩm chất cách mạng.
Ba là, tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức cách mạng
không tự nhiên có mà phải được rèn luyện thường xuyên, kiên trì, liên tục qua thực
tiễn công tác và sinh hoạt hằng ngày. Mỗi người cần tự giác học tập, rèn luyện, tự
kiểm điểm, sửa chữa khuyết điểm để ngày càng hoàn thiện hơn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Hồ Chí Minh xem con người là một chỉnh thể thống nhất giữa trí lực, tâm lực
và thể lực, luôn tồn tại trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Người coi con người
vừa là sinh vật tự nhiên, vừa là thực thể xã hội có lý tưởng, tình cảm và trách nhiệm.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người: Theo Người, con người
là mục tiêu và động lực của cách mạng. Mọi hoạt động cách mạng đều vì hạnh phúc
của con người, đồng thời chính con người là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người:
Việc xây dựng con người mới là yêu cầu cấp bách và lâu dài, mang tính chiến
lược trong sự nghiệp cách mạng. Xây dựng con người là xây dựng những con người
có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có tinh thần yêu nước, yêu lao động, có đạo đức trong
sáng, có tri thức và sức khỏe để cống hiến cho Tổ quốc. Hồ Chí Minh cho rằng muốn
xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa – những
người “vừa hồng vừa chuyên”, có năng lực và phẩm chất tốt đẹp.
Nội dung xây dựng con người theo Hồ Chí Minh gồm nhiều mặt: về chính trị,
phải có lập trường kiên định, trung thành với Tổ quốc; về đạo đức, phải sống trung
thực, nhân ái, cần, kiệm, liêm, chính; về trí tuệ, phải không ngừng học tập, nâng cao
trình độ; về lối sống, phải giản dị, lành mạnh, giàu lòng nhân ái. Người cũng nhấn
mạnh phương pháp xây dựng con người là qua giáo dục, rèn luyện, nêu gương và
thực hành trong đời sống hằng ngày.
Về phương pháp, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nêu gương là yếu tố quan trọng
nhất, đặc biệt là vai trò gương mẫu của người đứng đầu trong tổ chức, cơ quan, đơn
vị. Người coi giáo dục là biện pháp hàng đầu để hình thành nhân cách, đạo đức và trí
tuệ con người. Đồng thời, cần phát huy vai trò của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
quần chúng thông qua những phong trào thi đua yêu nước, “Người tốt, việc tốt” để
động viên, khích lệ mọi người không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến cho Tổ quốc. 17
CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
2.1. Đối với Cách mạng Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những di sản lý luận có giá trị đặc biệt của
Đảng, dân tộc và quân đội ta. Đây chính là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc, có
ý nghĩa định hướng chiến lược cho con đường cách mạng Việt Nam – con đường độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Trong tiến trình lịch sử cũng như ở hiện tại và tương lai, không một thế lực nào
có thể phủ nhận vai trò và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của khoa
học – công nghệ, đặc biệt là internet và các phương tiện truyền thông xã hội, các thế
lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng những điều kiện này để tiến hành chiến lược
“diễn biến hòa bình”. Một trong những trọng tâm chống phá của chúng là tấn công
vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên thực tế,
cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi là nền
tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân
dân ta. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở cả phương diện lý luận và thực
tiễn, đặc biệt là trong việc phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng
giải phóng dân tộc, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở những nước thuộc địa, phụ
thuộc. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn giữ
nguyên giá trị định hướng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai
đoạn hiện nay và mai sau.
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh đưa cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam đến thắng lợi và bắt đầu xây dựng một xã hội mới trên đất nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết thể hiện ở một thế giới quan và phương pháp
luận khoa học, kiên định với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng nhấn
mạnh tính sáng tạo trong việc vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí
Minh khẳng định: “Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất
sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong
thực tiễn sinh động” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia Sự thật,
2011). Đây là sự nhấn mạnh phương pháp gắn lý luận với thực tiễn, vừa trung thành
với nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa phát triển sáng tạo phù hợp
điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người không coi lý luận là giáo điều cố định mà yêu
cầu phải lấy thực tiễn làm thước đo, liên tục tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển 18
lý luận cho phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể. Quan điểm này vừa bảo đảm sự bền
vững về lý luận, vừa cho phép thích ứng linh hoạt với những yêu cầu mới đặt ra trong quá trình cách mạng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành nên một hệ thống quan điểm toàn diện về
các vấn đề then chốt: mục tiêu chiến lược (độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội), đường lối, sách lược đấu tranh trong điều kiện nước thuộc địa, tổ chức lực lượng
cách mạng và phương pháp vận động quần chúng. Thông qua việc kết hợp nguyên lý
chung của chủ nghĩa Mác-Lênin với những đặc thù lịch sử — xã hội của Việt Nam,
Người đề xuất những giải pháp chiến lược-chiến thuật cụ thể, từ việc xây dựng Đảng
tiên phong đến nghệ thuật đoàn kết, vận động quần chúng, từ lựa chọn lực lượng liên
minh đến phương thức đấu tranh phù hợp từng giai đoạn. Quan điểm này đã cung cấp
khuôn khổ tư tưởng để hình thành đường lối và tổ chức thực hiện các bước cách mạng
một cách hệ thống và có phương pháp. Những quan điểm chiến lược và phương pháp
vận dụng nêu trên được hiện thực hóa trong thực tiễn cách mạng: từ việc tập hợp,
giác ngộ rộng rãi quần chúng; xây dựng và củng cố Đảng; đến việc lựa chọn và tiến
hành những chiến lược đấu tranh phù hợp với thực lực và thời cơ lịch sử. Kết quả là
tư tưởng của Người đã đóng góp trực tiếp vào những thắng lợi lớn của cách mạng
Việt Nam như Cách mạng Tháng Tám 1945, các thắng lợi trong kháng chiến chống
thực dân Pháp (điển hình là Chiến thắng Điện Biên Phủ) và kháng chiến chống đế
quốc Mỹ, những thắng lợi này tự thân là bằng chứng thực tiễn về tính đúng đắn của
đường lối do Người đặt nền tảng. Những chiến thắng đó không chỉ giải phóng dân
tộc khỏi ách thống trị mà còn mở ra tiền đề cho việc bắt đầu xây dựng một xã hội
mới, hướng tới mục tiêu độc lập gắn liền với tiến bộ xã hội.
Một điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự liên kết chặt chẽ giữa mục
tiêu độc lập dân tộc và mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng
con người. Người từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự
do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, NXB CTQG
Sự thật, 2011). Người không xem độc lập chỉ là kết thúc của một cuộc khởi nghĩa mà
là điều kiện để thực hiện các cải tổ xã hội sâu rộng, tiến tới một xã hội không còn áp
bức, bóc lột. Vì thế tư tưởng của Người vừa có chiều kích dân tộc mạnh mẽ, vừa
mang chiều kích nhân văn và tiến bộ xã hội sâu sắc — yếu tố then chốt dẫn tới sự
đồng cảm, tin tưởng và hành động rộng rãi của quần chúng. Nhờ cách trình bày và
vận động phù hợp với thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “thấm sâu” vào quần chúng:
trở thành niềm tin, là động lực tinh thần để triệu triệu người tham gia hành động cách
mạng. Hiệu năng của tư tưởng nằm ở khả năng biến nhận thức thành hành động cụ 19
thể: tổ chức, huy động lực lượng, điều tiết nguồn lực xã hội cho mục tiêu chung. Đây
chính là một trong những lý do giải thích vì sao tư tưởng đó đã trở thành nguồn lực
tinh thần to lớn cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
cách mạng Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ quá trình tiếp thu có chọn lọc chủ
nghĩa Mác-Lênin, đồng thời kế thừa giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Sự kết hợp này khiến tư tưởng của Người vừa giữ
được tính hệ thống và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa đảm bảo tính bản địa,
khả năng thích ứng với điều kiện lịch sử-xã hội của Việt Nam; do đó tư tưởng ấy vừa
mang tính thời đại vừa mang tính dân tộc. Người nhấn mạnh: “Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
(Đường Kách mệnh, 1927). Đây là sự khẳng định dứt khoát con đường cách mạng
Việt Nam phải đi, dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng sáng tạo theo điều kiện dân
tộc. Ở góc độ này, tư tưởng Hồ Chí Minh là một kết tinh lý luận-thực tiễn, có chức
năng chỉ đạo để xây dựng đường lối, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước.
Từ nhận thức thực tiễn đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định lấy
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho mọi hành động của Đảng và Nhà nước. Sự ghi nhận này được thể hiện rõ trong
các văn kiện trọng yếu của Đảng và là cơ sở lý luận để xây dựng cương lĩnh, đường
lối phát triển đất nước trong các giai đoạn khác nhau. Đại hội VII (1991) lần đầu tiên
chính thức khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” (Văn kiện Đại hội VII). Việc
coi tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng không chỉ là sự tôn vinh mang tính
hình thức mà còn là cơ sở để thống nhất nhận thức, định hướng chính sách và kiểm
chứng tính đúng đắn của các quyết sách qua tiêu chí thực tiễn.
Trong những giai đoạn mang tính bước ngoặt - điển hình là thời kỳ khởi xướng
công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (1986) - Đảng đã tiếp tục nhấn mạnh vai trò của tư
tưởng Hồ Chí Minh trong việc đổi mới tư duy, hoạch định đường lối phù hợp với
hoàn cảnh thời đại. Tư tưởng đó cung cấp cả nền tảng giá trị lẫn phương pháp luận
để nhận diện thách thức, lựa chọn chính sách và phê phán những quan điểm sai lệch.
Nhờ thế, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn duy trì vị trí định hướng trong công cuộc xây
dựng, phát triển và hội nhập, góp phần đảm bảo mục tiêu vừa phát triển kinh tế vừa
bảo đảm công bằng xã hội và bản sắc dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là 20