TRƯỜNG ĐẠ ỌC THƯƠNG MI H I
BÀI TH O LU N
HC PHN NG HTƯỞ CHÍ MINH
Đề tài
Tìm hi ng H Chí Minh v c pháp quy n ểu tư tưở nhà nướ
Nhóm th c hi n: Nhóm: 6
Lp h c ph n: 251_HCMI011_14
Giảng viên hướ Lan Phươngng dn: Nguyn Th
Hà N ội, tháng 10 năm 2025
THÀNH VIÊN NHÓM 6
STT Thành viên Nhiệm vụ Đánh giá Điểm số Ký tên
1
Nguyễn Ngọc Linh
PPT
2 Phạm Hải Linh PPT
3 Hoàng Anh Minh WORD
4 Đỗ Khánh Linh THUYẾT TRINH
5
Nguyễn Khánh Linh THUYẾT TRÌNH
6 Đoàn Nhật Minh P1+MỞ,KẾT
7 Đỗ Thảo Linh P2
8
Nguyễn Tú Linh
3.1
9 Phạm Khánh Linh (NT) 3.2
10
Nguyễn Thị Hiền Lương
3.3
11 Lê Tuấn Minh 3.3
MỤC LỤC
LI M ĐẦU………………………………………………………………………….4
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền ......................... 6
1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................................. 6
1.1.1. Tiếp thu truyền thống dân quyền, nhân quyền và giá trị văn hóa dân tộc .......... 6
1.1.2. Ảnh hưởng từ tư tưởng dân chủ, pháp quyền quốc tế ......................................... 6
1.1.3. Hệ tư tưởng Mác Lênin và sự vận dụng sáng tạo ............................................. 7
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................... 8
1.2.1. Thực trạng đất nước dưới chế độ thực dân – phong kiến ................................... 8
1.2.2. Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946 ..................... 9
1.2.3. Thực tiễn xây dựng bộ máy nhà nước cách mạng và thực hiện dân chủ trong
hoạt động của nhà nước ................................................................................................ 9
1.2.4. Tác động quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc ........................................... 9
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền ................................................... 10
2.1. Nhà nước hợp hiến, hợp pháp .................................................................................. 10
2.2. Nhà nước thượng tôn pháp luật ................................................................................ 11
2.3. Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa ............................................................................ 13
III. Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đối với Việt Nam hiện
nay ...................................................................................................................................... 15
3.1. Ý nghĩa lý luận ......................................................................................................... 15
3.1.1 Nguyên tắc hợp hiến – hợp pháp: Khẳng định tính chính danh của quyền lực
nhà nước ...................................................................................................................... 15
3.1.2. Thượng tôn pháp luật: Pháp luật là chuẩn mực tối cao trong quản trị quốc gia
..................................................................................................................................... 15
3.1.3. Pháp quyền nhân nghĩa: Kết hợp giữa pháp trị và đức trị ............................... 16
3.1.4. Góp phần phát triển lý luận Mác – Lênin theo hướng phù hợp với thực tiễn Việt
Nam .............................................................................................................................. 16
3.1.5. Định hướng cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
..................................................................................................................................... 17
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ...................................................................................................... 17
3.2.1. Về “Nhà nước hợp hiến, hợp pháp” .................................................................. 18
3.2.2. Về “Nhà nước thượng tôn pháp luật” ............................................................... 19
3.2.3. Về “Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa” ........................................................... 20
3.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay
......................................................................................................................................... 21
3.3.1. Tư tưởng về nhà nước hợp hiến, hợp pháp: ...................................................... 21
3.3.2. Tư tưởng về Nhà nước thượng tôn pháp luật: ................................................... 22
3.3.3. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa ................................................ 26
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 32
LỜI MỞ ĐẦU
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền một trong những ởng nền
tảng, ý nghĩa cốt lõi đối với cách mạng Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong tiến
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Tư tưởng này khẳng định
rằng con người phải được đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển, nhân dân là chủ thể quyết
định và trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Theo Hồ
Chí Minh, nhà nước chỉ công cụ phục vụ cho lợi ích sự phát triển của nhân dân,
chỉ khi được xây dựng bởi nhân dân, nhân dân, nhà nước mới thể đáp ứng đúng yêu
cầu của cách mạng. Với quan điểm đó, Người nhấn mạnh rằng chính nhân dân mới lực
lượng duy nhất khả năng xây dựng và phát triển đất nước. Việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực và trực tiếp của toàn thể nhân
dân, đồng thời phải bảo đảm quyền lợi, tự do và sự phát triển của nhân dân trên tất cả các
lĩnh vực.
Trong bối cảnh hiện nay, việc vận dụng tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp
quyền là một yêu cầu cần thiết và cấp bách, nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa thực sự vững mạnh, dân chủ hiện đại. Điều này đòi hỏi sự chuyển hóa tư
tưởng thành hành động thực tiễn, vừa bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân, vừa phát huy
vai trò của nhân dân với tư cách là chủ thể quyết định quá trình phát triển đất nước.
Xuất phát từ những do trên, nhóm chúng em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền. Vận dụng vào quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.”
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Tiếp thu truyền thống dân quyền, nhân quyền và giá trị văn hóa dân tộc
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giá trị dân quyền và nhân quyền, những yếu tố
đã được hun đúc trong truyền thống dân tộc qua các quan niệm như “dân vi bản”, “dân
gốc”, “lấy dân làm gốc”. Người thường dẫn lại lời dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng
chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”, nhằm khẳng định sự ổn định và phát triển của quốc
gia đều xuất phát từ nhân dân. Trong nhiều luận điểm, Hồ CMinh nhấn mạnh rằng con
người là trung tâm của sự phát triển và nhân dân là chủ thể quyết định mọi mặt đời sống xã
hội.
Từ nền tảng truyền thống đó, HChí Minh sớm nhận thấy quyền lực nhà nước không
phải để áp đặt n nhân dân, phải bắt nguồn từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Điều này
thể hiện rõ định hướng xây dựng một nhà nước pháp quyền nơi mọi quyền lực nhà nước
đều được giới hạn, tổ chức vận hành bằng pháp luật; nơi pháp luật vừa là công cụ bảo
đảm quyền lực của nhân dân, vừa là chuẩn mực để nhà nước thực hiện chức năng quản
xã hội. Do đó, tư tưởng về dân quyền và nhân quyền không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu
hay lời nói, mà phải được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật, để bảo đảm tính thực thi và
bền vững trong đời sống xã hội.
1.1.2. Ảnh hưởng từ tư tưởng dân chủ, pháp quyền quốc tế
Trong quá trình hoạt động cách mạng và tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp
cận nhiều tác phẩm và tài liệu chính trị – pháp lý tiêu biểu của thế giới. Tiêu biểu là Tuyên
ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền Dân quyền năm 1789 của
Cách mạng Pháp, cùng với hệ thống hiến pháp và mô hình nhà nước pháp quyền ở các quốc
gia phương Tây. Từ đó, Người tiếp thu sâu sắc quan điểm về tính hợp hiến, hợp pháp trong
tổ chức quyền lực nhà nước. Quyền lực phải được xác lập bởi nhân dân, việc thực thi
quyền lực chỉ chính đáng khi dựa trên hiến pháp và pháp luật.
Ảnh hưởng rõ nét nhất đối với tưởng Hồ Chí Minh chính Cách mạng Pháp 1789
và bản Tuyên ngôn Nhân quyền Dân quyền, vì đã nêu lên nguyên tắc quyền con người
gắn với quyền công dân, đồng thời khẳng định nhà nước phải bị giới hạn bởi hiến pháp.
Đây nền tảng để Người nhận thấy, muốn bảo đảm quyền lực thuộc vnhân dân, thì quyền
lực ấy phải được thể chế hóa thành pháp luật, và nhà nước phải vận hành trong khuôn khổ
pháp luật.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, tưởng ấy đã được Hồ Chí Minh
hiện thực hóa. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đề
nghị “phải có một hiến pháp dân chủ” và sớm tổ chức tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông
đầu phiếu để nhân dân trực tiếp bầu ra quan đại diện của mình. Đây minh chứng c
thể cho quan niệm về nhà nước pháp quyền - nhà nước hợp hiến, hợp pháp, được hình thành
trên cơ sở lá phiếu của nhân dân và chịu sự chi phối của hiến pháp và pháp luật.
1.1.3. Hệ tư tưởng Mác Lênin và sự vận dụng sáng tạo
Không thể bỏ qua vai trò quyết định của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc hình
thành ởng về nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh. Học thuyết này, thông qua những
tác phẩm kinh điển như Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848, Mác Ăngghen) Nhà
nước cách mạng (1917, Lênin), đã cung cấp cho Người sở luận để nhận thức
bản chất giai cấp của nhà nước, rằng nhà nước công cụ thống trị chính trị của giai cấp
cầm quyền. Từ đó, Hồ Chí Minh thấy rằng muốn xây dựng một nhà ớc thực sự của
nhân dân thì phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm không để bộ máy nhà nước
trở thành công cụ chuyên chế.
Đồng thời, phương pháp luận duy vật biện chứng duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác Lênin cũng cho Người cách tiếp cận khoa học về mối quan hệ giữa nhà nước, pháp
luật và quyền lực chính trị. Pháp luật không chỉ phản ánh ý chí giai cấp, mà trong hoàn cảnh
cách mạng Việt Nam, nó còn phải công cụ để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân và
giới hạn quyền lực nhà nước.
Hồ Chí Minh không sao chép một cách máy móc học thuyết Mác Lênin, vận
dụng một cách sáng tạo để xây dựng nhà nước kiểu mới - mang bản chất công nhân nhưng
là nhà ớc của toàn dân, do toàn dân và vì toàn dân. Trong tư ởng ấy, nhà nước phải vừa
đủ mạnh để điều hành hội, vừa hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, đặt dưới sự giám
sát và chế ước của nhân dân. Đây chính là nét đặc thù trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước pháp quyền.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng đất nước dưới chế độ thực dân – phong kiến
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước Việt Nam nằm dưới ách thống
trị của chế độ thực dân – phong kiến, chịu sự áp bức và bóc lột nặng nề cả về chính trị, kinh
tế lẫn tinh thần. Nhân dân lao động bị tước đoạt mọi quyền tự do bản, không quyền
làm chủ, không được tham gia quản lý xã hội hay quyết định vận mệnh của chính mình. Hệ
thống cai trị hà khắc của thực dân Pháp kết hợp với tầng lớp phong kiến tay sai đã biến nhà
nước thành công cụ đàn áp, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, chứ không đại diện cho
quyền lợi của nhân dân.
Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi,
thể hiện khát vọng độc lập, tự do và dân chủ của dân tộc. Tuy nhiên, do thiếu một nền tảng
luận một hình nhà nước thật sự của dân, những phong trào ấy chưa thể mang lại
một chính quyền đại diện cho nhân dân. Trước bối cảnh đất nước bị áp bức nặng nề, nhu
cầu về một kiểu nhà nước mới nhà ớc dân chủ, pháp quyền trở thành một đòi hỏi
khách quan của lịch sử dân tộc, là con đường tất yếu để giải phóng con người và bảo đảm
quyền làm chủ cho nhân dân.
Hiện thực hội ới ách thống trị thực dân phong kiến không chỉ tác động đến
nhận thức của Hồ Chí Minh, mà còn là phép thử để Người chiêm nghiệm, kiểm nghiệm các
luận cách mạng mình tiếp thu được từ thế giới. Từ đây, Hồ CMinh khẳng định
rằng muốn thay đổi vận mệnh dân tộc, phải bắt đầu từ việc trao lại quyền lực cho nhân dân
quyền làm chủ phải được xác lập và bảo vệ bằng chế pháp lý ng, cụ thể, chứ không
chỉ dừng lại những khẩu hiệu hay lời hứa mang tính hình thức. Chính nhận thức y
bước khởi đầu cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và vì dân.
1.2.2. Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946
Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình,
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nhân dân từ thân phận bị cai trị trở
thành người làm chủ đất nước. Chính từ sự kiện ấy, tưởng nhà nước dân chủ, nhà nước
pháp quyền được “biến thành hiện thực”.
Chỉ một ngày sau, trong phiên họp của Chính phủ lâm thời (3/9/1945), Người nhấn
mạnh phải hiến pháp tổ chức tổng tuyển cử phthông đầu phiếu sớm nhất để nhân
dân tự chọn tổ chức đại diện. Đây là bước hiện thực hóa quan điểm rằng một nhà nước chân
chính phải do dân lập ra.
Hiến pháp năm 1946 thể hiện nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, các cơ quan
nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và pháp luật. Nhvậy, nền tảng pháp quyền
của nhà nước mới được xác lập từ những bước đầu tiên của cách mạng.
1.2.3. Thực tiễn xây dựng bộ máy nhà nước cách mạng thực hiện dân chủ trong hoạt
động của nhà nước
Sau khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh cùng Đảng đã tổ chức bộ máy nhà
nước từ trung ương đến địa phương, triển khai bầu cử đại diện, ban hành các đạo luật, tạo
chế cho nhân dân tham gia giám sát, phê bình hoạt động của các quan nhà nước.
Trong các văn bản của mình, Người luôn nhấn mạnh rằng cán bộ, công chức phải là “công
bộc của dân”, không được “đè đầu cưỡi cổ dân”.
Trong tưởng của Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ người bầu cử còn
người kiểm tra, yêu cầu giải trình, thậm chí bãi miễn đại biểu nếu không xứng đáng. Thực
tiễn đó đã góp phần hình thành và củng cố trong Người niềm tin rằng nhà nước chân chính
phải dựa trên pháp luật và phải chịu sự kiểm soát của nhân dân một nội dung cốt lõi của
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền.
1.2.4. Tác động quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc
Thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động ch mạng là giai đoạn lịch sử thế giới có nhiều biến
động sâu sắc. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt phong trào giải phóng dân tộc
bùng nổ mạnh mẽ châu Á, châu Phi Mỹ Latinh. Nhiều quốc gia giành được độc lập,
từng bước xây dựng hình nhà ớc dân chủ, khẳng định quyền tự quyết quyền con
người. Bối cảnh này đã tạo điều kiện để Hồ Chí Minh hội quan sát, nghiên cứu, so
sánh, từ đó hình thành những nhận thức sâu sắc về bản chất của một nhà nước chân chính.
Hồ Chí Minh sớm nhận thấy rằng, nhiều nhà nước dân chủ sản tuy hệ thống
pháp luật hoàn thiện nhưng vẫn tồn tại bất công xã hội, quyền tự do của nhân dân chỉ mang
tính hình thức. Người cho rằng, một nhà nước thật sự của dân phải vừa bảo đảm quyền lực
thuộc về nhân dân, vừa đặt quyền lực đó trong khuôn khổ pháp luật để tránh lạm quyền
tha hóa. Chính vậy, Người kết hợp giữa những giá trị tiến bộ của nền dân chủ phương
Tây với truyền thống nhân nghĩa, đạo lý của dân tộc Việt Nam, hình thành tư tưởng về một
nhà nước pháp quyền nhân dân, lấy dân làm gốc, đặt pháp luật làm nền tảng cho mọi hoạt
động.
Bên cạnh đó, các phong trào giải phóng dân tộc và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ
nghĩa trên thế giới, đặc biệt là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đã có
ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Chí Minh. Người nhận thấy chỉ có con đường cách mạng vô sản
mới giúp các dân tộc bị áp bức thoát khỏi ách lệ, và chỉ trong chế độ xã hội chủ nghĩa
mới thể xây dựng được một nhà nước thực sự con người, tôn trọng bảo vệ quyền
làm chủ của nhân dân. Chính những ảnh hưởng đó đã củng cố trong Hồ Chí Minh niềm tin
rằng Việt Nam cần xây dựng một nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa, nơi quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân, được tổ chức và vận hành theo pháp luật, bảo đảm công bằng,
dân chủ và nhân văn.
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
2.1. Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Hồ Chí Minh luôn chú trọng vấn đề y dựng nền tảng pháp lý cho nhà nước Việt
Nam mới. Người đã sớm thấy rõ tầm quan trọng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống
chính trị - xã hội. Điều này thể hiện trong bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội
nghị Vécxây (Pháp) năm 1919. Bản yêu sách nêu ra yêu cầu “cải cách nền pháp lý ở Đông
Dương bằng cách làm cho người bản xứ cũng được quyền ởng những bảo đảm về mặt
pháp luật nngười Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để
khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam… Thay thế chế độ ra
các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”.
Theo Người một nhà nước pháp quyền phải một nhà nước thật sđại diện cho
dân, do toàn dân cử ra và quản lý xã hội bằng pháp luật. Xuất phát từ tư tưởng đó, sau ngày
công bố tuyên ngôn độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945), Người đã đ
nghị: “Chúng ta phải một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm
càng hay TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu” để lập nên Quốc hội rồi từ
đó lập ra Chính phủ các quan, bộ máy lập hiến, thể hiện quyền lực tối cao của nhân
dân, như vậy thì nước ta mới có cơ sở pháp lý vững chắc để làm việc với quân Đồng minh,
mới có quan hệ quốc tế bình đẳng, mới thiết lập được một cơ chế quyền lực hợp pháp theo
đúng thông lệ của Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Ngày 5/1/1946, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó Người
nói: “Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở n hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những
người đại biểu xứng đáng, vào Quốc hội đầu tiên của nước ta”. Đây thực sự một thể lệ
bầu cử dân chủ nhất lúc bấy giờ với các nước Đông Nam Á. Cuộc Tổng tuyển cử được tiến
hành thắng lợi ngày 6/1/1946 mặc dù diễn ra trong điều kiện giặc ngoài thù trong, tình hình
chính trị, kinh tế - xã hội hết sức khó khăn. Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng hòa đã họp phiên đầu tiên, lập ra các tổ chức, bộ máy và các chức vụ chính
thức của Nhà nước. Hồ Chí Minh được bầu m Chủ tịch Chính phủ liên hiệp đầu tiên. Đây
chính Chính phủ đầy đủ cách pháp để giải quyết một cách hiệu quả những
vấn đề đối nội và đối ngoại ở nước ta. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử chứng tỏ niềm tin
sâu sắc của Đảng, của chủ tịch Hồ Chí Minh vào nhân dân lòng tin mãnh liệt của nhân
dân vào Hồ Chủ tịch lực lượng cách mạng do người đứng đầu. Đồng thời nó cũng chứng
tỏ ý thức sâu sắc của Người về tầm quan trọng của một chính phủ hợp pháp quyết tâm
biến nó từng bước trở thành một chính quyền của nhân dân vững mạnh.
2.2. Nhà nước thượng tôn pháp luật
Trong tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước quản bằng bộ máy bằng nhiều biện
pháp khác nhau, nhưng quan trọng nhất quản bằng Hiến pháp và bằng pháp luật nói
chung. Muốn vậy, trước hết, cần m tốt công tác lập pháp. Trên ơng vị là Chủ tịch nước,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực xây dựng nền tảng cho quá trình hình thành hoàn
thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ thể, trực tiếp chủ
trì soạn thảo 2 bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, ký ban hành 16 đạo luật và 613 sắc
lệnh để điều hành đất nước.
Không chỉ dừng lại công tác lập pháp, Hồ Chí Minh còn chú trọng đưa pháp luật vào
trong cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành và có cơ chế giám sát việc thi hành
pháp luật.
Hồ Chí Minh chỉ rõ sự cần thiết phải nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực sử dụng
luật của người dân, giáo dục ý thức tôn trọng tuân thủ pháp luật trong nhân dân. Pháp
luật công cụ quyền lực của nhân dân, thế điều quan trọng là phải “làm sao cho nhân
dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
Người cho rằng công tác giáo dục pháp luật cho mọi người, đặc biệt cho thế hệ trẻ trở nên
cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền, bảo đảm mọi quyền và
nghĩa vụ công dân được thực thi trong cuộc sống. Việc thực thi pháp luật quan hệ rất lớn
đến trình độ dân trí của nhân dân, vì vậy, Hồ Chí Minh chú trọng đến vấn đề nâng cao dân
trí, phát huy tính tích cực chính trị của nhân dân, làm cho nhân dân có ý thức chính trị trong
việc tham gia công việc của chính quyền các cấp.
Hồ Chí Minh luôn nêu cao tính nghiêm minh của pháp luật. Người tuyên bố: “Pháp
luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải quy chính, nhưng sẽ thẳng tay
trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân”. Điều đó đòi hỏi pháp luật phải
đúng phải đủ; tăng ờng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho mọi người dân; người
thực thi pháp luật phải thật sự công tâm và nghiêm minh. Người phê phán những hiện tượng
thể hiện tính thiếu nghiêm minh của pháp luật, như: “thưởng khi quá rộng, phạt thì
không nghiêm”, lẫn lộn giữa công tội. Hồ Chí Minh luôn luôn khuyến khích nhân dân
phê bình, giám sát công việc của Nhà ớc, giám sát quá trình Nhà nước thực thi pháp luật,
đồng thời không ngừng nhắc nhở cán bộ c cấp, các ngành phải gương mẫu trong việc
tuân thủ pháp luật, trước hết các cán bộ thuộc ngành hành pháp pháp. Trong thư
gửi Hội nghị pháp toàn quốc, Người viết: “Các bạn những người phụ trách thi hành
pháp luật. Lễ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái ơng “phụng công, thủ pháp, chí công
tư” cho nhân dân noi theo”. Ngược lại, nếu cán bộ, đảng viên không làm tròn trách
nhiệm, vi phạm pháp luật thì nhà nước “phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất k
kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về
sống làm việc theo Hiến pháp pháp luật. Người tự giác khép mình vào kluật, vào
việc gương mẫu chấp hành Hiến pháp pháp luật. Sống làm việc theo Hiến pháp
pháp luật đã trở thành nền nếp, thành thói quen, thành lối ng xử tự nhiên của Hồ Chí Minh.
2.3. Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền nhân nghĩa không phải xuất hiện
một cách ngẫu nhiên, mà được hình thành trên nền tảng nhiều nguồn gốc khác nhau. Trước
hết, đó là truyền thống dân tộc với tinh thần “nhân nghĩa”, “lấy dân làm gốc”, coi trọng sự
khoan dung, hiếu sinh và đạo lý vì con người.
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong
muốn xác lập nền văn hóa chính trị chứa đựng giá trị nhân văn cao đẹp, phục vụ công cuộc
xây dựng đất nước “được hoàn toàn độc lập”, nhân dân “được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. tưởng Hồ Chí Minh sự kết hợp,
thống nhất nhuần nhuyễn giữa yếu tố chính trị và đạo đức, thể hiện ở lý tưởng Tổ quốc
tươi đẹp thực tiễn hiện thực hóa lý tưởng đó bản thân Người tấm gương sáng.
Người viết: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một
quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho n, phải được dân tin
cậy”; theo đó đội ngũ cán bộ, đảng viên muốn tổ chức quần chúng nhân dân thi hành chủ
trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thì “từ việc làm, lời nói cho đến cách
ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu” và “Phải tôn kính dân, phải làm cho dân
tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải
thanh khiết”.
tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh chứa đựng yếu tố pháp quyền nhân nghĩa sâu
sắc, pháp luật không phải là công cụ để trừng trị, mà là để bảo vệ và thực hiện quyền và lợi
ích của con người. Tiếp thu và vận dụng sáng tạo các lý thuyết hiện đại về quyền con người,
Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người một cách toàn diện. Người đề cập đến các quyền tự
nhiên của con người, trong đó quyền cao nhấtquyền sống cũng ncác quyền chính trị
- dân sự, quyền kinh tế, văn hóa, hội của con người. Người chú trọng quyền của công
dân nói chung, đồng thời cũng chú trọng đến quyền của những nhóm người cụ thể như phụ
nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số. Sự nghiệp cách mạng chân chính cần đấu tranh cho
quyền con người. Vì thế, mục tiêu giải phóng con người, làm cho mọi người có được cuộc
sống hạnh phúc, tự do, xứng với phẩm giá con người, được hưởng dụng các quyền con
người một cách đầy đủ nhất đã hòa quyện một cách hữu cơ và trở thành mục tiêu cao nhất
của sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời và
luôn nhất quán quan điểm kiên quyết đấu tranh cho quyền con người. Hiến pháp của đất
nước đã ghi nhận một cách toàn diện quyền con người Việt Nam. Đây nền tảng pháp
lý để bảo vệ và thực thi các quyền con người đó một cách triệt để.
Trong pháp quyền nhân nghĩa, pháp luật tính nhân văn, khuyến thiện. Ngay khi
thành lập, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lập tức tuyên bố xóa
bỏ mọi luật pháp hà khắc của chính quyền thực dân phản động. Tính nhân văn của hệ thống
luật pháp thể hiện việc ghi nhận đầy đủ và bảo vệ quyền con người, ở tính nghiêm minh
nhưng khách quan công bằng, tuyệt đối chống đối xử với con người một cách man.
Ngay cả đối với những kẻ phản bội Tổ quốc, Hồ Chí Minh tuyên bố rõ: “Chính phViệt
Nam sẽ tha thứ hay trừng trị họ theo luật pháp tùy theo thái độ của họ hiện nay về sau.
Nhưng sẽ không có ai bị tàn sát” Đặc biệt, hệ thống luật pháp đó có tính khuyến thiện, bảo
vệ cái đúng, cái tốt, lấy mục đích giáo dục, cảm hóa, thức tỉnh con người làm căn bản. Với
Hồ Chí Minh, việc xây dựng thi hành pháp luật phải dựa trên nền tảng đạo đức của
hội các giá trị đạo đức thấm sâu vào trong mọi quy định của pháp luật. Nói cách khác,
pháp luật trong Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa phải pháp luật con người. Cho đến
ngày nay, tưởng Hồ Chí Minh về nhà ớc pháp quyền nhân nghĩa vẫn giữ nguyên giá
trị thời sự. Nó là nền tảng lý luận quan trọng cho quá trình xây dựng và phát triển nhà ớc
pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi quyền lực thực sự thuộc về nhân dân
lợi ích của nhân dân.
III. Ý nghĩa tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đối với Việt Nam hiện
nay
3.1. Ý nghĩa lý luận
3.1.1 Nguyên tắc hợp hiến – hợp pháp: Khẳng định tính chính danh của quyền lực nhà
nước
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền một di sản luận quý giá, p
phần phát triển học thuyết Mác Lênin về nhà nước, đồng thời mra những định hướng
quan trọng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay.
Một trong những giá trị cốt lõi trong tư tưởng của Người là việc khẳng định tính chính
danh của quyền lực nhà nước thông qua nguyên tắc hợp hiến, hợp pháp. Ngay từ những
năm đầu của chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng vai trò của Hiến
pháp đạo luật cơ bản nhất của Nhà nước.
Việc ban hành Hiến pháp năm 1946 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người không chỉ
thể hiện tinh thần dân chủ sâu sắc còn minh chứng cho quan điểm cho rằng quyền
lực nhà nước phải được xác lập trên nền tảng pháp lý, với sự tham gia rộng rãi của nhân
dân. Theo đó, không cá nhân hay tổ chức nào thể đứng trên Hiến pháp và pháp luật.
Đây là điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung và làm sâu sắc thêm học thuyết
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời đặt nền móng lý luận vững chắc cho việc
xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, công khai, minh bạch nhằm kiểm soát quyền
lực nhà nước trong điều kiện hiện nay.
3.1.2. Thượng tôn pháp luật: Pháp luật là chuẩn mực tối cao trong quản trị quốc gia
Song song với nguyên tắc hợp hiến hợp pháp, Hồ Chí Minh còn đặc biệt nhấn mạnh
nguyên tắc thượng tôn pháp luật một yếu tố cốt lõi để đảm bảo tính pháp quyền trong tổ
chức và vận hành bộ máy nhà nước. Người khẳng định rằng “mọi người đều phải tuân theo
pháp luật”, trong đó cán bộ, đảng viên – những người nắm giữ quyền lực công – càng phải
gương mẫu chấp hành. Đây là tư tưởng mang tầm vóc lý luận lớn, vì xác lập pháp luật
chuẩn mực tối cao trong điều chỉnh hành vi hội trong kiểm soát quyền lực nhà
nước.
Việc thượng tôn pháp luật không chỉ giới hạn lĩnh vực hành chính pháp,
còn là yêu cầu bắt buộc trong lãnh đạo, quản và điều hành quốc gia. Pháp luật, trong
tưởng của Hồ Chí Minh, không chỉ công cụ điều chỉnh nh vi mà còn là một “bức ng
pháp lý” ngăn chặn sự tùy tiện, lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
ởng y hoàn toàn phù hợp với những giá trị pháp quyền phổ quát của nhân loại, đồng
thời được vận dụng sáng tạo để phục vụ cho mục tiêu dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, nơi quyền lực nhà nước được thực thi không phải để cai trị mà để phục vụ nhân dân.
3.1.3. Pháp quyền nhân nghĩa: Kết hợp giữa pháp trị và đức trị
Đặc biệt, điểm nổi bật sâu sắc trong tưởng Hồ Chí Minh hình Nhà nước
pháp quyền mang tính nhân nghĩa, kết hợp giữa pháp trị và đức trị. Theo Người, pháp luật
và đạo đức không tách rời nhau, mà phải hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong quản lý xã hội.
Pháp luật phải dựa trên nền tảng đạo đức, phản ánh những giá trị nhân văn cao đẹp của dân
tộc và nhân loại, đồng thời việc thực thi pháp luật cũng cần thấm nhuần tinh thần nhân đạo,
khoan dung, khuyến thiện. Đâyđiểm rất đặc sắc, khác biệt với các hình pháp quyền
phương Tây i pháp luật thường được nhìn nhận thuần túy là công cụ cưỡng chế mang
tính khách quan, trung lập.
Tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa của Hồ Chí Minh không phủ nhận vai trò cưỡng chế
của pháp luật, nhưng nhấn mạnh vai trò giáo dục, cảm hóa tạo sự đồng thuận hội.
Điều này giải sao, trong thực tiễn hiện nay, nhiều chính sách của Việt Nam đều kết
hợp giữa các biện pháp pháp lý và các giá trị đạo đức xã hội, từ cải cách pháp, hoàn thiện
hệ thống pháp luật, đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa có đức, vừa có tài”.
3.1.4. Góp phần phát triển lý luận Mác Lênin theo hướng phù hợp với thực tiễn Việt
Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền không phải là sự sao chép giản đơn
luận Mác Lênin hay hình phương Tây, mà là sự kết tinh hài hòa giữa tinh thần pháp
quyền hiện đại với bản sắc văn hóa chính trị của Việt Nam. Trong bối cảnh các mô hình
nhà nước pháp quyền tư sản đặt nặng tính cá nhân, tính quyền lực pháp lý tuyệt đối, thì tư
tưởng Hồ Chí Minh phát triển theo hướng coi pháp luật là công cụ của dân, do dân làm ra,
dân mà phục vụ. Người vận dụng sáng tạo nguyên lý “nhà nước của dân, do dân, dân”
vào trong cấu trúc pháp lý, nhằm bảo đảm mọi hoạt động của bộ máy nhà nước đều hướng
đến phục vụ nhân dân, chứ không trở thành công cụ thống trị xa lạ với người dân. Đây
điểm khác biệt sâu sắc ng đóng p luận lớn lao của Hồ Chí Minh đối với sự
phát triển của luận nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa, vừa giữ được nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, vừa khắc phục được tính cứng nhắc, giáo điều vốn tồn tại
trong các mô hình nhà nước Xô viết trước đây.
3.1.5. Định hướng cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
Tổng thể, tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền một hệ thống luận
hoàn chỉnh, có chiều sâu và tính thực tiễn cao. Ba trụ cột lý luận gồm: nguyên tắc hợp hiến
hợp pháp, nguyên tắc thượng tôn pháp luật, hình pháp quyền nhân nghĩa đã góp
phần định hình rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam – một n
nước pháp quyền mang bản sắc dân tộc, dựa trên nền tảng dân chủ, pháp lý, đạo đức
nhân văn.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách thể chế, hội nhập quốc tế sâu rộng
phải đối mặt với nhiều thách thức trong quản trị quốc gia, tưởng Hồ Chí Minh tiếp
tục giữ vai trò kim chỉ nam, định ớng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng
cao hiệu quả quản nhà nước, tăng ờng kiểm soát quyền lực, và bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của nhân dân. Ý nghĩa lý luận ấy không chỉ giới hạn trong phạm vi học thuật, mà còn
là nguồn lực tinh thần to lớn cho sự nghiệp y dựng phát triển đất nước trong thời đại
mới.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nếu như ý nghĩa lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền thể hiện
việc Người đặt nền tảng tưởng, quan điểm nguyên tắc cho hình nhà nước hợp
hiến, thượng tôn pháp luật nhân nghĩa, thì ý nghĩa thực tiễn của tưởng này lại được
khẳng định thông qua những thành tựu to lớn trong gần tám thập kỷ xây dựng và phát triển
Nhà nước Việt Nam. Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dưới ánh sáng
tưởng Hồ Chí Minh, bộ máy nhà nước nước ta không ngừng được củng cố hoàn thiện,
hệ thống pháp luật từng bước hoàn chỉnh, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được
phát huy mạnh mẽ, kỷ cương và trật tự xã hội được duy trì, đồng thời các giá trị nhân văn,
nhân ái được đề cao trong quản trị hội. Những kết quả này khẳng định tính đúng đắn,
tính khoa học và giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3.2.1. Về “Nhà nước hợp hiến, hợp pháp”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước hợp hiến, hợp pháp ra đời trong bối cảnh lịch sử
đặc biệt của dân tộc. Sau khi giành được độc lập năm 1945, Người nhận thức sâu sắc rằng
để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, cần phải có một bản Hiến pháp dân chủ, hợp lòng
dân làm nền tảng cho mọi hoạt động của bộ máy nhà nước. Bởi vậy, việc chỉ đạo soạn thảo
và ban hành Hiến pháp năm 1946 là một dấu mốc có ý nghĩa lịch sử và thể hiện rõ tư tưởng
pháp quyền của Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Hiến pháp là đạo luật gốc của Nnước,
mọi người phải tuân theo Hiến pháp.” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc
gia Sự thật, 2011).
Bản Hiến pháp năm 1946 được đánh giá một trong những bản Hiến pháp dân chủ
tiến bộ nhất ở châu Á thời bấy giờ. Theo TS. Trần Ngọc Uẩn (2015), đây là “bản Hiến pháp
mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện rõ ý chí độc lập dân tộc, dân chủ của nhân dân và khát
vọng tự do, bình đẳng”. Hiến pháp không chỉ quy định quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, mà còn xác lập cơ chế phân công quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp thể hiện tinh thần dân chủ hợp hiến rệt. Từ đó, tưởng về một “Nnước
hợp hiến, hợp pháp” của Hồ Chí Minh trở thành nền tảng để định hình hình nhà ớc
Việt Nam hiện đại.
Trong suốt tiến trình phát triển, các bản Hiến pháp tiếp theo 1959, 1980, 1992
đặc biệt 2013 đều kế thừa và phát triển tưởng Hồ CMinh, khẳng định vai trò tối
thượng của Hiến pháp và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Nhà nước phải dựa trên cơ sở
pháp luật. Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định rõ: “Nhà nước Cộng hòa hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân,
Nhân dân.” Sự kiện toàn dân tham gia góp ý, thảo luận trước khi thông qua Hiến pháp
2013 minh chứng nét cho tinh thần hợp hiến, hợp pháp hợp lòng dân đúng như
tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực nhà nước phải bắt nguồn từ nhân dân, được nhân dân
thừa nhận và phục vụ lợi ích của nhân dân. Qua thực tiễn lịch sử, có thể khẳng định rằng tư
tưởng “Nhà nước hợp hiến, hợp pháp” của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng vững chắc,
định hướng cho sự phát triển của thể chế chính trị Việt Nam hiện nay.
3.2.2. Về “Nhà nước thượng tôn pháp luật”
tưởng Hồ Chí Minh về “thượng tôn pháp luật” một trong những trụ cột quan
trọng trong nền tảng xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo
Người, pháp luật không chỉ công cụ quản lý hội còn chuẩn mực đạo đức công
dân và thước đo của nền văn minh. Người từng khẳng định: “Pháp luật phải thẳng tay trừng
trị những kẻ bất liêm, bất kể họ ai”, thể hiện quan điểm đề cao tính nghiêm minh, công
bằng và bình đẳng trước pháp luật. Ở đây, “thượng tôn pháp luật” không chỉ có nghĩa tôn
trọng pháp luật, mà còn là coi pháp luật như giới hạn quyền lực bảo đảm sự công bằng
giữa nhà nước và nhân dân.
Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, ngay từ những năm đầu sau Cách mạng Tháng
Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, lấy Hiến
pháp pháp luật m cơ sở điều hành đất nước. Việc ban hành Hiến pháp m 1946 không
chỉ khẳng định quyền tự do dân chủ của nhân dân mà còn thể hiện tinh thần “pháp trị” tiến
bộ. Theo TS. Trần Ngọc Uẩn (2015), đây “sự thể hiện sinh động nhất tưởng Hồ Chí
Minh về tính tối thượng của pháp luật, coi đó là nền tảng của một xã hội công bằng và văn
minh”. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Người đều nhấn mạnh việc giáo dục ý thức pháp
luật cho cán bộ nhân dân, coi đó điều kiện tiên quyết để duy trì kỷ cương, trật tự
ổn định xã hội.
Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng “thượng tôn pháp luật” ngày nay được thể hiện rõ nét
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiến pháp năm 2013
khẳng định nguyên tắc “Nhà nước quản xã hội bằng Hiến pháp pháp luật”, đặt nền
móng cho việc kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người quyền công dân. Các
quan nhà nước hiện nay hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, chịu sự giám sát của nhân
dân Quốc hội, phản ánh bản chất n chủ pháp quyền. Cùng với đó, công tác
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà
nước cũng là những bước tiến cụ thể hiện thực hóa tinh thần “pháp luật là tối thượng”.
tưởng Hồ Chí Minh về “thượng tôn pháp luật” thế không chỉ dừng lại phạm
vi nhận thức, mà còn trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động lập pháp, hành pháp
pháp ở nước ta. Đó là nền tảng bảo đảm cho một nhà nước dân chủ, minh bạch, liêm chính
nơi pháp luật thực sự là công cụ của nhân dân và vì nhân dân.
3.2.3. Về “Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa”
Nếu “hợp hiến” “thượng tôn pháp luật” những trụ cột pháp của Nhà nước
pháp quyền, thì “nhân nghĩa” chính là linh hồn của nó trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người
luôn nhấn mạnh rằng pháp luật phải phục vụ con người, hướng tới bảo vệ công bằng, lẽ
phải, và lan tỏa giá trị đạo đức trong xã hội. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Việc gì có lợi
cho dân thì hết sức làm, việc có hại cho dân thì hết sức tránh.” (Hồ Chí Minh Toàn tập,
tập 5, 2011). Với Người, pháp luật không thể tách rời đạo đức; ngược lại, đạo đức chính là
nền tảng để pháp luật trở nên nhân văn và được nhân dân ủng hộ.
Thực tiễn gần tám thập kỷ qua đã chứng minh giá trị bền vững của tư tưởng ấy. Ngày
nay, tinh thần “pháp quyền nhân nghĩa” được thể hiện trong việc bảo đảm tôn trọng
quyền con người, quyền công dân, trong các chính sách xã hội nhân văn như xóa đói giảm
nghèo, chăm lo giáo dục, y tế, an sinh, bảo vnhóm yếu thế, tạo cơ hội phát triển cho
mọi người dân. Các chương trình như “Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ
nhân dân” hay Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đều phản ánh

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THO LUN
HC PHN TƯ TƯỞNG H CHÍ MINH Đề tài
Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Nhóm thực hiện: Nhóm: 6
Lớp học phần: 251_HCMI011_14
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lan Phương
Hà Nội, tháng 10 năm 2025 THÀNH VIÊN NHÓM 6 STT Thành viên Nhiệm vụ
Đánh giá Điểm số Ký tên 1 Nguyễn Ngọc Linh PPT 2 Phạm Hải Linh PPT 3 Hoàng Anh Minh WORD 4 Đỗ Khánh Linh THUYẾT TRINH 5 Nguyễn Khánh Linh THUYẾT TRÌNH 6 Đoàn Nhật Minh P1+MỞ,KẾT 7 Đỗ Thảo Linh P2 8 Nguyễn Tú Linh 3.1 9 Phạm Khánh Linh (NT) 3.2 10 Nguyễn Thị Hiền Lương 3.3 11 Lê Tuấn Minh 3.3 MỤC LỤC
LI M ĐẦU…………………………………………………………………………….4
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền ......................... 6
1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................................. 6
1.1.1. Tiếp thu truyền thống dân quyền, nhân quyền và giá trị văn hóa dân tộc .......... 6
1.1.2. Ảnh hưởng từ tư tưởng dân chủ, pháp quyền quốc tế ......................................... 6
1.1.3. Hệ tư tưởng Mác – Lênin và sự vận dụng sáng tạo ............................................. 7
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................... 8
1.2.1. Thực trạng đất nước dưới chế độ thực dân – phong kiến ................................... 8
1.2.2. Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946 ..................... 9
1.2.3. Thực tiễn xây dựng bộ máy nhà nước cách mạng và thực hiện dân chủ trong
hoạt động của nhà nước ................................................................................................ 9
1.2.4. Tác động quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc ........................................... 9
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền ................................................... 10
2.1. Nhà nước hợp hiến, hợp pháp .................................................................................. 10
2.2. Nhà nước thượng tôn pháp luật ................................................................................ 11
2.3. Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa ............................................................................ 13
III. Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đối với Việt Nam hiện
nay ...................................................................................................................................... 15
3.1. Ý nghĩa lý luận ......................................................................................................... 15
3.1.1 Nguyên tắc hợp hiến – hợp pháp: Khẳng định tính chính danh của quyền lực
nhà nước ...................................................................................................................... 15
3.1.2. Thượng tôn pháp luật: Pháp luật là chuẩn mực tối cao trong quản trị quốc gia
..................................................................................................................................... 15
3.1.3. Pháp quyền nhân nghĩa: Kết hợp giữa pháp trị và đức trị ............................... 16
3.1.4. Góp phần phát triển lý luận Mác – Lênin theo hướng phù hợp với thực tiễn Việt
Nam .............................................................................................................................. 16
3.1.5. Định hướng cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
..................................................................................................................................... 17
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ...................................................................................................... 17
3.2.1. Về “Nhà nước hợp hiến, hợp pháp” .................................................................. 18
3.2.2. Về “Nhà nước thượng tôn pháp luật” ............................................................... 19
3.2.3. Về “Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa” ........................................................... 20
3.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay
......................................................................................................................................... 21
3.3.1. Tư tưởng về nhà nước hợp hiến, hợp pháp: ...................................................... 21
3.3.2. Tư tưởng về Nhà nước thượng tôn pháp luật: ................................................... 22
3.3.3. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa ................................................ 26
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 32 LỜI MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là một trong những tư tưởng nền
tảng, có ý nghĩa cốt lõi đối với cách mạng Việt Nam và giữ vai trò quan trọng trong tiến
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Tư tưởng này khẳng định
rằng con người phải được đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển, nhân dân là chủ thể quyết
định và trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Theo Hồ
Chí Minh, nhà nước chỉ là công cụ phục vụ cho lợi ích và sự phát triển của nhân dân, và
chỉ khi được xây dựng bởi nhân dân, vì nhân dân, nhà nước mới có thể đáp ứng đúng yêu
cầu của cách mạng. Với quan điểm đó, Người nhấn mạnh rằng chính nhân dân mới là lực
lượng duy nhất có khả năng xây dựng và phát triển đất nước. Việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực và trực tiếp của toàn thể nhân
dân, đồng thời phải bảo đảm quyền lợi, tự do và sự phát triển của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực.
Trong bối cảnh hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp
quyền là một yêu cầu cần thiết và cấp bách, nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa thực sự vững mạnh, dân chủ và hiện đại. Điều này đòi hỏi sự chuyển hóa tư
tưởng thành hành động thực tiễn, vừa bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân, vừa phát huy
vai trò của nhân dân với tư cách là chủ thể quyết định quá trình phát triển đất nước.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm chúng em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền. Vận dụng vào quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.” PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Tiếp thu truyền thống dân quyền, nhân quyền và giá trị văn hóa dân tộc
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giá trị dân quyền và nhân quyền, những yếu tố
đã được hun đúc trong truyền thống dân tộc qua các quan niệm như “dân vi bản”, “dân là
gốc”, “lấy dân làm gốc”. Người thường dẫn lại lời dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng
chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”, nhằm khẳng định sự ổn định và phát triển của quốc
gia đều xuất phát từ nhân dân. Trong nhiều luận điểm, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng con
người là trung tâm của sự phát triển và nhân dân là chủ thể quyết định mọi mặt đời sống xã hội.
Từ nền tảng truyền thống đó, Hồ Chí Minh sớm nhận thấy quyền lực nhà nước không
phải để áp đặt lên nhân dân, mà phải bắt nguồn từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Điều này
thể hiện rõ định hướng xây dựng một nhà nước pháp quyền – nơi mọi quyền lực nhà nước
đều được giới hạn, tổ chức và vận hành bằng pháp luật; nơi pháp luật vừa là công cụ bảo
đảm quyền lực của nhân dân, vừa là chuẩn mực để nhà nước thực hiện chức năng quản lý
xã hội. Do đó, tư tưởng về dân quyền và nhân quyền không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu
hay lời nói, mà phải được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật, để bảo đảm tính thực thi và
bền vững trong đời sống xã hội.
1.1.2. Ảnh hưởng từ tư tưởng dân chủ, pháp quyền quốc tế
Trong quá trình hoạt động cách mạng và tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp
cận nhiều tác phẩm và tài liệu chính trị – pháp lý tiêu biểu của thế giới. Tiêu biểu là Tuyên
ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của
Cách mạng Pháp, cùng với hệ thống hiến pháp và mô hình nhà nước pháp quyền ở các quốc
gia phương Tây. Từ đó, Người tiếp thu sâu sắc quan điểm về tính hợp hiến, hợp pháp trong
tổ chức quyền lực nhà nước. Quyền lực phải được xác lập bởi nhân dân, và việc thực thi
quyền lực chỉ chính đáng khi dựa trên hiến pháp và pháp luật.
Ảnh hưởng rõ nét nhất đối với tư tưởng Hồ Chí Minh chính là Cách mạng Pháp 1789
và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, vì đã nêu lên nguyên tắc quyền con người
gắn với quyền công dân, đồng thời khẳng định nhà nước phải bị giới hạn bởi hiến pháp.
Đây là nền tảng để Người nhận thấy, muốn bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, thì quyền
lực ấy phải được thể chế hóa thành pháp luật, và nhà nước phải vận hành trong khuôn khổ pháp luật.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, tư tưởng ấy đã được Hồ Chí Minh
hiện thực hóa. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đề
nghị “phải có một hiến pháp dân chủ” và sớm tổ chức tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông
đầu phiếu để nhân dân trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện của mình. Đây là minh chứng cụ
thể cho quan niệm về nhà nước pháp quyền - nhà nước hợp hiến, hợp pháp, được hình thành
trên cơ sở lá phiếu của nhân dân và chịu sự chi phối của hiến pháp và pháp luật.
1.1.3. Hệ tư tưởng Mác – Lênin và sự vận dụng sáng tạo
Không thể bỏ qua vai trò quyết định của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc hình
thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh. Học thuyết này, thông qua những
tác phẩm kinh điển như Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848, Mác – Ăngghen) và Nhà
nước và cách mạng (1917, Lênin), đã cung cấp cho Người cơ sở lý luận để nhận thức rõ
bản chất giai cấp của nhà nước, rằng nhà nước là công cụ thống trị chính trị của giai cấp
cầm quyền. Từ đó, Hồ Chí Minh thấy rõ rằng muốn xây dựng một nhà nước thực sự của
nhân dân thì phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm không để bộ máy nhà nước
trở thành công cụ chuyên chế.
Đồng thời, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác – Lênin cũng cho Người cách tiếp cận khoa học về mối quan hệ giữa nhà nước, pháp
luật và quyền lực chính trị. Pháp luật không chỉ phản ánh ý chí giai cấp, mà trong hoàn cảnh
cách mạng Việt Nam, nó còn phải là công cụ để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân và
giới hạn quyền lực nhà nước.
Hồ Chí Minh không sao chép một cách máy móc học thuyết Mác – Lênin, mà vận
dụng một cách sáng tạo để xây dựng nhà nước kiểu mới - mang bản chất công nhân nhưng
là nhà nước của toàn dân, do toàn dân và vì toàn dân. Trong tư tưởng ấy, nhà nước phải vừa
đủ mạnh để điều hành xã hội, vừa hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, đặt dưới sự giám
sát và chế ước của nhân dân. Đây chính là nét đặc thù trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng đất nước dưới chế độ thực dân – phong kiến
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước Việt Nam nằm dưới ách thống
trị của chế độ thực dân – phong kiến, chịu sự áp bức và bóc lột nặng nề cả về chính trị, kinh
tế lẫn tinh thần. Nhân dân lao động bị tước đoạt mọi quyền tự do cơ bản, không có quyền
làm chủ, không được tham gia quản lý xã hội hay quyết định vận mệnh của chính mình. Hệ
thống cai trị hà khắc của thực dân Pháp kết hợp với tầng lớp phong kiến tay sai đã biến nhà
nước thành công cụ đàn áp, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, chứ không đại diện cho
quyền lợi của nhân dân.
Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi,
thể hiện khát vọng độc lập, tự do và dân chủ của dân tộc. Tuy nhiên, do thiếu một nền tảng
lý luận và một mô hình nhà nước thật sự của dân, những phong trào ấy chưa thể mang lại
một chính quyền đại diện cho nhân dân. Trước bối cảnh đất nước bị áp bức nặng nề, nhu
cầu về một kiểu nhà nước mới – nhà nước dân chủ, pháp quyền – trở thành một đòi hỏi
khách quan của lịch sử dân tộc, là con đường tất yếu để giải phóng con người và bảo đảm
quyền làm chủ cho nhân dân.
Hiện thực xã hội dưới ách thống trị thực dân – phong kiến không chỉ tác động đến
nhận thức của Hồ Chí Minh, mà còn là phép thử để Người chiêm nghiệm, kiểm nghiệm các
lý luận cách mạng mà mình tiếp thu được từ thế giới. Từ đây, Hồ Chí Minh khẳng định
rằng muốn thay đổi vận mệnh dân tộc, phải bắt đầu từ việc trao lại quyền lực cho nhân dân
– quyền làm chủ phải được xác lập và bảo vệ bằng cơ chế pháp lý rõ ràng, cụ thể, chứ không
chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu hay lời hứa mang tính hình thức. Chính nhận thức ấy là
bước khởi đầu cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
1.2.2. Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946
Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình,
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nhân dân từ thân phận bị cai trị trở
thành người làm chủ đất nước. Chính từ sự kiện ấy, tư tưởng nhà nước dân chủ, nhà nước
pháp quyền được “biến thành hiện thực”.
Chỉ một ngày sau, trong phiên họp của Chính phủ lâm thời (3/9/1945), Người nhấn
mạnh phải có hiến pháp và tổ chức tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu sớm nhất để nhân
dân tự chọn tổ chức đại diện. Đây là bước hiện thực hóa quan điểm rằng một nhà nước chân
chính phải do dân lập ra.
Hiến pháp năm 1946 thể hiện nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, các cơ quan
nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và pháp luật. Nhờ vậy, nền tảng pháp quyền
của nhà nước mới được xác lập từ những bước đầu tiên của cách mạng.
1.2.3. Thực tiễn xây dựng bộ máy nhà nước cách mạng và thực hiện dân chủ trong hoạt
động của nhà nước
Sau khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh cùng Đảng đã tổ chức bộ máy nhà
nước từ trung ương đến địa phương, triển khai bầu cử đại diện, ban hành các đạo luật, tạo
cơ chế cho nhân dân tham gia giám sát, phê bình hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Trong các văn bản của mình, Người luôn nhấn mạnh rằng cán bộ, công chức phải là “công
bộc của dân”, không được “đè đầu cưỡi cổ dân”.
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ là người bầu cử mà còn là
người kiểm tra, yêu cầu giải trình, thậm chí bãi miễn đại biểu nếu không xứng đáng. Thực
tiễn đó đã góp phần hình thành và củng cố trong Người niềm tin rằng nhà nước chân chính
phải dựa trên pháp luật và phải chịu sự kiểm soát của nhân dân – một nội dung cốt lõi của
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền.
1.2.4. Tác động quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc
Thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng là giai đoạn lịch sử thế giới có nhiều biến
động sâu sắc. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt phong trào giải phóng dân tộc
bùng nổ mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Nhiều quốc gia giành được độc lập,
từng bước xây dựng mô hình nhà nước dân chủ, khẳng định quyền tự quyết và quyền con
người. Bối cảnh này đã tạo điều kiện để Hồ Chí Minh có cơ hội quan sát, nghiên cứu, so
sánh, từ đó hình thành những nhận thức sâu sắc về bản chất của một nhà nước chân chính.
Hồ Chí Minh sớm nhận thấy rằng, nhiều nhà nước dân chủ tư sản tuy có hệ thống
pháp luật hoàn thiện nhưng vẫn tồn tại bất công xã hội, quyền tự do của nhân dân chỉ mang
tính hình thức. Người cho rằng, một nhà nước thật sự của dân phải vừa bảo đảm quyền lực
thuộc về nhân dân, vừa đặt quyền lực đó trong khuôn khổ pháp luật để tránh lạm quyền và
tha hóa. Chính vì vậy, Người kết hợp giữa những giá trị tiến bộ của nền dân chủ phương
Tây với truyền thống nhân nghĩa, đạo lý của dân tộc Việt Nam, hình thành tư tưởng về một
nhà nước pháp quyền nhân dân, lấy dân làm gốc, đặt pháp luật làm nền tảng cho mọi hoạt động.
Bên cạnh đó, các phong trào giải phóng dân tộc và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ
nghĩa trên thế giới, đặc biệt là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đã có
ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Chí Minh. Người nhận thấy chỉ có con đường cách mạng vô sản
mới giúp các dân tộc bị áp bức thoát khỏi ách nô lệ, và chỉ trong chế độ xã hội chủ nghĩa
mới có thể xây dựng được một nhà nước thực sự vì con người, tôn trọng và bảo vệ quyền
làm chủ của nhân dân. Chính những ảnh hưởng đó đã củng cố trong Hồ Chí Minh niềm tin
rằng Việt Nam cần xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân, được tổ chức và vận hành theo pháp luật, bảo đảm công bằng, dân chủ và nhân văn.
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
2.1. Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Hồ Chí Minh luôn chú trọng vấn đề xây dựng nền tảng pháp lý cho nhà nước Việt
Nam mới. Người đã sớm thấy rõ tầm quan trọng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống
chính trị - xã hội. Điều này thể hiện trong bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội
nghị Vécxây (Pháp) năm 1919. Bản yêu sách nêu ra yêu cầu “cải cách nền pháp lý ở Đông
Dương bằng cách làm cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm về mặt
pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để
khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam… Thay thế chế độ ra
các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”.
Theo Người một nhà nước pháp quyền phải là một nhà nước thật sự đại diện cho
dân, do toàn dân cử ra và quản lý xã hội bằng pháp luật. Xuất phát từ tư tưởng đó, sau ngày
công bố tuyên ngôn độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945), Người đã đề
nghị: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm
càng hay TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu” để lập nên Quốc hội rồi từ
đó lập ra Chính phủ và các cơ quan, bộ máy lập hiến, thể hiện quyền lực tối cao của nhân
dân, như vậy thì nước ta mới có cơ sở pháp lý vững chắc để làm việc với quân Đồng minh,
mới có quan hệ quốc tế bình đẳng, mới thiết lập được một cơ chế quyền lực hợp pháp theo
đúng thông lệ của Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Ngày 5/1/1946, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó Người
nói: “Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những
người đại biểu xứng đáng, vào Quốc hội đầu tiên của nước ta”. Đây thực sự là một thể lệ
bầu cử dân chủ nhất lúc bấy giờ với các nước Đông Nam Á. Cuộc Tổng tuyển cử được tiến
hành thắng lợi ngày 6/1/1946 mặc dù diễn ra trong điều kiện giặc ngoài thù trong, tình hình
chính trị, kinh tế - xã hội hết sức khó khăn. Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng hòa đã họp phiên đầu tiên, lập ra các tổ chức, bộ máy và các chức vụ chính
thức của Nhà nước. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ liên hiệp đầu tiên. Đây
chính là Chính phủ có đầy đủ tư cách pháp lý để giải quyết một cách có hiệu quả những
vấn đề đối nội và đối ngoại ở nước ta. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử chứng tỏ niềm tin
sâu sắc của Đảng, của chủ tịch Hồ Chí Minh vào nhân dân và lòng tin mãnh liệt của nhân
dân vào Hồ Chủ tịch và lực lượng cách mạng do người đứng đầu. Đồng thời nó cũng chứng
tỏ ý thức sâu sắc của Người về tầm quan trọng của một chính phủ hợp pháp và quyết tâm
biến nó từng bước trở thành một chính quyền của nhân dân vững mạnh.
2.2. Nhà nước thượng tôn pháp luật
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước quản lý bằng bộ máy và bằng nhiều biện
pháp khác nhau, nhưng quan trọng nhất là quản lý bằng Hiến pháp và bằng pháp luật nói
chung. Muốn vậy, trước hết, cần làm tốt công tác lập pháp. Trên cương vị là Chủ tịch nước,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực xây dựng nền tảng cho quá trình hình thành và hoàn
thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ thể, trực tiếp chủ
trì soạn thảo 2 bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, ký ban hành 16 đạo luật và 613 sắc
lệnh để điều hành đất nước.
Không chỉ dừng lại công tác lập pháp, Hồ Chí Minh còn chú trọng đưa pháp luật vào
trong cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành và có cơ chế giám sát việc thi hành pháp luật.
Hồ Chí Minh chỉ rõ sự cần thiết phải nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực sử dụng
luật của người dân, giáo dục ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật trong nhân dân. Pháp
luật là công cụ quyền lực của nhân dân, vì thế điều quan trọng là phải “làm sao cho nhân
dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
Người cho rằng công tác giáo dục pháp luật cho mọi người, đặc biệt cho thế hệ trẻ trở nên
cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền, bảo đảm mọi quyền và
nghĩa vụ công dân được thực thi trong cuộc sống. Việc thực thi pháp luật có quan hệ rất lớn
đến trình độ dân trí của nhân dân, vì vậy, Hồ Chí Minh chú trọng đến vấn đề nâng cao dân
trí, phát huy tính tích cực chính trị của nhân dân, làm cho nhân dân có ý thức chính trị trong
việc tham gia công việc của chính quyền các cấp.
Hồ Chí Minh luôn nêu cao tính nghiêm minh của pháp luật. Người tuyên bố: “Pháp
luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính, nhưng sẽ thẳng tay
trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân”. Điều đó đòi hỏi pháp luật phải
đúng và phải đủ; tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho mọi người dân; người
thực thi pháp luật phải thật sự công tâm và nghiêm minh. Người phê phán những hiện tượng
thể hiện tính thiếu nghiêm minh của pháp luật, như: “thưởng có khi quá rộng, mà phạt thì
không nghiêm”, lẫn lộn giữa công và tội. Hồ Chí Minh luôn luôn khuyến khích nhân dân
phê bình, giám sát công việc của Nhà nước, giám sát quá trình Nhà nước thực thi pháp luật,
đồng thời không ngừng nhắc nhở cán bộ các cấp, các ngành phải gương mẫu trong việc
tuân thủ pháp luật, trước hết là các cán bộ thuộc ngành hành pháp và tư pháp. Trong thư
gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc, Người viết: “Các bạn là những người phụ trách thi hành
pháp luật. Lễ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công
vô tư” cho nhân dân noi theo”. Ngược lại, nếu cán bộ, đảng viên không làm tròn trách
nhiệm, vi phạm pháp luật thì nhà nước “phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ
kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về
sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Người tự giác khép mình vào kỷ luật, vào
việc gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Sống và làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật đã trở thành nền nếp, thành thói quen, thành lối ứng xử tự nhiên của Hồ Chí Minh.
2.3. Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền nhân nghĩa không phải xuất hiện
một cách ngẫu nhiên, mà được hình thành trên nền tảng nhiều nguồn gốc khác nhau. Trước
hết, đó là truyền thống dân tộc với tinh thần “nhân nghĩa”, “lấy dân làm gốc”, coi trọng sự
khoan dung, hiếu sinh và đạo lý vì con người.
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong
muốn xác lập nền văn hóa chính trị chứa đựng giá trị nhân văn cao đẹp, phục vụ công cuộc
xây dựng đất nước “được hoàn toàn độc lập”, nhân dân “được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự kết hợp,
thống nhất nhuần nhuyễn giữa yếu tố chính trị và đạo đức, thể hiện ở lý tưởng vì Tổ quốc
tươi đẹp và thực tiễn hiện thực hóa lý tưởng đó mà bản thân Người là tấm gương sáng.
Người viết: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một
cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin
cậy”; theo đó đội ngũ cán bộ, đảng viên muốn tổ chức quần chúng nhân dân thi hành chủ
trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thì “từ việc làm, lời nói cho đến cách
ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu” và “Phải tôn kính dân, phải làm cho dân
tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.
Tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh chứa đựng yếu tố pháp quyền nhân nghĩa sâu
sắc, pháp luật không phải là công cụ để trừng trị, mà là để bảo vệ và thực hiện quyền và lợi
ích của con người. Tiếp thu và vận dụng sáng tạo các lý thuyết hiện đại về quyền con người,
Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người một cách toàn diện. Người đề cập đến các quyền tự
nhiên của con người, trong đó quyền cao nhất là quyền sống cũng như các quyền chính trị
- dân sự, quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người. Người chú trọng quyền của công
dân nói chung, đồng thời cũng chú trọng đến quyền của những nhóm người cụ thể như phụ
nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số. Sự nghiệp cách mạng chân chính cần đấu tranh cho
quyền con người. Vì thế, mục tiêu giải phóng con người, làm cho mọi người có được cuộc
sống hạnh phúc, tự do, xứng với phẩm giá con người, được hưởng dụng các quyền con
người một cách đầy đủ nhất đã hòa quyện một cách hữu cơ và trở thành mục tiêu cao nhất
của sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời và
luôn nhất quán quan điểm kiên quyết đấu tranh cho quyền con người. Hiến pháp của đất
nước đã ghi nhận một cách toàn diện quyền con người ở Việt Nam. Đây là nền tảng pháp
lý để bảo vệ và thực thi các quyền con người đó một cách triệt để.
Trong pháp quyền nhân nghĩa, pháp luật có tính nhân văn, khuyến thiện. Ngay khi
thành lập, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lập tức tuyên bố xóa
bỏ mọi luật pháp hà khắc của chính quyền thực dân phản động. Tính nhân văn của hệ thống
luật pháp thể hiện ở việc ghi nhận đầy đủ và bảo vệ quyền con người, ở tính nghiêm minh
nhưng khách quan và công bằng, tuyệt đối chống đối xử với con người một cách dã man.
Ngay cả đối với những kẻ phản bội Tổ quốc, Hồ Chí Minh tuyên bố rõ: “Chính phủ Việt
Nam sẽ tha thứ hay trừng trị họ theo luật pháp tùy theo thái độ của họ hiện nay và về sau.
Nhưng sẽ không có ai bị tàn sát” Đặc biệt, hệ thống luật pháp đó có tính khuyến thiện, bảo
vệ cái đúng, cái tốt, lấy mục đích giáo dục, cảm hóa, thức tỉnh con người làm căn bản. Với
Hồ Chí Minh, việc xây dựng và thi hành pháp luật phải dựa trên nền tảng đạo đức của xã
hội và các giá trị đạo đức thấm sâu vào trong mọi quy định của pháp luật. Nói cách khác,
pháp luật trong Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa phải là pháp luật vì con người. Cho đến
ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền nhân nghĩa vẫn giữ nguyên giá
trị thời sự. Nó là nền tảng lý luận quan trọng cho quá trình xây dựng và phát triển nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nơi quyền lực thực sự thuộc về nhân dân và vì lợi ích của nhân dân.
III. Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đối với Việt Nam hiện nay
3.1. Ý nghĩa lý luận
3.1.1 Nguyên tắc hợp hiến – hợp pháp: Khẳng định tính chính danh của quyền lực nhà nước
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là một di sản lý luận quý giá, góp
phần phát triển học thuyết Mác – Lênin về nhà nước, đồng thời mở ra những định hướng
quan trọng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Một trong những giá trị cốt lõi trong tư tưởng của Người là việc khẳng định tính chính
danh của quyền lực nhà nước thông qua nguyên tắc hợp hiến, hợp pháp. Ngay từ những
năm đầu của chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng vai trò của Hiến
pháp – đạo luật cơ bản nhất của Nhà nước.
Việc ban hành Hiến pháp năm 1946 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người không chỉ
thể hiện tinh thần dân chủ sâu sắc mà còn là minh chứng cho quan điểm cho rằng quyền
lực nhà nước phải được xác lập trên nền tảng pháp lý, với sự tham gia rộng rãi của nhân
dân. Theo đó, không có cá nhân hay tổ chức nào có thể đứng trên Hiến pháp và pháp luật.
Đây là điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung và làm sâu sắc thêm học thuyết
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời đặt nền móng lý luận vững chắc cho việc
xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, công khai, minh bạch nhằm kiểm soát quyền
lực nhà nước trong điều kiện hiện nay.
3.1.2. Thượng tôn pháp luật: Pháp luật là chuẩn mực tối cao trong quản trị quốc gia
Song song với nguyên tắc hợp hiến – hợp pháp, Hồ Chí Minh còn đặc biệt nhấn mạnh
nguyên tắc thượng tôn pháp luật – một yếu tố cốt lõi để đảm bảo tính pháp quyền trong tổ
chức và vận hành bộ máy nhà nước. Người khẳng định rằng “mọi người đều phải tuân theo
pháp luật”, trong đó cán bộ, đảng viên – những người nắm giữ quyền lực công – càng phải
gương mẫu chấp hành. Đây là tư tưởng mang tầm vóc lý luận lớn, vì nó xác lập pháp luật
là chuẩn mực tối cao trong điều chỉnh hành vi xã hội và trong kiểm soát quyền lực nhà nước.
Việc thượng tôn pháp luật không chỉ giới hạn ở lĩnh vực hành chính – tư pháp, mà
còn là yêu cầu bắt buộc trong lãnh đạo, quản lý và điều hành quốc gia. Pháp luật, trong tư
tưởng của Hồ Chí Minh, không chỉ là công cụ điều chỉnh hành vi mà còn là một “bức tường
pháp lý” ngăn chặn sự tùy tiện, lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Tư tưởng này hoàn toàn phù hợp với những giá trị pháp quyền phổ quát của nhân loại, đồng
thời được vận dụng sáng tạo để phục vụ cho mục tiêu dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, nơi quyền lực nhà nước được thực thi không phải để cai trị mà để phục vụ nhân dân.
3.1.3. Pháp quyền nhân nghĩa: Kết hợp giữa pháp trị và đức trị
Đặc biệt, điểm nổi bật và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là mô hình Nhà nước
pháp quyền mang tính nhân nghĩa, kết hợp giữa pháp trị và đức trị. Theo Người, pháp luật
và đạo đức không tách rời nhau, mà phải hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong quản lý xã hội.
Pháp luật phải dựa trên nền tảng đạo đức, phản ánh những giá trị nhân văn cao đẹp của dân
tộc và nhân loại, đồng thời việc thực thi pháp luật cũng cần thấm nhuần tinh thần nhân đạo,
khoan dung, khuyến thiện. Đây là điểm rất đặc sắc, khác biệt với các mô hình pháp quyền
phương Tây – nơi pháp luật thường được nhìn nhận thuần túy là công cụ cưỡng chế mang
tính khách quan, trung lập.
Tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa của Hồ Chí Minh không phủ nhận vai trò cưỡng chế
của pháp luật, nhưng nhấn mạnh vai trò giáo dục, cảm hóa và tạo sự đồng thuận xã hội.
Điều này lý giải vì sao, trong thực tiễn hiện nay, nhiều chính sách của Việt Nam đều kết
hợp giữa các biện pháp pháp lý và các giá trị đạo đức xã hội, từ cải cách tư pháp, hoàn thiện
hệ thống pháp luật, đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa có đức, vừa có tài”.
3.1.4. Góp phần phát triển lý luận Mác – Lênin theo hướng phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền không phải là sự sao chép giản đơn
lý luận Mác – Lênin hay mô hình phương Tây, mà là sự kết tinh hài hòa giữa tinh thần pháp
quyền hiện đại với bản sắc văn hóa – chính trị của Việt Nam. Trong bối cảnh các mô hình
nhà nước pháp quyền tư sản đặt nặng tính cá nhân, tính quyền lực pháp lý tuyệt đối, thì tư
tưởng Hồ Chí Minh phát triển theo hướng coi pháp luật là công cụ của dân, do dân làm ra,
vì dân mà phục vụ. Người vận dụng sáng tạo nguyên lý “nhà nước của dân, do dân, vì dân”
vào trong cấu trúc pháp lý, nhằm bảo đảm mọi hoạt động của bộ máy nhà nước đều hướng
đến phục vụ nhân dân, chứ không trở thành công cụ thống trị xa lạ với người dân. Đây là
điểm khác biệt sâu sắc và cũng là đóng góp lý luận lớn lao của Hồ Chí Minh đối với sự
phát triển của lý luận nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa giữ được nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, vừa khắc phục được tính cứng nhắc, giáo điều vốn tồn tại
trong các mô hình nhà nước Xô viết trước đây.
3.1.5. Định hướng cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
Tổng thể, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là một hệ thống lý luận
hoàn chỉnh, có chiều sâu và tính thực tiễn cao. Ba trụ cột lý luận gồm: nguyên tắc hợp hiến
– hợp pháp, nguyên tắc thượng tôn pháp luật, và mô hình pháp quyền nhân nghĩa đã góp
phần định hình rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – một nhà
nước pháp quyền mang bản sắc dân tộc, dựa trên nền tảng dân chủ, pháp lý, đạo đức và nhân văn.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách thể chế, hội nhập quốc tế sâu rộng
và phải đối mặt với nhiều thách thức trong quản trị quốc gia, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp
tục giữ vai trò là kim chỉ nam, định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường kiểm soát quyền lực, và bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của nhân dân. Ý nghĩa lý luận ấy không chỉ giới hạn trong phạm vi học thuật, mà còn
là nguồn lực tinh thần to lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại mới.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nếu như ý nghĩa lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền thể hiện
ở việc Người đặt nền tảng tư tưởng, quan điểm và nguyên tắc cho mô hình nhà nước hợp
hiến, thượng tôn pháp luật và nhân nghĩa, thì ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng này lại được
khẳng định thông qua những thành tựu to lớn trong gần tám thập kỷ xây dựng và phát triển
Nhà nước Việt Nam. Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dưới ánh sáng tư
tưởng Hồ Chí Minh, bộ máy nhà nước nước ta không ngừng được củng cố và hoàn thiện,
hệ thống pháp luật từng bước hoàn chỉnh, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được
phát huy mạnh mẽ, kỷ cương và trật tự xã hội được duy trì, đồng thời các giá trị nhân văn,
nhân ái được đề cao trong quản trị xã hội. Những kết quả này khẳng định tính đúng đắn,
tính khoa học và giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3.2.1. Về “Nhà nước hợp hiến, hợp pháp”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước hợp hiến, hợp pháp ra đời trong bối cảnh lịch sử
đặc biệt của dân tộc. Sau khi giành được độc lập năm 1945, Người nhận thức sâu sắc rằng
để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, cần phải có một bản Hiến pháp dân chủ, hợp lòng
dân làm nền tảng cho mọi hoạt động của bộ máy nhà nước. Bởi vậy, việc chỉ đạo soạn thảo
và ban hành Hiến pháp năm 1946 là một dấu mốc có ý nghĩa lịch sử và thể hiện rõ tư tưởng
pháp quyền của Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Hiến pháp là đạo luật gốc của Nhà nước,
mọi người phải tuân theo Hiến pháp.” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2011).
Bản Hiến pháp năm 1946 được đánh giá là một trong những bản Hiến pháp dân chủ
tiến bộ nhất ở châu Á thời bấy giờ. Theo TS. Trần Ngọc Uẩn (2015), đây là “bản Hiến pháp
mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện rõ ý chí độc lập dân tộc, dân chủ của nhân dân và khát
vọng tự do, bình đẳng”. Hiến pháp không chỉ quy định quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, mà còn xác lập cơ chế phân công quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp – thể hiện tinh thần dân chủ và hợp hiến rõ rệt. Từ đó, tư tưởng về một “Nhà nước
hợp hiến, hợp pháp” của Hồ Chí Minh trở thành nền tảng để định hình mô hình nhà nước Việt Nam hiện đại.
Trong suốt tiến trình phát triển, các bản Hiến pháp tiếp theo – 1959, 1980, 1992 và
đặc biệt là 2013 – đều kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò tối
thượng của Hiến pháp và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Nhà nước phải dựa trên cơ sở
pháp luật. Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân.” Sự kiện toàn dân tham gia góp ý, thảo luận trước khi thông qua Hiến pháp
2013 là minh chứng rõ nét cho tinh thần hợp hiến, hợp pháp và hợp lòng dân – đúng như
tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực nhà nước phải bắt nguồn từ nhân dân, được nhân dân
thừa nhận và phục vụ lợi ích của nhân dân. Qua thực tiễn lịch sử, có thể khẳng định rằng tư
tưởng “Nhà nước hợp hiến, hợp pháp” của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng vững chắc,
định hướng cho sự phát triển của thể chế chính trị Việt Nam hiện nay.
3.2.2. Về “Nhà nước thượng tôn pháp luật”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “thượng tôn pháp luật” là một trong những trụ cột quan
trọng trong nền tảng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo
Người, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là chuẩn mực đạo đức công
dân và thước đo của nền văn minh. Người từng khẳng định: “Pháp luật phải thẳng tay trừng
trị những kẻ bất liêm, bất kể họ là ai”, thể hiện quan điểm đề cao tính nghiêm minh, công
bằng và bình đẳng trước pháp luật. Ở đây, “thượng tôn pháp luật” không chỉ có nghĩa là tôn
trọng pháp luật, mà còn là coi pháp luật như giới hạn quyền lực và bảo đảm sự công bằng
giữa nhà nước và nhân dân.
Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, ngay từ những năm đầu sau Cách mạng Tháng
Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, lấy Hiến
pháp và pháp luật làm cơ sở điều hành đất nước. Việc ban hành Hiến pháp năm 1946 không
chỉ khẳng định quyền tự do dân chủ của nhân dân mà còn thể hiện tinh thần “pháp trị” tiến
bộ. Theo TS. Trần Ngọc Uẩn (2015), đây là “sự thể hiện sinh động nhất tư tưởng Hồ Chí
Minh về tính tối thượng của pháp luật, coi đó là nền tảng của một xã hội công bằng và văn
minh”. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Người đều nhấn mạnh việc giáo dục ý thức pháp
luật cho cán bộ và nhân dân, coi đó là điều kiện tiên quyết để duy trì kỷ cương, trật tự và ổn định xã hội.
Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng “thượng tôn pháp luật” ngày nay được thể hiện rõ nét
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiến pháp năm 2013
khẳng định nguyên tắc “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”, đặt nền
móng cho việc kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Các cơ
quan nhà nước hiện nay hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, chịu sự giám sát của nhân
dân và Quốc hội, phản ánh rõ bản chất dân chủ và pháp quyền. Cùng với đó, công tác
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà
nước cũng là những bước tiến cụ thể hiện thực hóa tinh thần “pháp luật là tối thượng”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “thượng tôn pháp luật” vì thế không chỉ dừng lại ở phạm
vi nhận thức, mà còn trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động lập pháp, hành pháp và tư
pháp ở nước ta. Đó là nền tảng bảo đảm cho một nhà nước dân chủ, minh bạch, liêm chính
– nơi pháp luật thực sự là công cụ của nhân dân và vì nhân dân.
3.2.3. Về “Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa”
Nếu “hợp hiến” và “thượng tôn pháp luật” là những trụ cột pháp lý của Nhà nước
pháp quyền, thì “nhân nghĩa” chính là linh hồn của nó trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người
luôn nhấn mạnh rằng pháp luật phải phục vụ con người, hướng tới bảo vệ công bằng, lẽ
phải, và lan tỏa giá trị đạo đức trong xã hội. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Việc gì có lợi
cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh.” (Hồ Chí Minh Toàn tập,
tập 5, 2011). Với Người, pháp luật không thể tách rời đạo đức; ngược lại, đạo đức chính là
nền tảng để pháp luật trở nên nhân văn và được nhân dân ủng hộ.
Thực tiễn gần tám thập kỷ qua đã chứng minh giá trị bền vững của tư tưởng ấy. Ngày
nay, tinh thần “pháp quyền nhân nghĩa” được thể hiện rõ trong việc bảo đảm và tôn trọng
quyền con người, quyền công dân, trong các chính sách xã hội nhân văn như xóa đói giảm
nghèo, chăm lo giáo dục, y tế, an sinh, bảo vệ nhóm yếu thế, và tạo cơ hội phát triển cho
mọi người dân. Các chương trình như “Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ
nhân dân” hay Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đều phản ánh