Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC -----🙞🙜🕮🙞🙜----- BÀI THẢO LUẬN
MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài: Trong một lời tự bạch, Hồ Chí Minh từng nhận định về các bậc
tiền bối: “Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho
xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin
rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân
thiết. Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát
triển tư tưởng của “họ” như thế nào?
Giảng viên hướng dẫn: Ngô Thị Minh Nguyệt Nhóm thực hiện: Nhóm 7 Lớp học phần: 2355HCMI0111 Hà Nội, 2022 MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................1
PHẦN II: NỘI DUNG...........................................................................................................2
1. Sự tiếp thu tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với các học thuyết của “họ”:..................2
1.1. Đối với học thuyết Nho giáo của Khổng Tử:.........................................................2
1.2. Đối với Thiên Chúa giáo:........................................................................................8
1.3. Đối với học thuyết Tam dân của Tôn Dật Tiên:..................................................11
1.4. Đối với chủ nghĩa Mác – Lênin:...........................................................................15
2. Cách thức Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa nhân loại:................................................19
2.1. Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên cơ sở đã thấm đẫm các giá trị truyền
thống tốt đẹp dân tộc Việt Nam:
.................................................................................19
2.2. Kế thừa, phát triển sáng tạo những điểm tích cực trong tinh hoa văn hóa nhân
loại làm phong phú thêm vốn văn hóa của mình mà vẫn giữ được tinh thần thuần
túy Việt Nam:
................................................................................................................21
2.3. Tiếp thu trên cơ sở phê phán và đấu tranh loại bỏ những tư tưởng tiêu cực. ..23
2.4. Hồ Chí Minh đã lựa chọn, tích hợp những yếu tố tiến bộ, hợp lý và cải biến nó
phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc và nhu cầu đất nước tạo ra cách làm
riêng không lẫn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và nhân loại.
..................24
PHẦN III: KẾT LUẬN.......................................................................................................29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:..........................................................................30 2
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh là một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại của Việt Nam, Bác đã đặt một
tầm nhìn rộng lớn cho sự phát triển của đất nước. Trong một lời tự bạch, Bác đã nhận định
về các bậc tiền bối rằng họ đều mong muốn đem lại hạnh phúc cho nhân loại và triển khai
phúc lợi cho xã hội. Nếu họ còn sống trên đời này và họ hợp lại một chỗ, Bác tin rằng họ sẽ
sống rất hoàn mỹ với nhau như những người bạn thân thiết.
Trong bài thảo luận này, chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích cách mà Hồ Chí Minh đã
kế thừa và phát triển tư tưởng của các bậc tiền bối để đưa Việt Nam trở thành một quốc gia
độc lập, tự do, dân chủ và phát triển. Chúng ta sẽ đặt câu hỏi: Hồ Chí Minh đã học hỏi và áp
dụng những tư tưởng gì từ các bậc tiền bối, và Bác đã đưa những tư tưởng này vào thực tiễn ra sao?
Với tầm nhìn của một người lãnh đạo tài ba và tình yêu quê hương mãnh liệt, Hồ Chí
Minh đã xây dựng nên một tư tưởng đặc biệt, đó là Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã
tận dụng những tư tưởng này và tạo ra một phương pháp đặc trưng của mình, có tính thực
tiễn cao và được áp dụng vào thực tiễn hiệu quả. Qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về sự
nghiệp cách mạng và tư tưởng của Hồ Chí Minh, và tầm quan trọng của ông trong lịch sử Việt Nam và thế giới. 3 PHẦN II: NỘI DUNG
1. Sự tiếp thu tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với các học thuyết của “họ”:
1.1. Đối với học thuyết Nho giáo của Khổng Tử:

Về mặt lý luận, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là một sự kết hợp nhiều
giá trị khác nhau bao gồm chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa
nhân loại. Trong đó, những giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại bao gồm cả của phương
Đông cũng như phương Tây, cả những giá trị của quá khứ và hiện tại đã được Hồ Chí Minh
tiếp thu một cách khoa học, biện chứng để trực tiếp góp phần hình thành nên tư tưởng của
mình. Từ thực tế lịch sử, có thể khẳng định, Nho giáo nói chung và tư tưởng của Khổng Tử
nói riêng là những giá trị nhân loại mà Hồ Chí Minh đã có sự tiếp xúc đầu tiên thông qua
quá trình học tập của bản thân gắn với nền giáo dục phong kiến đương thời cũng như bằng
chính sự trải nghiệm cá nhân Người với môi trường xã hội xung quanh lúc bấy giờ. Từ đó,
trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của mình sau này, Hồ Chí Minh đã có sự
tiếp thu có chọn lọc các giá trị trong tư tưởng của Khổng Tử để hình thành nên nhiều quan
điểm cụ thể trên các lĩnh vực chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người,
mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ,
tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết”.
Thực chất, tất cả các học thuyết này đều hướng đến xây dựng các giá trị đạo đức cho con
người: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là bác ái. Phật
Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa.” Đối với Nho giáo
nói chung và Khổng Tử nói riêng, Hồ Chí Minh đã có nhiều nhận định, đánh giá đồng thời
đã tiếp thu một số quan điểm của học thuyết này vào tư tưởng của mình trong điều kiện mới.
Điều đó được thể hiện qua một số nội dung sau đây:
- Nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh có thể nhận thấy, mặc dù là một
người cộng sản, một lãnh tụ cách mạng nhưng bản thân Người không hề có một sự kỳ thị,
bài xích nào đối với các nhà tư tưởng cũng như phủ Trung các học thuyết ngoài chủ nghĩa
Mác - Lênin. Trái lại, Hồ Chí Minh còn có sự đánh giá rất và cao về đóng góp của các nhà tư
tưởng, những dụng làm người sáng lập các tôn giáo với sự phát triển Hồ Chí Minh của nhân
loại. Người đã từng nói: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng cá
nhân. Tôn giáo của Chúa Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có 4
ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm
của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật
Tiên chẳng có những ưu điểm nào khi học hỏi người bề dưới, còn việc không được mọi
người biết đến, đối với ông chẳng quan trọng gì.” Theo Hồ Chí Minh, Khổng Tử còn là
người đáng khâm phục vì những đức tính tốt đẹp của bản thân ông: “Cụ Khổng và cụ Lê hơn
mọi người, không phải vì hai cụ biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Mà vì hai cụ không tự
kiêu, tự ái, luôn luôn học hỏi.” Có thể nói, với xuất phát điểm là một người được giáo dục và
lớn lên dưới chế độ phong kiến Việt Nam, thì những nhận định, đánh giá của Hồ Chí Minh
về Khổng Tử chính là kết quả của sự thẩm thấu những triết lý Nho giáo vào trí tuệ và tâm
hồn của Người. Từ sự thẩm thấu đó, Người khẳng định: “Khổng giáo không phải là tôn giáo
mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử.” Do đó, Hồ Chí Minh cho
rằng: “Với việc xóa bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm
mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy
tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt
cách mạng thì cần đọc tác phẩm của Lê - nin.
Không chỉ góp phần vào hoàn thiện về tinh thần, đạo đức cho con người, theo
Hồ Chí Minh, Khổng Tử còn đề xướng những quan điểm có giá trị sâu sắc, lâu bền đối với
sự phát triển của xã hội, thậm chí trong điều kiện của cách mạng giải phóng các dân tộc
thuộc địa Châu Á vào đầu thế kỷ XX vẫn còn nguyên giá trị. Trong tác phẩm “Đông Dương”
đăng trên Tạp chí La Revue Communiste, số 15, tháng 5 năm 1921, Người cho rằng, một
trong những lý do mà người Châu Á thấy cần phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại là vì ở các
nước này vẫn còn đầy những bất công. Người đã viết: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N)
khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng nói: Thiên hạ sẽ
thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều. Bình đẳng sẽ
xoá bỏ nghèo nàn...” Như vậy, lý tưởng về một xã hội công bằng, bình đẳng là một lý tưởng
đã có từ rất sớm mà Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên. Do đó, trong điều kiện sự áp bức,
bất công dưới sự thống trị của chế độ thực dân, phong kiến ở Châu Á đương thời thì tư
tưởng này vẫn còn nguyên giá trị trong việc thúc đẩy cho cuộc đấu tranh vì sự công bằng và
bình đẳng trong xã hội thuộc địa. Từ tất cả những nhận định trên thì cũng dễ hiểu vì sao Hồ 5
Chí Minh cho rằng: “Toàn bộ đời sống trí tuệ của người Trung Quốc đều thấm đượm tinh
thần triết học và giáo lý của Khổng Tử”.
- Hồ Chí Minh chỉ ra những hạn chế trong học thuyết của Khổng Tử, đặc biệt là đặt
trong bối cảnh thực tiễn của thế giới hiện đại
Trước tiên, dưới góc độ chính trị, học thuyết của Khổng Tử ra đời trong chế độ phong kiến
nhằm mục đích giúp cho tầng lớp phong kiến củng cố quyền lực, bảo vệ chế độ. Hồ Chí
Minh khẳng định: “Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải chỉ vì ông không phải là
người cách mạng, mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ.
Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc đang khai thác Kitô giáo... ông rõ ràng là người
phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức. Đặt trong bối
cảnh các nước thuộc địa đàng phải tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giai cấp vô
sản phải chống lại sự bóc lột của giai cấp tư sản thì rõ ràng: “Nếu Khổng Tử sống ở thời đại
chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản
cách mạng. Đây chính là điểm hạn chế lớn nhất trong tư tưởng của Khổng Tử. Tuy nhiên,
Hồ Chí Minh cũng có cái nhìn biện chứng về vấn đề này theo quan điểm lịch sử - cụ thể khi
Người cho rằng: “Nhưng cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc
và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc Khổng Tử không bao
giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng. Ngoài ra, theo Hồ Chí Minh, ngay trong tư
tưởng về đạo đức của Khổng Tử cũng có những điểm hạn chế rất lớn, đặt trong xã hội hiện
đại. “Đạo đức của ông là hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư
tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn làm thế nào để có thể đậy kín được cái hộp
vuông? Điểm nổi bật đầu tiên mà Hồ Chí Minh chỉ ra là Khổng Tử nói riêng và Nho giáo
nói chung rất xem thường vai trò của phụ nữ trong xã hội. “Đại Đức Khổng Tử nói: Chồng
phải dạy vợ. Đức Mạnh Tử lại lưu ý rằng: Đàn bà và trẻ con khó dạy bảo: nếu cho họ gần thì
họ khinh nhờn; nếu bỏ mặc họ thì họ thù oán”. Quan điểm này đã ảnh hưởng rất lớn đến các
xã hội phong kiến ở châu Á trong đó có Việt Nam, dẫn đến hạ thấp vị trí của người phụ nữ
và thực chất đây cũng chính là một sự bất công cần xóa bỏ. Một điểm hạn chế lớn khác trong
quan điểm của Khổng Tử và cũng trở nên lỗi thời trong xã hội hiện đại là coi khinh lao động
chân tay, từ đó dẫn đến coi thường những người thuộc tầng lớp dưới. “Dưới chế độ phong
kiến, lao động trí óc tách rời hẳn với lao động chân tay. Trước đây hơn 2.500 năm, cụ Khổng 6
Tử (“ông Thánh" khoa học Trung Quốc ngày xưa) đã mắc sai lầm đó. Một hôm học trò hỏi
cụ Khổng về nghề làm ruộng và trồng cây. Ông cụ trả lời một cách cay cú: “Ta chả biết!”.
Xét dưới góc độ giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp vô sản thì quan điểm này là không
phù hợp vì nó đã hạ thấp vai trò cũng như tính tích cực của một lực lượng đông đảo trong xã
hội là giai cấp vô sản.
- Hồ Chí Minh tiếp thu một cách có chọn lọc học thuyết của Khổng Tử, phù hợp với
điều kiện cụ thể của xã hội cũng như yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Người viết: “Tuy
Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng
song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”. Từ đó, Hồ Chí Minh đã vận dụng linh
hoạt, sáng tạo các quan điểm của Khổng Tử trong việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức
cách mạng cũng như giáo dục những điều đó cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi nói về
những phẩm chất cơ bản trong đạo đức của người cộng sản, Người đều trích dẫn những câu
nói nổi tiếng của Khổng Tử để chứng minh giá trị của từng phẩm chất cụ thể. Đề cao tinh
thần tiết kiệm, Người đã mở đầu: “Cụ Khổng Tử nói: “Người sản xuất nhiều, người tiêu xài
ít. Làm ra màu, dùng đi chậm thì của cái luôn luôn đầy đủ." thế Hay nói đến tính liêm chính
của cán bộ, Người cũng chỉ rõ: “Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc
vật.” Để chống thói tự kiêu, Người cũng không quên trích dẫn lời Khổng Tử: “Nếu có tính
tự kiêu, thì dù tài giỏi vô cùng như ông Chu Công, thì tài giỏi ấy cũng vứt đi.” Như vậy, theo
Hồ Chí Minh, những quan điểm về đạo đức của Khổng Tử dù đã qua hàng ngàn năm nhưng
trong thời đại mới vẫn còn nguyên giá trị đối với những người cộng sản. Đây là một điều cần
phải được học hỏi để vận dụng cho phù hợp. Đồng thời với việc nhận thức sâu sắc các giá trị
trong quan điểm về đạo đức của Khổng Tử, trong quá trình lãnh đạo, Hồ Chí Minh còn
thông qua những quan điểm thể của ông để cu giáo dục tinh thần và ý chí cách mạng cho đội
ngũ cán bộ, đảng viên.
Trong “Thư gửi Hội nghị y tế Liên khu”, họp tại Liên khu X từ ngày 04 đến ngày
07/6/1948, để động viên tinh thần vượt qua khó khăn, thiếu thốn của đội ngũ nhân viên y tế,
từ cao cấp đến những cán bộ phổ thông. Người đã viết: “Khổng Tử đã nói: “Cùng đương ích
kiên”, và thật là đáng quý, đáng kính, ". Khi nói chuyện tại Lớp chính đảng Trung ương
khóa 3, ngày 10 tháng 3 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần trích dẫn lời Khổng Tử.
Người mở đầu bài nói chuyện: “Trong khi rồi, Bác thường đọc sách, sách mới có, cũ có. 7
Hôm nay Bác nói một câu chuyện về sách cũ. Ngày xưa Khổng Tử có câu: “Ôn việc cũ để
biết việc mới” nghĩa là ta phải ôn những việc đã qua de thay việc mới.”! Khi nói đến việc
rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ trong kháng chiến, Người lại một lần nữa nhấn mạnh:
“Khổng Tử nói: "Mình phải chính tâm tu thân” nghĩa là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu; có
thể mới “trị quốc bình thiên hạ” được. Trị quốc bình thiên hạ đây tức là ta kháng chiến đánh
Pháp, kiến quốc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình thế giới. Muốn cải tạo xã hội thì
lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội. Lòng
mình còn tham ô, lãng phí, muốn cải tạo xã hội làm sao được "
- Hồ Chí Minh thực hành những giá trị tích cực của Khổng Tử và học thuyết Nho giáo trong đời sống
Không chỉ vận dụng những giá trị tư tưởng của Khổng Tử trong quá trình lãnh đạo cách
mạng mà chính bản thân Hồ Chí Minh cũng đã tự mình thực hành những nguyên tắc tư duy
và triết lý sống của Nho giáo trong cuộc sống cá nhân để không ngừng tu dưỡng đạo đức
cũng như nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu. Các nguyên tắc chủ yếu trong
tư tưởng triết học - chính trị của Nho giáo như coi trọng vai trò của con người, đề cao giáo
dục, coi đạo đức là nền tảng của con người; muốn cải tạo xã hội thì bắt đầu từ cải tạo con
người... đã được Hồ Chí Minh sử dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt để hình thành nên các quan
điểm, luận điểm phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cụ thể như trên cơ sở thuyết Tam tài
(Thiên - Địa - Nhân) của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ có tính quy luật giữa
con người với trời và đất được hình thành trên những yếu tố cốt lõi mà trong đó đối với con
người chính là yếu tố đạo đức. Trong bài viết “Cần, kiệm, liêm, chính” đăng trên báo Cứu
Quốc số ngày 30/5, 31/5, 01/6 và 02/6 năm 1949, ngay ở phần mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đúc kết những vấn đề trên bằng 6 câu thơ:
“Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam
Bắc Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người” 8
Đặc biệt, trong cuộc sống hàng ngày, Hồ Chí Minh cũng đã có sự tiếp thu và thực
hành triết lý sống của một nhà Nho với các nguyên tắc cơ bản như tu nhân (tự mình rèn
luyện), dĩ thân vi giáo (tự mình nêu gương)., như Người đã từng viết nhiều lần về việc tự tu
dưỡng đạo đức: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự
sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà
Đảng sẽ " mạnh khoẻ vô cùng " Hay như khi bàn về trách nhiệm nêu gương, trong Thư gửi
đồng chí Pêtơrốp, Tổng thư ký Ban phương Đông năm 1924, Người cũng nhấn mạnh: “Nói
chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống
còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.
Như vậy, có thể thấy, Hồ Chí Minh đã khai thác di sản tư tưởng của Nho giáo nói
chung và cá nhân Khổng Tử nói riêng một cách cụ thể, sáng tạo; đồng thời, Nho giáo đã
ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh một cách sâu sắc, từ những phạm trù, mệnh đề tư tưởng đến
phương pháp tư duy; từ tư tưởng, học thuyết đến triết lý sống; cũng như từ nhận thức đến thực hành.
Qua những nội dung khái quát như trên, có thể khẳng định, sự hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự tiếp thu và vận dụng một cách khoa học
nhiều học thuyết khác nhau của nhân loại, trong đó tư tưởng của Khổng Tử đóng góp một
phần không nhỏ. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có sự nhận thức một cách khách quan về
những đóng góp to lớn của Khổng giáo đối với lịch sử nhân loại nói chung và các xã hội
Châu Á nói riêng. Tư tưởng của Khổng Tử đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển
của chế độ phong kiến phương Đông về cả phương diện chính trị và xã hội, đặc biệt là về
đạo đức. Tuy nhiên, vì ra đời trước đó hàng ngàn năm nên trong thời đại mới, một số
quan điểm trong học thuyết của Khổng Tử đã trở nên không còn phù hợp, thậm chí là lỗi
thời, phản cách mạng. Cần phải thay đổi một cách mạnh mẽ. Vấn đề này đã được Hồ Chí
Minh nhận thức một cách sâu sắc và biện chứng. Điều đặc biệt có ý nghĩa là Hồ Chí Minh
luôn tiếp thu và vận dụng một cách phù hợp, sáng tạo nhiều quan điểm của Khổng Tử
trong việc hình thành và phát triển tư tưởng của mình, nhất là tư tưởng về đạo đức và đạo
đức cách mạng. Điều này đã góp phần xây dựng nên những giá trị mới trên nền tảng lý
luận trước đó một cách vững chắc; giúp cho những quan điểm của Hồ Chí Minh được 9
củng cố bằng những luận cứ khoa học, sâu sắc; từ đó càng khẳng định giá trị lâu dài, bền
vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay.
1.2. Đối với Thiên Chúa giáo:
Là người biết kế thừa, vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hoá nhân loại vào lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao tư tưởng đại đồng, tư tưởng nhân văn, tư
tưởng đạo đức bác ái cao cả của Thiên chúa giáo cũng như nhiều tư tưởng về con người của
tôn giáo lớn nhất thế giới nay. Thiên Chúa giáo có một số ưu điểm nổi bật phải kể đến như:
Những điều răn dạy của Chúa Giê-su như “Không giết người; không tà dâm; không trộm
cắp; không làm chứng dối, che dấu sự giả dối; không ham muốn vợ người; không ham của
trái lẽ” là những điều hướng thiện, là những quy tắc không chỉ dành cho người theo đạo mà
nó còn có ý nghĩa với tất cả mọi người. Đó là những giá trị chung nhất mà con người ở thời
đại nào, không phân biệt màu da, sắc tộc, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều phải
hướng tới. Bên cạnh đó, Thiên Chúa giáo cũng thể hiện tình yêu thương đồng loại, gắn kết
cộng đồng. Đức Chúa Giêsu dạy tín đồ phải yêu thương đồng loại. Triết lý sống của họ là
triết lý tình thương, sống có tình, có nghĩa, có đạo đức, làm điều tốt, điều thiện,…Và ưu
điểm cơ bản nhất, có ảnh hưởng nhất của Thiên Chúa Giáo đến tư tưởng Hồ Chí Minh chính là lòng nhân ái cao cả.
Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ thế giới quan duy tâm của Thiên chúa giáo. Tuy thế giới quan
ấy đối lập với thế giới quan duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, nghĩa là đối lập với thế giới
của Người, nhưng Người vẫn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng – theo hoặc không theo một
tôn giáo nào của mọi người nói chung và những tín đồ Thiên chúa giáo nói riêng. Người chỉ
kiên quyết phê phán và chống lại sự lợi dụng tôn giáo, xuyên tạc tôn giáo của các thế lực thù
địch. Các thế lực thù địch này chính là bọn thực dân, đế quốc xâm lược, chúng đã xuyên tạc
và lợi dụng tôn giáo vào mục đích gây chiến tranh xâm lược các nước hòng bắt nhân dân các
nước này cam chịu sự thống trị và bóc lột tàn bạo của chúng. Tất cả những vấn đề đó đều
ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt: Một mặt, Hồ Chí
Minh kế thừa, đề cao những mặt tốt, vận dụng sáng tạo những mặt tốt ấy để làm phong phú
thêm tư tưởng của Người về đại đoàn kết, cả đoàn kết toàn dân trong quốc gia dân tộc và
đoàn kết quốc tế, và đề cao, động viên đồng bào Thiên chúa giáo trong và ngoài nước tham 10
gia đông đảo vào khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết nhân dân toàn thế giới, tăng thêm lực
lượng cho cách mạng. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam - nơi có nhiều cộng đồng
cư dân cùng sinh sống, nơi tín ngưỡng giữa đạo và đời luôn đồng hành ngự trị trong đời
sống tâm linh của người dân, Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy và biết gạn lọc những tinh hoa
trong kho tàng giá trị của đạo Thiên chúa những điều cần thiết cho sự nghiệp giải phóng dân
tộc. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh dường như bao la, nhân ái hơn khi hoà đồng, kết hợp
tâm hồn, đạo đức và cốt cách của con người Việt Nam với tư tưởng “cứu thế, độ dân, hy sinh
cho tự do” của Đức Chúa GiêSu, để không chỉ giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, thực hiện
sự tôn trọng tự do tôn giáo, mà còn luôn thực hiện đoàn kết với đồng bào đồng bào Thiên
chúa giáo trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hòa
bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.
Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng vạch mặt bọn thực dân, đế quốc xâm lược lợi dụng tôn
giáo, giả danh Chúa vào mục đích, âm mưu “chia để trị”: gây thù hằn giữa cộng sản với tôn
giáo; gây thù hằn giữa đồng bào lương với đồng bào giáo; thù hằn dân tộc này với dân tộc
khác… để phục vụ cho mục tiêu xâm lược và chống cộng sản của chúng v.v…
Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn hóa
Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân
ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo. Hồ Chí Minh tiếp thu mỹ học bác
ái “kính Chúa yêu nước”, là yêu “hòa bình, tự do, hạnh phúc” của Thiên Chúa giáo. Trong
bức thư gửi cho đồng bào công giáo nhân dịp Noel năm 1945, năm độc lập đầu tiên của
nước nhà Người đã viết: “Đức Thiên Chúa đã giáng sinh để cứu vớt nhân loại. Đức Thiên
Chúa là một tấm gương hy sinh triệt để vì những người bị bóc lột, vì những dân tộc bị áp
bức, vì hòa bình, vì công lý”. Và Người đã nhấn mạnh: “Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh
nhân đã ra đời. Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng. Trong lúc
này, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, chúng mong cướp nước ta lần nữa. Chúng làm trái
hẳn với lòng bác ái của Đức Giêsu. Toàn thể đồng bào ta, không chia lương, giáo, đoàn kết
chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để giữ gìn quyền
tôn giáo tự do”. Tiếp thu tư tưởng đó của Thiên Chúa giáo, Người đã cống hiến cả cuộc đời
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã
là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả. 11
Người đã chỉ ra “Mục tiêu cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giêsu đều giống nhau:
Thích Ca và Giêsu đều muốn mọi người có cơm ăn áo mặc, bình đẳng, tự do, thế giới đại
đồng” và “Mục đích của Chính phủ ta theo đuổi chiến đấu vì nền độc lập đem lại hạnh phúc
cho nhân dân. Song, để đạt đến hạnh phúc đó cho mọi người phải xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội. Nếu Chúa Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước nỗi khổ
đau của người đương thời, chắc sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm con đường cứu khổ
loài người". Hồ Chí Minh luôn mong muốn và cố gắng hết sức cho nước nhà sớm được độc
lập, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ai cũng được hưởng cuộc
sống tự do, hạnh phúc thực sự trên thế giới trần tục. Và từ tình thương yêu, bác ái, quên
mình để cứu người của Chúa Giêsu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một khát vọng khôn nguôi:
"Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do hạnh phúc cho đồng bào tôi" và vì vậy, ngọn cờ đại đoàn kết
dân tộc của Người đã không chỉ hấp dẫn, mà còn quy tụ được mọi người, không phân biệt
tôn giáo, đảng phái. Đứng trước nhiều khó khăn thử thách của “giặc đói, giặc dốt và giặc
ngoại xâm” thì sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân với tinh thần: “Tổ quốc trên hết”,
“Độc lập trên hết”,... đã động viên được nhiều linh mục, giáo phẩm, giáo dân Thiên chúa
giáo tích cực tham gia kháng chiến để sát cánh cùng đồng bào cả nước, đưa sự nghiệp kháng
chiến và kiến quốc đến thắng lợi cuối cùng…
Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương
dân, thương các chiến sĩ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao
cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy. Người lên án gay gắt
những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”: dẫn đường cho đội quân
viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh
tác,… Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của
Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết:
“Và nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc
Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy "các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ
hạnh như thế nào”. Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây,
những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng
máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân,
làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa,… 12
Hồ Chí Minh đã ca ngợi lòng nhân ái cao cả của Thiên Chúa giáo. Chúa Giêsu đã kêu
gọi con chiên của Chúa “Hãy yêu kẻ thù của mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, cho phước cho
kẻ rủa mình và cầu nguyện cho kẻ sĩ phục mình”. Chúa Giêsu dạy con người không tham
lam, trộm cắp, hãy sống trong sạch, hãy cho khi người ta xin. Hồ Chí Minh đã đọc rất kỹ
Tân ước và Cựu ước, hiểu thấu đáo sách Mathiơ và Luca. Người thấy nhân tố thương yêu
con người thì Thiên Chúa giáo với Khổng giáo cũng cùng chung một ưu điểm. Trong một
bức thư phúc đáp ngài G. Bidon, Thủ tướng của Chính phủ Pháp - nước đang xâm lăng Việt
Nam lúc đó, Người đã viết: “Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo
Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật
thi ư nhân”. Nhấn mạnh lòng thương người của một số học thuyết tôn giáo, một lần khác,
Người lại viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi.
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Tiếp thu tư tưởng nhân ái bao la của Đức Chúa
Giêsu, song Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, “cách đây 2000 năm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta
phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được”.
1.3. Đối với học thuyết Tam dân của Tôn Dật Tiên:
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và cuộc cách mạng vận động dưới sự chỉ đạo
của hệ tư tưởng này – cách mạng Tân Hợi – ngay lập tức có những ảnh hưởng trực tiếp,
nhanh chóng và sâu sắc đến phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX (lúc bấy giờ đang trong thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước). Không ít nhà
yêu nước Việt Nam (Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học,…) đã tìm đến với chủ nghĩa Tam
dân và coi chủ nghĩa này như một trong những nền tảng hình thành tư tưởng của mình.
Nhiều tổ chức cách mạng mô phỏng theo tổ chức Quốc dân đảng của Tôn Dật Tiên lần lượt
ra đời. Trong số đó, Hồ Chí Minh là người chịu ảnh hưởng đậm nét hơn cả. Trong nguồn
gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa yêu nước
truyền thống Việt Nam, còn phải kể đến các tinh hoa văn hóa, tư tưởng nhân loại, mà trực
tiếp và điển hình nhất là tư tưởng dân tộc, dân chủ trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên.
Nói đến ảnh hưởng của Tôn Dật Tiên và chỉ nghĩa Tam dân đối với Hồ Chí Minh,
trước hết phải kể đến lòng tôn kính, sự khâm phục, trân trọng của Hồ Chí Minh đối với Tôn 13
Dật Tiên. Người đã có những đánh giá đúng đắn về Tôn Dật Tiên, về Quốc dân cách mạng
đảng và chủ nghĩa Tam dân mới của ông. Hồ Chí Minh cho rằng cương lĩnh đảng của Tôn
Dật Tiên – Quốc dân đảng – là một trong những cương lĩnh cải cách. Cương lĩnh đó gồm
những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt. Quốc dân đảng lớn
tiếng tuyên bố đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và với giai cấp vô sản
quốc tế. Quốc dân đảng đồng tình với Cách mạng Nga. Nhận định này của Hồ Chí Minh
hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Quốc tế cộng sản về Tôn Trung Sơn (Tôn Dật Tiên)
trong Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân và nhân dân lao động Trung Quốc khi ông qua
đời (tháng 3 năm 1925). Tuy nhiên, trên thực tế, phải đến giưa tháng 11 năm 1924, khi từ
Mátxcơva (Nga) đến Quảng Châu (Trung Quốc), Hồ Chí Minh mới có điều kiện tìm hiểu tư
tưởng của Tôn Dật Tiên một cách trực tiếp và sâu sắc. Hồ Chí Minh hoạt động ở Quảng
Châu vào thời điểm Tôn Dật Tiên đã công bố chủ nghĩa Tam dân mới: dân tộc có nghĩa
chống đế quốc, thiết lập sự bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc trong nước; dân sinh là
giao ruộng đất cho nông dân, tiết chế đại tư sản trong nông nghiệp; cùng với đó là 3 chính
sách lớn “liên Nga, liên cộng, ủng hộ công nông”. Có thể nói: “Trong tất cả các lý luận cách
mạng, ông Nguyễn cảm thấy chủ nghĩa Tôn Văn là thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của
Việt Nam. Chủ nghĩa Tam dân của bác sĩ Tôn Dật Tiên có thể tổng kết là:
Chủ nghĩa dân tộc: độc lập cho mọi dân tộc
Chủ nghĩa dân quyền: tự do của nhân dân
Chủ nghĩa dân sinh: hạnh phúc và hưởng thụ của nhân dân
Đây là những điều mà Việt Nam cần. Đây là những cái mà dân tộc Việt Nam đòi hỏi.
Đây là cái mà Nguyễn Ái Quốc tìm kiếm. Từ đó về sau, Nguyễn Ái Quốc có lòng kính trọng
sâu sắc đối với vị lãnh tụ này của nhân dân Trung Quốc và trở thành người học trò trung thực của Tôn Dật Tiên.
Khác với các nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khi nghiên cứu
chủ nghĩa Tam dân đã nhìn thấy những hạn chế hết sức cơ bản của học thuyết này. Về cơ
bản, tư tưởng của chủ nghĩa Tam dân vẫn chỉ là tư tưởng dân chủ tư sản, nằm trong hệ thống
tư tưởng tư sản. Tuy nhiên, Người cũng nhìn thấy ở chủ nghĩa Tam dân và chính sách “thân
Nga, liên cộng, ủng hộ công nông” của Tôn Dật Tiên có những điểm tiến bộ, tích cực và có 14
thể vận dụng thích hợp vào điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam. Năm 1925, sau khi
thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hồ Chí Minh đã trực tiếp huấn luyện, đào
tạo cán bộ đưa về nước tuyên truyền vận động quần chúng, chuẩn bị tư tưởng và tổ chức cho
sự ra đời của chính đảng cộng sản. Một trong những nội dung học tập tại các khóa huấn
luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu là: “Lịch sử các cuộc cách
mạng, ba quốc tế, các phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, lịch sử cách mạng
tháng Mười Nga, Cách mạng Tân Hợi, cách mạng đang diễn ra ở Trung Quốc với Tam dân
chủ nghĩa và Tam dân đại chính sách”, “chúng tôi học các thứ chủ nghĩa như chủ nghĩa
Găng đi, chủ nghĩa Tam dân một cách có phê phán và chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với
lịch sử Cách mạng tháng Mười”. Điều đó cho thấy, trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ
Chí Minh không tiếp thu nguyên si, máy móc mà đã vượt lên trên những nhà yêu nước Việt
Nam khác. Người đã tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo những mặt tiến bộ của chủ
nghĩa Tam dâm và áp dụng thành công chúng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, coi trọng
vấn đề độc lập dân tộc, nhưng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà nhấn mạnh và đặt nó lên vị
trí hàng đầu. Độc lập dân tộc gắn liền với tụ do hạnh phúc của nhân dân. Đó là điểm sáng tạo
vĩ đại của Hồ Chí Minh.
Không chỉ “Việt Nam hóa” ba chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên thành dân tộc
độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc mà Hồ Chí Minh còn kết hợp một cách tài tình
sách lược hai giai đoạn cách mạng của Lênin với chủ nghĩa Tam dân để thảo ra bản Chính
cương vắn tắt cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh đó được trình và thông qua tại Hội
nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 6/1/1930 đến 7/2/1930). Cương lĩnh trên
là phương hướng cho dân tộc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ. Từ
cương lĩnh ấy, Người đã thai nghén ra tên nước Việt Nam sau này:
“Việt Nam Dân chủ cộng hòa
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”
Xét về hình thức, tên nước Việt Nam và tiêu ngữ của Cách mạng Việt Nam từ Cách
mạng tháng Tám đến năm 1976 mang dấu ấn của chủ nghĩa Tam dân, nhưng bên trong lại
chứa đựng nội dung của chủ nghĩa Mác – Lênin. Khái niệm “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”
đã được Hồ Chí Minh rút ra từ chủ nghĩa Tam dân và tư tưởng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” 15
của cách mạng tư sản Pháp 1978 và nâng lên một trình độ mới, mang tính giai cấp, tính nhân
dân, tính dân tộc và tính cách mạng triệt để của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ dưới sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin làm tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.
Sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh tiếp tục đánh giá cao chủ nghĩa Tam dân
của Tôn Dật Tiên. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời chưa đầy một tháng, ngày
23/9/1945, thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, đánh chiếm Nam Bộ, tiếp theo đó,
quân đội Đồng minh lần lượt kéo vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản; chính
quyền vừa mới ra đời đã đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, bên trong là nạn đói,
nạn rét, nạn mù chữ, các tệ nạn xã hội và các thế lực phản động tay sai không ngừng chống
phá, còn bên ngoài thì bọn đế quốc đang rắp tâm quay trở lại xâm lược. Trong tình thế đó,
ngày 23 tháng 2 năm 1946, khi trả lời phỏng vấn của báo chí về bản Hiệp ước Hoa - Pháp,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trung Hoa với ta cùng là người Á châu, cùng là giống da
vàng, lại có liên quan với nhau về địa dư, lịch sử... Trung Hoa bây giờ cũng như Tôn Trung
Sơn ngày trước, chủ trương Tam dân chủ nghĩa là dân tộc, dân quyền và dân sinh. Trung
Quốc phấn đấu kháng chiến trong 8, 9 năm cũng vì ba chủ nghĩa ấy. Ta phấn đấu, cũng
trước hết là vì dân tộc. Dù thế nào chăng nữa Trung Quốc cũng phải bênh vực ta và người
Việt Nam cũng phải thân thiện với Trung Quốc”. Ngày 16/7 /1947, khi cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang ở vào thời kỳ khó khăn, trả lời phỏng vấn của
một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính sách đối nội của Việt
Nam là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Chính sách đối ngoại là thân
thiện với tất cả các láng giềng Trung Hoa, Ấn Độ, Xiêm La, Cao Mên, Ai Lao, v.v., mà
không thù gì với nước nào”. Và ngày 19 tháng 8 năm 1947, trong Thư gửi đồng bào toàn
quốc nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định:
“Theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, Cách mạng tháng Tám thực hiện chủ nghĩa: Dân tộc,
dân quyền, dân sinh”. Những dẫn chứng nêu trên giúp chúng ta hiểu rõ rằng, bên cạnh việc
đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo những nguyên lý
của chủ nghĩa xã hội khoa học để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi, Hồ Chí Minh luôn
tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ khác, trong đó có chủ nghĩa Tam dân của Tôn
Trung Sơn. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những gì 16
cách mạng nhất, tích cực nhất để áp dụng một cách phù hợp với điều kiện cụ thể của cách
mạng Việt Nam. Điều dễ dàng nhận thấy là, tư tưởng của Tôn Trung Sơn qua Hồ Chí Minh
đã có được một nội dung mới, sâu sắc hơn, toàn diện hơn.
Sự tiếp thu truyền thống tư tưởng Trung Quốc đã được các bậc tiền bối Việt Nam
thực hiện. Song, sự kết hợp truyền thống tư tưởng đó với tư tưởng tiên tiến Phương Tây thì
chỉ đến Hồ Chí Minh mới có. Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tìm hiểu
ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn đối với cách mạng Việt Nam, đặc biệt đối với Hồ Chí Minh,
chúng ta trân trọng ghi nhận những đóng góp to lớn của Tôn Trung Sơn về lý luận và thực
tiễn cho cách mạng Việt Nam. Chính những chủ trương, đường lối cách mạng dân chủ trong
chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã có tác dụng thúc đẩy và mang lại cho phong trào
cách mạng Việt Nam một màu sắc mới, làm phong phú thêm những trang sử đấu tranh giải
phóng dân tộc của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã phát
triển sáng tạo các quan điểm về dân tộc, dân quyền, dân sinh của Tôn Trung Sơn trong cách
mạng dân chủ tư sản thành tư tưởng đấu tranh cho Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của con
người và dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản.
1.4. Đối với chủ nghĩa Mác – Lênin:
Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh có bước nhảy
vọt lớn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp dân tộc với giai
cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới
trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ
Chí Minh luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học
nhất, cách mạng nhất, "muốn cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và
chủ nghĩa Lê-nin". Đối với Người, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan, phương
pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Người không bao giờ xa
rời chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét
lại. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là một nguồn gốc - nguồn gốc chủ yếu nhất, của tư
tưởng Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ - bộ phận cơ sở, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. 17
Việc tiếp thu, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh là cả quá
trình gắn với hoạt động thực tiễn, kết hợp lý luận với thực tiễn, xuất phát từ những yêu cầu
của thực tiễn. Người nhấn mạnh rằng, việc học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trước
hết phải nắm vững "cái cốt lõi", "linh hồn sống" của nó là phương pháp biện chứng; học tập
"tinh thần, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để áp dụng
lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong
công tác cách mạng của chúng ta". Người còn chỉ rõ: "Hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phải
sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa
thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin".
Từ những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ
Chí Minh trong suốt cuộc đời của mình đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam và tạo ra một hệ thống luận điểm mới, sáng tạo, hình thành
nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
Luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh là luận điểm về chủ nghĩa
thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Những tác phẩm của Người là "Bản án chế độ thực
dân Pháp" (xuất bản năm 1925) và "Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương" đã vạch
trần bản chất và những thủ đoạn bóc lột, đàn áp, tàn sát dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp
đối với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ nỗi đau khổ, của kiếp nô lệ, nguyện vọng khát khao
được giải phóng và những cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. Đây là những tài liệu
“có một không hai” về chủ nghĩa thực dân; ở đó, sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Hồ
Chí Minh đã vượt hẳn những gì mà những nhà lý luận mác-xít đề cập đến. Những luận điểm
của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là hình ảnh về "con đỉa hai vòi", "con chim
hai cánh", đã không chỉ có tác dụng thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, mà còn cảnh tỉnh các
đảng cộng sản ở chính quốc. Hồ Chí Minh là người chiến sĩ tiên phong trong phê phán chủ
nghĩa thực dân, đồng thời cũng là người lãnh đạo dân tộc mình thi hành bản án chôn vùi chủ
nghĩa thực dân ở Việt Nam, mở đầu cho thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.
Khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng
quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách sáng tạo, chủ 18
yếu xuất phát từ mâu thuẫn cơ bản của các nước thuộc địa, đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa
đế quốc, thực dân thống trị và bè lũ tay sai với toàn thể nhân dân, dân tộc, không phân biệt
giai cấp, tôn giáo... Theo Người, ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Đông, do trình độ
sản xuất kém phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp không giống như ở
các nước phương Tây. Từ đó, Người có quan điểm hết sức sáng tạo là gắn chủ nghĩa dân tộc
chân chính với chủ nghĩa quốc tế, và nêu lên luận điểm: "Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn
của đất nước". Người còn cho rằng, chủ nghĩa dân tộc nhân danh Quốc tế Cộng sản là "một
chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời".
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Người khẳng định, phải đi từ giải
phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp; dân tộc không thoát khỏi kiếp ngựa trâu thì ngàn năm
giai cấp cũng không được giải phóng. Đường lối của cách mạng Việt Nam là đi từ giải
phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội; kết
hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng
đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Cũng từ luận điểm cơ bản đó, Hồ Chí Minh đã có những phát hiện sáng tạo
về Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư; xác
định quy luật hình thành của Đảng là kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước". Đảng vừa đại diện cho lợi ích của giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc.
Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của Cách mạng Việt Nam là đánh
đổ đế quốc, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã
xác định: phải giành chính quyền bằng bạo lực, bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách
mạng nếu kẻ thù ngoan cố, không chịu hạ vũ khí.
Trên cơ sở kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc, học tập kinh nghiệm
hoạt động quân sự của thế giới và của các Đảng anh em, tổng kết thực tiễn đấu tranh vũ
trang, chiến tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Hồ Chí
Minh đã sáng tạo ra học thuyết quân sự hiện đại của Việt Nam. Trong đó, nổi bật là quan 19
điểm về chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ; về xây dựng lực
lượng vũ trang toàn dân với ba thứ quân chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ; về nền quốc
phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại...
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản
thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Vận dụng sáng tạo quan
điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc mà
phát triển lên, Hồ Chí Minh cho rằng, "mục đích của Quốc tế Cộng sản là làm thế giới vô
sản cách mạng, thiết lập vô sản chuyên chính", nhưng chúng ta phải căn cứ vào trình độ
chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước mà đề ra đường lối, chiến lược cách mạng phù hợp,
"chứ không phải nước nào cũng phải làm cách mạng vô sản, lập chuyên chính như nhau". Vì
vậy, ngay từ Chánh cương vắn tắt (1930), Người đã nêu: Thiết lập Chính phủ công nông
binh; tổ chức ra quân đội công nông. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), Người đề
ra chủ trương thành lập "một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần Tân dân chủ. Chính
quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp nào,
mà của chung toàn thể dân tộc"
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh
và chủ nghĩa Mác - Lê-nin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa
Mác - Lê-nin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như không thể hiểu và quán triệt, vận
dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Ưu điểm
Thứ nhất, thực tiễn phát triển đất nước và xu hướng vận động của thế giới tạo cơ hội
cho Việt Nam phân tích, tổng kết, hình dung ngày càng rõ hơn mô hình, con đường đi lên
CNXH. Từ thực tiễn ở Liên Xô và Đông Âu, đòi hỏi cần phải đổi mới, cải cách, xây dựng
mô hình CNXH hiện thực phù hợp với sự phát triển trong điều kiện mới. 20