



















Preview text:
LUẬT HÀNG HẢI QUỐC TẾ
Nội dung 1. Tổng quan Luật hàng hải quốc tế 1.1.
Khái niệm Luật hàng hải quốc tế
Luật hàng hải quốc tế có thể hiểu là tổng thể những nguyên tắc, những QPPL quốc tế điều chỉnh những quan
hệ phát sinh từ hoạt động hàng hải. Luật hàng hải quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế.
Các hoạt động hàng hải bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền viên, cảng biển, luồng hàng hải, cảng cạn,
vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan
đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hoá, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học. (Khoản 1 Điều 1 BLHH 2015)
1.1.1. Đối tượng điều chỉnh
Pháp luật hàng hải điều chỉnh các QHPL rất phong phú, phát sinh trong quá trình hoạt động vận chuyển hàng
hải quốc tế mà chủ yếu là vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng đường biển giữa các quốc gia từ cảng biển của
quốc gia này đến cảng biển của quốc gia khác. Thực chất đây là việc nghiên cứu chủ yếu các vấn đề pháp lý liên
quan đến tàu biển trong vận chuyển quốc tế, bao gồm:
Các quan hệ phát sinh từ hoạt động hàng hải: 3
Quan hệ phát sinh từ hoạt động vận tải đường biển, người vận chuyển, người thuê vận chuyển, giữa chủ
hàng và chủ tàu, người khai thác tàu, hợp đồng đại lý tàu biển, môi giới hàng hải, giao nhận hàng hóa; giữa người
bảo hiểm, quan hệ về sở hữu tàu, cầm cố, bắt giữ hàng hải, bắt giữ tàu biển, cứu hộ hàng hải.
Quan hệ phát sinh giữa các quốc gia liên quan đến tàu biển hoạt động trong các vùng biển, quốc gia tàu
mang cờ, quốc gia có cảng, quốc gia ven biển, quy định về cấu trúc của tàu, an toàn hàng hải, phòng chống ô nhiễm
biển, trang thiết bị của tàu, về điều kiện và khả năng chuyên môn của thuyền viên.
Quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính hàng hải, đăng ký, đăng kiểm, quản lý cảng biển và
luồng hàng hải; an toàn an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường; quản lý tàu biển và thuyền viên.
1.1.2. Phạm vi điều chỉnh
Các hoạt động hàng hải, gồm các quy định về tàu biển, thuyền viên, cảng biển, luồng hàng hải, cảng cạn,
vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước về hàng hải và các hoạt động
khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học.
Phương pháp điều chỉnh: pp công pháp + tư pháp 1.2.
Nguồn của Luật hàng hải quốc tế
Điều 38, Quy chế Tòa án quốc tế, các vụ tranh chấp chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng:
1. Các ĐƯQT chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên tranh chấp thừa nhận
2. Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận như những QPPL 3. Luật Quốc gia
4. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận
5. Các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác
nhau được coi là phương tiện xác định của QPPL
6. Soft law (Các nguyên tắc, tuyên bố, cam kết, chương trình hành động của các tổ chức quốc tế)
1.2.1. Nguồn pháp luật quốc tế (i)
Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế có nghĩa là thỏa thuận quốc tế được ký kết giữa các quốc gia dưới dạng văn bản và được
điều chỉnh bằng luật quốc tế, không phụ thuộc vào việc thoả thuận đó được ghi nhận trong một văn bản hoặc trong
hai hay một số văn bản có liên quan với nhau, đồng thời không phụ thuộc vào tên gọi của nó (Điều 2 Công ước Vienna năm 1969). Vai trò của ĐƯQT: -
Trong lý luận và thực tiễn của khoa học pháp lý quốc tế, ĐƯQT là nguồn cơ bản của công pháp quốc tế và
cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế và tất nhiên trong lĩnh vực hàng hải quốc tế nó có vị trí đặc biệt quan trọng. -
Số lượng ĐƯQT trong lĩnh vực hàng hải quốc tế hiện nay rất đa dạng và nó có đặc điểm là liên quan chặt chẽ
với nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như Luật TMQT, luật BHQT, Luật MTQT, Luật HSQT,… -
Các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải có tác động và ảnh hưởng tích cực đếnviệc xây dựng pháp luật
hàng hải của các quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển. -
Việt Nam và việc tham gia các Điều ước quốc tế về hàng hải.
Điều ước về hàng hải: -
Công ước về Tổ chức Hàng hải Quốc tế, năm 1948 (sửa đổi 1991, 1993). -
Công ước về tạo thuận lợi trong giao thông hàng hải quốc tế, 1965. -
Công ước quốc tế về mạn khô, 1996, Nghị định thư 1988 sửa đổi Công ước quốc tế về mạn khô, 1996. -
Công ước quốc tế về đo dung tích tài biển, 1969. -
Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với tổn thất ô nhiễm dầu, 1969. -
Công ước quốc tế liên quan đến sự can thiệp trên biển cả trong trường hợp tai nạn gây ra ô nhiễm dầu, 1969. -
Công ước về trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực vận chuyển hạt nhân bằng đường biển, 1971. -
Công ước quốc tế về thành lập Quỹ quốc tế bồi thường thiệt hại ô nhiễm dầu, 1971. -
Công ước quốc tế về an toàn Con-te-nơ, 1972. -
Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm hàng hải do xả chất thải và các chất khác, 1972. -
Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu, 1973 (sửa đổi 1978, Phụ lục I và II). -
Công nước Athen về vận chuyển hành khách và hành lý bằng đường biển, 1974, sửa đổi năm 1990. -
Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển, 1974; Nghị định thư 1978, 1988 sửa đổi Công ước
quốc tế về an toàn tính mạng người trên biển, 1974. -
Công ước quốc tế về giới hạn trách nhiệm đối với khiếu nại hàng hải, 1976. -
Công ước quốc tế Toremolinos về an toàn tàu cá, 1977. -
Công ước về Tổ chức vệ tinh hàng hải quốc tế, 1976 (sửa đổi 1998). -
Công ước quốc tế về tìm kiếm và cứu nạn hàng hải, 1979. -
Công ước quốc tế về hợp tác, sẵn sàng và ứng phó đối với ô nhiễm dầu, 1990. -
Công ước quốc tế về cầm giữ và cầm cố hàng hóa, 1993. -
Công ước quốc tế về trách nhiệm và bồi thường tổn thất đối với vận chuyển chất nguy hiểm, độc hại bằng đường biển, 1996. -
Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển, 1999. -
Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm từ dầu nhiên liệu, 2001. -
CƯ về luật biển của LHQ năm 1982: chính thức có hiệu lực từ 16/02/1982. Việt Nam phê chuẩn CƯ ngày
23/6/1994. CƯ gồm 17 phần, 320 điều và 9 phụ lục, quy định toàn diện về các vùng biển và quy chế pháp lý
của chung cũng như các vấn đề có liên quan của luật biển quốc tế. (ii)
Tập quán quốc tế:
Các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) đã được Phòng Thương mại quốc tế Paris (Paris ICC) tập
hợp và ban hành từ năm 1936 (sửa đổi vào các năm 1953, 1968,1976, 1980, 1990 và 2000, 2010, 2020);
Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary
Credits (viết tắt là UCP) là một bộ các quy định về việc ban hành và sử dụng thư tín dụng (hay L/C) do ICC ban
hành đưa ra các quy tắc để thực hành thống nhất về thư tín dụng cũng được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng vào
hoạt động thanh toán quốc tế. UCP 500; UCP 600.
Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ
(International Standard Banking Practice) (ISBP) được Ủy ban ngân hàng của Phòng thương mại quốc tế thông qua tháng 10/2002. (iii)
Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận
Các nguyên tắc pháp luật chung được xem là một nguồn để lắp khoảng trống pháp lý khi một tranh chấp
không có quy định điều ước hay tập quán điều chỉnh. Các nguyên tắc chung ở đây là các nguyên tắc pháp lý được cả
pháp luật quốc gia và cả pháp luật quốc tế thừa nhận và được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia.
VD: nguyên tắc gây thiệt hại phải bồi thường, nguyên tắc không ai là quan toà chính trong vụ việc của mình… Trong
thực tiễn, nguyên tắc pháp luật chung chỉ áp dụng sau ĐƯQT và TQQT với ý nghĩa giải thích hay làm sang tỏ nội dung của quy phạm LQT. (iv) Án lệ
Án lệ là một nguồn bổ trợ của luật pháp quốc tế. Án lệ có thể là các phán quyết, lệnh hay quyết định khác
của cơ quan tài phán quốc tế hoặc cơ quan tài phán quốc gia. Khi luật quốc tế còn chưa phát triển, các án lệ quốc gia
thường được sử dụng. Tuy nhiên, đến hiện nay hầy hết các án lệ được trích dẫn và sử dụng đều là án lệ của các cơ quan tài phán quốc tế.
1.2.2. Nguồn pháp luật quốc gia
Pháp luật trong nước là nguồn cơ bản của Luật hàng hải quốc tế, bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật
chủ yếu sau: Hiến pháp, Bộ Luật hàng hải Việt Nam, Bộ luật dân sự,… ●
Soft Law và các nghị quyết của các tổ chức quốc tế
Luật mềm (soft law) là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các văn bản hay quy định mà bản chất không phải là
luật nhưng có tầm quan trọng trong khuôn khổ phát triển luật pháp quốc tế. Đấy là các văn kiện không ràng buộc như
khuyến nghị, hướng dẫn, quy tắc hay tiêu chuẩn được các quốc gia đưa ra hoặc các tổ chức quốc tế và các cơ quan
của nó đưa ra. VD: Nguyên tắc về con người và môi trường 1972…
Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chỉnh phủ là các quyết định được tổ chức quốc tế đưa ra hoặc được
các cơ quan của tổ chức đó đưa ra trong phạm vi quyền hạn của mình theo quy định của tổ chức quốc tế. Các quyết
định này thể hiện ý chí của tổ chức quốc tế đó và quan trọng hơn là các quốc gia thành viên của tổ chức. Tổ chức
quốc tế càng phổ quát thì ý chí chung đó càng mang tính đại diện cao trong cộng đồng quốc tế. 1.3.
Các nguyên tắc của Luật hàng hải quốc tế
1.3.1. Các nguyên tắc của pháp luật quốc tế
1.3.2. Các nguyên tắc của pháp luật quốc gia 1.4.
Lịch sử hình thành và phát triển của Luật hàng hải quốc tế
Bộ luật hàng hải Rhodes (1) vào thế kỷ XVI TCN, quy định liên quan đến thuyền viên và nhiệm vụ của họ,
các quy định về những hình phạt trong việc vận chuyển hàng hóa,các khoản vay vận chuyển, các vật có giá trị bảo
hiểm trong quá trình vận chuyển và nó cũng đề cập đến vấn đề kiểm soát thiệt hại trong các vụ đắm tàu.Vào khoảng
Thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên, những người Đông La mã đã cho ra đời bộ luật hàng hải Byzantime, dựa trên cơ
sở phát triển từ bộ luật hàng hải Rhodes. Trong bộ luật Byzantime đã bổ sung thêm nhiều điều khoản: điều khoản
quy định về việc giới hạn tải trọng của tàu và các quy định về vấn đề loại bỏ bớt hàng hóa khi tàu gặp tai nạn nhằm
cứu tàu và cứu lượng hàng còn lại; điều khoản liên quan tới tổn thất chung.Vào những năm sau đó, bộ luật này đã
được áp dụng cho việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trên khắp vùng Địa Trung Hải trong thời Trung cổ.
Bộ luật hàng hải Byzantime đã bắt đầu được áp dụng tại Anh vào Thế kỷ XII dướithời của nữ hoàng Eleanor.
Từ thế kỷ XV với những phát hiện địa lý lớn, trong đó có sự kiện năm 1492,Cristophe Colomb tìm ra châu
Mỹ, dẫn đến sự bành trướng như vũ bão của các nước tưbản châu Âu trên các đại dương, khiến cho nền kinh tế thế
giới phát triển nhảy vọt, hình thành thị trường thế giới duy nhất. Các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan,
Anh,Pháp trở thành những cường quốc thế giới chính là do đã tận dụng được ưu thế về biển,xâm chiếm được nhiều thuộc địa.
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là những siêu cường hàng hải lớn vào thế kỷ XVI.Cả hai cường quốc đều mong
muốn mở rộng ảnh hưởng của mình thông qua thương mại và thực dân.
Sau đại chiến thế giới thứ hai trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong đó có kỹ thuật về biển, cả loài
người quan tâm đến biển. Với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh, người ta sẽ còn nhiều khả năng hơn
nữa để khai thác những tài nguyên hết sức phong phú và to lớn của biển, của đáy biển và đáy đại dương.
1.5. Các tổ chức quốc tế liên quan đến hàng hải quốc tế -
Tổ chức hàng hải quốc tế (International Maritime Organization:IMO) -
Liên Hợp Quốc (The United Nations - UN) -
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations:ASEAN)
Nội dung 2. Quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển
❖ Công ước Luật biển năm 1982
Để có thể hiểu rõ hơn về quyền tài phán của các quốc gia trên các vùng biển theo pháp luật quốc tế, chúng ta
cần nhớ lại một số quy định của pháp luật quốc tế trong Công ước của LHQ về luật niển 1982.
Công ước của LHQ về luật biển đã được thông quan ngày 30/4/1982. Công ước gômg 17 phần với 230 điều
khoản, 9 phụ lục. Ngày 16/2/1994 Công ước đã có hiệu lực sau khi có 60 nước phê chuẩn (Việt Nam phê chuẩn 23/6/1994).
Công ước của LHQ về luật biển 1982, là một văn kiện quốc tế tổng hợp, toàn diện, bao quát được tất cả
những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương thế giới, quy định những quyền và nghĩa vụ
nhiều mặt của mọi quốc gia (có biển cũng như không có biển) đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia
cũng như đối với những vùng biển thuộc phạm vi quốc tế.
Công ước của LHQ về luật biển 1982 chia biển và đại dương thành các vùng khác nhau và quy định chế độ
pháp lý của từng vùng: Vùng nội thủy; Vùng lãnh hải; Vùng tiếp giáp lãnh hải; Vùng đặc quyền kinh tế; Vùng thềm lục địa, biển cả.
Các cách xác định đường cơ sở
Đường cơ sở thông thường là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện các hải đồ tỷ lệ
lớn đã dược quốc gia ven biển chính thức công nhận. (Trường hợp đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm
ven bờ bao quanh, thì đường cơ sở là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cùng của các mỏm đá).
Đường cơ sở thẳng: (1)
Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển; (2)
Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định… (Điều 7). Vùng nội thủy
Nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải, tại đó quốc
gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tối cao và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền. Nội thủy bao gồm: các vùng nước
cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, vịnh, các vùng nằm giữa đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải và lãnh thổ đất liền. Lãnh hải
Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình. Chủ quyền này được
mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng đất của biển này (Điều 2).
Tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại
trong lãnh hải (Điều 17).
Ở trong lãnh hải, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác buộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch (Điều 20).
Quốc gia ven biển khi cần bảo đảm an toàn hàng hải có thể đòi hỏi tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây
hại trong lãnh hải của mình phải đi theo các tuyến đường do mình ấn định.
Quốc gia ven biển không được cản trở quyền đi qua không gây hại của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải. -
UNCLOS 1982 quy định mỗi quốc gia ven biển có quyền xác lập có 5 loại vùng biển: nội thủy, lãnh hải,
vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa. 2.1. Khái niệm
Jurisdiction: Quyền lực thi hành công lý và giải thích, áp dụng các đạo luật; quyềnthực thi pháp lý; quyền
hạn; xét xử; thẩm quyền; thẩm quyền xét xử.
Thẩm quyền: Quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật.(Từ điển Tiếng Việt)
Thẩm quyền :1) Quyền lực của Chính phủ được thực hiện với tất cả mọi ngườicũng như với các đối tượng
khác trong lãnh thổ của họ. 2) Quyền của Tòa án để quyết định một vụ việc hay quyền đưa ra các phán quyết. (Black’s Law)
Quyền tài phán có thể hiểu là thẩm quyền riêng biệt của quốcgia ven biển trong việc đưa ra các quyết định,
quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, như: cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động,
cácđảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và
công trình nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm
lục địa của quốcgia đó
2.2. Quyền tài phán trong các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia ●
Quyền tài phán quốc gia ven biển trong vùng lãnh hải (UNCLOS 1982)
Tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại
trong lãnh hải. (Điều 17 – Quyền đi qua không gây hại)
Tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác buộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch (Điều 20 – Tàu ngầm
và các phương tiện đi ngầm khác).
Quốc gia ven biển khi cần bảo đảm an toàn hàng hải có thể đòi hỏi tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây
hại trong lãnh hải của mình phải đi theo các tuyến đường do mình ấn định và phải tôn trọng các cách bố trí phân chia
các luồng giao thông do mình quy định nhằm điều phối việc qua lại các tàu thuyền (Khoản 1, Điều 22: Các tuyến
đường và cách bố trí phân chia luồng giao thông ở trong lãnh hải) ●
Quyền tài phán hình sự (Điều 27 UNCLOS 1982)
1. Quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán hình sự của mình ở trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh
hải để tiến hành việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trong khi nó
đi qua lãnh hải, trừ các trường hợp sau đây:
a) Nếu hậu quả của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển;
b) Nếu vị vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong lãnh hải;
c) Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu
cầu sự giúp đỡ của các nhà đương cục địa phương hoặc;
d) Nếu các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chấtkích thích. ●
Quyền tài phán dân sự (Điều 28 UNCLOS 1982)
1. Quốc gia ven biển không được bắt một tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi hành trình
của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối vớimột người ở trên con tàu đó.
2. Quốc gia ven biển không thể áp dụng các biện pháp trừng phạt hay biện pháp bảo đảm về mặt dân sự đối với con
tàu này, nếu không phải vì những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm mà con tàu phải đảm nhận trong khi đi
qua hoặc để được đi qua vùng biển của quốc gia ven biển
2.3. Quyền tài phán trong các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia ●
Quyền tài phán quốc gia ven biển trong vùng tiếp giáp (Điều 33 UNCLOS 1982)
1. Trong một vùng tiếp giáp với lãnh hải của mình, gọi là vùng tiếp giáp, quốc gia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết, nhằm:
a) Ngăn ngừa những phạm vi đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;
b) Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ haytrong lãnh hải của mình
b) Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ haytrong lãnh hải của mình. ●
Quyền tài phán quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế (Điều 56 UNCLOS 1982 - Các quyền,
quyền tài phán và các nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền về kinh tế)
1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có:
a) Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc
không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt
động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu vàgió.
b) Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc:
i. Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình;
ii. Nghiên cứu khoa học về biển;
iii. Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;
c) Các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định. ●
Quyền tài phán quốc gia ven biển trong vùng thềm lục địa (Điều 77 UNCLOS1982)
1. Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặtthăm dò và khai thác tài
nguyên thiên nhiên của mình.
2. Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa là các quốc gia ven biển khôngthăm dò thềm lục địa hay
không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thìkhông ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu
không có sự thỏa thuận rõ ràngcủa quốc gia đó.
3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếmhữu thực sự hay danh nghĩa,
cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào.
4. Các tài nguyên thiên nhiên ở phần này bao gồm các tài nguyên thiên nhiên khoáng sảnvà các tài nguyên thiên
nhiên không sinh vật khác của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển,cũng như các sinh vật thuộc loại định cư, nghĩa là
những sinh vật nào, ở thời kỳ có thểđánh bắt được, hoặc nằm bất động ở đáy, hoặc lòng đất dưới đáy; hoặc là không
có khảnăng di chuyển nếu không có khả năng tiếp xúc với đáy hay lòng đáy dưới đáy biển.
2.4. Quyền tài phán trong các vùng biển quốc tế
“Biển cả là tất cả những phần biển không thuộc vùng đặc quyền về kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một
quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo” (Điều 86 UNCLOS) – vùng biển quốc tế -
Quyền tự do biển cả - Điều 87 UNCLOS:
1. Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển. Quyền tự do trên biển cả được thực
hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước hay và những quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định.
Đối với các quốc gia dù có biển hay không có biển, quyền tự do này đặc biệt bao gồm: a) Tự do hàng hải; b) Tự do hàng không;
c) Tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ Phần VI;
d) Tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị khác được pháp luật quốc tế cho phép, với điều kiện tuân thủ phần VI;
e) Tự do đánh bắt hải sản trong các điều đã được nêu ở Mục 2;
f) Tự do nghiên cứu khoa học với các điều kiện tuân thủ các Phần VI và VIII.
2. Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính đến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các
quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quân đến các hoạt động trong Vùng. -
Quyền tài phán đặc quyền của quốc gia mà tàu mang cờ
ĐIỀU 95. Quyền miễn trừ của các tàu chiến trên biển cả
Các tàu chiến trên biển cả được hưởng quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu mang cờ.
ĐIỀU 96. Quyền miễn trừ của các tàu thuyền chỉ dùng cho một cơ quan Nhà nước không có tính chất thương mại
Các tàu thuyền của Nhà nước hay do Nhà nước khai thác và chỉ dùng cho một cơ quan Nhà nước không có tính chất
thương mại trên biển cả được hưởng quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu mang cờ. -
Quyền khám xét đối với tàu thuyền trên biển quốc tế
ĐIỀU 110. Quyền khám xét
1. Trừ những trường hợp mà việc can thiệp là căn cứ vào những quyền do hiệp ước mang lại, một tàu chiến khi gặp
một tàu nước ngoài ở trên biển cả không phải là một tàu được hưởng quyền miễn trừ như đã nêu ở các Điều 95 và 96,
chỉ có thể khám xét chiếc tàu đó nếu có những lý do đúng đắn để nghi ngờ chiếc tàu đó:
a) Tiến hành cướp biển; b) Chuyên chở nô lệ;
c) Dùng vào các cuộc phát sóng không được phép, quốc gia mà chiếc tàu mang cờ có quyền tài phán theo Điều 109;
d) Không có quốc tịch; hay
e) Thật ra là cùng quốc tịch với chiếc tàu chiến, mặc dù chiếc tàu này treo cờ nước ngoài hay từ chối treo cờ của mình.
2. Trong những trường hợp nêu ở khoản 1, tàu chiến có thể kiểm tra các giấy tờ cho phép mang cờ. Vì mục đích này,
tàu chiến có thể phái một chiếc xuồng, dưới sự chỉ huy của một sĩ quan, đến gần chiếc tàu bị tình nghi. Sau khi kiểm
tra các tài liệu, nếu vẫn còn nghi vấn thì có thể tiếp tục điều tra trên tàu với một thái độ hết sức đúng mực.
3. Nếu việc nghi ngờ xét ra không có cơ sở thì chiếc tàu bị khám xét được bồi thường về mọi tổn thất hay thiệt hại
xảy ra, với điều kiện là chiếc tàu này không phạm một hành động nào làm cho nó bị tình nghi.
4. Các điều quy định này được áp dụng mutatis mutandis (với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) đối với các phương tiện bay quân sự.
5. Các điều quy định này cũng được áp dụng đối với tất cả các tàu thuyền hay phương tiện bay khác đã được phép
một cách hợp lệ và mang những dấu hiệu bên ngoài chỉ rõ rằng chúng được sử dụng cho một cơ quan Nhà nước. -
Quyền truy đuổi đối với tàu thuyền trên biển quốc tế - Điều 111 UNCLOS.
2.5. Cảng biển quốc tế
Liên hệ: Luật biển Việt Nam 2012 -
Lãnh hải theo quy định của pháp luật Việt Nam
Điều 12. Chế độ pháp lý của lãnh hải
1. Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển
của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
2. Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam. Đối với tàu
quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam.
3. Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập,
chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
4. Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng
ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
5. Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam. -
Quyền tài phán theo quy định của pháp luật Việt Nam
Vùng Tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiềurộng 12 hải lý tính
từ ranh giới ngoài của lãnh hải (Điều 13, Luật biển Việt Nam 2012).
Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và các quyền khác quyđịnh tại Điều 16 (quy
định về chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế/Luật biển VN2012) của Luật này đối với vùng Tiếp giáp lãnh hải.
Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng Tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm
pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổhoặc trong lãnh hải Việt Nam (Điều 14 Luật biển VN) -
Vùng đặc quyền kinh tế
Điều 16. Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế
1. Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện:
a) Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển,
đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế;
b) Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học
biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;
c) Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.
2. Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng
biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ
quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.
Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.
3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt
các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được
phép của Chính phủ Việt Nam.
4. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này. - Thềm lục địa
Điều 17. Thềm lục địa
Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần
kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa.
Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được
kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được
kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét (m). -
Điều 27. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài đến Việt Nam
1. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài chỉ được đi vào nội thủy, neo đậu tại một công trình cảng, bến
hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hoặc công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt
Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với quốc gia mà tàu mang cờ.
2. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài khi ở trong nội thủy, cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ
hoặc các công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam phải tuân thủ quy định
của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và phải hoạt động phù hợp với lời mời của Chính phủ Việt
Nam hoặc thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. -
Điều 28. Trách nhiệm của tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam
Tàu quân sự của nước ngoài khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam mà có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam thì
lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam có quyền yêu cầu tàu thuyền đó chấm dứt ngay hành vi vi
phạm, rời khỏi lãnh hải Việt Nam ngay lập tức nếu đang ở trong lãnh hải Việt Nam. Tàu thuyền vi phạm phải tuân
thủ các yêu cầu, mệnh lệnh của lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam.
Trường hợp tàu quân sự, tàu thuyền công vụ của nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam mà có hành vi vi
phạm pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật quốc tế có liên quan thì quốc gia mà tàu mang cờ phải chịu trách nhiệm về
mọi thiệt hại do tàu thuyền đó gây ra cho Việt Nam.
Nội dung 3. Các thiết chế quốc tế về hàng hải
3.1. Khái niệm các thiết chế quốc tế về hàng hải
3.2. Các thiết chế quốc tế liên chính phủ về hàng hải
❖ Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) a. Giới thiệu
Năm 1948, Hội nghị hàng hải của LHQ đã được Hội đồng kinh tế xã hội (ECOSOC) triệu tập tại Thuỵ Sỹ.
Hội nghị đã thông qua CƯ thành lập Tổ chức tư vấn liên CP về hàng hải; gọi tắt là IMCO, tên gọi trước năm 1982
của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO)
Theo quy định, CƯ phải được 21 quốc gia, trong đó có 7 quốc gia có đội thương thuyền trọng tải trên 1 triệu
tấn, phê chuẩn thì CƯ mới có hiệu lực. Ngày 17/3/1958, Nhật Bản là nước thứ 21 và cũng là nước thứ 8 có đội
thương thuyền trọng tải trên 1 triệu tấn phê chuẩn CƯ, đấy chính là ngày CƯ của tổ chức hàng hải quốc tế bắt đầu có hiệu lực
Năm 1960, IMO ký hiệp định với LHQ để trở thành cơ quan chuyên môn của tổ chức này (theo điều 57,63
của hiến chương LHQ). IMO có quan hệ với nhiều tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ khác IMO có 2 loại thành viên: -
Thành viên đầy đủ: gồm các quốc gia là thành viên của LHQ sau khi đã chấp nhân CƯ thành lập IMO - Thành viên liên kết
IMO hiện có 174 quốc gia thành viên và ba thành viên liên kết.
b. Chức năng, nhiệm vụ
Tuyên bố sứ mệnh của IMO ,:
"Nhiệm vụ của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) với tư cách là một cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc
là thúc đẩy vận chuyển an toàn, an toàn, lành mạnh, hiệu quả và bền vững thông qua hợp tác. Điều này sẽ được thực
hiện bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn và an ninh hàng hải, hiệu quả của giao thông thủy và
phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm từ tàu, cũng như thông qua việc xem xét các vấn đề pháp lý liên quan và triển khai
hiệu quả các công cụ của IMO nhằm ứng dụng phổ biến và thống nhất của họ. "
Mục đích của Tổ chức, như được tóm tắt bởi Điều 1 (a) của Công ước, là "cung cấp máy móc cho sự hợp tác
giữa các Chính phủ trong lĩnh vực quy định của chính phủ và thực tiễn liên quan đến các vấn đề kỹ thuật của tất cả
các loại ảnh hưởng đến vận chuyển quốc tế; khuyến khích và tạo điều kiện cho việc áp dụng chung các tiêu chuẩn
thực tế cao nhất trong các vấn đề liên quan đến an toàn hàng hải, hiệu quả hàng hải và phòng ngừa và kiểm soát ô
nhiễm biển từ tàu ". Tổ chức cũng được trao quyền để giải quyết các vấn đề hành chính và pháp lý liên quan đến các mục đích này.
c. Cơ cấu tổ chức
Gồm Đại hội đồng, Hội đồng và 5 uỷ ban chính: Uỷ ban an toàn hàng hải, Uỷ ban bảo vệ môi trường biển.
Uỷ ban pháp lý, Uỷ ban hợp tác kĩ thuật, Uỷ ban đơn giản hoá các thủ tục hàng hải. Và ban thư kí để hỗ trợ cho các uỷ ban kỹ thuật chính (i) Đại hội đồng
Đây là Cơ quan chủ quản cao nhất của Tổ chức. Nó bao gồm tất cả các quốc gia thành viên và nó sẽ họp hai
năm một lần trong các phiên thông thường, nhưng cũng có thể gặp nhau trong một phiên bất thường nếu cần thiết.Đại
Hội đồng chịu trách nhiệm phê duyệt chương trình làm việc, bỏ phiếu ngân sách và xác định các thỏa thuận tài chính
của Tổ chức.Đại Hội đồng cũng bầu Hội đồng. (ii) Hội đồng
Hội đồng được bầu bởi Đại Hội đồng cho nhiệm kỳ hai năm bắt đầu sau mỗi phiên họp thường kỳ của Đại Hội đồng.
Hội đồng là Cơ quan điều hành của IMO và chịu trách nhiệm, theo Hội đồng, trong việc giám sát công việc
của Tổ chức. Giữa các phiên họp của Đại Hội đồng, Hội đồng thực hiện tất cả các chức năng của Hội đồng, ngoại trừ
chức năng đưa ra khuyến nghị cho các Chính phủ về an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm được dành cho Hội
đồng theo Điều 15 của Công ước.
Các chức năng khác của Hội đồng là: (a)
điều phối các hoạt động của các cơ quan của Tổ chức; (b)
xem xét dự thảo chương trình làm việc và dự toán ngân sách của Tổ chức và trình chúng cho Đại Hội đồng; (c)
nhận báo cáo và đề xuất của Ủy ban và các cơ quan khác và gửi chúng cho Đại Hội đồng và các
quốc gia thành viên, với ý kiến và khuyến nghị khi thích hợp; (d)
bổ nhiệm Tổng thư ký, theo sự chấp thuận của Đại Hội đồng; (e)
tham gia vào các thỏa thuận hoặc thỏa thuận liên quan đến mối quan hệ của Tổ chức với các tổ chức
khác, phải được sự chấp thuận của Đại Hội đồng. (iii)
Uỷ ban an toàn hàng hải (MSC)
MSC là cơ quan kỹ thuật cao nhất của Tổ chức. Nó bao gồm tất cả các quốc gia thành viên.Chức năng của
Ủy ban An toàn Hàng hải là tìm hiểu mọi vấn đề trong phạm vi của Tổ chức liên quan đến hỗ trợ điều hướng, xây
dựng và trang bị tàu thuyền, điều khiển từ quan điểm an toàn, quy tắc phòng ngừa va chạm, xử lý hàng hóa nguy
hiểm, hàng hải các quy trình và yêu cầu an toàn, thông tin thủy văn, sổ nhật ký và hồ sơ điều hướng, điều tra thương
vong hàng hải, cứu hộ và cứu hộ và bất kỳ vấn đề nào khác ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn hàng hải .
Ủy ban cũng được yêu cầu cung cấp máy móc để thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào được Công ước IMO giao
hoặc bất kỳ nhiệm vụ nào trong phạm vi công việc có thể được giao cho nó bởi hoặc theo bất kỳ công cụ quốc tế nào
và được Tổ chức chấp nhận. Nó cũng có trách nhiệm xem xét và gửi các khuyến nghị và hướng dẫn về an toàn để Hội đồng chấp nhận.
MSC mở rộng thông qua các sửa đổi đối với các công ước như SOLAS và bao gồm tất cả các quốc gia thành
viên cũng như các quốc gia là thành viên của các công ước như SOLAS ngay cả khi họ không phải là quốc gia thành viên IMO. (iv)
Uỷ ban bảo vệ môi trường biển (MEPC)
MEPC, bao gồm tất cả các quốc gia thành viên, được trao quyền xem xét mọi vấn đề trong phạm vi của Tổ
chức liên quan đến phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm từ tàu. Đặc biệt, nó liên quan đến việc thông qua và sửa đổi các
công ước và các quy định và biện pháp khác để đảm bảo thực thi của họ.
MEPC lần đầu tiên được thành lập như một cơ quan bổ trợ của Hội đồng và được nâng lên thành tình trạng
hiến pháp đầy đủ vào năm 1985. (v) Uỷ ban pháp lý
Ủy ban pháp lý được trao quyền để giải quyết mọi vấn đề pháp lý trong phạm vi của Tổ chức. Ủy ban bao
gồm tất cả các quốc gia thành viên của IMO. Nó được thành lập vào năm 1967 như một cơ quan bổ trợ để giải quyết
các câu hỏi pháp lý phát sinh sau hậu quả của thảm họa Torrey Canyon .
Ủy ban Pháp lý cũng được trao quyền để thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào trong phạm vi có thể được chỉ định
bởi hoặc theo bất kỳ công cụ quốc tế nào khác và được Tổ chức chấp nhận. (vi)
Uỷ ban hợp tác kĩ thuật
Ủy ban hợp tác kỹ thuật được yêu cầu xem xét bất kỳ vấn đề nào trong phạm vi của Tổ chức liên quan đến
việc thực hiện các dự án hợp tác kỹ thuật mà Tổ chức đóng vai trò là cơ quan thực thi hoặc hợp tác và bất kỳ vấn đề
nào khác liên quan đến hoạt động của Tổ chức trong hợp tác kỹ thuật cánh đồng.
Ủy ban hợp tác kỹ thuật bao gồm tất cả các quốc gia thành viên của IMO, được thành lập năm 1969 với tư
cách là một công ty con của Hội đồng và được thể chế hóa bằng cách sửa đổi Công ước IMO có hiệu lực vào năm 1984. (vii)
Uỷ ban đơn giản hoá các thủ tục hàng hải (Uỷ ban tạo điều kiện)
Ủy ban tạo điều kiện được thành lập như một cơ quan bổ trợ của Hội đồng vào tháng 5 năm 1972 và được
thể chế hóa hoàn toàn vào tháng 12 năm 2008 do sửa đổi Công ước IMO. Nó bao gồm tất cả các quốc gia thành viên
của Tổ chức và thỏa thuận với IMO hoạt động trong việc loại bỏ các thủ tục không cần thiết và "băng tin" trong vận
chuyển quốc tế bằng cách thực hiện tất cả các khía cạnh của Công ước về tạo thuận lợi cho giao thông hàng hải quốc
tế năm 1965 và bất kỳ vấn đề nào trong phạm vi Tổ chức liên quan với việc tạo điều kiện giao thông hàng hải quốc
tế. Đặc biệt trong những năm gần đây, công việc của Ủy ban, phù hợp với mong muốn của Hội đồng, là đảm bảo
rằng sự cân bằng phù hợp được thực hiện giữa an ninh hàng hải và tạo thuận lợi cho thương mại hàng hải quốc tế. (viii) Ban thư kí
Ban thư ký của IMO bao gồm Tổng thư ký và khoảng 300 nhân sự quốc tế có trụ sở tại trụ sở của Tổ chức tại London.
Tổng thư ký của Tổ chức là ông Kitack Lim (Hàn Quốc), người được bổ nhiệm vào vị trí này có hiệu lực từ
ngày 1 tháng 1 năm 2016, với nhiệm kỳ bốn năm đầu tiên.
3.3. Các thiết chế quốc tế phi chính phủ về hàng hải
Nội dung 4. Tàu biển trong hàng hải quốc tế
4.1. Khái niệm tàu biển (Ship/Vessel/Tanker/Submarine)
“Tàu” là bất kỳ kiểu tàu nào hoạt động trong môi trường biển, kể cả tàu cánh ngầm, tàu đệm khí, tàu ngầm,
phương tiện nổi, cũng như các công trình nổi cố định hoặc di động (Marpol 73/78).
“Tàu” nghĩa là bất kỳ loại tàu biển nào và bất kỳ các tàu buôn bán bằng đường biển thuộc bất cứ loại gì thực
tế đang vận chuyển dầu dưới dạng hàng rời (CLC 1969)
“Tàu” nghĩa là tất cả các loại tàu biển và các loại bè nổi loại trừ các trạm và các thiết bị tham gia vào việc
thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên dưới đáy biển, đáy đại dương, hay lòng đất dưới đáy biển (Công ước can
thiệp trên biển cả trong trường hợp tai nạn gâyô nhiễm dầu 1969)
Tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương
tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ.
Tàu công vụ là tàu thuyền chuyên dùng để thực hiện công vụ của Nhà nước không vì mụcđích thương mại.
Tàu ngầm là phương tiện có khả năng hoạt động độc lập trên mặt nước và dưới mặt nước
Tàu biển là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển. Tàu biển không bao gồm tàu quân sự,
tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi. (Bộ
luật hàng hải Việt Nam 2015). Điều 15. Chủ tàu
1. Chủ tàu là người sở hữu tàu biển.
2. Người quản lý, người khai thác và người thuê tàu trần được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ tàu quy
định tại Bộ luật này theo hợp đồng ký kết với chủ tàu.
3. Tổ chức được Nhà nước giao quản lý, khai thác tàu biển cũng được áp dụng các quy định của Bộ luật này
và quy định khác của pháp luật có liên quan như đối với chủ tàu.
4.2. Quốc tịch của tàu biển
Điều 14. Tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển Việt Nam là tàu biển đã được đăng ký vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam hoặc đã được cơ quan
đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy phép tạm thời mang cờ quốc tịch Việt Nam.
2. Tàu biển Việt Nam có quyền và nghĩa vụ mang cờ quốc tịch Việt Nam.
3. Chỉ có tàu biển Việt Nam mới được mang cờ quốc tịch Việt Nam.
4.3. Đăng ký quốc gia và quốc tế tàu biển
? Ai có thể đăng ký quốc tịch của tàu biển? => Điều 18 BLHH 2015
1. Chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân Việt Nam được đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốcgia Việt Nam, bao gồm
đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam và đăng ký quyền sở hữutàu biển đó.
2. Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài có đủ điều kiện quy định tạiĐiều 20 của Bộ luật này được
đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
3. Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam có thể được đăng ký mang cờquốc tịch nước ngoài.
?- Loại tàu biển nào phải đăng ký? => Điều 19 BLHH 2015
a) Tàu biển có động cơ với tổng công suất máy chính từ 75 kilôwatt (KW) trở lên;
b) Tàu biển không có động cơ, nhưng có tổng dung tích từ 50 GT trở lên hoặc có trọng tảitừ 100 tấn trở lên hoặc có
chiều dài đường nước thiết kế từ 20 mét (m) trở lên;
c) Tàu biển nhỏ hơn các loại tàu biển quy định tại điểm a và điểm b khoản này, nhưng hoạt động tuyến nước ngoài
Điều 17. Đăng ký tàu biển Việt Nam và hình thức đăng ký tàu biển
1. Đăng ký tàu biển là việc ghi, lưu trữ các thông tin về tàu biển vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam và cấp
Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Đăng ký tàu biển Việt Nam bao gồm các hình thức sau đây:
a) Đăng ký tàu biển không thời hạn;
b) Đăng ký tàu biển có thời hạn; c) Đăng ký thay đổi;
d) Đăng ký tàu biển tạm thời;
đ) Đăng ký tàu biển đang đóng;
e) Đăng ký tàu biển loại nhỏ.
Điều 18. Nguyên tắc đăng ký tàu biển
1. Việc đăng ký tàu biển Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
a) Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam được đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam,
bao gồm đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam và đăng ký quyền sở hữu tàu biển đó. Trường hợp tàu biển thuộc sở
hữu của từ hai tổ chức, cá nhân trở lên thì việc đăng ký phải ghi rõ các chủ sở hữu và tỷ lệ sở hữu tàu biển đó.
Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài có đủ điều kiện quy định tại Điều 20 của Bộ luật này được
đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam. Việc đăng ký tàu biển Việt Nam thuộc sở hữu của tổ chức, cá
nhân nước ngoài bao gồm đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam và đăng ký quyền sở hữu tàu biển đó hoặc chỉ đăng
ký mang cờ quốc tịch Việt Nam.
Tàu biển nước ngoài do tổ chức, cá nhân Việt Nam thuê theo hình thức thuê tàu trần, thuê mua tàu có thể được đăng
ký mang cờ quốc tịch Việt Nam;
b) Tàu biển đã đăng ký ở nước ngoài không được đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp đăng ký cũ
đã được tạm ngừng hoặc đã bị xóa;
c) Việc đăng ký tàu biển Việt Nam do Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam thực hiện công khai và thu lệ phí; tổ chức,
cá nhân có quyền yêu cầu được cấp trích lục hoặc bản sao từ Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam và phải nộp lệ phí.
2. Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam có thể được đăng ký mang cờ quốc tịch nước ngoài.
Điều 19. Các loại tàu biển phải đăng ký
1. Các loại tàu biển sau đây phải đăng ký vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam:
a) Tàu biển có động cơ với tổng công suất máy chính từ 75 kilôwatt (KW) trở lên;
b) Tàu biển không có động cơ, nhưng có tổng dung tích từ 50 GT trở lên hoặc có trọng tải từ 100 tấn trở lên hoặc có
chiều dài đường nước thiết kế từ 20 mét (m) trở lên;
c) Tàu biển nhỏ hơn các loại tàu biển quy định tại điểm a và điểm b khoản này, nhưng hoạt động tuyến nước ngoài.
2. Việc đăng ký các loại tàu biển không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định.
Điều 20. Điều kiện đăng ký tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển khi đăng ký phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Giấy tờ hợp pháp chứng minh về sở hữu tàu biển;
b) Giấy chứng nhận dung tích, giấy chứng nhận phân cấp tàu biển;
c) Tên gọi riêng của tàu biển;
d) Giấy chứng nhận tạm ngừng đăng ký hoặc xóa đăng ký, nếu tàu biển đó đã được đăng ký ở nước ngoài, trừ trường hợp đăng ký tạm thời;
đ) Chủ tàu có trụ sở, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam;
e) Tàu biển nước ngoài đã qua sử dụng lần đầu tiên đăng ký hoặc đăng ký lại tại Việt Nam phải có tuổi tàu phù hợp
với từng loại tàu biển theo quy định của Chính phủ;
g) Đã nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
2. Tàu biển nước ngoài được tổ chức, cá nhân Việt Nam thuê theo hình thức thuê tàu trần, thuê mua tàu khi đăng ký
mang cờ quốc tịch Việt Nam, ngoài các điều kiện quy định tại các điểm a, b, c, d, e và g khoản 1 Điều này phải có
hợp đồng thuê tàu trần hoặc hợp đồng thuê mua tàu.
Điều 21. Đặt tên tàu biển Việt Nam
Tàu biển Việt Nam phải được đặt tên và theo nguyên tắc sau đây:
1. Tên tàu biển do chủ tàu đặt nhưng không được trùng với tên tàu biển đã đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam;
2. Không sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để làm
toàn bộ hoặc một phần tên của tàu biển, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó;
3. Không sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Điều 22. Trách nhiệm của chủ tàu về đăng ký tàu biển tại Việt Nam
1. Chủ tàu có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các giấy tờ và khai báo đầy đủ, chính xác các nội dung liên quan đến tàu
biển đăng ký quy định tại Điều 20 và Điều 24 của Bộ luật này cho Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam.
2. Trường hợp tàu biển do tổ chức, cá nhân Việt Nam đóng mới, mua, được tặng cho, thừa kế thì chủ tàu có trách
nhiệm đăng ký tàu biển theo quy định.
3. Chủ tàu có trách nhiệm nộp lệ phí đăng ký tàu biển theo quy định của pháp luật.
4. Sau khi chủ tàu hoàn thành việc đăng ký tàu biển thì được cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam. Giấy
chứng nhận này là bằng chứng về việc tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam và tình trạng sở hữu tàu biển đó.
5. Chủ tàu có trách nhiệm thông báo chính xác, đầy đủ và kịp thời cho Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam về mọi
thay đổi của tàu liên quan đến nội dung đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
6. Các quy định tại Điều này được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam thuê tàu trần, thuê mua tàu.
Điều 23. Đăng ký tàu biển đang đóng
1. Chủ tàu biển đang đóng có quyền đăng ký tàu biển đang đóng trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam và
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển đang đóng. Giấy chứng nhận này không có giá trị thay thế Giấy chứng
nhận đăng ký tàu biển Việt Nam.
2. Tàu biển đang đóng khi đăng ký phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có hợp đồng đóng tàu hoặc hợp đồng mua bán tàu biển đang đóng;
b) Tên gọi riêng của tàu biển đang đóng;
c) Tàu đã được đặt sống chính.
Điều 24. Nội dung cơ bản của Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam
1. Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam có nội dung cơ bản sau đây:
a) Tên cũ, tên mới của tàu biển; tên, nơi đặt trụ sở của chủ tàu; tên, nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt
Nam của chủ tàu nước ngoài; tên, nơi đặt trụ sở của người thuê tàu trần, người thuê mua tàu xin đăng ký; tên người
khai thác tàu (nếu có); loại tàu biển và mục đích sử dụng; b) Cảng đăng ký; c) Số đăng ký; d) Thời điểm đăng ký;
đ) Tên, địa chỉ nhà máy đóng tàu biển và năm đóng tàu biển;
e) Các thông số kỹ thuật chính của tàu biển;
g) Tình trạng sở hữu tàu biển và những thay đổi có liên quan đến sở hữu;
h) Thời điểm và lý do của việc xóa đăng ký;
i) Thông tin về đăng ký thế chấp tàu biển.
2. Mọi thay đổi về nội dung đăng ký quy định tại khoản 1 Điều này phải được ghi rõ vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
Điều 25. Xóa đăng ký tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển Việt Nam phải xóa đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam trong trường hợp sau đây:
a) Bị phá hủy, phá dỡ hoặc chìm đắm mà không thể trục vớt được; b) Mất tích;
c) Không còn đủ điều kiện để được mang cờ quốc tịch Việt Nam;
d) Không còn tính năng tàu biển;
đ) Theo đề nghị của chủ tàu hoặc người đứng tên đăng ký tàu biển.
2. Trong các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này, tàu biển đang thế chấp chỉ được xóa đăng
ký tàu biển Việt Nam, nếu người nhận thế chấp tàu biển đó chấp thuận.
3. Khi xóa đăng ký tàu biển hoặc xóa đăng ký tàu biển đang đóng, Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam thu hồi Giấy
chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam hoặc Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển đang đóng và cấp Giấy chứng nhận xóa đăng ký.
Điều 26. Quy định chi tiết về đăng ký, xóa đăng ký tàu biển Việt Nam
Chính phủ quy định chi tiết về thủ tục đăng ký, xóa đăng ký tàu biển Việt Nam; trường hợp tàu biển thuộc sở hữu của
tổ chức, cá nhân Việt Nam được đăng ký mang cờ quốc tịch nước ngoài; trường hợp tàu biển thuộc sở hữu của tổ
chức, cá nhân nước ngoài được đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam.
Điều 27. Đăng ký tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn, kho chứa nổi và giàn di động
Tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn, kho chứa nổi và giàn di động được đăng ký theo quy định tại Mục này.
Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký tại Điều này.
4.4. Chế độ pháp lý của tàu nhà nước, tàu quân sự trong hàng hải quốc tế
Điều 28. Đăng kiểm tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển Việt Nam phải được tổ chức đăng kiểm Việt Nam hoặc tổ chức đăng kiểm nước ngoài được Bộ trưởng
Bộ Giao thông vận tải ủy quyền kiểm định, phân cấp, cấp các giấy chứng nhận kỹ thuật về an toàn hàng hải, an ninh
hàng hải, điều kiện bảo đảm lao động hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật Việt
Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định quy chuẩn về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, điều kiện bảo đảm lao
động hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường đối với tàu biển; quy định và tổ chức thực hiện việc đăng kiểm tàu biển tại Việt Nam.
Điều 29. Nguyên tắc đăng kiểm tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển Việt Nam phải được kiểm định, phân cấp, đánh giá và cấp các giấy chứng nhận kỹ thuật về an toàn hàng
hải, an ninh hàng hải, điều kiện bảo đảm lao động hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường khi đóng mới, nhập
khẩu, hoán cải, sửa chữa phục hồi và trong quá trình hoạt động nhằm bảo đảm tình trạng kỹ thuật theo quy định của
pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Việc kiểm định, đánh giá tàu biển Việt Nam được thực hiện tại nơi tàu biển đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục
hồi, neo đậu hoặc đang hoạt động.
3. Tàu biển Việt Nam không hoạt động tuyến quốc tế được kiểm định, phân cấp và cấp giấy chứng nhận theo quy
định của pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam.
4. Tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế được kiểm định, phân cấp, đánh giá và cấp giấy chứng nhận theo quy
định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 30. Các loại tàu biển phải đăng kiểm
1. Các loại tàu biển quy định tại khoản 1 Điều 19 của Bộ luật này phải được đăng kiểm.
2. Việc đăng kiểm các loại tàu biển không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này do Bộ trưởng Bộ Giao
thông vận tải quy định.
Điều 31. Trách nhiệm về đăng kiểm tàu biển
1. Chủ tàu biển có trách nhiệm thực hiện quy định về đăng kiểm tàu biển khi tàu biển được đóng mới, nhập khẩu,
hoán cải, sửa chữa phục hồi và trong quá trình hoạt động; bảo đảm tình trạng an toàn kỹ thuật, an ninh hàng hải, điều
kiện lao động hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường của tàu biển giữa hai kỳ kiểm định, đánh giá theo quy
định của pháp luật và điều ước quốc tế liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Tổ chức đăng kiểm khi thực hiện công tác đăng kiểm phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước
quốc tế liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Người đứng đầu đơn vị đăng kiểm và người
trực tiếp thực hiện kiểm định, đánh giá phải chịu trách nhiệm về kết quả kiểm định, đánh giá.
Điều 32. Giám sát kỹ thuật đối với tàu biển Việt Nam
Tàu biển đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi, phải chịu sự giám sát kỹ thuật của tổ chức đăng kiểm về chất lượng,
an toàn kỹ thuật phù hợp với hồ sơ thiết kế được duyệt và cấp giấy chứng nhận có liên quan.
Tàu biển đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phải được thực hiện tại cơ sở có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Điều 33. Đăng kiểm tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn, ụ nổi, kho chứa nổi và giàn di động
1. Tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn được đăng kiểm theo quy định tại Mục này.
2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định việc kiểm định, cấp các giấy chứng nhận kỹ thuật về an toàn hàng hải,
an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên đối với ụ nổi, kho chứa nổi và giàn di động.
Điều 36. Chuyển quyền sở hữu tàu biển
1. Việc chuyển quyền sở hữu tàu biển phải được thể hiện bằng văn bản theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc
pháp luật của quốc gia nơi thực hiện chuyển quyền sở hữu tàu biển.
2. Việc chuyển quyền sở hữu tàu biển Việt Nam có hiệu lực sau khi được ghi trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
3. Sau khi hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu thì toàn bộ tàu biển và tài sản của tàu biển thuộc quyền sở hữu
của người nhận quyền sở hữu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Tài sản của tàu biển là các đồ vật, trang thiết bị trên tàu biển mà không phải là các bộ phận cấu thành của tàu biển.
4. Các quy định về chuyển quyền sở hữu tàu biển được áp dụng đối với việc chuyển quyền sở hữu cổ phần tàu biển.
5. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục chuyển quyền sở hữu tàu biển dưới hình thức mua, bán tàu biển.
Điều 37. Thế chấp tàu biển Việt Nam
1. Thế chấp tàu biển là việc chủ tàu dùng tàu biển thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối
với bên nhận thế chấp và không phải chuyển giao tàu biển đó cho bên nhận thế chấp.
2. Chủ tàu có quyền thế chấp tàu biển Việt Nam thuộc sở hữu của mình cho bên nhận thế chấp theo quy định của Bộ
luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Hợp đồng thế chấp tàu biển Việt Nam phải được giao kết bằng văn bản. Việc thế chấp tàu biển Việt Nam được
thực hiện theo pháp luật Việt Nam.
4. Các quy định về thế chấp tàu biển cũng được áp dụng đối với việc thế chấp tàu biển đang đóng.
Điều 38. Nguyên tắc thế chấp tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển đang thế chấp không được chuyển quyền sở hữu, nếu không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp tàu biển.
2. Tàu biển thế chấp phải được chủ tàu mua bảo hiểm, trừ trường hợp trong hợp đồng thế chấp có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp bên nhận thế chấp đã chuyển toàn bộ hoặc một phần quyền của mình đối với khoản nợ được bảo đảm
bằng tàu biển thế chấp cho người khác thì việc thế chấp tàu biển đó được chuyển tương ứng.
4. Một tàu biển có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị lớn hơn tổng giá trị các nghĩa
vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Thứ tự ưu tiên của các thế chấp được xác định trên cơ sở thứ tự đăng ký thế chấp tương ứng trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
5. Việc thế chấp tàu biển thuộc sở hữu của từ hai chủ sở hữu trở lên thì phải được sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu
đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
6. Thế chấp tàu biển chấm dứt trong trường hợp sau đây:
a) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt;
b) Việc thế chấp tàu biển được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;
c) Tàu biển thế chấp đã được xử lý theo quy định của pháp luật;
d) Tàu biển thế chấp bị tổn thất toàn bộ;
đ) Theo thỏa thuận của các bên.
7. Bên nhận thế chấp chỉ giữ bản sao Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển của tàu biển thế chấp.
Điều 39. Đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam
1. Đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam có nội dung cơ bản sau đây:
a) Tên, nơi đặt trụ sở của người nhận thế chấp và chủ tàu;
b) Tên và quốc tịch của tàu biển được thế chấp;
c) Số tiền được bảo đảm bằng thế chấp, lãi suất và thời hạn phải trả nợ.
2. Việc thế chấp tàu biển có hiệu lực sau khi được ghi trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
3. Thông tin về việc đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam được cấp cho người có yêu cầu.
4. Người đăng ký thế chấp tàu biển và người khai thác thông tin về thế chấp tàu biển phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam.
Điều 46. Quy hoạch cơ sở phá dỡ tàu biển
1. Quy hoạch cơ sở phá dỡ tàu biển phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có và bảo vệ môi trường.
2. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch cơ sở phá dỡ tàu biển.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm:
a) Chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương có liên quan lập, trình Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt, quyết định điều chỉnh quy hoạch cơ sở phá dỡ tàu biển;
b) Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở phá dỡ tàu biển.
4. Việc đầu tư xây dựng cơ sở phá dỡ tàu biển phải phù hợp với quy hoạch và phải bảo đảm an toàn, phòng chống
cháy, nổ và bảo vệ môi trường.
Điều 47. Nguyên tắc phá dỡ tàu biển
1. Việc phá dỡ tàu biển phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, an toàn lao động,
phòng chống cháy, nổ, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.
2. Việc phá dỡ tàu biển chỉ được thực hiện tại cơ sở phá dỡ tàu biển đã được phép hoạt động theo quy định.
3. Tàu biển phá dỡ không trong tình trạng thế chấp hoặc khiếu nại hàng hải.
Điều 48. Cơ sở phá dỡ tàu biển
Cơ sở phá dỡ tàu biển là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm điều kiện sau đây:
1. Được xây dựng và hoạt động theo quy hoạch đã được phê duyệt.
2. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật bảo đảm cho việc phá dỡ tàu biển.
3. Hoàn thành các yêu cầu về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển theo quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường.
Điều 49. Quy định chi tiết về phá dỡ tàu biển
Chính phủ quy định chi tiết về việc phá dỡ tàu biển.
Điều 95. Nguyên tắc đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam
1. Tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam phải được phép của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
2. Tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam phải tôn trọng, tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác giữa quốc gia tàu mang cờ và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
qua đường ngoại giao trước khi tàu đến Việt Nam.
3. Chương trình hoạt động của tàu và các thành viên trên tàu phải thực hiện theo kế hoạch đã thỏa thuận; trường hợp
có sự thay đổi, phát sinh phải được phép của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
4. Khi tàu quân sự nước ngoài đến lãnh hải Việt Nam để đến cảng biển phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác phải hoạt động ở trạng thái nổi trên mặt nước và phải treo Quốc kỳ
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở vị trí ngang bằng với quốc kỳ của quốc gia tàu mang cờ, trừ trường
hợp được phép của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ của quốc gia tàu mang cờ;
b) Bên ngoài thân tàu phải ghi rõ số hiệu, tên tàu;
c) Đưa toàn bộ vũ khí về tư thế quy không hoặc ở trạng thái bảo quản;
d) Dừng lại ở vùng đón trả hoa tiêu để làm thủ tục nhập cảnh và theo hướng dẫn của cảng vụ, hoa tiêu Việt Nam;
đ) Chỉ được sử dụng các thiết bị cần thiết bảo đảm an toàn hàng hải và tần số liên lạc đã đăng ký;
e) Đến đúng cảng biển theo tuyến đường và hành lang quy định.
5. Tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam muốn di chuyển từ cảng biển này sang cảng biển khác của Việt Nam phải
được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
Điều 97. Quy định miễn, giảm thủ tục đến, rời cảng biển đối với các trường hợp đặc biệt
1. Tàu công vụ đang thực hiện nhiệm vụ, tàu đón, trả hoa tiêu, tàu chuyên dùng thực hiện hoạt động tìm kiếm, cứu
nạn, bảo đảm an toàn hàng hải, phòng chống cháy, nổ, phòng chống tràn dầu hoặc thực hiện các nhiệm vụ khẩn cấp
khác được miễn thực hiện các thủ tục đến, rời cảng theo quy định nhưng thuyền trưởng của tàu thuyền phải thông
báo cho Cảng vụ hàng hải biết bằng văn bản hoặc bằng hình thức, phương tiện thông tin phù hợp khác.
2. Tàu thuyền đến cảng để chuyển giao người, tài sản, tàu thuyền cứu được trên biển và chỉ lưu lại cảng biển trong
khoảng thời gian không quá 12 giờ được làm thủ tục đến, rời cảng một lần.
4.5. Bắt giữ tàu biển trong hàng hải quốc tế
"Bắt giữ” là một sự lưu giữ hoặc hạn chế dịch chuyển tàu theo quyết định của Toà án để bảo đảm cho một
khiếu nại hàng hải, chứ không bao hàm việc bắt giữ tàu để thi hành môt bản án hay một văn bản có hiệu lực thi hành
khác. (Công ước bắt giữ tàu biển 1999 của LHQ)
Bắt giữ tàu biển là việc không cho phép tàu biển di chuyển hoặc hạn chế di chuyển tàubiển bằng quyết định
của Tòa án để bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải, áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời, thi hành án dân sự và
thực hiện tương trợ tư pháp. (Điều 219, BLHH 2015)
Thẩm quyền bắt giữ tàu – Điều 2 Công ước 1999
1 . Một con tàu chỉ có thể bị bắt giữ hoặc được giải phóng khỏi sự bắt giữ theo quyết định của toà án của quốc gia
thành viên nơi tiến hành bắt giữ.
2. Một con tàu chỉ có thể bị bắt giữ căn cứ vào một khiếu nại hàng hải chứ không thể bị bắt giữ vì những khiếu nại khác.
3. Quốc gia có quyền bắt giữ tàu để bảo đảm cho khiếu nại hàng hải kể cả trong trường hợp các bên trong hợp đồng
đã thoả thuận lựa chọn toà án của một quốc gia khác không phải là quốc gia nơi tiến hành bắt giữ tàu hoặc lựa chọn
toà án trọng tài để giải quyết khiếu nại hàng hải đó hoặc thoả thuận lựa chọn pháp luật của một quốc gia khác không
phải là quốc gia nơi tiến hành bắt giữ tàu để áp dụng cho hợp đồng đó.
4. Thủ tục bắt giữ tàu, thủ tục giải phóng tàu được thực hiện theo quy định pháp luật của quốc gia nơi tiến hành bắt
giữ hoặc nơi có yêu cầu bắt giữ, với điều kiện không trái với các quy định của Công ước này.
Thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển – Điều 130 BLHH 2015
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết
định bắt giữ tàu biển.
Trường hợp cảng có nhiều bến cảng thuộc địa phận các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau thì Tòa án
nhân dân cấp tỉnh nơi có bến cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển đó.
2. Tòa án nhân dân đang giải quyết vụ án dân sự, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh
chấp có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển.
Quyết định bắt giữ tàu biển của Tòa án được giao cho cảng vụ hai bản, một bản để thực hiện và một bản để cảng vụ
giao cho thuyền trưởng tàu bị bắt giữ để thực hiện.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định Tòa án có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển trong
trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Thả tàu biển sau khi bị bắt giữ - Điều 137 BLHH 2015
1. Tàu biển được thả trong trường hợp sau đây:
a) Sau khi chủ tàu, người thuê tàu hoặc người khai thác tàu đã thực hiện biện pháp bảo đảm thay thế hoặc đã thanh
toán đủ khoản nợ và chi phí liên quan trong quá trình tàu biển bị bắt giữ;
b) Quyết định bắt giữ tàu biển đã bị hủy;
c) Thời hạn bắt giữ tàu biển theo quyết định bắt giữ tàu biển đã hết.
2. Trường hợp không có sự thỏa thuận giữa các bên về mức độ và hình thức bảo đảm thay thế, Tòa án sẽ quyết định
mức độ và hình thức bảo đảm thay thế nhưng không vượt quá giá trị tàu biển bị bắt giữ. Người yêu cầu bắt giữ tàu
biển không có quyền thực hiện bất cứ hành động nào xâm phạm tài sản hoặc quyền lợi khác của chủ tàu, người thuê
tàu hoặc người khai thác tàu.
3. Tàu biển có thể được thả theo yêu cầu của chính người đã yêu cầu bắt giữ; trong trường hợp này, mọi phí tổn liên
quan do người yêu cầu bắt giữ tàu biển thanh toán
Bắt giữ một chiếc tàu hay phương tiện bay cướp biển – Điều 105 UNCLOS
Mọi quốc gia ở biển cả, hay ở bất cứ nơi nào khác không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, đều có thể
bất giữ một chiếc tàu hay một phương tiện bay đã trở thành cướp biển, hoặc một chiếc tàu hay một phương tiện bay
bị chiếm đoạt sau một hành động cướp biển và đang nằm trong tay bọn cướp biển, và đều có thể bắt giữ người và của
cải ở trên con tàu hay phương tiện bay đó. Các tòa án của quốc gia đã tiến hành việc bắt đó có thể công bố các hình
phạt cũng như các biện pháp áp dụng đối với chiếc tàu, phương tiện bay hay của cải, trừ những người lương thiện trong cuộc.
NỘI DUNG 5: CÁC THIẾT CHẾ TÀI PHÁN QUỐC TẾ I. Khái niệm
Các thiết chế tài phán quốc tế có hiểu là những cơ quan quốc tế được thành lập trên cơ sở sự thỏa thuận giữa
quốc gia, nhằm thực hiện chức năng xét xử thông qua việc áp dụng các tập quán, các nguyên tắc, những quy phạm
của pháp luật quốc tế. II.
Các thiết tài phán quốc tế
1. . Tòa án quân sự Nurembec 1945 (International Military Tribunal)
- Thành lập trên cơ sở ĐƯQT (Hiệp ước Luân Đôn 1945) với việc ký kết giữa Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô và 19 quốc gia khác gia nhập.
- Xét xử Đức quốc xã vì đã thực hiện tội ác chiến tranh ở Châu Âu: Giết trên 6 triệu người Do Thái
- Pháp luật áp dụng: Quy chế tòa án Nurembec; Pháp Luật quốc tế.
- Thẩm phán, Công tố viên là người của Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô.
- Xét xử cá nhân, tổ chức (cá nhân của tổ chức)
- Tội: Chống hòa bình, tội phạm chiến tranh, chống nhân loại.
2. . Tòa án quân sự Tokyo 1946
- Thành lập trên cơ sở Quyết định của Chỉ huy tối cao của quyền lực Đồng minh tại Nhật Bản
- Xét xử: Những tội phạm chiến tranh do giới quân phiệt Nhật Bản gây ra: Tội phạm chiến tranh, chống hòa bình, chống loài người.
- Quy chế tòa án Tôkyô được xây dựng dựa trên Qui chế tòa án Nurembec; Pháp Luật quốc tế.
- Pháp luật áp dụng: Quy chế tòa án Tôkyô, Pháp luật quốc tế
- 11 Thẩm phán từ các nước đồng minh, năm 1948 đã tuyên 7 bản án tử hình và 16 án phạt tù.
3. . Tòa án hình sự quốc tế ADHOC Nam Tư (cũ)
- Thành lập trên Nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc (NQ 827 năm 1992) cơ sở để thành lập là Hiến chương Liên Hợp Quốc.
- Hành vi đã thực hiện từ 01/01/1991 tại Nam Tư cũ từ năm 1991: Tội phạm chiến tranh, vi phạm Luật nhân đạo
quốc tế trên lãnh thổ Nam Tư.
- Luật áp dụng: Công ước Genever 1949 và 2 Nghị định thư sửa đổi
- 11 Thẩm phán do HĐBALHQ lựa chọn từ các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới.
- Chỉ xét xử cá nhân phạm tội: Tổng thống Nam Tư Milôxêvich và các lãnh đạo Kết thúc 31/12/2017
4. . Tòa án hình sự quốc tế Ruanđa 1994 (ADHOC)
- Thành lập trên Nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc (năm 1994), là Tòa án lâm thời.
- Tòa án xét xử những người chịu trách nhiệm về các cuộc thảm sát đẫm máu ở Ruanđa năm 1994 đã vi phạm
nghiêm trọng Luật nhân đạo quốc tế (mặc dù cuộc xung đột này là cuộc xung đột vũ trang trong nước).
- Thẩm phán do HĐBALHQ lựa chọn từ các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới.
5. . Tòa án đặc biệt Xirêra Lêôn 2002
- Thành lập trên cơ sở Hiệp định song phương giữa Liên Hợp Quốc và Chính phủ Xiêra Lêôn.
- Thẩm phán và các nhân viên do LHQ chỉ định và chủ nhà lựa chọn.
- Xét xử cá nhân vi phạm: Luật nhân đạo quốc tế và Pháp luật của Xiêra Lêôn từ, những hành vi đã thự hiện trong
lãnh thổ Xiêra Lêôn kể từ năm 1996.
- Tội: Tuyển dụng binh lính là trẻ em và các hành vi vi phạm luật nhân đạo quốc tế:Hành vi cưỡng bức hôn nhân.
6. . Tòa án Hình sự Quốc tế (Tòa án ICC) (ROME 1998)
- Thành lập trên cơ sở Điều ước quốc tế
- Là tòa thường trực:1 Xét xử tội phạm xảy ra sau khi Quy chế Rome có hiệu lực; 2).Hoạt động thường xuyên; 3).có
quan hệ với LHQ và các quốc gia, tổ chức khác; 4).Trụ sở LaHay, Hà Lan.
- Thẩm phán được lựa chọn từ các quốc gia thành viên.
- Có tính độc lập: LHQ; Tòa án hình sự quốc tế khác; các quốc gia thành viên (Tôn trọng chủ quyền, không can thiệp
vào công việc nội bộ, chỉ thực hiện quyền tài phán khi quốc gia không muốn hoặc không có khả năng thực hiện.)
- Luật áp dụng: Quy chế Rôma ĐUQT, Pháp luật quốc gia (Điều 21 Quy chế Rôma)
- Tính tự nguyện: Quốc gia thành viên tự nguyện thành lập, tự nguyện tham gia, gánh trách nhiệm
- Tính hợp tác: Hợp tác với các quốc gia thành viên, các tổ chức phi chính phủ; Không có lực lượng cảnh sát riêng để
thực thi các Quyết định, phán quyết. Do vậy yêu cầu sự hợp tác của các quốc gia thành viên, các tổ chức để thu thập chứng cứ, thi hành án.
- Không phải tòa phúc thẩm hay tòa cấp trên của tòa án quốc gia. Không xâm phạm chủ quyền quốc gia.
- Quy chế: Quy chế Rôma về Tòa án hình sự quốc tế được thông qua và có hiệu lực ngày 01/7/2002 sau khi có 60 quốc gia phê chuẩn.
- Trung Quốc và Hoa Kỳ bỏ phiếu chống, Ấn Độ bỏ phiếu trắng.
+ Trung Quốc bỏ phiếu chống
Không đồng ý về thẩm quyền của Tòa án đối với những xung đột vũ trang diễn ra trong nội bộ quốc gia.
Danh sách những tội phạm được quy định trong Quy chế Rôma đã được đề cập tương đối đầy đủ trong Luật nhân quyền quốc tế.
Quy chế Rôma chưa hoàn thiện: Qui định liên quan đến nguyên tắc thẩm quyền bổ sung; Quyền của HĐBA trong
việc định nghĩa tội xâm lược; Quyền hạn của các Công tố viên quá rộng vv…
+ Hoa Kỳ bỏ phiếu chống
Muốn HĐBA sẽ kiểm soát hoạt động của ICC; Phản đối việc không bảo lưu đối với bất kỳ điều khoản nào của Quy
chế; Thẩm quyền của tòa án ở một khía cạnh nào đó là quá rộng, ở khía cạnh khác lại quá hẹp;
Việc trao thẩm quyền cho ICC xét xử công dân của nước không phải là thành viên của Quy chế Rôma là vi phạm
Luật điều ước quốc tế.
+ Ấn Độ bỏ phiếu trắng
Thẩm quyền chuyển vụ việc lên Tòa án, quyền đình chỉ vụ án.
Thẩm quyền của Tòa án quá rộng, cần phải bị hạn chế trong một số trường hợp.
- Hiện nay có 123 quốc gia thành viên.
- Thẩm quyền theo vụ việc: ICC không có thẩm quyền toàn phán, chỉ có thẩm quyền hạn chế về 4 tội phạm: 1).Tội
diệt chủng; 2). Tội chống loài người; 3. Tội phạm chiến tranh; 4). Tội xâm lược. Nhưng thời gian đầu thẩm quyền
của ICC chỉ mới phạm vi trong 3 tội đầu, vì chưa có định nghĩa chính thức về Tội xâm lược.