1/ Đạo gia gì? Lịch sử thành lập? Vài nét về Đạo gia Đạo giáo
- Đạo gia 1 trong 4 phái tưởng lớn của Trung Quốc thời Xuân Thu được
sáng lập bởi Lão Tử khoảng thế kỉ VI TCN. Học thuyết của ông được Dương
Chu và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện phát triển theo hai hướng ít
nhiều khác nhau. những tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu
qua Đạo đức kinh Nam hoa kinh.
- Lịch sử thành lập: Trong quá trình tan của chế độ lệ thị tộc, một bộ phận
của tầng lớp quý tộc nhỏ không chuyển biến kịp sang giai cấp địa chủ. H bị
hai thế lực Đại quý tộc địa chủ mới uy hiếp, áp bức. tưởng Đạo gia
phản ánh tưởng, nguyện vọng của tầng lớp này.
- Đạo gia: Tư ởng cốt lõi của Đạo gia học thuyết về Đạo với những tưởng
biện chứng, cùng với học thuyết vi về lĩnh vực chính trị hội. Đạo bản
nguyên của vạn vật. tất cả từ Đạo mà sinh ra trở về với cội nguồn của Đạo.
Đạo cái nh, hiện hữu cái “có”; song Đạo hiện hữu không thể tách
rời nhau. Trái lại, Đạo là i bản chất, hiện hữu cái biểu hiện của Đạo. Đạo
nguyên vận hành của mọi hiện hữu. Nguyên ấy Đạo pháp tự nhiên.
- Đạo giáo: hình thức kết hợp những hình thức n dị đoan như cúng tế
quỷ thần, phù phép đồng bóng, bói toán,... học thuyết Đạo gia. Đến cuối thế
kỉ thứ II TCN Đạo giáo chính thức ra đời với 2 phái giáo: Đạo Thái Bình
Đạo Năm Đấu Gạo
2/ Người sáng lập (Lão Tử, Trang Tử)
Trang Tử được coi là nhà tưởng lớn trong trường phái Đạo gia. Ông người
đủ công mài giũa viên ngọc “Đạo” của Lão Tử để hiện lên đầy đủ vẻ lấp lánh
huyền hoặc của nó, thế người đời sau thường gọi chung tưởng Lão Trang.
Trang Tử tên thật Quang Chu. Ông sinh vào khoảng những năm cuối thế kỉ thứ IV
tr. CN mất vào những năm đầu của thế kỉ II tr. CN. Trang Tử người có phong
cách sống ung dung, khoáng đạt thản nhiên đến lạnh lùng trước mọi sự kiện diễn ra
đời. Quan điểm v “Đạo” mối quan hệ đồng nhất của chúng được Trang Tử coi
vấn đề cốt lõi của toàn bộ học thuyết của mình. Ông thường gọi ngắn gọn là “Đạo
sống”, “nguồn sống”, hoặc “sống chung”. Thực chất, đây những vấn đề bản thể
luận, trụ quan, chúng nền tảng quyết định đường lối triết học của ông.
tưởng về Đạo Trang T kế thừa các tưởng truyền thống Trung Quốc cổ,
nhưng cũng những bước phát triển mới. Chúng ta th diễn đạt tưởng đó bằng
các vấn đề sau:
+ Đạo cái danh: Thiên “Tri bắc du”, Trang Tử viết: “Đạo chẳng thể
nghe được, nghe được không còn phải . Đạo cũng chẳng thể thấy được, thấy
được không còn phải nó nữa. thể nào lấy trí hiểu được cái hình dung của cái
không hình dung được chăng? Vậy thì không nên đặt tên cho Đạo”. Ông cho rằng Đạo
cái không thể diễn đạt bằng lời, cũng không thể gọi bằng một cái tên nào, nếu
đặt tên cho thì chẳng qua ước lệ, ý muốn chủ quan của con người thôi. Khi
đã gọi tên, định ra một tính chất, một nội dung nào đó thì đã xuyên tạc, bóp méo đi
rồi. Theo Trang Tử, Đạo cái trống không, hồ, hỗn độn. nửa tồn tại, nửa
không tồn tại. Đạo danh không phải không đó một cái đó
trạng thái hỗn mang: “ở thì sâu thẳm, trông thì lạnh ngắt”, cái không hình thù,
không bản sắc. ợt khỏi mối liên h với không gian, thời gian, sinh tử. không
phải cái tồn tại vĩnh viễn vĩnh viễn ra khỏi c mối liên hệ giữa tồn tại không
tồn tại, thế mà danh.
Về nguyên nhân của Đạo năng lực của nó, Trang T viết: “Đạo tự bản, t
căn, vốn tồn tại như xưa, khi chưa trời đất, làm thiêng liêng quỷ thần, thượng đế
sinh ra đất, trước thái cực chẳng sâu. Sinh trước trời đất chẳng lâu, dài
hơn thượng cổ chẳng già”. Quan điểm duy vật thể hiện nét khi Trang Tử cho
Đạo cái tự nhiên vốn , không ai sinh ra tự bản, tự căn, cùng và hạn,
vậy Đạo bản thể đầu tiên của trụ, vạn vật nó tự nhiên, lạnh lùng trước ý c của
con người.
+ Đạo cái thường: Đây nội dung cốt lõi của Đạo Trang Tử. Đó
cuộc biến hoá của trụ, cuộc đại chuyển tiếp giữa trụ vạn vật. Theo Trang Tử
“vô thường” trạng thái vận động biến hoá không ngừng của Đạo. Do cái “vô
thường” của Đạo mọi vật đều được sinh sinh, hoá hoá với các hình thức tồn tại
khác nhau, thể loại khác nhau, nhưng chúng đều một quá trình sinh, tử để trở về
Đạo. đây, Trang Tử đã thể hiện trụ quan đồng nhất giữa các bản thể tối hậu với
vạn vật. Ông thường gọi đó “Đạo sống” hay nguyên khí: “Đạo nguồn gốc sinh ra
vạn vật, nhưng lại tồn tại trong mỗi vật thể. mỗi vật thể khác nhau về hình thức,
trạng thái, nhưng chúng đều “tánh tự nhiên” của mình, chúng tồn tại, ng buộc với
nhau một cách tự nhiên, biến hoá cũng tự nhiên. “Tánh tự nhiên” của mỗi vật biểu
hiện của Đạo nhưng do Đạo tạo hoá khác nhau về số ợng mà “tánh tự nhiên” khác
nhau, đây cũng lẽ tự nhiên không thể khác được.
+ Đạo quy luật tự nhiên chi phối mọi sự vận động biến đổi của trụ: Theo
Trang Tử, vạn vật thế giới vận động, biến hoá không lộn xộn, tuỳ tiện mà theo một trật
tự, một nguyên tắc nghiêm ngặt ông thường gọi trời hay “tạo hoá”. Thế giới vạn
vật đều sẵn một năng lực tự nhiên, đó sức tự sinh, tự hoá bên trong. Chúng vận
động một cách tự thân không phụ thuộc vào thần linh, thượng đế, giống như sự thay
đổi bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trang Tử viết: “Vạn vật đều một giống vậy,
lấy hình không đồng nhượng nhau, đầu cuối như cái vòng tròn, chẳng ai biết được đạo
thường của nó, thế mới là khuôn trời”. Quy luật tự nhiên ấy chi phối sự vận động theo
hướng nào ? theo một “khuôn trời” định sẵn, nên sự vận động không ngừng
cùng Trang T không phát triển đi n, theo một vòng tròn khép kín không
đầu cuối. Đạo dùng trời đất làm lớn rồi tự đứng ra làm phó cả để sắp đặt muôn vật,
chạm trổ các hình, muôn vật phân ra thành vạn hữu đi lại trở lại bản thể”. ng
Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xoá nhoà mọi ranh giới giữa tồn tại không
tồn tại, vận động đứng im, giữa chất lượng để chỉ còn thấy tất cả đều ơng
đối, thoáng qua. Nhưng quy luật tự nhiên của ông lại tính chất tuyệt đối, khuôn
mẫu cứng nhắc, đối lập với nh ơng đối của vạn vật. Đây là một mâu thuẫn trong
tưởng của ông. Chính mâu thuẫn này làm cho quy luật tự nhiên ông gần i với
“Định mệnh”.
Vậy những quan niệm về Đạo của Trang Tử những vấn đề bản th luận
trụ quan của ông. Đó là quan niệm về một tr động, một trụ “vừa sống vừa
chết”, “vừa chết vừa sống”. Một trụ tự nhiên n thế, chứa đựng vạn vật đa dạng
phong phú nhưng đều chỉ là một, đều nguồn gốc tự một cái tuyệt đối duy nhất
Đạo.
+ Phép biện chứng tự phát: Trang Tử đã xem t trụ, tự nhiên bằng quan
điểm biện chứng nổi bật s vận động, biến đổi không ngừng của thế giới. Ông
cho rằng mọi s vật liên hệ khăng khít với nhau, luôn chuyển hóa, thay thế lẫn
nhau. “Vạn vật không đồng nhau, thế thì cái gì khiến liên lạc được với nhau?”
“người ng tạo vật hòa hợp làm một rồi thì đi đâu chẳng phải mình?”. Vạn vật, con
người đều vận động, biến hoá theo quy luật tự nhiên, quy luật này như một vòng tròn
lưu chuyển cùng tận dưới sự c động của Đạo. Tuy nhiên, Trang Tử đã b quên
“Các mặt đối lập” trong bản thân sự vật như nguồn gốc, động lực của mọi sự vận
động. Đây điểm khác biệt căn bản giữa phép biện chứng của Trang Tử với phép
biện chứng của Lão Tử. Xoá nhoà mọi mâu thuẫn, đồng nhất hoàn toàn các mặt đối
lập, Trang Tử đã bỏ mất i sinh động đầy sức sống của phép biện chứng, không đạt
tới được cái cốt tử của phép biện chứng, nên Trang Tử khuynh hướng đi từ phép
biện chứng đến chủ nghĩa chiết trung, ngụy biện khi ông viết: “Phải cũng một lẽ
cùng, trái cũng một lẽ cùng cho nên nói rằng không bằng lấy ánh ng”.
Phép biện chứng của Trang Tử mang tính chất tự phát, không phải một hệ thống
chỉ những yếu tố tản mạn rời rạc. chỉ dừng lại mặt hình thức, còn nội dung
thì lại mang tính chất ngụy biện, chủ nghĩa chiết trung. Những đặc điểm này đã dẫn
đến tính thần bí, huyền hoặc trong tưởng của ông.
tưởng triết học Trang Tử nhìn từ tác phẩm Nam Hoa Kinh
Sống trong thời k lịch sử nhiều biến động dữ dội, Trang T được coi nhà
ởng lớn về đạo học trong triết học cổ Trung Quốc. Một người "thà chịu kéo cái
đuôi trong bùn" để giữ nhân cách bản lĩnh, tâm hồn thanh sạch của mình giữa
vàn tạp loạn hội. Nhìn từ góc độ triết học, ởng học hay văn học, Trang Tử hiện
ra đều thấy được sự phong phú nổi trội trong cách thức biểu hiện: một Đạo gia "phóng
nhiệm", "tài tử", "ngông" đầy sáng tạo.
Đa số các học giả cho rằng bộ tác phẩm Trang Tử - Nam Hoa Kinh ra đời vào
thời Chiến Quốc. ng theo Hán thư Ngh văn c của Ban Cố (32-92), bộ Trang Tử -
Nam Hoa Kinh 52 thiên, nhưng do thất truyền nên hiện nay chỉ con 33 thiên. Tuy
nhiên, 33 thiên này không phải bản gốc của bộ Trang Tử, còn chứa nhiều phần
san định của các thế hệ sau. Bộ Trang Tử - Nam Hoa Kinh được chia làm phần: Nội
thiên; Ngoại thiên Tạp thiên. Trong đó, Nội thiên gồm 7 thiên; Ngoại thiên gồm 15
thiên; Tạp thiên gồm 11 thiên. Sự gợi mở trong cách cảm nhận về học thuyết của ông
khiến cho Nam Hoa Kinh giữ được khoảng trống sáng tạo cho nhiều thế hệ độc giả.
Mạch văn của Trang Tử rất được giới văn nghệ ưa chuộng. tưởng triết học của
Trang Tử được thể hiện tập trung trong Nội thiên của tác phẩm Nam Hoa Kinh. Thông
qua một hệ thống ngụ ngôn với những ngôn từ giàu hình tượng, Trang Tử đã thể hiện
rất sinh động và khá h thống những quan niệm triết học của mình. Dưới bối cảnh
hội với nhiều biến động dữ dội, tưởng triết học của Trang Tử đã ra đời. Đây một
mặt được coi sản phẩm của thời đại, nhưng mặt khác Nam Hoa Kinh cũng sự kết
tinh trí tuệ, nét sáng tạo, độc đáo trong thế giới quan của Trang Tử.
tưởng triết học Trang Tử được Việt a
Ngay từ những năm đầu công nguyên, các học thuyết triết học Trung Quốc
trong đó tưởng triết học Trang Tử đã du nhập có những ảnh hưởng nhất định
đến đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam. Khi mới được truyền hóa vào Việt Nam,
tưởng Lão - Trang chưa thực sự ảnh hưởng đến cuộc sống của người Việt. Trong
thời kỳ đầu Bắc thuộc, Lão - Trang không vai trò trên văn đàn chính trị ảnh
hưởng của đối với các nho Việt Nam còn rất mờ nhạt. Qua quá trình được “Việt
hóa”, tưởng Lão - Trang đã từng bước ảnh hưởng đến tưởng của người Việt.
Trong việc tiếp thu ởng Lão - Trang, người Việt đã chủ động sáng tạo tiếp thu
những yếu tố hợp lý, vận dụng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn của dân tộc mình. Một
số nh hưởng tiêu biểu của tưởng Trang Tử Việt Nam được Tiến Cung Thị
Ngọc phân tích trên các bình diện sau:
Trên bình diện tưởng lối sống: Ban đầu, khi mới du nhập Việt Nam
tưởng Lão - Trang không mấy được quan tâm, thậm chí xuất hiện hết sức m nhạt,
lúc này Nho giáo đang được trọng dụng. Nhưng sau đó, với sự sáng tạo của người
Việt, nhất c nho thời đó, ởng Lão - Trang được bộ phận giới văn nho tiếp
nhận dần lan rộng. tưởng y đã giúp họ, khi gặp phải những hoàn cảnh bất trắc
trên con đường công danh, được sự cân bằng trong tưởng, tâm hồn tạo lập
một lối sống hài hòa, hữu ích, lạc quan, yêu đời. Tuy nhiên, thời điểm đó, với đại đa
số nhân dân do nhiều hoàn cảnh, nguyên nhân khác nhau nên sự ảnh ởng của
tưởng Lão - Trang được thể hiện gián tiếp, không nét.
Trên bình diện văn học: Đối với nhà văn, nhà thơ, thế giới quan và nhân sinh
quan ý nghĩa hết sức quan trọng trong các sáng tác của họ. Do ảnh hưởng của lịch
sử hơn 1000 năm Bắc thuộc, thế giới quan, nhân sinh quan của giới văn nghệ thời
bây giờ một thể dung hợp bao gồm nhiều yếu tố, từ văn hóa bản địa đến Nho, Phật,
Đạo giáo. tưởng Nho gia với vai trò dòng chủ đạo, nhưng sự nghèo nàn, cứng
của đã không thể ch thích sức sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ. Khi ởng
Lão - Trang du nhập Việt Nam, từng bước thẩm thấu lan tỏa sức ảnh hưởng của
mình đến nền văn học bản địa, đã góp phần tạo ra một khuynh ớng sáng tác phi
Nho. Nghĩa là, tưởng Lão - Trang đã không chỉ tr thành nguồn cảm hứng mới mẻ,
nội dung tư ởng của nhiều tác phẩm, nhiều điển tích, thuật ngữ của Trang Tử
cũng in dấu ngày một t tường trong nghệ thuật thể hiện của những tác phẩm văn, thơ
thời ấy. Trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Cao
Quát, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thì Nhậm,... đều xuất hiện những điển tích, thuật
ngữ của Trang Tử.
3/ Nhân sinh quan của Đạo gia (Lão Tử, Trang Tử)
a. Quan hệ giữa đạo khái niệm có, không
Trong kết cấu logic triết học của Lão Tử, đạo là một thể thống nhất của
không. Ông nói: “Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu. Cố thường
dục quan k diệu. Thường hữu dục quan kỳ khiếu. Thử lưỡng giả đồng xuất nhị
dị danh. Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn” (Nghĩa là: cái
gọi là không (vô danh) khởi thủy của trời đất, cái gọi (hữu danh) mẹ đẻ của
vạn vật. thế cái thường muốn thấy được các kỳ diệu của nó, cái thường hữu
muốn nhìn thấy các phạm vi của nó. Hai cái này cùng xuất hiện, nhưng lại khác tên
gọi. Cái cùng gọi huyền hoặc cả, cái đã huyền hoặc lại càng thêm huyền hoặc, nơi
xuất phát của những điều k diệu). Vô hữu đều cùi xuất hiện nhưng lại khác tên
gọi. Cái để chỉ cái khởi thủy của trời đất (“Thiên địa chi thủy”). Cái hữu để
chỉ mẹ của vạn vật (“Vạn vật chi mẫu”). Sở đạo sự thống nhất giữa hữu
mang đặc tính của các huyền hoặc Đạo sự tồn tại u ẩn hình, “cái trạng thái
không trạng thái (“ trạng chi trạng”), cái hình thái, dạng hình lại ảo (“vô
vật chi tượng”) đã “huyền hoặc lại càng thêm huyền” hoặc (“huyền chi hựu huyền”),
cái siêu kinh nghiệm không thể cảm nhận được. thế, th gọi vô. Nhưng
như vậy không nghĩa đạo cái đó tuyệt đối. Đạo tuy u ẩn hình nhưng
lại “kì trung hữu tượng” (bên trong hình ảnh), “kỳ trung hữu vật” (có hình thái hình
dạng trong đó), “kì trung hữu tinh” (bên trong chứa đựng cái tinh hoa hoàn
mỹ). Đó một sự tồn tại chân thật. thế cũng thể coi hữu. Hữu vô thống
nhất nhau đạo “đã huyền hoặc lại càng thêm huyền hoặc” như vậy thể từ cái
vô, rồi theo quan sát c dụng của đạo, nhận thức được cái đạo “Vạn vật trong thiên
hạ được sinh ra từ cái hữu cái hữu thì được sinh ra t cái vô”.
b. Đạo với đế, thần
Dưới con mắt người thời Ân, Chu, đế phần trên hết, sáng tạo ra vạn vật,
chúa tể của vạn vật, đôi khi còn gọi thượng đế hay thiên đế. Lão Tử đưa ra đạo
tổ tông của muôn loài, ông xếp để ới đạo cho rằng đạo trước, trên đế là thần.
Ông i: “Ngô bất tri thùy chi t tương đế chi tiên” (Nghĩa là: Ta đâu biết con là ai,
hình như trước thượng đế). Lão Tử còn chủ trương thánh nhân cũng cần phải trị
thiên hạ bằng đạo, chứ không nên dựa vào quỷ thần để trị thiên hạ. Lão Tử kiên
quyết phản đối điều y. Ông cho rằng nên “Vô vi nhi trị” theo các yêu cầu của đạo
để rồi từ đó làm cho thiên hạ ai cũng được sống bằng tính cách riêng của mình, sống
hòa thuận với nhau, làm cho hội phát triển tự nhiên. Trong lĩnh vực chính trị hội,
Lão Tử i trừ địa vị của thượng đế và qu thần.
c. Đạo đức
Đức của Lão Tử chính sự đảm bảo chắc chắn, cụ thể của đạo hình như
tượng. Trong cuộc sống của vạn vật trong trời đất ng như trong cuộc sống của con
người trong hội, đạo khi sản sinh ra vạn vật trong trời đất, tồn tại ngay bên trong
vạn vật trong trời đất được giữ lại trong vạn vật thúc đẩy tạo nên vạn vật, m cho vạn
vật tự mình sinh trưởng. Đó chính Đức. Ông nói: “Đạo sinh chi, Đức c chi,
trưởng chi dục chi, đình chi độc chi, cái chi phúc chi, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị,
trưởng nhi bất tể, thị vi huyền đức (Nghĩa là: đạo sinh ra nó, Đức chứa đựng nó, nuôi
dưỡng trưởng thành, nếu cản ngăn nó, làm hại , che đậy nó, lật úp nó, thì
sinh ra nhưng vẫn coi như không có, có đấy mà cũng không dựa được, lớn đấy
không chủ quản được. Đó Đức hồ huyền hoặc không thể tin được. Đức thể hiện
đạo, chứa đựng m cho vạn vật trưởng thành chứ không phải chỉ vậy thôi. Giữ
lại được vạn vật không thể dựa được, tạo nên được vạn vật hẳn hoi rồi không
chủ quản được. Tác dụng chứa đựng nuôi dưỡng đến trưởng thành của đức đối với vạn
vật đúng hết sức tự nhiên. Đó đặc điểm của Đức. Đức sâu nặng nhất cũng
chính thể hiện đạo một cách trọn vẹn theo bảng tính tự nhiên của nó. thế chỉ cần
quán triệt phổ biến tư tưởng đạo vào trong cuộc sống con người trong hội, thì Đức
cũng thật sự bao trùm lên hội.
Trong hội Đạo bị bỏ nước bị mất trung tính nhỏ bé mỏng manh thì mới
phải dựa o Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc, để ràng buộc con người, kết quả của thế tức
sẽ tranh cướp, chạy chọt tranh giành, cướp bóc lẫn nhau dẫn tới loạn lạc. Chính thế
Lão Tử vứt bỏ không thương tiếc các quy phạm luân đạo đức kiểu Nhân, Lễ, Nhạc,
Nghĩa. Ông cho rằng đó quyết không phải đạo cai trị lâu dài đảm bảo an ninh bền
vững. Ông đã chỉ ra: Ch thể dựa vào đạo, trọng Đức, để mọi vật phát triển tự nhiên
(tự nhiên vi) mới thể trường sinh cửu thị (tồn tại phát triển lâu dài, trong coi
quán xuyến được mãi) thiên hạ mới thái bình được.
Đạo là một bản thể hình danh, căn cứ tồn tại của muôn loài. vận
động không ngừng, biến hóa thành vạn vật tồn tại bên trong vạn vật. quy luật
căn cứ biến đổi vận động của vạn vật. Cái Đức được thể hiện biến đạo thành hiện
thực, dùng tự nhiên vô vi, thực sự quay lại với mức độ chân thật nhất. Đạo nguyên
tắc trị quốc gia. Cần phải trị một nước bằng đạo, vi nhi trị, mới thể đạt
được bền vững an dân. Đó chính là đạo luận của Lão Tử.
Từ thiên đạo (đạo trời), Lão Tử đã lần hồn nghiên cứu rồi quy định đạo. Tư duy
luận của ông đã ợt ra khỏi giới hạn của hội loài người, đi sâu vào nghiên cứu
bản thể của trụ. Chính điểm này đã làm cho ông th luận đạo từ mức độ cao của
bản thể luận. Đạo luận của Lão T không những mở ra các học phái của Đạo Gia,
còn ảnh hưởng sâu xa tới sự phát triển đạo luận của Đạo Nho cả nền triết học
Trung Quốc nữa.
4/ Những vấn đề nhận thức
Theo Trang Tử, Đạo đối tượng nhận thức cảm nhận của con người, đó
chỗ tận cùng của nhận thức. “Biết được hành động của trời biết được hành động
của người đó là biết đến ch tột ng vậy”. Con người thể nhận thức được bản thể
tối hậu không ? Trang Tử cho rằng nếu chỉ bằng nhận thức trí thông thường thì con
người không thể nhận thức được Đạo. Trí tuệ của con người bất lực trước l thâm sâu
huyền diệu của Đạo. Con người chỉ thể đạt tới lẽ cao cả của Đạo bằng tầng nhận
thức khác cao hơn, bằng sự cảm nhận, trực giác hay kinh nghiệm sống của chính bản
thân mình. Cái biết “thật biết” chỉ bậc thánh nhân, hiền triết “thật người” mới
đạt được. Như vậy khi n v khả ng nhận thức của con người. Trang Tử giới hạn
nhận thức lý trí và đề cao nhận thức tính chất trực giác siêu nghiệm. Ông chia ra
làm hai tầng nhận thức ta thường gọi bậc tiểu trí bậc đại trí. “Biết một cách
rộng rãi, bao quát đó là đại trí, biết một cách vụn vặt, chia lìa, đó tiểu trí”.
5/ Những vấn đề nhân sinh
Mục đích của triết học Trang Tử cứu đời, cứu người n ông cho rằng quan
trọng không phải sự triết lí suông về Đạo, thực hành bản thân cuộc sống theo
Đạo. Những vấn đề nhân sinh nằm ngay trong các vấn đề bản thể luận nhận thức
luận, chúng hoà lẫn o nhau. Cốt lõi tưởng về nhân sinh Trang T học thuyết
vi. Khái niệm “vô vi Trang Tử cũng có ba nội dung chính:
- Sống, tồn tại theo bản nh tự nhiên vốn của mình, không cần phải sự
tham gia tính chất hội vào nó.
- Thuận theo lẽ tự nhiên làm, hành động như thế “Làm không phải
mình làm”, làm đó không còn bị ràng buộc bởi ý chí, mục đích của con
người nữa, cũng giống như nóng sáng tính tự nhiên của lửa vốn như
thế, ta không thể ỡng ép không được nóng sáng.
- Làm cho mọi vật đều được tự do, bình đẳng, sống hành động theo bản tính
tự nhiên của chúng.
Quan điểm “vô vi” được biểu hiện cụ thể trong c vấn đề sống, chết, tự do
bình đẳng, hạnh phúc tuyệt đối. Theo Trang Tử, Đạo chỉ cái sống, đây ng lực
sống không sanh, t ; sanh tử những hình thức biến hoá thôi. Về mặt hình
thức thì sanh, tử luân biến hoá thay thế nhau, còn sống thì chỉ một khâu thay đổi
trong sự biến hoá của trụ, vượt qua giới hạn của sự sống, chết thông thường,
đạt tới sự giao hoà của vạn vật, thực sự chưa bao gi chết, bởi chưa bao giờ sống.
6/ tưởng triết học bản của Lão T
Học phái tưởng bàn v vấn đề hội: vi của Đạo gia
- Vi là không phải cái thụ động, bất động hay không hành động mà
nghĩa hành động theo bản tính tự nhiên của “Đạo”. Đạo đức của người Trung
Hoa cổ đại đã được Lão Tử phát triển n thành học thuyết về nghệ thuật sống
của người trong sự hòa nhập với t nhiên.
- vi là hoạt động một cách t nhiên, không làm trái với quy luật tự nhiên,
không can thiệp vào guồng máy của tự nhiên, không hoạt động tính giả tạo
ép, không thái quá và bất cập Ông viết Đạo thường không làm
không không làm, bậc hầu vương nếu gi được đạo, vạn vật sẽ tự nh
chuyển hóa… không ham muốn để được yên”. Nếu can thiệp vào guồng máy
tự nhiên sẽ mang lại những tai họa: “năm màu làm cho mờ mắt, năm giọng làm
cho điếc tai, năm vị làm cho miệng chán…”.
Như vậy, Lão Tử chủ trương hủy bỏ m nghệ, nghệ thuật, những sản
phẩm của văn minh. Lão tử để cho con người trở về với chất phác, không sa
đoạ, tranh nhau. “Vô Vi”, không chỉ sống tự nhiên thuần phát, không ham
muốn dục vọng còn không cần đến tri thức, n hóa, k thuật c sự tiến
bộ xã hội. Ông nói: Trí tuệ sinh dối trá .
- tưởng Vi còn chống lại những chuẩn mực đạo đức thể chế pháp luật.
Ông coi đó là sự áp đặt, cưỡng chế, can thiệp vào bản tính t nhiên của con
người. Còn tất c những 14 cái gọi là nhân, nghĩa, lễ, trí theo Lão T chỉ giả
tạo trái với t nhiên.
- Đạt tới Vi thể làm cho con người tuyệt vời. Họ luôn hòa mình vào
khoảng không nhưng vẫn biết dành cho người khác. Họ biết giảm ánh sáng của
mình để tràn vào bóng tối của người khác. Họ ngập ngừng như kẻ phải lội qua
sông trong mùa đông, lưỡng lự như kẻ e ngại người láng giềng, run rẩy như
tuyết sắp tan, giản dị như miếng gỗ chưa đẽo bất dạng như nước: “bậc toàn
thiện xưa tinh tế, nhiệm màu, siêu huyền thông suốt, sâu chẳng khả giò…thận
trọng như đường qua sông lạnh, do dự giường sợ bốn bên, nghiêm kính giường
khách lạ, chảy ra giường băng tan, quê mùa giường gỗ chưa đẽo gọt, pha lẫn
giường như nước đục”
Tài liệu ngoài:
- Trong “Minh triết phương Đông Triết học phương Tây” của Francois
Jullien, (NXB Đà Nẵng, 2004) đã phân tích, giải nghĩa cụm từ vi để người
đọc cách hiểu đúng đắn trong từng trường hợp cụ thể khi nói đến vi. Vô
cũng thực tại ,Vô vi không m ảo, không cần thượng đế hay tạo hóa giải
thích, không sự vượt siêu cũng như phép l đây.
- Trong Lão Tử Tinh Hoa” của Thu Giang Nguyễn Duy Cần (NXB Văn
học, 1991) đã đề cập 97 chữ vi. Vô của Lão Tử dục, tri, ưu,
đặc biệt những tưởng về chính trị về trị ớc, ởng về
Đạo..Vô vi được đề cập một cách sâu sắc xác đáng. vi hành động tr
về với cội nguồn, từ bỏ những phiền phức đa đoan của văn minh giả tạo, về
với thuần phác của tự nhiên. vi không phải không làm m một cách
kín đáo đem cái tự nhiên giúp một cách tự nhiên, không tâm, vị kỷ,
người thi ân không biết thi ân, người thọ ân không biết thọ ân. Bậc trị
nước dùng đến cái đạo vi dân không hay mình bị trị, nhiên được
thiên hạ, t mình cũng không bao giờ bị hại..
7/ Ảnh hưởng của Đạo gia đến hội Việt Nam xưa nay
Ý nghĩ của tưởng Trang Tử trong cuộc sống hiện nay: Qua quá trình khai
thác triết học nhân sinh của Trang Tử, tác giả đã đi u phân tích những luận điểm gợi
mở t tưởng của Trang Tử phù hợp với cuộc sống hiện tại như: Triết nhân sinh
của Trang Tử bức tranh phác họa về cuộc sống tôn trọng, bảo v a hợp với tự
nhiên; Triết nhân sinh của Trang Tử lời cảnh báo với những hành động thái quá
trong cuộc sống; Triết nhân sinh của Trang Tử đã gợi m một quan điểm dưỡng
sinh có ý nghĩa thiết thực; Triết nhân sinh của Trang Tử th đóng góp những ý
tưởng cho công cuộc nhân đạo hóa các hoạt động khoa học nghĩa, nghiên cứu, ứng
dụng).
Tiến Cung Thị Ngọc trong quá trình nghiên cứu, biên soạn cuốn sách đã
nhận định: “Ở Việt Nam, thể thấy, trong tâm hồn, tình cảm, tưởng của con người
truyền thống thường bao gồm bốn yếu tố: (1) Cái bản địa, (2) Nho, (3) Phật, (4) Đạo
(Đạo Lão - Trang Đạo giáo). Sự hòa quyện bốn yếu tố trên trong thế giới quan
truyền thống của người Việt một hiện tượng tưởng thực tế. Trên nền tảng Cái bản
địa, người Việt đã dần tiếp thu, kết hợp những yếu tố phù hợp của Nho, Phật, Đạo tạo
thành một thế giới quan hài hòa, dung hợp” (1).
Cuốn sách tưởng triết học của Trang Tử trong tác phẩm Nam Hoa Kinh
được Tiến Cung Thị Ngọc biên soạn với mong muốn giúp bạn đọc hiểu hơn về
tưởng triết học của Trang Tử. Trên s khảo cứu cuốn Trang T - Nam Hoa Kinh
tác giả đã phân tích hệ thống hóa tưởng triết học Trang Tử, mang lại cái nhìn
khách quan, đa chiều hơn cho độc giả đang nhu cầu nghiên cứu, tổng hợp. Hy vọng,
cuốn sách sẽ mang lại cho bạn đọc những trải nghiệm thú vị, không phải quá mới mẻ
nhưng lại rất sâu sắc.

Preview text:

1/ Đạo gia là gì? Lịch sử thành lập? Vài nét về Đạo gia và Đạo giáo
- Đạo gia là 1 trong 4 phái tư tưởng lớn của Trung Quốc thời Xuân Thu được
sáng lập bởi Lão Tử khoảng thế kỉ VI TCN. Học thuyết của ông được Dương
Chu và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít
nhiều khác nhau. những tư tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu
qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh.
- Lịch sử thành lập: Trong quá trình tan rã của chế độ nô lệ thị tộc, một bộ phận
của tầng lớp quý tộc nhỏ không chuyển biến kịp sang giai cấp địa chủ. Họ bị
hai thế lực Đại quý tộc và địa chủ mới uy hiếp, áp bức. Tư tưởng Đạo gia là
phản ánh tư tưởng, nguyện vọng của tầng lớp này.
- Đạo gia: Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về Đạo với những tư tưởng
biện chứng, cùng với học thuyết vô vi về lĩnh vực chính trị xã hội. Đạo là bản
nguyên của vạn vật. tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo.
Đạo là cái vô hình, hiện hữu là cái “có”; song Đạo và hiện hữu không thể tách
rời nhau. Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo. Đạo là
nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu. Nguyên lí ấy là Đạo pháp tự nhiên.
- Đạo giáo: Là hình thức kết hợp những hình thức mê tín dị đoan như cúng tế
quỷ thần, phù phép đồng bóng, bói toán,. . và học thuyết Đạo gia. Đến cuối thế
kỉ thứ II TCN Đạo giáo chính thức ra đời với 2 phái giáo: Đạo Thái Bình và Đạo Năm Đấu Gạo
2/ Người sáng lập (Lão Tử, Trang Tử)
Trang Tử được coi là nhà tư tưởng lớn trong trường phái Đạo gia. Ông là người
có đủ công mài giũa viên ngọc “Đạo” của Lão Tử để hiện lên đầy đủ vẻ lấp lánh
huyền hoặc của nó, vì thế người đời sau thường gọi chung là tư tưởng Lão – Trang.
Trang Tử tên thật là Quang Chu. Ông sinh vào khoảng những năm cuối thế kỉ thứ IV
tr. CN và mất vào những năm đầu của thế kỉ II tr. CN. Trang Tử là người có phong
cách sống ung dung, khoáng đạt và thản nhiên đến lạnh lùng trước mọi sự kiện diễn ra
ở đời. Quan điểm về “Đạo” và mối quan hệ đồng nhất của chúng được Trang Tử coi là
vấn đề cốt lõi của toàn bộ học thuyết của mình. Ông thường gọi ngắn gọn là “Đạo
sống”, “nguồn sống”, hoặc “sống chung”. Thực chất, đây là những vấn đề bản thể
luận, vũ trụ quan, chúng là nền tảng và quyết định đường lối triết học của ông. Tư
tưởng về Đạo ở Trang Tử có kế thừa các tư tưởng truyền thống ở Trung Quốc cổ,
nhưng cũng có những bước phát triển mới. Chúng ta có thể diễn đạt tư tưởng đó bằng các vấn đề sau:
+ Đạo là cái vô danh: Thiên “Tri bắc du”, Trang Tử viết: “Đạo chẳng có thể
nghe được, nghe được không còn phải là nó. Đạo cũng chẳng thể thấy được, thấy
được không còn phải là nó nữa. Có thể nào lấy trí mà hiểu được cái hình dung của cái
không hình dung được chăng? Vậy thì không nên đặt tên cho Đạo”. Ông cho rằng Đạo
là cái không thể diễn đạt bằng lời, cũng không thể gọi nó bằng một cái tên nào, nếu có
đặt tên cho nó thì chẳng qua là ước lệ, ý muốn chủ quan của con người mà thôi. Khi
đã gọi tên, định ra một tính chất, một nội dung nào đó thì đã xuyên tạc, bóp méo nó đi
rồi. Theo Trang Tử, Đạo là cái trống không, mơ hồ, hỗn độn. Nó nửa tồn tại, nửa
không tồn tại. Đạo vô danh không phải vì nó không có gì mà đó là một cái gì đó ở
trạng thái hỗn mang: “ở thì sâu thẳm, trông thì lạnh ngắt”, là cái không hình thù,
không bản sắc. Nó vượt khỏi mối liên hệ với không gian, thời gian, sinh tử. Nó không
phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà vĩnh viễn ra khỏi cả mối liên hệ giữa tồn tại và không
tồn tại, vì thế mà nó vô danh.
Về nguyên nhân của Đạo và năng lực của nó, Trang Tử viết: “Đạo tự bản, tự
căn, vốn tồn tại như xưa, khi chưa có trời đất, làm thiêng liêng quỷ thần, thượng đế
sinh ra đất, ở trước thái cực mà chẳng là sâu. Sinh trước trời đất mà chẳng là lâu, dài
hơn thượng cổ mà chẳng là già”. Quan điểm duy vật thể hiện rõ nét khi Trang Tử cho
Đạo là cái tự nhiên vốn có, không ai sinh ra nó mà tự bản, tự căn, vô cùng và vô hạn,
vậy Đạo là bản thể đầu tiên của vũ trụ, vạn vật nó tự nhiên, lạnh lùng trước ý chí của con người.
+ Đạo là cái vô thường: Đây là nội dung cốt lõi của Đạo ở Trang Tử. Đó là
cuộc biến hoá của vũ trụ, cuộc đại chuyển tiếp giữa vũ trụ và vạn vật. Theo Trang Tử
“vô thường” là trạng thái vận động biến hoá không ngừng của Đạo. Do cái “vô
thường” của Đạo mà mọi vật đều được sinh sinh, hoá hoá với các hình thức tồn tại
khác nhau, thể loại khác nhau, nhưng chúng đều là một quá trình sinh, tử để trở về
Đạo. ở đây, Trang Tử đã thể hiện vũ trụ quan đồng nhất giữa các bản thể tối hậu với
vạn vật. Ông thường gọi đó là “Đạo sống” hay nguyên khí: “Đạo là nguồn gốc sinh ra
vạn vật, nhưng nó lại tồn tại trong mỗi vật thể. Dù mỗi vật thể khác nhau về hình thức,
trạng thái, nhưng chúng đều có “tánh tự nhiên” của mình, chúng tồn tại, ràng buộc với
nhau một cách tự nhiên, biến hoá cũng tự nhiên. “Tánh tự nhiên” của mỗi vật là biểu
hiện của Đạo nhưng do Đạo tạo hoá khác nhau về số lượng mà “tánh tự nhiên” khác
nhau, đây cũng là lẽ tự nhiên không thể khác được.
+ Đạo là quy luật tự nhiên chi phối mọi sự vận động biến đổi của vũ trụ: Theo
Trang Tử, vạn vật thế giới vận động, biến hoá không lộn xộn, tuỳ tiện mà theo một trật
tự, một nguyên tắc nghiêm ngặt mà ông thường gọi là trời hay “tạo hoá”. Thế giới vạn
vật đều có sẵn một năng lực tự nhiên, đó là sức tự sinh, tự hoá bên trong. Chúng vận
động một cách tự thân không phụ thuộc vào thần linh, thượng đế, giống như sự thay
đổi bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trang Tử viết: “Vạn vật đều có một giống vậy,
lấy hình không đồng nhượng nhau, đầu cuối như cái vòng tròn, chẳng ai biết được đạo
thường của nó, thế mới là khuôn trời”. Quy luật tự nhiên ấy chi phối sự vận động theo
hướng nào ? Vì theo một “khuôn trời” định sẵn, nên sự vận động không ngừng và vô
cùng ở Trang Tử không phát triển đi lên, mà theo một vòng tròn khép kín không rõ
đầu cuối. Đạo dùng trời đất làm lò lớn rồi tự đứng ra làm phó cả để sắp đặt muôn vật,
chạm trổ các hình, muôn vật phân ra thành vạn hữu đi lại trở lại bản thể”. Rõ ràng là
Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xoá nhoà mọi ranh giới giữa tồn tại và không
tồn tại, vận động và đứng im, giữa chất và lượng để chỉ còn thấy tất cả đều là tương
đối, thoáng qua. Nhưng quy luật tự nhiên của ông lại có tính chất tuyệt đối, khuôn
mẫu và cứng nhắc, đối lập với tính tương đối của vạn vật. Đây là một mâu thuẫn trong
tư tưởng của ông. Chính mâu thuẫn này làm cho quy luật tự nhiên ở ông gần gũi với “Định mệnh”.
Vậy những quan niệm về Đạo của Trang Tử là những vấn đề bản thể luận và vũ
trụ quan của ông. Đó là quan niệm về một vũ trụ động, một vũ trụ “vừa sống vừa
chết”, “vừa chết vừa sống”. Một vũ trụ tự nhiên như thế, chứa đựng vạn vật đa dạng
phong phú nhưng đều chỉ là một, đều có nguồn gốc tự một cái tuyệt đối và duy nhất – Đạo.
+ Phép biện chứng tự phát: Trang Tử đã xem xét vũ trụ, tự nhiên bằng quan
điểm biện chứng mà nổi bật là sự vận động, biến đổi không ngừng của thế giới. Ông
cho rằng mọi sự vật có liên hệ khăng khít với nhau, luôn chuyển hóa, thay thế lẫn
nhau. “Vạn vật không đồng nhau, thế thì cái gì khiến nó liên lạc được với nhau?” và
“người cùng tạo vật hòa hợp làm một rồi thì đi đâu chẳng phải là mình?”. Vạn vật, con
người đều vận động, biến hoá theo quy luật tự nhiên, quy luật này như một vòng tròn
lưu chuyển vô cùng tận dưới sự tác động của Đạo. Tuy nhiên, Trang Tử đã bỏ quên
“Các mặt đối lập” trong bản thân sự vật như là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận
động. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa phép biện chứng của Trang Tử với phép
biện chứng của Lão Tử. Xoá nhoà mọi mâu thuẫn, đồng nhất hoàn toàn các mặt đối
lập, Trang Tử đã bỏ mất cái sinh động đầy sức sống của phép biện chứng, không đạt
tới được cái cốt tử của phép biện chứng, nên Trang Tử có khuynh hướng đi từ phép
biện chứng đến chủ nghĩa chiết trung, ngụy biện khi ông viết: “Phải cũng là một lẽ vô
cùng, trái cũng là một lẽ vô cùng cho nên nói rằng không có gì bằng lấy ánh sáng”.
Phép biện chứng của Trang Tử mang tính chất tự phát, nó không phải là một hệ thống
mà chỉ là những yếu tố tản mạn rời rạc. Nó chỉ dừng lại ở mặt hình thức, còn nội dung
thì lại mang tính chất ngụy biện, chủ nghĩa chiết trung. Những đặc điểm này đã dẫn
đến tính thần bí, huyền hoặc trong tư tưởng của ông.
Tư tưởng triết học Trang Tử nhìn từ tác phẩm Nam Hoa Kinh
Sống trong thời kỳ lịch sử có nhiều biến động dữ dội, Trang Tử được coi là nhà
tư tưởng lớn về đạo học trong triết học cổ Trung Quốc. Một người "thà chịu kéo lê cái
đuôi trong bùn" để giữ nhân cách và bản lĩnh, tâm hồn thanh sạch của mình giữa vô
vàn tạp loạn xã hội. Nhìn từ góc độ triết học, tư tưởng học hay văn học, Trang Tử hiện
ra đều thấy được sự phong phú nổi trội trong cách thức biểu hiện: một Đạo gia "phóng
nhiệm", "tài tử", "ngông" và đầy sáng tạo.
Đa số các học giả cho rằng bộ tác phẩm Trang Tử - Nam Hoa Kinh ra đời vào
thời Chiến Quốc. Cũng theo Hán thư Nghệ văn chí của Ban Cố (32-92), bộ Trang Tử -
Nam Hoa Kinh
có 52 thiên, nhưng do thất truyền nên hiện nay chỉ con 33 thiên. Tuy
nhiên, 33 thiên này không phải là bản gốc của bộ Trang Tử, mà còn chứa nhiều phần
san định của các thế hệ sau. Bộ Trang Tử - Nam Hoa Kinh được chia làm phần: Nội
thiên; Ngoại thiên và Tạp thiên. Trong đó, Nội thiên gồm 7 thiên; Ngoại thiên gồm 15
thiên; Tạp thiên gồm 11 thiên. Sự gợi mở trong cách cảm nhận về học thuyết của ông
khiến cho Nam Hoa Kinh giữ được khoảng trống sáng tạo cho nhiều thế hệ độc giả.
Mạch văn của Trang Tử rất được giới văn nghệ sĩ ưa chuộng. Tư tưởng triết học của
Trang Tử được thể hiện tập trung trong Nội thiên của tác phẩm Nam Hoa Kinh. Thông
qua một hệ thống ngụ ngôn với những ngôn từ giàu hình tượng, Trang Tử đã thể hiện
rất sinh động và khá hệ thống những quan niệm triết học của mình. Dưới bối cảnh xã
hội với nhiều biến động dữ dội, tư tưởng triết học của Trang Tử đã ra đời. Đây một
mặt được coi là sản phẩm của thời đại, nhưng mặt khác Nam Hoa Kinh cũng là sự kết
tinh trí tuệ, nét sáng tạo, độc đáo trong thế giới quan của Trang Tử.
Tư tưởng triết học Trang Tử được Việt hóa
Ngay từ những năm đầu công nguyên, các học thuyết triết học Trung Quốc
trong đó có tư tưởng triết học Trang Tử đã du nhập và có những ảnh hưởng nhất định
đến đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam. Khi mới được truyền hóa vào Việt Nam,
tư tưởng Lão - Trang chưa thực sự có ảnh hưởng đến cuộc sống của người Việt. Trong
thời kỳ đầu Bắc thuộc, Lão - Trang không có vai trò gì trên văn đàn chính trị và ảnh
hưởng của nó đối với các nho sĩ Việt Nam còn rất mờ nhạt. Qua quá trình được “Việt
hóa”, tư tưởng Lão - Trang đã từng bước ảnh hưởng đến tư tưởng của người Việt.
Trong việc tiếp thu tư tưởng Lão - Trang, người Việt đã chủ động sáng tạo tiếp thu
những yếu tố hợp lý, vận dụng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn của dân tộc mình. Một
số ảnh hưởng tiêu biểu của tư tưởng Trang Tử ở Việt Nam được Tiến sĩ Cung Thị
Ngọc phân tích trên các bình diện sau:
Trên bình diện tư tưởng và lối sống: Ban đầu, khi mới du nhập Việt Nam tư
tưởng Lão - Trang không mấy được quan tâm, thậm chí xuất hiện hết sức mờ nhạt, vì
lúc này Nho giáo đang được trọng dụng. Nhưng sau đó, với sự sáng tạo của người
Việt, nhất là các nho sĩ thời đó, tư tưởng Lão - Trang được bộ phận giới văn nho tiếp
nhận và dần lan rộng. Tư tưởng này đã giúp họ, khi gặp phải những hoàn cảnh bất trắc
trên con đường công danh, có được sự cân bằng trong tư tưởng, tâm hồn và tạo lập
một lối sống hài hòa, hữu ích, lạc quan, yêu đời. Tuy nhiên, thời điểm đó, với đại đa
số nhân dân do nhiều hoàn cảnh, nguyên nhân khác nhau nên sự ảnh hưởng của tư
tưởng Lão - Trang được thể hiện gián tiếp, không rõ nét.
Trên bình diện văn học: Đối với nhà văn, nhà thơ, thế giới quan và nhân sinh
quan có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các sáng tác của họ. Do ảnh hưởng của lịch
sử hơn 1000 năm Bắc thuộc, thế giới quan, nhân sinh quan của giới văn nghệ sĩ thời
bây giờ là một thể dung hợp bao gồm nhiều yếu tố, từ văn hóa bản địa đến Nho, Phật,
Đạo giáo. Tư tưởng Nho gia với vai trò là dòng chủ đạo, nhưng sự nghèo nàn, xơ cứng
của nó đã không thể kích thích sức sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ. Khi tư tưởng
Lão - Trang du nhập Việt Nam, từng bước thẩm thấu và lan tỏa sức ảnh hưởng của
mình đến nền văn học bản địa, đã góp phần tạo ra một khuynh hướng sáng tác phi
Nho. Nghĩa là, tư tưởng Lão - Trang đã không chỉ trở thành nguồn cảm hứng mới mẻ,
là nội dung tư tưởng của nhiều tác phẩm, mà nhiều điển tích, thuật ngữ của Trang Tử
cũng in dấu ngày một tỏ tường trong nghệ thuật thể hiện của những tác phẩm văn, thơ
thời ấy. Trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Cao Bá
Quát, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thì Nhậm,. . đều có xuất hiện những điển tích, thuật ngữ của Trang Tử.
3/ Nhân sinh quan của Đạo gia (Lão Tử, Trang Tử)
a. Quan hệ giữa đạo và khái niệm có, không
Trong kết cấu logic triết học của Lão Tử, đạo là một thể thống nhất của có và
không. Ông nói: “Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu. Cố thường vô
dục dĩ quan kỳ diệu. Thường hữu dục dĩ quan kỳ khiếu. Thử lưỡng giả đồng xuất nhị
dị danh. Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn” (Nghĩa là: cái
gọi là không (vô danh) là khởi thủy của trời đất, cái gọi là có (hữu danh) là mẹ đẻ của
vạn vật. Vì thế cái thường vô là muốn thấy được các kỳ diệu của nó, cái thường hữu là
muốn nhìn thấy các phạm vi của nó. Hai cái này cùng xuất hiện, nhưng lại khác tên
gọi. Cái cùng gọi là huyền hoặc cả, cái đã huyền hoặc lại càng thêm huyền hoặc, nơi
xuất phát của những điều kỳ diệu). Vô và hữu đều cùi xuất hiện nhưng lại khác tên
gọi. Cái vô là để chỉ cái khởi thủy của trời đất (“Thiên địa chi thủy”). Cái hữu là để
chỉ mẹ của vạn vật (“Vạn vật chi mẫu”). Sở dĩ đạo là sự thống nhất giữa vô và hữu vì
nó mang đặc tính của các huyền hoặc Đạo là sự tồn tại u ẩn vô hình, là “cái trạng thái
không có trạng thái (“vô trạng chi trạng”), cái hình thái, dạng hình là lại hư ảo (“vô
vật chi tượng”) đã “huyền hoặc lại càng thêm huyền” hoặc (“huyền chi hựu huyền”),
là cái siêu kinh nghiệm và không thể cảm nhận được. Vì thế, có thể gọi là vô. Nhưng
như vậy không có nghĩa đạo là cái gì đó hư vô tuyệt đối. Đạo tuy u ẩn vô hình nhưng
lại “kì trung hữu tượng” (bên trong có hình ảnh), “kỳ trung hữu vật” (có hình thái hình
dạng ở trong đó), “kì trung hữu tinh” (bên trong nó có chứa đựng cái tinh hoa hoàn
mỹ). Đó là một sự tồn tại chân thật. Vì thế cũng có thể coi là hữu. Hữu và vô thống
nhất nhau ở đạo “đã huyền hoặc lại càng thêm huyền hoặc” như vậy là có thể từ cái
vô, rồi theo quan sát tác dụng của đạo, nhận thức được cái đạo lý “Vạn vật trong thiên
hạ được sinh ra từ cái hữu mà cái hữu thì được sinh ra từ cái vô”.
b. Đạo với đế, thần
Dưới con mắt người thời Ân, Chu, đế là phần trên hết, sáng tạo ra vạn vật, là
chúa tể của vạn vật, đôi khi còn gọi là thượng đế hay là thiên đế. Lão Tử đưa ra đạo là
tổ tông của muôn loài, ông xếp để dưới đạo và cho rằng đạo ở trước, ở trên đế là thần.
Ông nói: “Ngô bất tri thùy chi tử tương đế chi tiên” (Nghĩa là: Ta đâu biết con là ai,
hình như có trước thượng đế). Lão Tử còn chủ trương thánh nhân cũng cần phải trị vì
thiên hạ bằng đạo, chứ không nên dựa vào quỷ thần để trị vì thiên hạ. Lão Tử kiên
quyết phản đối điều này. Ông cho rằng nên là “Vô vi nhi trị” theo các yêu cầu của đạo
để rồi từ đó làm cho thiên hạ ai cũng được sống bằng tính cách riêng của mình, sống
hòa thuận với nhau, làm cho xã hội phát triển tự nhiên. Trong lĩnh vực chính trị xã hội,
Lão Tử bài trừ địa vị của thượng đế và quỷ thần. c. Đạo đức
Đức của Lão Tử chính là sự đảm bảo chắc chắn, cụ thể của đạo là hình như
tượng. Trong cuộc sống của vạn vật trong trời đất cũng như trong cuộc sống của con
người trong xã hội, đạo khi sản sinh ra vạn vật trong trời đất, tồn tại ngay bên trong
vạn vật trong trời đất được giữ lại trong vạn vật thúc đẩy tạo nên vạn vật, làm cho vạn
vật tự mình sinh trưởng. Đó chính là Đức. Ông nói: “Đạo sinh chi, Đức súc chi,
trưởng chi dục chi, đình chi độc chi, cái chi phúc chi, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị,
trưởng nhi bất tể, thị vi huyền đức” (Nghĩa là: đạo sinh ra nó, Đức chứa đựng nó, nuôi
dưỡng nó trưởng thành, nếu cản ngăn nó, làm hại nó, che đậy nó, lật úp nó, thì dù có
sinh ra nhưng vẫn coi như không có, có đấy mà cũng không dựa được, có lớn đấy mà
không chủ quản được. Đó là Đức mơ hồ huyền hoặc không thể tin được. Đức thể hiện
đạo, chứa đựng và làm cho vạn vật trưởng thành chứ không phải chỉ có vậy thôi. Giữ
lại được vạn vật mà không thể dựa được, tạo nên được vạn vật hẳn hoi rồi mà không
chủ quản được. Tác dụng chứa đựng nuôi dưỡng đến trưởng thành của đức đối với vạn
vật là đúng và hết sức tự nhiên. Đó là đặc điểm của Đức. Đức sâu nặng nhất cũng
chính là thể hiện đạo một cách trọn vẹn theo bảng tính tự nhiên của nó. Vì thế chỉ cần
quán triệt phổ biến tư tưởng đạo vào trong cuộc sống con người trong xã hội, thì Đức
cũng thật sự bao trùm lên xã hội.
Trong xã hội mà Đạo bị bỏ nước bị mất trung tính nhỏ bé mỏng manh thì mới
phải dựa vào Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc, để ràng buộc con người, kết quả của nó thế tức
sẽ tranh cướp, chạy chọt tranh giành, cướp bóc lẫn nhau dẫn tới loạn lạc. Chính vì thế
Lão Tử vứt bỏ không thương tiếc các quy phạm luân lý đạo đức kiểu Nhân, Lễ, Nhạc,
Nghĩa. Ông cho rằng đó quyết không phải là đạo cai trị lâu dài đảm bảo an ninh bền
vững. Ông đã chỉ ra: Chỉ có thể dựa vào đạo, trọng Đức, để mọi vật phát triển tự nhiên
(tự nhiên vô vi) mới có thể trường sinh cửu thị (tồn tại và phát triển lâu dài, trong coi
quán xuyến được mãi) và thiên hạ mới thái bình được.
Đạo là một bản thể vô hình vô danh, là căn cứ tồn tại của muôn loài. Nó vận
động không ngừng, biến hóa thành vạn vật và tồn tại bên trong vạn vật. Là quy luật và
căn cứ biến đổi vận động của vạn vật. Cái Đức được thể hiện và biến đạo thành hiện
thực, dùng tự nhiên vô vi, thực sự quay lại với mức độ chân thật nhất. Đạo là nguyên
tắc trị vì quốc gia. Cần phải trị vì một nước bằng đạo, vô vi nhi trị, mới có thể đạt
được bền vững an dân. Đó chính là đạo luận của Lão Tử.
Từ thiên đạo (đạo trời), Lão Tử đã lần hồn nghiên cứu rồi quy định đạo. Tư duy
lý luận của ông đã vượt ra khỏi giới hạn của xã hội loài người, đi sâu vào nghiên cứu
bản thể của vũ trụ. Chính điểm này đã làm cho ông có thể luận đạo từ mức độ cao của
bản thể luận. Đạo luận của Lão Tử không những mở ra các học phái của Đạo Gia, mà
còn ảnh hưởng sâu xa tới sự phát triển đạo luận của Đạo Nho và cả nền triết học Trung Quốc nữa.
4/ Những vấn đề nhận thức
Theo Trang Tử, Đạo là đối tượng nhận thức và cảm nhận của con người, đó là
chỗ tận cùng của nhận thức. “Biết được hành động của trời và biết được hành động
của người đó là biết đến chỗ tột cùng vậy”. Con người có thể nhận thức được bản thể
tối hậu không ? Trang Tử cho rằng nếu chỉ bằng nhận thức lý trí thông thường thì con
người không thể nhận thức được Đạo. Trí tuệ của con người bất lực trước lẽ thâm sâu
và huyền diệu của Đạo. Con người chỉ có thể đạt tới lẽ cao cả của Đạo bằng tầng nhận
thức khác cao hơn, bằng sự cảm nhận, trực giác hay kinh nghiệm sống của chính bản
thân mình. Cái biết “thật là biết” chỉ có bậc thánh nhân, hiền triết “thật là người” mới
đạt được. Như vậy khi bàn về khả năng nhận thức của con người. Trang Tử giới hạn
nhận thức lý trí và đề cao nhận thức có tính chất trực giác siêu nghiệm. Ông chia ra
làm hai tầng nhận thức mà ta thường gọi là bậc tiểu trí và bậc đại trí. “Biết một cách
rộng rãi, bao quát đó là đại trí, biết một cách vụn vặt, chia lìa, đó là tiểu trí”.
5/ Những vấn đề nhân sinh
Mục đích của triết học Trang Tử là cứu đời, cứu người nên ông cho rằng quan
trọng không phải là sự triết lí suông về Đạo, mà là thực hành bản thân cuộc sống theo
Đạo. Những vấn đề nhân sinh nằm ngay trong các vấn đề bản thể luận và nhận thức
luận, chúng hoà lẫn vào nhau. Cốt lõi tư tưởng về nhân sinh ở Trang Tử là học thuyết
vô vi. Khái niệm “vô vi” ở Trang Tử cũng có ba nội dung chính:
- Sống, tồn tại theo bản tính tự nhiên vốn có của mình, không cần phải có sự
tham gia có tính chất xã hội vào nó.
- Thuận theo lẽ tự nhiên mà làm, hành động như thế là “Làm mà không phải
mình làm”, vì làm đó không còn bị ràng buộc bởi ý chí, mục đích của con
người nữa, cũng giống như nóng và sáng là tính tự nhiên của lửa nó vốn như
thế, ta không thể cưỡng ép nó không được nóng và sáng.
- Làm cho mọi vật đều được tự do, bình đẳng, sống và hành động theo bản tính tự nhiên của chúng.
Quan điểm “vô vi” được biểu hiện cụ thể trong các vấn đề sống, chết, tự do
bình đẳng, hạnh phúc tuyệt đối. Theo Trang Tử, Đạo chỉ là cái sống, đây là năng lực
sống không có sanh, tử ; sanh và tử là những hình thức biến hoá mà thôi. Về mặt hình
thức thì sanh, tử luân biến hoá thay thế nhau, còn sống thì chỉ là một khâu thay đổi
trong sự biến hoá của vũ trụ, nó vượt qua giới hạn của sự sống, chết thông thường, nó
đạt tới sự giao hoà của vạn vật, nó thực sự chưa bao giờ chết, bởi chưa bao giờ sống.
6/ Tư tưởng triết học cơ bản của Lão Tử
Học phái và tư tưởng bàn về vấn đề xã hội: Vô vi của Đạo gia
- Vô Vi là không phải là cái thụ động, bất động hay không hành động mà có
nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của “Đạo”. Đạo đức của người Trung
Hoa cổ đại đã được Lão Tử phát triển lên thành học thuyết về nghệ thuật sống
của người trong sự hòa nhập với tự nhiên.
- Vô vi là hoạt động một cách tự nhiên, không làm trái với quy luật tự nhiên,
không can thiệp vào guồng máy của tự nhiên, không hoạt động có tính giả tạo
gò ép, không thái quá và bất cập → Ông viết “Đạo thường không làm gì mà
không gì không làm, bậc hầu vương nếu giữ được đạo, vạn vật sẽ tự mình
chuyển hóa… không ham muốn để được yên”
. Nếu can thiệp vào guồng máy
tự nhiên sẽ mang lại những tai họa: “năm màu làm cho mờ mắt, năm giọng làm
cho điếc tai, năm vị làm cho miệng chán…”
.
→ Như vậy, Lão Tử chủ trương hủy bỏ mỹ nghệ, nghệ thuật, là những sản
phẩm của văn minh. Lão tử để cho con người trở về với chất phác, không sa
đoạ, tranh nhau. “Vô Vi”, không chỉ là sống tự nhiên thuần phát, không ham
muốn dục vọng mà còn không cần đến tri thức, văn hóa, kỹ thuật và cả sự tiến
bộ xã hội. Ông nói: “Trí tuệ sinh có dối trá ”.
- Tư tưởng Vô Vi còn chống lại những chuẩn mực đạo đức và thể chế pháp luật.
Ông coi đó là sự áp đặt, cưỡng chế, can thiệp vào bản tính tự nhiên của con
người. Còn tất cả những 14 cái gọi là nhân, nghĩa, lễ, trí theo Lão Tử chỉ là giả tạo trái với tự nhiên.
- Đạt tới Vô Vi có thể làm cho con người tuyệt vời. Họ luôn hòa mình vào
khoảng không nhưng vẫn biết dành cho người khác. Họ biết giảm ánh sáng của
mình để tràn vào bóng tối của người khác. Họ ngập ngừng như kẻ phải lội qua
sông trong mùa đông, lưỡng lự như kẻ e ngại người láng giềng, run rẩy như
tuyết sắp tan, giản dị như miếng gỗ chưa đẽo và bất dạng như nước: “bậc toàn
thiện xưa tinh tế, nhiệm màu, siêu huyền thông suốt, sâu chẳng khả giò…thận
trọng như đường qua sông lạnh, do dự giường sợ bốn bên, nghiêm kính giường
khách lạ, chảy ra giường băng tan, quê mùa giường gỗ chưa đẽo gọt, pha lẫn
giường như nước đục”
Tài liệu ngoài:
- Trong “Minh triết phương Đông và Triết học phương Tây” của Francois
Jullien, (NXB Đà Nẵng, 2004) đã phân tích, giải nghĩa cụm từ Vô vi để người
đọc có cách hiểu đúng đắn trong từng trường hợp cụ thể khi nói đến Vô vi. Vô
cũng là thực tại ,Vô vi không mờ ảo, không cần thượng đế hay tạo hóa giải
thích, không có sự vượt siêu cũng như phép lạ ở đây.
- Trong “ Lão Tử Tinh Hoa” của Thu Giang – Nguyễn Duy Cần (NXB Văn
học, 1991) đã đề cập 97 chữ Vô vi. Vô của Lão Tử là Vô dục, Vô tri, Vô ưu,
Vô tư…
Và đặc biệt những tư tưởng về chính trị về trị nước, tư tưởng về
Đạo. Vô vi được đề cập một cách sâu sắc và xác đáng. Vô vi là hành động trở
về với cội nguồn
, từ bỏ những gì phiền phức đa đoan của văn minh giả tạo, về
với thuần phác của tự nhiên. Vô vi không phải không làm gì mà làm một cách
kín đáo đem cái tự nhiên mà giúp một cách tự nhiên, không dư tâm, vị kỷ,
người thi ân không biết là thi ân, người thọ ân không biết là thọ ân. Bậc trị
nước mà dùng đến cái đạo Vô vi dân không hay là mình bị trị, dĩ nhiên được
thiên hạ, mà tự mình cũng không bao giờ bị hại.
7/ Ảnh hưởng của Đạo gia đến Xã hội Việt Nam xưa và nay
Ý nghĩ của tư tưởng Trang Tử trong cuộc sống hiện nay: Qua quá trình khai
thác triết học nhân sinh của Trang Tử, tác giả đã đi sâu phân tích những luận điểm gợi
mở từ tư tưởng của Trang Tử phù hợp với cuộc sống hiện tại như: Triết lý nhân sinh
của Trang Tử là bức tranh phác họa về cuộc sống tôn trọng, bảo vệ và hòa hợp với tự
nhiên; Triết lý nhân sinh của Trang Tử là lời cảnh báo với những hành động thái quá
trong cuộc sống; Triết lý nhân sinh của Trang Tử đã gợi mở một quan điểm dưỡng
sinh có ý nghĩa thiết thực; Triết lý nhân sinh của Trang Tử có thể đóng góp những ý
tưởng cho công cuộc nhân đạo hóa các hoạt động khoa học (ý nghĩa, nghiên cứu, ứng dụng).
Tiến sĩ Cung Thị Ngọc trong quá trình nghiên cứu, biên soạn cuốn sách đã
nhận định: “Ở Việt Nam, có thể thấy, trong tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người
truyền thống thường bao gồm bốn yếu tố: (1) Cái bản địa, (2) Nho, (3) Phật, (4) Đạo
(Đạo Lão - Trang và Đạo giáo). Sự hòa quyện bốn yếu tố trên trong thế giới quan
truyền thống của người Việt là một hiện tượng tư tưởng thực tế. Trên nền tảng Cái bản
địa, người Việt đã dần tiếp thu, kết hợp những yếu tố phù hợp của Nho, Phật, Đạo tạo
thành một thế giới quan hài hòa, dung hợp” (1).
Cuốn sách Tư tưởng triết học của Trang Tử trong tác phẩm Nam Hoa Kinh
được Tiến sĩ Cung Thị Ngọc biên soạn với mong muốn giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về tư
tưởng triết học của Trang Tử. Trên cơ sở khảo cứu cuốn Trang Tử - Nam Hoa Kinh
tác giả đã phân tích và hệ thống hóa tư tưởng triết học Trang Tử, mang lại cái nhìn
khách quan, đa chiều hơn cho độc giả đang có nhu cầu nghiên cứu, tổng hợp. Hy vọng,
cuốn sách sẽ mang lại cho bạn đọc những trải nghiệm thú vị, không phải quá mới mẻ nhưng lại rất sâu sắc.
Document Outline

  • 1/ Đạo gia là gì? Lịch sử thành lập? Vài nét về Đạ
  • 2/ Người sáng lập (Lão Tử, Trang Tử)
  • Tư tưởng triết học Trang Tử được Việt hóa
  • 3/ Nhân sinh quan của Đạo gia (Lão Tử, Trang Tử)
  • b.Đạo với đế, thần
  • c.Đạo đức
  • 4/ Những vấn đề nhận thức
  • 5/ Những vấn đề nhân sinh
  • 6/ Tư tưởng triết học cơ bản của Lão Tử
  • Tài liệu ngoài:
  • 7/ Ảnh hưởng của Đạo gia đến Xã hội Việt Nam xưa v