Tong hop cau hoi tu luan thi cuoi ky tu tuong ho chi minh
truong dai h 76340
Tư tưởng HCM (Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh)
Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Tong hop cau hoi tu luan thi cuoi ky tu tuong ho chi minh
truong dai h 76340
Tư tưởng HCM (Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh)
Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Thi cuối kỳ
1. Tại sao nói sự ra đời của TTHCM là một tất yếu lịch sử ?
Bối cảnh Việt Nam cuối 19 – đầu 20:
HCM sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước và thế giới có nhiều biến động.
Chính quyền nhà Nguyễn vào thời điểm này từng bước khuất phục tư bản Pháp. Triều
đình liên tiếp thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động… Việc này
hoàn toàn chặn đứng hội tiếp xúc bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Cùng
với đó, điều này cũng khiến Việt Nam không thể phát huy được thế mạnh của dân tộc
nhằm chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
Sau khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà
(Đà Nẵng) vào năm 1858, chính quyền nhà Nguyễn hầu như hoàn toàn bất lực lần
lượt kết các hiệp ước: Nhâm Tuấn (1862), Giáp Tuất (1874), Harmand (1883)
cuối cùng Hiệp ước Patenôtre (1884). Hiệp ước sau cùng tại kinh thành Huế đã
chuyển giao toàn bộ quyền hành, lãnh thổ vào tay thực dân Phápthừa nhận sự bảo
hộ của chủ nghĩa thực dân.
Sau khi bình định xong, thực dân Pháp đã biến Việt Nam từ một nước phong kiến độc
lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Chính sách khai thác thuộc địa đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc và
xuất hiện 2 mâu thuẫn cơ bản: mẫu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc. Điều này làm
cho dân ta rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, tạo tiền đề bên trong cho phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX.
Cuối thế kỉ XIX, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi ra chiếu “Cần Vương”
làm bùng lên các cuộc khởi nghĩa trang do các văn thân, sỹ phu lãnh đạo: Phạm
Bành, Đinh Công Tráng (Khởi nghĩa Ba Đình), Nguyễn Thiện Thuật (Khởi nghĩa Bãi
Sậy), Phan Đình Phùng (Khởi nghĩa Hương Khê) Hoàng Hoa Thám (Khởi nghĩa
Yên Thế)... Sự thất bại của phong trào Cần Vương đã chấm dứt một thời đấu tranh
yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến.
Đầu thế kỉ XX, chịu ảnh hưởng bởi các cuộc cách mạngsản (Minh Trị - Nhật Bản,
Tân Hợi Trung Quốc, cách mạng sản Anh 1640, Mỹ 1776, Pháp 1789), phong
trào đấu tranh yêu nước của Việt Nam lúc này mang màu sắc mới theotưởng hệ
sản. Tiêu biểu Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… nhưng tất cả
đều thất bại. Lúc này phong trào yêu nước Việt Nam lâm vào cảnh khó khăn, khủng
hoảng về con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc nhằm thoát khỏi chủ nghĩa thực
dân, giành độc lập dân tộc.
Bối cảnh Thế Giới cuối 19 – đầu 20:
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã phát triển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Một số nước đế quốc Anh, Pháp,
Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Đức, Nga, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, v.v… đã chi phối
toàn bộ tình hình thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh đã
trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các nước đế quốc.
Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản là mâu
thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở các nước tư bản; mâu thuẫn giữa các nước
đế quốc với nhau; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế
quốc. Sang đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn này ngày càng phát triển gay gắt. Giành độc
lập cho các dân tộc thuộc địa không chỉ là đòi hỏi của riêng họ, mà còn là mong muốn
chung của giai cấp vô sản quốc tế; tình hình đó đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới phát triển.
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin
ở một nước lớn rộng một phần sáu thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đánh đổ giai
cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên một xã hội mới – xã hội xã hội chủ
nghĩa. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi mở ra con đường giải phóng cho các dân
tộc bị áp bức và cả loài người, mở ra một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Ngày 2-3-1919, Quốc tế Cộng sản ra đời ở Mátxcơva. Dưới sự lãnh đạo của Lênin, Quốc
tế Cộng sản đẩy mạnh việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm Cách mạng
Tháng Mười Nga ra khắp thế giới, thúc đẩy sự ra đời và hoạt động ngày càng mạnh mẽ
của các đảng cộng sản ở nhiều nước.
Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, sự ra đời của nhà nước Xô viết và Quốc tế Cộng
sản cùng với sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí Minh trên hành trình đi ra thế
giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước mới
Kết luận: => Sự ra đời của TTHCM đã giải quyết được những vấn đề mà CM Việt Nam đặt
ra và nó phù hợp với xu thế của CM thế giới vì vậy nó là một tất yếu
Câu 2.Nêu những tiền đề tưởng luận hình thành tưởng
HCM? Trong những tiền đề đó, tiền đề nào quan trọng nhất, quyết
định bản chất TTHCM
1. Giá trị truyền thống của dân tộc VN
yêu nước
Bất khuất
Đoàn kết
Nhân nghĩa
Lạc quan
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam. Đó là động lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại vượt qua mọi
khó khăn trong dựng nước và giữ nước mà phát triển. Chính chủ nghĩa yêu nước là
nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường
cứu nước, và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất vì
độc lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ
của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh
trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả
tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” .
Không có gì quý hơn độc lập tự do - chân lý lớn của thời đại được Hồ Chí Minh
khẳng định, đồng thời cũng chính là một điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh hết
sức chú trọng kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam là yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, dân chủ, nhân ái, khoan
dung trong cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bang; tinh thần cần cù, dũng
cảm, sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của cách
mạng; nước lấy dân làm gốc; gốc có vững cây mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền
nhân dân; đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc chiến lược
quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch sử, trân
trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt đẹp khác của
dân tộc. Đó chính là một cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất của nhà văn hóa
kiệt xuất Hồ Chí Minh với chủ trương văn hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng;
cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,
xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam. Chính Hồ Chí Minh là một biểu tượng cao
đẹp của sự tích hợp tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây.
2. Tinh hoa văn hoá nhân loại
Tinh hoá văn hoá phương Đông
Về Nho giáo: Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình nhà Nho yêu nước, từ rất sớm đã
chịu ảnh hưởng của Nho học từ người cha và nhiều nhà Nho yêu nước ở quê hương.
Người tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo như: Triết lý hành động, tư tưởng
nhập thế, hành đạo giúp đời, là khát vọng về một xã hội đại đồng, là hòa mục, hòa
đồng, là triết lý nhân sinh tu thân dưỡng tính, đề cao văn hóa, lễ giáo, hiếu học và
Người đã phê phán loại bỏ những yếu tố tiêu cực và thủ cựu của nó.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Về Phật giáo: Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc những tư tưởng tốt
đẹp của Phập giáo như: vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể
thương thân, nếp sống đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo việc thiện, ca ngợi lao
động, phê phán lười biếng, chủ trương gắn bó với dân, với nước.
Khi trở thành người mác xít, Hồ Chí Minh chú ý tìm hiểu chủ nghĩa “Tam Dân” (dân
tộc độc lập; dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của Tôn Trung Sơn, vì thấy trong
đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”.
Tinh hoa văn hoá phương Tây
Cùng với tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn tiếp thu nền văn hóa dân
chủ và cách mạng của phương Tây. Người chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng tự do,
bình đẳng trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, năm 1776 và Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của Đại Cách mạng Pháp, năm 1791.
2. Triết học Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác Lênin sở thế giới quan phương pháp luận của
tưởng Hồ Chí Minh. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin trên nền tảng
những tri thức văn hóa tinh túy của nhân loại cùng với sự hiểu biết chính trị
phong phú được tích lũy qua hoạt động thực tiễn đấu tranh mục tiêu cứu
nước, giải phóng dân tộc của chính mình.
Từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đi vào nghiên
cứu chủ nghĩa Mác. Người tiếp thu luận Mác Lênin theo phương pháp
macxít, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Người vận dụng lập trường, quan
điểm, phương pháp biện chứng của Chủ nghĩa Mác Lênin để giải quyết
những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết
luận có sẵn trong sách vở.
Như vậy, chính thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
đã giúp Hồ Chí Minh vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của
mình để từ đó tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ta.
Trong các tiền đề trên chủ nghĩa Mác- Lê nin là tiền đề quan trọng nhất là vì: Chủ nghĩa
Mác- Lê nin là thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, là chủ nghĩa
chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất, giúp cho việc phát triển các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại có định hướng khoa học và
cách mạng đúng đắn. Tinh hoa văn hóa nhân loại làm phong phú và sâu sắc thêm chủ nghĩa
yêu nước và tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ
Chí Minh vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình để từ đó tìm ra con
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
đường cứu nước, giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản; cùng với quy luật cách
mạng Việt Nam là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”
Câu 3:Từ tư tưởng phê bình và tự phê bình của Hồ Chí Minh. Anh/Chị
hãy liên hệ với việc chỉnh đốn hoàn thiện nhân cách của bản thân
TTHCM về tự phê bình và phê bình /131
Tự phê bình và phê bình. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên,
“như mỗi ngày phải rửa mặt” . Người viết trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ
rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố
sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng” . Người cho rằng, tự phê bình và phê bình là “thang
thuốc” tốt nhất để làm cho phần tốt trong mỗi tổ chức và mỗi con người nẩy nở như hoa mùa
xuân và phần xấu bị mất dần đi; tự phê bình và phê bình phải trung thực, kiên quyết, đúng
người, đúng việc, phải có văn hóa…Trong Đảng, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn
nhau” .
Liên hệ bản thân
Trong 1 tập thể chỉ ra lỗi sai góp ý lỗi sai của thành viên để cùng sửa chữa và giúp tập thể
cùng hoàn thiện công việc chung. Nhận lỗi của bản thân tuqj kiểm điểm nhận lỗi và tìm cách
khắc phục lỗi sai để không làm ảnh hưởng đến tập thể. Cần nêu cao tinh thần tự giác, dám
nhận lỗi, tập cách tự tin dám nói trước đám đông, Khắc phục được tâm lý tự ti, sợ bị trù dập
nên không dám phê bình người khác
3. Từ tư tưởng giữ gìn bản sắc dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân
loại/210
TTHCM
Về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại. Bản sắc văn hóa dân tộc là
những giá trị văn hóa bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là thành quả của quá
trình lao động, sản xuất, chiến đấu và giao lưu của con người Việt Nam.
Bản sắc văn hóa dân tộc được nhìn nhận qua hai lớp quan hệ. Về nội dung, đó là lòng yêu
nước, thương nòi; tinh thần độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc... Về hình thức, cốt cách văn hóa
dân tộc biểu hiện ở ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống, cách cảm và nghĩ...
Bản sắc văn hóa dân tộc chứa đựng giá trị lớn và có một ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nó phản ánh những nét độc đáo, đặc tính dân tộc. Nó là ngọn
nguồn đi tới chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh nói rằng, âm nhạc dân tộc ta rất độc đáo,
phải khai thác và phát triển lên; rằng, những người cộng sản chúng ta rất quý trọng cổ điển,
có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ những ngọn nguồn cổ điển đó; vì vậy, trách nhiệm của con
người Việt Nam là phải trân trọng, khai thác, giữ gìn, phát huy, phát triển những giá trị của
văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Theo
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Người, “dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”; “càng thấm nhuần
chủ nghĩa Mác-Lênin càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”. “Mỗi dân
tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”. Chăm lo cốt cách dân tộc, đồng
thời cần triệt để tẩy trừ mọi di hại thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc, tôn
trọng phong tục tập quán, văn hóa của các dân tộc ít người.
Trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tiếp
biến văn hóa (tiếp nhận và biến đổi) là một quy luật của văn hóa. Theo Hồ Chí Minh, “văn
hóa Việt Nam ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại...
Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam.
Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam
thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ” .
Hồ Chí Minh chú trọng chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Trao đổi với một nhà văn Liên
Xô, Người nhấn mạnh rằng “các bạn chớ hiểu là tôi cho rằng chúng tôi cần dứt bỏ văn hóa
nào đó, dù là văn hóa Pháp đi nữa. Ngược lại, tôi muốn nói điều khác. Nói đến việc mở rộng
kiến thức của mình về văn hóa thế giới, mà đặc biệt hiện nay là văn hóa Xôviết - chúng tôi
thiếu - nhưng đồng thời tránh nguy cơ trở thành kẻ bắt chước... Văn hóa của các dân tộc khác
cần phải được nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể được nhiều hơn
cho văn hóa của chính mình” . Nhận diện về hiện tượng văn hóa Hồ Chí Minh, một nhà báo
Mỹ viết: “Cụ Hồ không phải là một người dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi, mà cụ là một người yêu
mến văn hóa Pháp trong khi chống thực dân Pháp, một con người biết coi trọng những truyền
thống cách mạng Mỹ trong khi Mỹ phá hoại đất nước cụ” .
Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích tiếp thu văn hóa nhân loại là để làm giàu cho văn hóa Việt
Nam, xây dựng văn hóa Việt Nam hợp với tinh thần dân chủ. Nội dung tiếp thu là toàn diện
bao gồm Đông, Tây, kim, cổ, tất cả các mặt, các khía cạnh. Tiêu chí tiếp thu là có cái gì hay,
cái gì tốt là ta học lấy. Mối quan hệ giữa giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc và tiếp thu văn hóa
nhân loại là phải lấy văn hóa dân tộc làm gốc, đó là điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân
loại.
Liên hệ
Đấu tranh xóa bỏ các tư tưởng lạc hậu Trọng nam khinh nữ, mê tín dị đoan, phải có
con trai nối dõi. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt không lạm dụng tiếng nước
ngoài. Học hỏi, bảo vệ về lịch sử bản sắc văn hóa dân tộc như giữ gìn nhạc cụ dân
tộc, giữ gìn nét đẹp của áo dài, tinh thần yêu nước, bất khuất, đoàn kết. Đưa văn hóa,
hình ảnh của người Việt Nam đến các bạn quốc tế
4. Từ tư tưởng Cần, kiệm, liêm chính của HCM liên hệ rèn luyện đạo
đức
TTHCM
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng, đó là phẩm
chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi người. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
cập phẩm chất này nhiều nhất, thường xuyên nhất, phản ánh ngay từ cuốn sách Đường cách
mệnh đến bản Di chúc cuối đời.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không
bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay
ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho
nước cho dân”. Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là một biểu
hiện cụ thể của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”.
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” cũng là những khái niệm cũ trong đạo đức truyền
thống dân tộc, được Hồ Chí Minh lọc bỏ những nội dung không phù hợp và đưa vào những
nội dung mới đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
“Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai” . “Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả
hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc” . Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao
động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không
lười biếng. Phải thấy rõ, “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc
của chúng ta” .
“Kiệm là thế nào? Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Kiệm tức là
tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân
mình; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù. “Tiết kiệm không phải là
bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm,
việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui
lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là
kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ” . “Cần với kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai
chân của con người” . Hồ Chí Minh yêu cầu “Phải cần kiệm xây dựng nước nhà” .
Liêm “là trong sạch, không tham lam” ; là liêm khiết, “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công,
của dân”, “Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không
ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có
một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng
như chữ Kiệm phải đi với chữ Cần. Có Kiệm mới Liêm được”.
“Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng
thắn, tức là tà” . Chính được thể hiện rõ trong ba mối quan hệ: “Đối với mình - Chớ tự kiêu,
tự đại”. “Đối với người:… Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải
chân thành, khiêm tốn,… Phải thực hành chữ Bác – Ái” . “Đối với việc: Phải để công việc
nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”; “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù
nhỏ mấy cũng tránh” .
Hồ Chí Minh cho rằng, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau, ai
cũng phải thực hiện, song cán bộ, đảng viên phải là người thực hành trước để làm kiểu mẫu
cho dân. Người thường nhắc nhở cán bộ, công chức, những người trong các công sở đều có
nhiều hoặc ít quyền hạn. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại,
biến thành sâu mọt của dân.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Chí công vô tư là hoàn toàn vì lợi ích chung, không vì tư lợi; là hết sức công bằng, không
chút thiên tư, thiên vị, công tâm, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc lên trên
hết, trước hết; chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Chí công vô
tư là chống chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với
việc” ; “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước,… khi hưởng thụ thì mình nên
đi sau” .
Chí công vô tư về thực chất là sự tiếp nối cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích: “Trước
nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to
hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công
vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân” .
Liên hệ
Cần: Chăm chỉ trau dồi kiến thức từ việc học qua sách vở sách vở rèn luyện kỹ năng mềm đi
làm thêm để có thêm kinh nghiệm, khi gặp kiến thức mới kiên trì không bỏ cuộc để đạt được,
không ngại khó.
Kiệm: tiết kiệm thời gian không sử dụng thời gian lãng phí vào việc chơi game thay vào đó
em dùng thời gian đọc sách, trải nghiệm trau dồi thêm kiến thức
Liêm: trong sạch trong học thuật khi tham gia các bài kiểm tra các kỳ thi không quay cóp.
Không làm việc xấu chỉ vì đồng tiền
Chính: Khiêm tốn và không khinh thường với những người nhỏ tuổi hơn, trong mối quan hệ
luôn duy trì sự chân thành. Khi làm việc sai tự nhận lỗi biết xin lỗi và sẵn sàng nghe góp ý và
tự sửa lỗi của bản thân.
Chí công, vô tư: Chí công là tính từ chỉ sự công bằng không một chút thiên vị. Vô tư thể hiện
thái độ đường đường chính chính, làm việc ngay thẳng, phân minh, không một chút tư tâm
5. Sáng tạo là gì? Hãy phân tích 1 luận điểm có tính sáng tạo trong
TTHCM
Định nghĩa:
Quá trình hoạt động của con người, tạo nên những giả trị tinh thần và vật chất mới về chất.
Sáng tạo là khả nặng nảy sinh trong lao động của con người nhằm tạo nên từ vật liệu do hiện
thực cung cấp (trên cơ sở nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan) một thực tại
mới thỏa mãn được các nhu cầu đa dạng xã hội. Các hình thức sáng tạo được quy định bởi
tính chất của hoạt động có tính chất xây dựng (sự sáng tạo của người phát minh, của người tổ
chức, sự sáng tạo khoa học và nghệ thuật,…)
Phân tích một luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh
Luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Sự ra đời của ĐCS phản ánh cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đến thời kỳ tự giác. ĐCS
là sản phảm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân. Lý luận về
tính tất yếu của sự kết hợp ấy đã được đề ra trong học thuyết Mac-Lênin. Song, trong mỗi
nước, sự kết hợp ấy lại là một sản phẩm của lịch sử, lại được thực hiện bằng con đường riêng
biệt, tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian.
- Thứ nhất, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác -
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Học thuyết Mác - Lênin
khẳng định rằng, Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân. Quy luật chung này được đồng chí Nguyễn ái Quốc vận dụng sáng tạo
vào điều kiện Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn ít về số lượng, nhưng người vô sản bị áp
bức, bóc lột thì đồng. Sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nông và phong
trào yêu nước dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. Muốn xây dựng Đảng vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải coi trọng đầy đủ cả ba yếu tố trên.
- Thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự phát triền cao và thống nhất của
phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng ta là con đẻ của phong trào cách mạng
của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động và trưởng thành thông qua đấu tranh chống
đế quốc, chống phong kiến. Muốn củng cố và phát triển Đảng, đòi hỏi phải củng cố và phát
triển phong trào cách mạng của quần chúng. Đảng mật thiết liên hệ với quần chúng, hướng
dẫn, lãnh đạo phong trào quần chúng, thông qua thực tiễn phong trào cách mạng mà củng cố
và phát triển Đảng.
- Thứ ba, phong trào công nhân kết hợp phong trào nông dân. Đầu tk XX nông dân chiếm
90% dân số, công nhân xuất thân từ nông dân. Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân hợp
thành quân chủ lực của Cách mạng
- Thứ tư, phong trào yêu nước của trí thức VN là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các
yếu tố cho sự ra đời ĐCSVN. Trí thức VN:
+ Số lượng không nhiều nhưng là “ngòi nổ” cho phong trào chống Pháp.
+ Thúc đẩy sự canh tân chấn hưng đất nước.
+ Là người lãnh đạo của các tổ chức yêu nước.
+ Nhạy cảm thời cuộc, chủ động đón nhận “luồng gió mới”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những sáng tạo trong việc kết hợp yếu tố dân tộc (chủ nghĩa dân
tộc và phong trào yêu nước) và yếu tố giai cấp (Chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công
nhân) để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kết hợp thành công yếu tố dân tộc và yếu tố
giai cấp trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một sáng tạo lớn, một thành công
lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin
trong hoàn cảnh thực tiễn cách mạng Việt Nam. Sự sáng tạo ấy không chỉ là nhân tố quan
trọng dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn góp phần làm phong phú thêm
kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về sự ra đời của đảng cộng sản ở các nước thuộc
địa, kém phát triển.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Nêu những luận điểm cơ bản của HCM về cách mạng giải phóng dân tộc và
hãy phân tích 1 luận điểm mang tính sáng tạo trong những luận điểm nêu
trên
Năm luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
- Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
- Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng
cộng sản lãnh đạo.
- Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh
công - nông làm nền tảng.
- Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước
cách mạng vô sản ở chính quốc.
- Cách mạng giải phóng dân tộc chỉ được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng.
Trong năm luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, luận điểm
“Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước
cách mạng vô sản ở chính quốc” là luận điểm thể hiện cao nhất sự sáng tạo lý luận của
Người.
Phân tích luận điểm có tính sáng tạo của Hồ Chí Minh
a) Quan điểm của Quốc tế cộng sản về cách mạng thuộc địa (cách mạng giải phóng dân
tộc).
Do chưa đánh giá hết tiềm lực và khả năng to lớn của cách mạng thuộc địa nên Quốc tế cộng
sản có lúc xem nhẹ vai trò của cách mạng thuộc địa, coi cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào
cách mạng vô sản ở chính quốc. Đại hội VI Quốc tế cộng sản năm 1928 đã thông qua Những
luận cương về phong trào cách mạng trong các nước thuộc địa và nữa thuộc địa, trong đó có
đoạn viết rằng: chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi
giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến. Quan điểm này có tác động
không tốt, làm giảm đi tính chủ động, sáng tạo của nhân dân các nước thuộc địa trong công
cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc. Quán triệt tư tưởng của
V.I.Lênin về mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải
phóng dân tộc thuộc địa, từ rất sớm Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ khắng khít, tác động
qua lại lẫn nhau giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc - mối quan hệ
bình đẳng, không lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau. Năm1924, tại Đại hội V của Quốc tế cộng
sản, Người nói: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp
vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các
thuộc địa”1 . Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) , Người cũng viết: “Chủ
nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng
thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút
máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”2 . Là
một người dân thuộc địa, là người cộng sản và là người nghiên cứu rất kỹ về chủ nghĩa đế
quốc,
b) Quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh cho rằng: cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng
vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước. Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu
nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực
dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một
trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ
những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
Luận điểm sáng tạo trên của Hồ Chí Minh dựa trên các cơ sở sau:
Thuộc địa có một vị trí,vai trò, tầm quan trọng đặc biệt đối với chủ nghĩa đế quốc, là nơi duy
trì sự tồn tại, phát triển, là món mồi “béo bở” cho chủ nghĩa đế quốc nhưng lại là khâu yếu
nhất trong hệ thống các nước đế quốc. Cho nên, cách mạng ở thuộc địa sẽ có khả năng nổ ra
và thắng lợi .
Tinh thần đấu tranh cách mạng hết sức quyết liệt của các dân tộc thuộc địa, mà theo Người nó
sẽ bùng lên mạnh mẽ, hình thành một “lực lượng khổng lồ” khi được tập hợp, hướng dẫn và
giác ngộ cách mạng.
Căn cứ vào luận điểm của C.Mác về khả năng tự giải phóng của giai cấp công nhân, trong
Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, khi kêu gọi các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh
giành quyền độc lập dân tộc, Người viết: “Hỡi anh em ở các thuộc địa…Anh em phải làm thế
nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em
rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nổ lực của bản thân anh
em” .
Chứng minh: Với thực tiễn thắng lợi năm 1945 ở Việt Nam cũng như phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới đã thành công vào những năm 60, trong khi cách mạng vô sản ở chính
quốc chưa nổ ra và thắng lợi, càng chứng minh luận điểm trên của Hồ Chí Minh là độc đáo,
sáng tạo, có giá trị lí luận và thực tiễn to lớn.
STUDOCU:
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Trình bày khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Ý nghĩa học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
TRẢ LỜI:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, là tài sản tinh thần
vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, là nền tảng tư tưởng là kim chỉ nam hành
động của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính khoa học đúng đắn, tính cách mạng sáng
tạo chỉ dẫn cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng Hồ Chí
Minh vẫn được vận dụng sáng tạo cho đến ngày nay.
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh
1.1. Khái niệm tư tưởng
- Hiểu theo nghĩa phổ thông, tư tưởng là sự phản ánh hiện
thực vào ý thức, ý nghĩ của mỗi người.
- Khái niệm “tư tưởng” trong “Tư tưởng Hồ Chí Minh” không phải dùng với nghĩa tinh thần -
tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống
những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và
phương pháp luận (nền tảng triết học) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một
giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt
động thực tiễn, cải tạo hiện thực.
1.2 Khái niêm “nhà tư tưởng”
- Theo từ điển tiếng Việt, “nhà tư tưởng” là những người có những tư tưởng triết học sâu sắc.
Lênin cũng đã lưu ý rằng: Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyết trước
người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về t? chức, về những yếu tố
vật chất của phong trào không phải một cách tự phát.
→Với hai khái niệm trên chúng ta có thể khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thực
thụ và tư tưởng của Người có vị trí, vai trò và tầm quan trọng to lớn đối với sự nghiệp cách
mạng của dân tộc.
1.3. Khái niêm tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu ở tầm khái quát cao, là hệ thống những
luận điểm,
học thuyết chủ nghĩa được hình thành từ bộ phận đến chỉnh thể thống
nhất.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đánh dấu một cột mốc
quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đã
khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nèn tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001) và Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (1/2011) xác định khá toàn diện và
có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ
Chí Minh.
- “Tương tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toan diện va sâu sắc
về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng va phát triển
sáng tạo chủ nghĩa.
Mác – Lênin vao điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa va phát triển các
giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; la tai sản
tinh thần vô cùng
to lớn va quý giá của Đảng va dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự
nghiệp cách mạng của
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
nhân dân ta gianh thắng lợi “.
- Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:
+ Một là bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí
Minh: Hệ thống
quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản, những vấn đề có
tính quy luật của cách
mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lênin là nền
tảng tư tưởng, kim
chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc.
+Hai là nguồn gốc tư tưởng lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: chủ nghĩa
Mác – Lênin, giá trị văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại.
+ Ba là giá trị ý nghĩa, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: tài sản
tinh thần to lớn của Đảng, dân tộc, mãi soi đường cho sự nghiệp cách
mạng của nhân ta giành thắng lợi
- Dù định nghĩa theo cách nào, thì tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn
nhân với tư cách là một hệ thống lý luận.Hiện đang tồn tại hai phương
thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
+Tư tưởng Hồ Chí Minh là hê thống tri thức tổng hợp gồm: tư tưởng triết
học, tư tưởng kinh
tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng đạo đức-văn hóa-nhân
văn.
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là hê thống các quan điểm về cách mạng Việt
Nam: tư tưởng về vấn đề dân tôc và cách mạng giải phóng dân tôc; về
CNXH và con đường quá đô lên CNXH ở Viêt Nam; về Đảng Công sản Viêt
Nam; về đại đoàn kết dân tôc và đoàn kết quốc tế; về dân chủ và Nhà
nước của dân, do dân, vì dân; về văn hóa và đạo đức,..
.4. Hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
- Hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh gồm 9 nội dung:
+ Về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
+ Về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh
thời đại
+Về sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân và
vì dân
+
Về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
+ Về phát triển kinh tế và văn văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và tư tưởng
nhân dân.
+ Về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, trí, công, vô tư.
+ Về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
+ Về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ
biện chứng của cấu
Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ
biện chứng của cấu
Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ
biện chứng của cấu
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
=>Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ
biện chứng của cấu trúc tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ
biện chứng của cấu
- Nội dung cốt lõi: Tư tưởng HCM có cấu trúc logic, chặt chẽ. Trong đó nội
dung cốt lõi là:
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây cũng chính là nội dung
cơ bản của con
đường cách mạng dân tộc Việt Nam.
2. Ý nghĩa học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh
a, Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp học tập, công tác cho
sinh viên.
- Thông qua tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho sinh viên nâng cao nhân thức
về vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với đời sống cách mạng Viêt
Nam; làm cho tư tưởng của Người ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời
sống tinh thần của thế hệ trẻ Viêt Nam.
- Thông qua học tâp, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để bồi dưỡng, củng
cố cho sinh viên,
thanh niên lâp trường thế giới quan cách mạng trên nền tảng CNMLN và
TTHCM; kiên định
mục tiêu đôc lâp dân tộc gắn liền với CNXH ở Viêt Nam.
- Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần nâng cao tinh thần
yêu nước, ý thức
dân tôc, nhờ đó sinh viên xác định đúng trách nhiêm và nghĩa vụ của mình
đối với quê hương,đất nước, nhân dân.
b.Bồi dưỡng phGm chHt đJo đKc cách mJng và rLn luyện bản lĩnh chính tri
Hồ Chí Minh là nhà đạo đức học, bản thân Người là môt tấm gương đạo
đức cách mạng. Vân dụng TTHCM vào cuôc sống, có đóng góp thiết thực
và hiêu quả cho sự nghiêp cáchmạng theo con đường Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã lựa chọn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho
=>Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam chomọi hành động của Đảng và của nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí
Minh đã đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta vượt qua muôn trùng
khó khăn để đi đến những thắng lợi có ý nghĩa lịch
sử vĩ đại và có tính thời đại sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
lý luận, có cấu
trúc lôgic chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi, đó là tư tưởng về độc lập dân
tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải
phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp và giải phóng con người. Không chỉ ở Việt Nam mà ở cả
nhiều nước trên thế
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
giới, nhiều chính khách, nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn nhận và khẳng định
Hồ Chí Minh là
một nhà tư tưởng, một nhà lý luận cách mạng độc đáo.
7 Câu
Câu hỏi 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu, đặc trưng bản
chất, động lực cơ bản của CNXH ở Việt Nam; sự vận dụng của Đảng ta
hiện nay.
1. Trả lời gợi ý:
Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam:
Hồ Chí Minh luận chứng cho sự ra đời của CNXH dựa trên các cơ sở
sau:
o Sự ra đời của CNXH xuất phát từ quy luật vận động, phát triển
khách quan của lịch sử xã hội loài người, từ nội dung, tính chất
và xu thế vận động tất yếu của thời đại.
o CNXH ra đời chính từ sự tàn bạo của CNTB. Chính sự bóc lột
nặng nề của chủ nghĩa thực dân đã bộc lộ những khuyết tật phi
nhân tính, không thể khắc phục được của CNTB và đó chính là
cơ sở để người lao động ý thức, giác ngộ sứ mệnh của mình đối
với quốc gia dân tộc, chờ thời cơ để vùng dậy, thủ tiêu xiềng xích
thực dân, thực hiện giải phóng dân tộc, giải phóng chính họ thoát
khỏi bất kỳ một hình thức áp bức bóc lột nào, và đây chính là
điều kiện quan trọng nhất để nhân dân thuộc địa giác ngộ về
CNXH, CNCS.
o Tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam còn được Hồ Chí Minh
luận chứng trên nhiều góc độ khác:
Thứ nhất, về phương diện lý luận, Hồ Chí Minh đã kế thừa
tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác -
Lênin để luận chứng một cách toàn diện khả năng đi tới
CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN của nước ta.
Thứ hai, cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt để của một
cuộc cách mạng không phải là lý tưởng, khẩu hiệu được
nêu ra mà là ở quy mô giải phóng quần chúng bị áp bức.
Chỉ có CNXH mới làm được việc đó.
Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ
đầu tiên. Độc lập dân tộc là tiền đề để tiến lên CNXH, đi tới
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Chính vì vậy, trong tư tưởng HCM muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường
cách mạng vô sản. Người chủ trương “Làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản”. Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với
CNXH, đã khiến quan điểm giải phóng dân tộc của HCM
mang tính toàn diện và triệt để.
Đặc trưng bản chất:
o Hồ Chí Minh thống nhất với các nhà kinh điển về CNXH, song Hồ
Chí Minh đã phát biểu một số vấn đề thể hiện quan điểm mới của
Người về CNXH. Con đường tiến lên CNXH ở Việt Nam theo Hồ
Chí Minh là “không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục
tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác”.
o Có thể khái quát các đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội
Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh:
Thứ nhất, có chế độ chính trị do nhân dân làm chủ, mọi
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.
Thứ hai, dân giàu nước mạnh, từng bước xóa bỏ bóc lột,
bất công.
Thứ ba, có nền kinh tế phát triển cao gắn liền với sự phát
triển khoa học kỹ thuật.
Thứ tư, xã hội phát triển ở trình độ cao về văn hóa, đạo
đức.
Thứ năm, CNXH là công trình tập thể của nhân dân, do
nhân dân tự xây dựng lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản. Đó là một CNXH của dân, do dân, vì dân, là hiện
thân đỉnh cao của tiến trình tiến hóa lịch sử nhân loại.
Ngoài ra khi nói về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Hồ
Chí Minh còn chỉ rõ chủ nghĩa xã hội là một xã hội có quan
hệ hữu nghị, bình đẳng với các quốc gia dân tộc trên thế
giới, trên tinh thần hữu nghị hợp tác, tôn trọng độc lập, chủ
quyền và hai bên cùng có lợi; CNXH là công trình tập thể
của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy dưới sự lãnh
đạo của Đảng…
Động lực cơ bản:
o Để xây dựng và phát triển của CNXH, cần phải huy động
được tất các các nguồn lực, trong đó nguồn lực con người
giữ vai trò quan trọng nhất, xem xét trên cả hai bình diện: cộng
đồng và cá nhân.
Trên bình diện cộng đồng:
Động lực của CNXH bao gồm tất cả các tầng lớp
nhân dân, mọi giai cấp, dân tộc, tôn giáo... Xây dựng
CNXH khoogn chỉ là sự nghiệp riêng của công nông
mà là toàn thể dân tộc. CNXH không chỉ là vấn đề
giai cấp mà còn là vấn đề dân tộc. Chỉ xây dựng
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
thành công CNXH mới tăng cường được sức mạnh
dân tộc, mới giữ vững độc lập dân tộc.
Để phát huy sức mạnh cộng đồng phải thực hiện đại
đoàn kết dân tộc và phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân trong xây dựng CNXH.
Trên bình diện cá nhân:
Tác động vào nhu cầu và lợi ích, trước hết là lợi ích
vật chất thiết thân đối với người lao động.
Tác động vào các động lực chính trị, tinh thần:
Phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của
người lao động
Thực hiện công bằng xã hội
Sử dụng vai trò điều chỉnh của các nhân tố
tinh thần khác như văn hóa, đạo đức, pháp
luật, phải nâng cao dân trí, coi giáo dục là
quốc sách hàng đầu...
o Ngoài các động lực bên trong, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tăng cường
đoàn kết quốc tế, gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
vô sản, sử dụng tốt các thành quả khoa học kỹ thuật…để thúc
đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
o Đi đôi với việc khai thông các động lực, Hồ Chí Minh yêu cầu phải
nhận diện và khắc phục các lực cản, và Người đã chỉ ra những
căn bệnh có nguy cơ dẫn đến sự thoái hóa biến chất của một
đảng cầm quyền, tới sự tồn vong của chế độ là: chủ nghĩa cá
nhân; tệ tham nhũng, lãng phí, quan lieu; tệ chia rẽ, bè phái, mất
đoàn kết làm giảm sút uy tín của Đảng, của cách mạng; tệ chủ
quan, bảo thủ lười biếng không chịu học tập cái mới.
Vận dụng:
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH trong hoàn cảnh
mới, Đảng ta tiếp tục tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về CNXH và con đường
đi lên CNXH ở nước ta. Điều này được khẳng định rõ trong cương lĩnh
và văn kiện các đại hội của Đảng. Đảng luôn xác định xây dựng XHCN
ở nước ta là một quá trình của cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, là
sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ. Đảng đã đề ra những phương
hướng và nhiệm vụ để thực hiện thành công mục tiêu CNXH.
Câu 2
2
Câu hỏi 2: Quan điểm của Hồ Chí Minh về các nguyên tắc xác định
bước đi, các bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội
trong thời kỳ quá độ ở nước ta; sự vận dụng của Đảng ta hiện
nay.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
Trả lời gợi ý:
Nguyên tắc xác định bước đi:
Hồ Chí Minh nêu lên 2 nguyên tắc có tính phương pháp luận trong việc
xác định bước đi và cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam:
o Xây dựng chủ nghĩa xã hội là hiện tượng phổ biến, mang tính
quốc tế vì vậy phải quán triệt các nguyên lý cơ bản của chu
nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệm của các nước anh em
nhưng không được giáo, điều máy móc.
o Xác định bước đi và các biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội
cần căn cứ vào điều kiện thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và
khả năng thực tế của nhân dân.
Về bước đi của thời kì quá độ:
o Thứ nhất, ưu tiên phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt
trận hàng đầu. Người giải thích: Chúng ta vừa ra khỏi chiến
tranh, “Nếu để dân đói là chính phủ có lỗi, mọi chính sách của
Đảng không thực hiện được”, “Muốn phát triển công nghiệp, phát
triển kinh tế nói chung thì phải lấy phát triển nông nghiệp làm
gốc, làm chính”; “Phải ưu tiên phát triển nông nghiệp còn bởi vì
chúng ta có “thiên thời” (khí hậu, đất đai), “nhân hòa” (lực lượng
lao động nông nghiệp). Vì vậy, “Trong thời kỳ quá độ lên CNXH,
ta phải dựa vào nông nghiệp và phát triển nông nghiệp là cực kỳ
quan trọng”.
o Thứ hai, phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ.
o Thứ ba, phát triển công nghiệp nặng.
Biện pháp:
o Muốn bớt mò mẫm, đỡ phạm sai lầm phải học tập kinh nghiệm
các nước anh em, tuy nhiên không được rập khuôn, giáo điều,
sao chép, mà phải học một cách sáng tạo, phải chú ý đến thực
tiễn nước ta.
o Phải đi sâu vào thực tiễn để điều tra, khảo sát, từ thực tiễn mà đề
xuất các vấn đề phương pháp cho cách mạng Việt Nam.
o Người nhấn mạnh tới vai trò quyết định của biện pháp tổ chức
thực hiện và nhắc nhở khi soạn thảo và thực hiện kế hoạch phải
thực hiện phương châm: Chỉ tiêu một, biện pháp mười, quyết
tâm hai mươi,... có như thế kế hoạch mới hoàn thành tốt được.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211
o Thực hiện phát triển kinh tế xã hội hài hòa đảm bảo cho các
thành phần kinh tế, thành phần xã hội đều có điều kiện phát triển.
o Biện pháp cơ bản lâu dài, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phải “Đem tài dân, sức dân,
của dân mà làm lợi cho dân”.
Vận dụng:
o Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới toàn diện đất nước vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, tiếp tục con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Đổi mới, vì thế, là
quá trình vận dụng và tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định
với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chứ
không phải thay đổi mục tiêu.
o Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà
nước, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực
hiện cần kiệm xây dựng CNXH.
Câu hỏi 3
3
Câu hỏi 3: Những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về Đảng
Cộng sản Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với quá trình xây dựng
Đảng ta trong sạch vững mạnh.
Trả lời gợi ý:
Luận điểm:
o Đảng CSVN là sản phẩm của sự kết hợp CN Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Khác với CN
Mác - Lênin cho rằng Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết
hợp lý luận của CN Mác - Lênin với phong trào công nhân. Còn
với Hồ Chí Minh, bằng sự vận dụng CN Mác - Lênin vào điều
kiện cụ thể của cách mạng VN, nếu kết hợp CN Mác - Lênin với
phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ
bé, phong trào công nhân còn non yếu, trong khi đó phong trào
yêu nước của nhân dân ta rất mãnh liệt. Bên cạnh hai yếu tố
trên, Hồ Chí Minh còn kể đến yếu tố thứ 3 đó là phong trào yêu
nước. Đây là yếu tố có trước và là một phong trào thực sự to lớn,
thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Phong
trào yêu nước với phong trào công nhân có mục tiêu chung là
giải phóng dân tộc, quyền lợi giai cấp công nhân và của toàn thể
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)
lOMoARcPSD|61626211

Preview text:

lOMoARcPSD|61626211
Tong hop cau hoi tu luan thi cuoi ky tu tuong ho chi minh truong dai h 76340
Tư tưởng HCM (Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211 Thi cuối kỳ
1. Tại sao nói sự ra đời của TTHCM là một tất yếu lịch sử ?
Bối cảnh Việt Nam cuối 19 – đầu 20:
HCM sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước và thế giới có nhiều biến động.
Chính quyền nhà Nguyễn vào thời điểm này từng bước khuất phục tư bản Pháp. Triều
đình liên tiếp thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động… Việc này
hoàn toàn chặn đứng cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Cùng
với đó, điều này cũng khiến Việt Nam không thể phát huy được thế mạnh của dân tộc
nhằm chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
Sau khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà
(Đà Nẵng) vào năm 1858, chính quyền nhà Nguyễn hầu như hoàn toàn bất lực và lần
lượt kí kết các hiệp ước: Nhâm Tuấn (1862), Giáp Tuất (1874), Harmand (1883) và
cuối cùng là Hiệp ước Patenôtre (1884). Hiệp ước sau cùng tại kinh thành Huế đã
chuyển giao toàn bộ quyền hành, lãnh thổ vào tay thực dân Pháp và thừa nhận sự bảo
hộ của chủ nghĩa thực dân.
Sau khi bình định xong, thực dân Pháp đã biến Việt Nam từ một nước phong kiến độc
lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Chính sách khai thác thuộc địa đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc và
xuất hiện 2 mâu thuẫn cơ bản: mẫu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc. Điều này làm
cho dân ta rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, tạo tiền đề bên trong cho phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX.
Cuối thế kỉ XIX, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi ra chiếu “Cần Vương”
làm bùng lên các cuộc khởi nghĩa vũ trang do các văn thân, sỹ phu lãnh đạo: Phạm
Bành, Đinh Công Tráng (Khởi nghĩa Ba Đình), Nguyễn Thiện Thuật (Khởi nghĩa Bãi
Sậy), Phan Đình Phùng (Khởi nghĩa Hương Khê) và Hoàng Hoa Thám (Khởi nghĩa
Yên Thế)... Sự thất bại của phong trào Cần Vương đã chấm dứt một thời kì đấu tranh
yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến.
Đầu thế kỉ XX, chịu ảnh hưởng bởi các cuộc cách mạng tư sản (Minh Trị - Nhật Bản,
Tân Hợi – Trung Quốc, cách mạng tư sản Anh 1640, Mỹ 1776, Pháp 1789), phong
trào đấu tranh yêu nước của Việt Nam lúc này mang màu sắc mới theo tư tưởng hệ tư
sản. Tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… nhưng tất cả
đều thất bại. Lúc này phong trào yêu nước Việt Nam lâm vào cảnh khó khăn, khủng
hoảng về con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc nhằm thoát khỏi chủ nghĩa thực
dân, giành độc lập dân tộc.
Bối cảnh Thế Giới cuối 19 – đầu 20:
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã phát triển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Một số nước đế quốc Anh, Pháp,
Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Đức, Nga, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, v.v… đã chi phối
toàn bộ tình hình thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh đã
trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các nước đế quốc.
Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản là mâu
thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở các nước tư bản; mâu thuẫn giữa các nước
đế quốc với nhau; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế
quốc. Sang đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn này ngày càng phát triển gay gắt. Giành độc
lập cho các dân tộc thuộc địa không chỉ là đòi hỏi của riêng họ, mà còn là mong muốn
chung của giai cấp vô sản quốc tế; tình hình đó đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới phát triển.
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin
ở một nước lớn rộng một phần sáu thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đánh đổ giai
cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên một xã hội mới – xã hội xã hội chủ
nghĩa. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi mở ra con đường giải phóng cho các dân
tộc bị áp bức và cả loài người, mở ra một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Ngày 2-3-1919, Quốc tế Cộng sản ra đời ở Mátxcơva. Dưới sự lãnh đạo của Lênin, Quốc
tế Cộng sản đẩy mạnh việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm Cách mạng
Tháng Mười Nga ra khắp thế giới, thúc đẩy sự ra đời và hoạt động ngày càng mạnh mẽ
của các đảng cộng sản ở nhiều nước.
Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, sự ra đời của nhà nước Xô viết và Quốc tế Cộng
sản cùng với sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí Minh trên hành trình đi ra thế
giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước mới
Kết luận: => Sự ra đời của TTHCM đã giải quyết được những vấn đề mà CM Việt Nam đặt
ra và nó phù hợp với xu thế của CM thế giới vì vậy nó là một tất yếu
Câu 2.Nêu những tiền đề tư tưởng lý luận hình thành tư tưởng
HCM? Trong những tiền đề đó, tiền đề nào quan trọng nhất, quyết định bản chất TTHCM

1. Giá trị truyền thống của dân tộc VN  yêu nước  Bất khuất  Đoàn kết  Nhân nghĩa  Lạc quan
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam. Đó là động lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại vượt qua mọi
khó khăn trong dựng nước và giữ nước mà phát triển. Chính chủ nghĩa yêu nước là
nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường
cứu nước, và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất vì
độc lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ
của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh
trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả
tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” .
Không có gì quý hơn độc lập tự do - chân lý lớn của thời đại được Hồ Chí Minh
khẳng định, đồng thời cũng chính là một điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh hết
sức chú trọng kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam là yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, dân chủ, nhân ái, khoan
dung trong cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bang; tinh thần cần cù, dũng
cảm, sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của cách
mạng; nước lấy dân làm gốc; gốc có vững cây mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền
nhân dân; đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc chiến lược
quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch sử, trân
trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt đẹp khác của
dân tộc. Đó chính là một cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất của nhà văn hóa
kiệt xuất Hồ Chí Minh với chủ trương văn hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng;
cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,
xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam. Chính Hồ Chí Minh là một biểu tượng cao
đẹp của sự tích hợp tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây. 2.
Tinh hoa văn hoá nhân loại 
Tinh hoá văn hoá phương Đông
Về Nho giáo: Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình nhà Nho yêu nước, từ rất sớm đã
chịu ảnh hưởng của Nho học từ người cha và nhiều nhà Nho yêu nước ở quê hương.
Người tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo như: Triết lý hành động, tư tưởng
nhập thế, hành đạo giúp đời, là khát vọng về một xã hội đại đồng, là hòa mục, hòa
đồng, là triết lý nhân sinh tu thân dưỡng tính, đề cao văn hóa, lễ giáo, hiếu học và
Người đã phê phán loại bỏ những yếu tố tiêu cực và thủ cựu của nó.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
Về Phật giáo: Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc những tư tưởng tốt
đẹp của Phập giáo như: vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể
thương thân, nếp sống đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo việc thiện, ca ngợi lao
động, phê phán lười biếng, chủ trương gắn bó với dân, với nước.
Khi trở thành người mác xít, Hồ Chí Minh chú ý tìm hiểu chủ nghĩa “Tam Dân” (dân
tộc độc lập; dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của Tôn Trung Sơn, vì thấy trong
đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”. 
Tinh hoa văn hoá phương Tây
Cùng với tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn tiếp thu nền văn hóa dân
chủ và cách mạng của phương Tây. Người chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng tự do,
bình đẳng trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, năm 1776 và Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của Đại Cách mạng Pháp, năm 1791. 2. Triết học Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin trên nền tảng
những tri thức văn hóa tinh túy của nhân loại cùng với sự hiểu biết chính trị
phong phú được tích lũy qua hoạt động thực tiễn đấu tranh vì mục tiêu cứu
nước, giải phóng dân tộc của chính mình.
Từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đi vào nghiên
cứu chủ nghĩa Mác. Người tiếp thu lý luận Mác – Lênin theo phương pháp
macxít, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Người vận dụng lập trường, quan
điểm, phương pháp biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết
những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết
luận có sẵn trong sách vở.
Như vậy, chính thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
đã giúp Hồ Chí Minh vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của
mình để từ đó tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ta.
 Trong các tiền đề trên chủ nghĩa Mác- Lê nin là tiền đề quan trọng nhất là vì: Chủ nghĩa
Mác- Lê nin là thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, là chủ nghĩa
chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất, giúp cho việc phát triển các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại có định hướng khoa học và
cách mạng đúng đắn. Tinh hoa văn hóa nhân loại làm phong phú và sâu sắc thêm chủ nghĩa
yêu nước và tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ
Chí Minh vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình để từ đó tìm ra con
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
đường cứu nước, giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản; cùng với quy luật cách
mạng Việt Nam là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”
Câu 3:Từ tư tưởng phê bình và tự phê bình của Hồ Chí Minh. Anh/Chị
hãy liên hệ với việc chỉnh đốn hoàn thiện nhân cách của bản thân

TTHCM về tự phê bình và phê bình /131
Tự phê bình và phê bình. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên,
“như mỗi ngày phải rửa mặt” . Người viết trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ
rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố
sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng” . Người cho rằng, tự phê bình và phê bình là “thang
thuốc” tốt nhất để làm cho phần tốt trong mỗi tổ chức và mỗi con người nẩy nở như hoa mùa
xuân và phần xấu bị mất dần đi; tự phê bình và phê bình phải trung thực, kiên quyết, đúng
người, đúng việc, phải có văn hóa…Trong Đảng, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” . Liên hệ bản thân
Trong 1 tập thể chỉ ra lỗi sai góp ý lỗi sai của thành viên để cùng sửa chữa và giúp tập thể
cùng hoàn thiện công việc chung. Nhận lỗi của bản thân tuqj kiểm điểm nhận lỗi và tìm cách
khắc phục lỗi sai để không làm ảnh hưởng đến tập thể. Cần nêu cao tinh thần tự giác, dám
nhận lỗi, tập cách tự tin dám nói trước đám đông, Khắc phục được tâm lý tự ti, sợ bị trù dập
nên không dám phê bình người khác
3. Từ tư tưởng giữ gìn bản sắc dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại/210  TTHCM
Về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại. Bản sắc văn hóa dân tộc là
những giá trị văn hóa bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là thành quả của quá
trình lao động, sản xuất, chiến đấu và giao lưu của con người Việt Nam.
Bản sắc văn hóa dân tộc được nhìn nhận qua hai lớp quan hệ. Về nội dung, đó là lòng yêu
nước, thương nòi; tinh thần độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc... Về hình thức, cốt cách văn hóa
dân tộc biểu hiện ở ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống, cách cảm và nghĩ...
Bản sắc văn hóa dân tộc chứa đựng giá trị lớn và có một ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nó phản ánh những nét độc đáo, đặc tính dân tộc. Nó là ngọn
nguồn đi tới chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh nói rằng, âm nhạc dân tộc ta rất độc đáo,
phải khai thác và phát triển lên; rằng, những người cộng sản chúng ta rất quý trọng cổ điển,
có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ những ngọn nguồn cổ điển đó; vì vậy, trách nhiệm của con
người Việt Nam là phải trân trọng, khai thác, giữ gìn, phát huy, phát triển những giá trị của
văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Theo
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
Người, “dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”; “càng thấm nhuần
chủ nghĩa Mác-Lênin càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”. “Mỗi dân
tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”. Chăm lo cốt cách dân tộc, đồng
thời cần triệt để tẩy trừ mọi di hại thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc, tôn
trọng phong tục tập quán, văn hóa của các dân tộc ít người.
Trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tiếp
biến văn hóa (tiếp nhận và biến đổi) là một quy luật của văn hóa. Theo Hồ Chí Minh, “văn
hóa Việt Nam ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại...
Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam.
Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam
thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ” .
Hồ Chí Minh chú trọng chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Trao đổi với một nhà văn Liên
Xô, Người nhấn mạnh rằng “các bạn chớ hiểu là tôi cho rằng chúng tôi cần dứt bỏ văn hóa
nào đó, dù là văn hóa Pháp đi nữa. Ngược lại, tôi muốn nói điều khác. Nói đến việc mở rộng
kiến thức của mình về văn hóa thế giới, mà đặc biệt hiện nay là văn hóa Xôviết - chúng tôi
thiếu - nhưng đồng thời tránh nguy cơ trở thành kẻ bắt chước... Văn hóa của các dân tộc khác
cần phải được nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể được nhiều hơn
cho văn hóa của chính mình” . Nhận diện về hiện tượng văn hóa Hồ Chí Minh, một nhà báo
Mỹ viết: “Cụ Hồ không phải là một người dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi, mà cụ là một người yêu
mến văn hóa Pháp trong khi chống thực dân Pháp, một con người biết coi trọng những truyền
thống cách mạng Mỹ trong khi Mỹ phá hoại đất nước cụ” .
Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích tiếp thu văn hóa nhân loại là để làm giàu cho văn hóa Việt
Nam, xây dựng văn hóa Việt Nam hợp với tinh thần dân chủ. Nội dung tiếp thu là toàn diện
bao gồm Đông, Tây, kim, cổ, tất cả các mặt, các khía cạnh. Tiêu chí tiếp thu là có cái gì hay,
cái gì tốt là ta học lấy. Mối quan hệ giữa giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc và tiếp thu văn hóa
nhân loại là phải lấy văn hóa dân tộc làm gốc, đó là điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại.  Liên hệ
Đấu tranh xóa bỏ các tư tưởng lạc hậu Trọng nam khinh nữ, mê tín dị đoan, phải có
con trai nối dõi. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt không lạm dụng tiếng nước
ngoài. Học hỏi, bảo vệ về lịch sử bản sắc văn hóa dân tộc như giữ gìn nhạc cụ dân
tộc, giữ gìn nét đẹp của áo dài, tinh thần yêu nước, bất khuất, đoàn kết. Đưa văn hóa,
hình ảnh của người Việt Nam đến các bạn quốc tế
4. Từ tư tưởng Cần, kiệm, liêm chính của HCM liên hệ rèn luyện đạo đức  TTHCM
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng, đó là phẩm
chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi người. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
cập phẩm chất này nhiều nhất, thường xuyên nhất, phản ánh ngay từ cuốn sách Đường cách
mệnh đến bản Di chúc cuối đời.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không
bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay
ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho
nước cho dân”. Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là một biểu
hiện cụ thể của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”.
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” cũng là những khái niệm cũ trong đạo đức truyền
thống dân tộc, được Hồ Chí Minh lọc bỏ những nội dung không phù hợp và đưa vào những
nội dung mới đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
“Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai” . “Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả
hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc” . Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao
động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không
lười biếng. Phải thấy rõ, “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta” .
“Kiệm là thế nào? Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Kiệm tức là
tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân
mình; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù. “Tiết kiệm không phải là
bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm,
việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui
lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là
kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ” . “Cần với kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai
chân của con người” . Hồ Chí Minh yêu cầu “Phải cần kiệm xây dựng nước nhà” .
Liêm “là trong sạch, không tham lam” ; là liêm khiết, “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công,
của dân”, “Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không
ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có
một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng
như chữ Kiệm phải đi với chữ Cần. Có Kiệm mới Liêm được”.
“Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng
thắn, tức là tà” . Chính được thể hiện rõ trong ba mối quan hệ: “Đối với mình - Chớ tự kiêu,
tự đại”. “Đối với người:… Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải
chân thành, khiêm tốn,… Phải thực hành chữ Bác – Ái” . “Đối với việc: Phải để công việc
nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”; “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh” .
Hồ Chí Minh cho rằng, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau, ai
cũng phải thực hiện, song cán bộ, đảng viên phải là người thực hành trước để làm kiểu mẫu
cho dân. Người thường nhắc nhở cán bộ, công chức, những người trong các công sở đều có
nhiều hoặc ít quyền hạn. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại,
biến thành sâu mọt của dân.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
Chí công vô tư là hoàn toàn vì lợi ích chung, không vì tư lợi; là hết sức công bằng, không
chút thiên tư, thiên vị, công tâm, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc lên trên
hết, trước hết; chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Chí công vô
tư là chống chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với
việc” ; “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước,… khi hưởng thụ thì mình nên đi sau” .
Chí công vô tư về thực chất là sự tiếp nối cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích: “Trước
nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to
hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công
vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân” .  Liên hệ
Cần: Chăm chỉ trau dồi kiến thức từ việc học qua sách vở sách vở rèn luyện kỹ năng mềm đi
làm thêm để có thêm kinh nghiệm, khi gặp kiến thức mới kiên trì không bỏ cuộc để đạt được, không ngại khó.
Kiệm: tiết kiệm thời gian không sử dụng thời gian lãng phí vào việc chơi game thay vào đó
em dùng thời gian đọc sách, trải nghiệm trau dồi thêm kiến thức
Liêm: trong sạch trong học thuật khi tham gia các bài kiểm tra các kỳ thi không quay cóp.
Không làm việc xấu chỉ vì đồng tiền
Chính: Khiêm tốn và không khinh thường với những người nhỏ tuổi hơn, trong mối quan hệ
luôn duy trì sự chân thành. Khi làm việc sai tự nhận lỗi biết xin lỗi và sẵn sàng nghe góp ý và
tự sửa lỗi của bản thân.
Chí công, vô tư: Chí công là tính từ chỉ sự công bằng không một chút thiên vị. Vô tư thể hiện
thái độ đường đường chính chính, làm việc ngay thẳng, phân minh, không một chút tư tâm
5. Sáng tạo là gì? Hãy phân tích 1 luận điểm có tính sáng tạo trong TTHCMĐịnh nghĩa:
Quá trình hoạt động của con người, tạo nên những giả trị tinh thần và vật chất mới về chất.
Sáng tạo là khả nặng nảy sinh trong lao động của con người nhằm tạo nên từ vật liệu do hiện
thực cung cấp (trên cơ sở nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan) một thực tại
mới thỏa mãn được các nhu cầu đa dạng xã hội. Các hình thức sáng tạo được quy định bởi
tính chất của hoạt động có tính chất xây dựng (sự sáng tạo của người phát minh, của người tổ
chức, sự sáng tạo khoa học và nghệ thuật,…)
Phân tích một luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh
Luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
Sự ra đời của ĐCS phản ánh cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đến thời kỳ tự giác. ĐCS
là sản phảm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân. Lý luận về
tính tất yếu của sự kết hợp ấy đã được đề ra trong học thuyết Mac-Lênin. Song, trong mỗi
nước, sự kết hợp ấy lại là một sản phẩm của lịch sử, lại được thực hiện bằng con đường riêng
biệt, tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian.
- Thứ nhất, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác -
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Học thuyết Mác - Lênin
khẳng định rằng, Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân. Quy luật chung này được đồng chí Nguyễn ái Quốc vận dụng sáng tạo
vào điều kiện Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn ít về số lượng, nhưng người vô sản bị áp
bức, bóc lột thì đồng. Sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nông và phong
trào yêu nước dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. Muốn xây dựng Đảng vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải coi trọng đầy đủ cả ba yếu tố trên.
- Thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự phát triền cao và thống nhất của
phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng ta là con đẻ của phong trào cách mạng
của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động và trưởng thành thông qua đấu tranh chống
đế quốc, chống phong kiến. Muốn củng cố và phát triển Đảng, đòi hỏi phải củng cố và phát
triển phong trào cách mạng của quần chúng. Đảng mật thiết liên hệ với quần chúng, hướng
dẫn, lãnh đạo phong trào quần chúng, thông qua thực tiễn phong trào cách mạng mà củng cố và phát triển Đảng.
- Thứ ba, phong trào công nhân kết hợp phong trào nông dân. Đầu tk XX nông dân chiếm
90% dân số, công nhân xuất thân từ nông dân. Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân hợp
thành quân chủ lực của Cách mạng
- Thứ tư, phong trào yêu nước của trí thức VN là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các
yếu tố cho sự ra đời ĐCSVN. Trí thức VN:
+ Số lượng không nhiều nhưng là “ngòi nổ” cho phong trào chống Pháp.
+ Thúc đẩy sự canh tân chấn hưng đất nước.
+ Là người lãnh đạo của các tổ chức yêu nước.
+ Nhạy cảm thời cuộc, chủ động đón nhận “luồng gió mới”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những sáng tạo trong việc kết hợp yếu tố dân tộc (chủ nghĩa dân
tộc và phong trào yêu nước) và yếu tố giai cấp (Chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công
nhân) để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kết hợp thành công yếu tố dân tộc và yếu tố
giai cấp trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một sáng tạo lớn, một thành công
lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin
trong hoàn cảnh thực tiễn cách mạng Việt Nam. Sự sáng tạo ấy không chỉ là nhân tố quan
trọng dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn góp phần làm phong phú thêm
kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về sự ra đời của đảng cộng sản ở các nước thuộc địa, kém phát triển.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
Nêu những luận điểm cơ bản của HCM về cách mạng giải phóng dân tộc và
hãy phân tích 1 luận điểm mang tính sáng tạo trong những luận điểm nêu trên
Năm luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
- Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
- Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng cộng sản lãnh đạo.
- Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh
công - nông làm nền tảng.
- Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước
cách mạng vô sản ở chính quốc.
- Cách mạng giải phóng dân tộc chỉ được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng.
Trong năm luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, luận điểm
“Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước
cách mạng vô sản ở chính quốc” là luận điểm thể hiện cao nhất sự sáng tạo lý luận của Người.
Phân tích luận điểm có tính sáng tạo của Hồ Chí Minh
a) Quan điểm của Quốc tế cộng sản về cách mạng thuộc địa (cách mạng giải phóng dân tộc).
Do chưa đánh giá hết tiềm lực và khả năng to lớn của cách mạng thuộc địa nên Quốc tế cộng
sản có lúc xem nhẹ vai trò của cách mạng thuộc địa, coi cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào
cách mạng vô sản ở chính quốc. Đại hội VI Quốc tế cộng sản năm 1928 đã thông qua Những
luận cương về phong trào cách mạng trong các nước thuộc địa và nữa thuộc địa, trong đó có
đoạn viết rằng: chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi
giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến. Quan điểm này có tác động
không tốt, làm giảm đi tính chủ động, sáng tạo của nhân dân các nước thuộc địa trong công
cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc. Quán triệt tư tưởng của
V.I.Lênin về mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải
phóng dân tộc thuộc địa, từ rất sớm Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ khắng khít, tác động
qua lại lẫn nhau giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc - mối quan hệ
bình đẳng, không lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau. Năm1924, tại Đại hội V của Quốc tế cộng
sản, Người nói: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp
vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các
thuộc địa”1 . Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) , Người cũng viết: “Chủ
nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng
thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút
máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”2 . Là
một người dân thuộc địa, là người cộng sản và là người nghiên cứu rất kỹ về chủ nghĩa đế quốc,
b) Quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh cho rằng: cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng
vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước. Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu
nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực
dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một
trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ
những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
Luận điểm sáng tạo trên của Hồ Chí Minh dựa trên các cơ sở sau:
Thuộc địa có một vị trí,vai trò, tầm quan trọng đặc biệt đối với chủ nghĩa đế quốc, là nơi duy
trì sự tồn tại, phát triển, là món mồi “béo bở” cho chủ nghĩa đế quốc nhưng lại là khâu yếu
nhất trong hệ thống các nước đế quốc. Cho nên, cách mạng ở thuộc địa sẽ có khả năng nổ ra và thắng lợi .
Tinh thần đấu tranh cách mạng hết sức quyết liệt của các dân tộc thuộc địa, mà theo Người nó
sẽ bùng lên mạnh mẽ, hình thành một “lực lượng khổng lồ” khi được tập hợp, hướng dẫn và giác ngộ cách mạng.
Căn cứ vào luận điểm của C.Mác về khả năng tự giải phóng của giai cấp công nhân, trong
Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, khi kêu gọi các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh
giành quyền độc lập dân tộc, Người viết: “Hỡi anh em ở các thuộc địa…Anh em phải làm thế
nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em
rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nổ lực của bản thân anh em” .
Chứng minh: Với thực tiễn thắng lợi năm 1945 ở Việt Nam cũng như phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới đã thành công vào những năm 60, trong khi cách mạng vô sản ở chính
quốc chưa nổ ra và thắng lợi, càng chứng minh luận điểm trên của Hồ Chí Minh là độc đáo,
sáng tạo, có giá trị lí luận và thực tiễn to lớn. STUDOCU:
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Trình bày khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Ý nghĩa học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211 TRẢ LỜI:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, là tài sản tinh thần
vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, là nền tảng tư tưởng là kim chỉ nam hành
động của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính khoa học đúng đắn, tính cách mạng sáng
tạo chỉ dẫn cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng Hồ Chí
Minh vẫn được vận dụng sáng tạo cho đến ngày nay.
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Khái niệm tư tưởng
- Hiểu theo nghĩa phổ thông, tư tưởng là sự phản ánh hiện
thực vào ý thức, ý nghĩ của mỗi người.
- Khái niệm “tư tưởng” trong “Tư tưởng Hồ Chí Minh” không phải dùng với nghĩa tinh thần -
tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống
những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và
phương pháp luận (nền tảng triết học) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một
giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt
động thực tiễn, cải tạo hiện thực.
1.2 Khái niêm “nhà tư tưởng”
- Theo từ điển tiếng Việt, “nhà tư tưởng” là những người có những tư tưởng triết học sâu sắc.
Lênin cũng đã lưu ý rằng: Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyết trước
người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về t? chức, về những yếu tố
vật chất của phong trào không phải một cách tự phát.
→Với hai khái niệm trên chúng ta có thể khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thực
thụ và tư tưởng của Người có vị trí, vai trò và tầm quan trọng to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
1.3. Khái niêm tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu ở tầm khái quát cao, là hệ thống những luận điểm,
học thuyết chủ nghĩa được hình thành từ bộ phận đến chỉnh thể thống nhất.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đánh dấu một cột mốc
quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đã
khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nèn tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001) và Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (1/2011) xác định khá toàn diện và
có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh.
- “Tương tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toan diện va sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng va phát triển sáng tạo chủ nghĩa.
Mác – Lênin vao điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa va phát triển các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; la tai sản tinh thần vô cùng
to lớn va quý giá của Đảng va dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
nhân dân ta gianh thắng lợi “.
- Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:
+ Một là bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh: Hệ thống
quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản, những vấn đề có tính quy luật của cách
mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc.
+Hai là nguồn gốc tư tưởng lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: chủ nghĩa
Mác – Lênin, giá trị văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại.
+ Ba là giá trị ý nghĩa, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: tài sản
tinh thần to lớn của Đảng, dân tộc, mãi soi đường cho sự nghiệp cách
mạng của nhân ta giành thắng lợi
- Dù định nghĩa theo cách nào, thì tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn
nhân với tư cách là một hệ thống lý luận.Hiện đang tồn tại hai phương
thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
+Tư tưởng Hồ Chí Minh là hê thống tri thức tổng hợp gồm: tư tưởng triết học, tư tưởng kinh
tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng đạo đức-văn hóa-nhân văn.
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là hê thống các quan điểm về cách mạng Việt
Nam: tư tưởng về vấn đề dân tôc và cách mạng giải phóng dân tôc; về
CNXH và con đường quá đô lên CNXH ở Viêt Nam; về Đảng Công sản Viêt
Nam; về đại đoàn kết dân tôc và đoàn kết quốc tế; về dân chủ và Nhà
nước của dân, do dân, vì dân; về văn hóa và đạo đức,..
.4. Hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
- Hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh gồm 9 nội dung:
+ Về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
+ Về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
+Về sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân
+Về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
+ Về phát triển kinh tế và văn văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tư tưởng nhân dân.
+ Về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, trí, công, vô tư.
+ Về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
+ Về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
 Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng của cấu
 Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng của cấu
Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng của cấu
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
=>Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ
biện chứng của cấu trúc tư tưởng Hồ Chí Minh.
 Những luận điểm nêu trên là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng của cấu
- Nội dung cốt lõi: Tư tưởng HCM có cấu trúc logic, chặt chẽ. Trong đó nội dung cốt lõi là:
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây cũng chính là nội dung cơ bản của con
đường cách mạng dân tộc Việt Nam.
2. Ý nghĩa học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh
a, Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp học tập, công tác cho sinh viên.
- Thông qua tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho sinh viên nâng cao nhân thức
về vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với đời sống cách mạng Viêt
Nam; làm cho tư tưởng của Người ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời
sống tinh thần của thế hệ trẻ Viêt Nam.
- Thông qua học tâp, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để bồi dưỡng, củng cố cho sinh viên,
thanh niên lâp trường thế giới quan cách mạng trên nền tảng CNMLN và TTHCM; kiên định
mục tiêu đôc lâp dân tộc gắn liền với CNXH ở Viêt Nam.
- Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức
dân tôc, nhờ đó sinh viên xác định đúng trách nhiêm và nghĩa vụ của mình
đối với quê hương,đất nước, nhân dân.
b.Bồi dưỡng phGm chHt đJo đKc cách mJng và rLn luyện bản lĩnh chính tri
Hồ Chí Minh là nhà đạo đức học, bản thân Người là môt tấm gương đạo
đức cách mạng. Vân dụng TTHCM vào cuôc sống, có đóng góp thiết thực
và hiêu quả cho sự nghiêp cáchmạng theo con đường Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
=>Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam chomọi hành động của Đảng và của nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí
Minh đã đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta vượt qua muôn trùng
khó khăn để đi đến những thắng lợi có ý nghĩa lịch
sử vĩ đại và có tính thời đại sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận, có cấu
trúc lôgic chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi, đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp và giải phóng con người. Không chỉ ở Việt Nam mà ở cả nhiều nước trên thế
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
giới, nhiều chính khách, nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn nhận và khẳng định Hồ Chí Minh là
một nhà tư tưởng, một nhà lý luận cách mạng độc đáo. 7 Câu
Câu hỏi 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu, đặc trưng bản
chất, động lực cơ bản của CNXH ở Việt Nam; sự vận dụng của Đảng ta hiện nay. 1. Trả lời gợi ý:
Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam:
Hồ Chí Minh luận chứng cho sự ra đời của CNXH dựa trên các cơ sở sau: o
Sự ra đời của CNXH xuất phát từ quy luật vận động, phát triển
khách quan của lịch sử xã hội loài người, từ nội dung, tính chất
và xu thế vận động tất yếu của thời đại. o
CNXH ra đời chính từ sự tàn bạo của CNTB. Chính sự bóc lột
nặng nề của chủ nghĩa thực dân đã bộc lộ những khuyết tật phi
nhân tính, không thể khắc phục được của CNTB và đó chính là
cơ sở để người lao động ý thức, giác ngộ sứ mệnh của mình đối
với quốc gia dân tộc, chờ thời cơ để vùng dậy, thủ tiêu xiềng xích
thực dân, thực hiện giải phóng dân tộc, giải phóng chính họ thoát
khỏi bất kỳ một hình thức áp bức bóc lột nào, và đây chính là
điều kiện quan trọng nhất để nhân dân thuộc địa giác ngộ về CNXH, CNCS. o
Tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam còn được Hồ Chí Minh
luận chứng trên nhiều góc độ khác: 
Thứ nhất, về phương diện lý luận, Hồ Chí Minh đã kế thừa
tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác -
Lênin để luận chứng một cách toàn diện khả năng đi tới
CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN của nước ta. 
Thứ hai, cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt để của một
cuộc cách mạng không phải là lý tưởng, khẩu hiệu được
nêu ra mà là ở quy mô giải phóng quần chúng bị áp bức.
Chỉ có CNXH mới làm được việc đó. 
Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ
đầu tiên. Độc lập dân tộc là tiền đề để tiến lên CNXH, đi tới
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. 
Chính vì vậy, trong tư tưởng HCM muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường
cách mạng vô sản. Người chủ trương “Làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản”. Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với
CNXH, đã khiến quan điểm giải phóng dân tộc của HCM
mang tính toàn diện và triệt để. Đặc trưng bản chất: o
Hồ Chí Minh thống nhất với các nhà kinh điển về CNXH, song Hồ
Chí Minh đã phát biểu một số vấn đề thể hiện quan điểm mới của
Người về CNXH. Con đường tiến lên CNXH ở Việt Nam theo Hồ
Chí Minh là “không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục
tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác”. o
Có thể khái quát các đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội
Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh: 
Thứ nhất, có chế độ chính trị do nhân dân làm chủ, mọi
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. 
Thứ hai, dân giàu nước mạnh, từng bước xóa bỏ bóc lột, bất công. 
Thứ ba, có nền kinh tế phát triển cao gắn liền với sự phát
triển khoa học kỹ thuật. 
Thứ tư, xã hội phát triển ở trình độ cao về văn hóa, đạo đức. 
Thứ năm, CNXH là công trình tập thể của nhân dân, do
nhân dân tự xây dựng lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản. Đó là một CNXH của dân, do dân, vì dân, là hiện
thân đỉnh cao của tiến trình tiến hóa lịch sử nhân loại. 
Ngoài ra khi nói về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Hồ
Chí Minh còn chỉ rõ chủ nghĩa xã hội là một xã hội có quan
hệ hữu nghị, bình đẳng với các quốc gia dân tộc trên thế
giới, trên tinh thần hữu nghị hợp tác, tôn trọng độc lập, chủ
quyền và hai bên cùng có lợi; CNXH là công trình tập thể
của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng… Động lực cơ bản: o
Để xây dựng và phát triển của CNXH, cần phải huy động
được tất các các nguồn lực, trong đó nguồn lực con người
giữ vai trò quan trọng nhất, xem xét trên cả hai bình diện: cộng đồng và cá nhân. 
Trên bình diện cộng đồng: 
Động lực của CNXH bao gồm tất cả các tầng lớp
nhân dân, mọi giai cấp, dân tộc, tôn giáo... Xây dựng
CNXH khoogn chỉ là sự nghiệp riêng của công nông
mà là toàn thể dân tộc. CNXH không chỉ là vấn đề
giai cấp mà còn là vấn đề dân tộc. Chỉ xây dựng
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211
thành công CNXH mới tăng cường được sức mạnh
dân tộc, mới giữ vững độc lập dân tộc. 
Để phát huy sức mạnh cộng đồng phải thực hiện đại
đoàn kết dân tộc và phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân trong xây dựng CNXH.  Trên bình diện cá nhân: 
Tác động vào nhu cầu và lợi ích, trước hết là lợi ích
vật chất thiết thân đối với người lao động. 
Tác động vào các động lực chính trị, tinh thần: 
Phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động 
Thực hiện công bằng xã hội 
Sử dụng vai trò điều chỉnh của các nhân tố
tinh thần khác như văn hóa, đạo đức, pháp
luật, phải nâng cao dân trí, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu... o
Ngoài các động lực bên trong, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tăng cường
đoàn kết quốc tế, gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
vô sản, sử dụng tốt các thành quả khoa học kỹ thuật…để thúc
đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. o
Đi đôi với việc khai thông các động lực, Hồ Chí Minh yêu cầu phải
nhận diện và khắc phục các lực cản, và Người đã chỉ ra những
căn bệnh có nguy cơ dẫn đến sự thoái hóa biến chất của một
đảng cầm quyền, tới sự tồn vong của chế độ là: chủ nghĩa cá
nhân; tệ tham nhũng, lãng phí, quan lieu; tệ chia rẽ, bè phái, mất
đoàn kết làm giảm sút uy tín của Đảng, của cách mạng; tệ chủ
quan, bảo thủ lười biếng không chịu học tập cái mới. Vận dụng:
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH trong hoàn cảnh
mới, Đảng ta tiếp tục tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về CNXH và con đường
đi lên CNXH ở nước ta. Điều này được khẳng định rõ trong cương lĩnh
và văn kiện các đại hội của Đảng. Đảng luôn xác định xây dựng XHCN
ở nước ta là một quá trình của cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, là
sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ. Đảng đã đề ra những phương
hướng và nhiệm vụ để thực hiện thành công mục tiêu CNXH. Câu 2 2
Câu hỏi 2: Quan điểm của Hồ Chí Minh về các nguyên tắc xác định
bước đi, các bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội
trong thời kỳ quá độ ở nước ta; sự vận dụng của Đảng ta hiện nay.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211 Trả lời gợi ý:
Nguyên tắc xác định bước đi:
Hồ Chí Minh nêu lên 2 nguyên tắc có tính phương pháp luận trong việc
xác định bước đi và cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: o
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là hiện tượng phổ biến, mang tính
quốc tế vì vậy phải quán triệt các nguyên lý cơ bản của chu
nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệm của các nước anh em
nhưng không được giáo, điều máy móc. o
Xác định bước đi và các biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội
cần căn cứ vào điều kiện thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và
khả năng thực tế của nhân dân.
Về bước đi của thời kì quá độ: o
Thứ nhất, ưu tiên phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt
trận hàng đầu. Người giải thích: Chúng ta vừa ra khỏi chiến
tranh, “Nếu để dân đói là chính phủ có lỗi, mọi chính sách của
Đảng không thực hiện được”, “Muốn phát triển công nghiệp, phát
triển kinh tế nói chung thì phải lấy phát triển nông nghiệp làm
gốc, làm chính”; “Phải ưu tiên phát triển nông nghiệp còn bởi vì
chúng ta có “thiên thời” (khí hậu, đất đai), “nhân hòa” (lực lượng
lao động nông nghiệp). Vì vậy, “Trong thời kỳ quá độ lên CNXH,
ta phải dựa vào nông nghiệp và phát triển nông nghiệp là cực kỳ quan trọng”. o
Thứ hai, phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ. o
Thứ ba, phát triển công nghiệp nặng. Biện pháp: o
Muốn bớt mò mẫm, đỡ phạm sai lầm phải học tập kinh nghiệm
các nước anh em, tuy nhiên không được rập khuôn, giáo điều,
sao chép, mà phải học một cách sáng tạo, phải chú ý đến thực tiễn nước ta. o
Phải đi sâu vào thực tiễn để điều tra, khảo sát, từ thực tiễn mà đề
xuất các vấn đề phương pháp cho cách mạng Việt Nam. o
Người nhấn mạnh tới vai trò quyết định của biện pháp tổ chức
thực hiện và nhắc nhở khi soạn thảo và thực hiện kế hoạch phải
thực hiện phương châm: Chỉ tiêu một, biện pháp mười, quyết
tâm hai mươi,... có như thế kế hoạch mới hoàn thành tốt được.
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|61626211 o
Thực hiện phát triển kinh tế xã hội hài hòa đảm bảo cho các
thành phần kinh tế, thành phần xã hội đều có điều kiện phát triển. o
Biện pháp cơ bản lâu dài, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phải “Đem tài dân, sức dân,
của dân mà làm lợi cho dân”. Vận dụng: o
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới toàn diện đất nước vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, tiếp tục con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Đổi mới, vì thế, là
quá trình vận dụng và tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định
với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chứ
không phải thay đổi mục tiêu. o
Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà
nước, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực
hiện cần kiệm xây dựng CNXH. Câu hỏi 3 3
Câu hỏi 3: Những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về Đảng
Cộng sản Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với quá trình xây dựng
Đảng ta trong sạch vững mạnh. Trả lời gợi ý: Luận điểm: o
Đảng CSVN là sản phẩm của sự kết hợp CN Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Khác với CN
Mác - Lênin cho rằng Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết
hợp lý luận của CN Mác - Lênin với phong trào công nhân. Còn
với Hồ Chí Minh, bằng sự vận dụng CN Mác - Lênin vào điều
kiện cụ thể của cách mạng VN, nếu kết hợp CN Mác - Lênin với
phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ
bé, phong trào công nhân còn non yếu, trong khi đó phong trào
yêu nước của nhân dân ta rất mãnh liệt. Bên cạnh hai yếu tố
trên, Hồ Chí Minh còn kể đến yếu tố thứ 3 đó là phong trào yêu
nước. Đây là yếu tố có trước và là một phong trào thực sự to lớn,
thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Phong
trào yêu nước với phong trào công nhân có mục tiêu chung là
giải phóng dân tộc, quyền lợi giai cấp công nhân và của toàn thể
Downloaded by H?ng Nguy?n Tr?n Mai (hangntmk24418@st.uel.edu.vn)