lOMoARcPSD| 58702377
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NHÓM 7
Đề tài: Giả sử em làm chuyên viên phân tích kinh doanh cho một
công ty nông sản/ thực phẩm công ty này đang cân nhắc xuất khẩu
sang Nhật Bản. Theo em các yếu tố nào về môi trường đầu nước
ngoài doanh nghiệp cần cân nhắc, em hãy phân tích môi trường đầu
tư dưới góc nhìn mà công ty lựa chọn.
Tên thành viên nhóm:
1. Phạm Quang Văn Khổng
2. Trung Phụng
3. Lê Xuân Thành
4. Phạm Thị Thu Hiền
5. Tiêu Thị Thanh Phương
Năm học 2021-2022
lOMoARcPSD| 58702377
MỤC LỤC
1. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam: ........................................... 1
a. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang nước ngoài: .......... 1
b.Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản ... 3
2. Môi trường tự nhiên: ...................................................................................... 3
a. Điều kiện tự nhiên ....................................................................................... 3
b. Nông nghiệp ở Nhật Bản ............................................................................ 4
3. Môi trường chính trị ....................................................................................... 4
a. Chính sách nhp khẩu của Nhật Bản ....................................................... 4
b. Thuế quan tại Nhật Bản ............................................................................. 5
c. Hệ thống ưu đãi thuế quan ......................................................................... 5
d. Mối quan hệ trao đổi hàng hóa giữa Nhật Bản và Việt Nam ................. 5
4. Môi trường pháp luật ..................................................................................... 6
5. Môi trường kinh tế .......................................................................................... 9
6. Môi trường văn hóa hội ........................................................................... 10
7. Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của công ty HAGL tại Nhật Bản ............. 11
# Mô hình SWOT: .......................................................................................... 11
Danh mục tài liệu tham khảo ........................................................................... 14
1. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam:
a. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang nước ngoài:
Bước vào năm 2021, hoạt động xuất khẩu đã đối mặt với rất nhiều khó khăn,
thách thức gây ra bởi dịch Covid-19. Đặc biệt trong tháng 7 tháng 8, làn
sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát mạnh ở nhiều địa phương đã làm đứt
gãy các chuỗi cung ứng tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản
xuất, xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, tính chung 8 tháng năm 2021, xuất khẩu
nông sản Việt Nam (bao gồm 8 mặt hàng chủ yếu là hàng rau quả, hạt điều, hạt
lOMoARcPSD| 58702377
tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) vẫn tăng trưởng khá, nhiều
mặt hàng xuất khẩu nông sản tăng cả về lượng và giá trị xuất khẩu.
Cụ thể, trong 8 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản
đạt 12,4 tỷ USD (tăng 14,2%), trong đó 6 mặt hàng giá trị xuất khẩu
tăng là: Rau quả tăng 11,8%; hạt điều tăng 15,1%; phê tăng 1,1%; cao su
tăng 61,4%; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 28,4%; hạt tiêu tăng 50,2%. Chỉ
có 2 mặt hàng có giá trị xuất khẩu giảm là: Gạo đạt giảm 6,8%; chè đạt giảm
1,6%.
TỔNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
VÀ MẶT HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU 8 THÁNG NĂM 2021
Nghìn tấn; Triệu USD
Nếu so sánh với mức tăng 13,9% của 6 tháng đầu năm thì mức tăng giá trị
xuất khẩu của 8 tháng so với cùng kỳ tăng 0,3%. Trong đó: Hạt tiêu tăng 9,7%;
cà phê tăng 5,6%; hạt điều tăng 4%. Ngoài ra, có một số mặt hàng giảm: Gạo
giảm 2.1%; sắn và các sản phẩm của sắn giảm 2,1%; rau quả giảm 5,9%; chè
giảm 6%; cao su giảm 18,5%. Điều đó cho thấy mặc dù làn sóng dịch Covid-
19 thứ 4 đã tác động tới nhiều mặt của nền kinh tế nhưng hoạt động xuất khẩu
nông sản vẫn duy trì mức tăng khá.
Tuy bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng giá trị xuất khẩu nhóm hàng rau
quả 8 tháng năm 2021 vẫn đạt cao nhất tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước.
Với đà này, xuất khẩu rau quả năm nay ssự phục hồi mạnh mẽ. Một số
mặt hàng lượng xuất khẩu tăng cao là: Cao su; hạt điều; sắn các sản
phẩm từ sắn. Một số mặt hàng khác giá trị xuất khẩu tăng cao là: Cao su,
hạt tiêu, sắn các sản phẩm tsắn, hạt điều. Giá trị xuất khẩu nhiều mặt hàng
lOMoARcPSD| 58702377
nông sản trong 8 tháng năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước không chỉ do
lượng tăng mà còn do giá xuất khẩu tăng.
b. Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Hiện hơn 10 triệu người châu Á đang sinh sống làm việc tại Nhật Bản.
Hàng nông thủy sản-thực phẩm nhập khẩu từ Việt Nam ngày càng được biết đến
rộng rãi, được cả người Nhật cộng đồng người Việt Nhật cũng nngười
dân các nước châu Á khác đón nhận và lượng tiêu thụ tốt tại thị trường Nhật
Bản.
Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản (Bộ Công Thương) cho biết, Nhật Bản là th
trường nhu cầu nhập khẩu tiêu thụ lớn các sản phẩm nông thủy sảnthực
phẩm nước ngoài. Việt Nam được đánh giá quốc gia thế mạnh vnhững mặt
hàng đó khả năng cung ứng tốt cho thị trường này. Trong bối cảnh xuất
nhập khẩu của Việt Nam với thế giới bị ảnh hưởng chung, thị trường Nhật Bản
vẫn là điểm sáng khi duy trì được mức tăng trưởng đáng khích lệ. Cụ thể:
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản
năm 2021 đạt 1,8 tỷ USD, giảm nhẹ ở mức 0,5% so với năm 2020. Mặc mặt
hàng chủ lực trong nhóm hàng này là hàng thủy sản có mức giảm 7,4%, các mặt
hàng còn lại ghi nhận mức tăng trưởng rất tốt, như phê tăng 25,5%, hàng rau
quả tăng 20%, hạt điều tăng 39%, hạt tiêu tăng 56%... Một số mặt hàng trái cây
Việt Nam cũng chiếm thị phần lớn ngày càng phổ biến trên thị trường, như
thanh long, xoài, dừa, vải...
Cùng với sự đổi mới trong thị hiếu tiêu dùng, người dân Nhật Bản ngày càng
quan tâm đến các sản phẩm chất lượng cao được nhập khẩu từ nước ngoài. Các
sản phẩm nông thủy sản-thực phẩm của Việt Nam đang ngày càng xuất hiện phổ
biến với đa dạng chủng loại trên các kệ hàng của các chuỗi siêu thị lớn tại
Nhật Bản, như AEON, Donkihote, Itoyokado…
=> Nhận xét:
Trong thời gian qua, hàng nông sản Việt Nam vẫn duy trì được thị phần tại thị
trường Nhật Bản, giá tỉ xuất khẩu ng theo từng năm. Điều này cho thấy, ng
nông sản của Việt Nam ngày càng thích nghi tốt hơn với thị trường khá là “khắt
khe" này. Các sản phẩm của chúng ta ngày càng được đa dạng hoá về mẫu mã và
chủng loại sản phẩm để đáp ứng được yêu cầu của người tiên đồng Nhật Bản.
2. Môi trường tự nhiên:
a. Điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi:
- Vị trí địa lí:
+ Nằm Đông Á, gần Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên và các nước Đông
Nam Á cũng như cả 4 mặt đều giáp biển giúp cho Nhật Bản có điều kiện giao
lOMoARcPSD| 58702377
lưu, buôn bán, mở rộng thị trường. Đặc biệt, Nhật Bản có vị trí không quá xa
Việt Nam cả về đường biển và đường hàng không (chỉ khoảng 3700km).
- Khí hậu: Nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, mưa nhiều. Phía Bắc khíhậu
ôn đới, phía nam có khí hậu cận nhiệt đới.
* Khó khăn:
- Địa hình chủ yếu núi, đồng bằng nhỏ, hẹp nên thiếu đất nông nghiệp. -
Trên lãnh thổ có hơn 80 núi lửa đang hoạt động, mỗi năm có hàng nghìn trận
động đất cũng như bão, sóng thần… lớn, nhỏ gây ra nhiều thiệt hại về người
và của.
b. Nông nghiệp ở Nhật Bản
Giữ vai trò thứ yếu, tỉ trọng chỉ chiếm khoảng 1%.
Diện tích đất ít, chỉ chiếm chưa đầy 14% lãnh thổ.
=> Nhận xét:
Chưa đáp ứng đủ nhu cầu của đất nước về nông sản (cụ thể là lương thực,
trái cây).
sự tiện lợi nhất định khi nhập khẩu ng hóa từ Việt Nam do khoảng
cách địa lý là không lớn.
3. Môi trường chính trị
Khái niệm Môi trường chính
trị:
- Chính trị toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữacác
giai cấp hoặc giữa các dân tộc hoặc các tầng lớp xã hội
- Ổn định chính trị yếu tố quan trọng hàng đầu đối với thu hút đầu (nềnchính
trị ổn định → nền kinh tế ổn định)
Các luật lệ, chính sách, chế độ liên quan đến đầu tư, tạo ra sự phát triển ổn
định của nền KT, ổn định xã hội
Chính phủ thay đổi định hướng đầu (đổi lĩnh vực khuyến khích, chiến
lược xuất nhập khẩu…) → Bất lợi
a. Chính sách nhp khẩu của Nhật Bản
- Trên nguyên tắc, ngoại trừ một số ít mặt hàng, thị trường Nhật Bản tự
dotrong lĩnh vực ngoại thương. Hiện nay, hầu hết hàng nhập khẩu các mặt hàng
nhập khẩu tự do không cần xin phép của Bộ Kinh tế, Thương mại Công
nghiệp (METI).
- Tuy nhiên, vẫn những mặt hàng nhập khẩu cần sự phê chuẩn của
Bộtrưởng Bộ Kinh tế, Thương mại Công nghiệp ghi trong giấy thông báo nhập
khẩu phù hợp với các quy định về kiểm soát nhập khẩu gồm 66 mặt hàng cần hạn
ngạch nhập khẩu vật nuôi, cây cối c sản phẩm quy định trong công ước
Washington.
lOMoARcPSD| 58702377
- Một shàng hóa nhập khẩu thế tác động tiêu cực đến ngành côngnghiệp,
kinh tế, vệ sinh, hoặc an toàn hội đạo đức Nhật Bản. Những hàng hoá
này thuộc diện "hạn chế nhập khẩu" theo nhiều quy định và luật lệ trong nước.
b. Thuế quan tại Nhật Bản
- Nhật Bản sờ dụng Hệ thống phân loại HS. Nhật Bán hai loại mức thuế
quan là mức thuế tự định (còn gọi là quốc định), và mức thuế hiệp định:
(1) Mức thuế tự định: được quy định trong luật thuế chia làm ba loại:
mức thuế bản, mức thuế tạm thời mức thuế ưu đãi: - Mức thuế bản: được
quy định trong luật thuế hải quan. Đây là mức được áp dụng trong thời gian dài.
- Mức thuế tạm thời: được quy định theo luật thuế tạm thời. Đây mức thuế
mang tính tạm thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian
nhất định trong trường hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. - Mức thuế ưu đãi:
mức thuế áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Mức thuế
này thấp hơn mức thuế nhập khẩu từ các nước phát triển.
(2) Mức thuế hiệp định: là mức thuế được thỏa thuận trong các hiệp định
kývới nước ngoài. Trong đó quy định chỉ đánh thuế vào mặt hàng nào đó theo
một mức thuế thấp.
Theo hiệp hội thuế quan Nhật Bản, biểu thuế áp dụng cho các mặt hàng nhập
khẩu vào Nhật Bản là một trong số những biểu thuế thấp nhất trên thế giới. Tuy
nhiên, một số mặt hàng như đồ da các sản phẩm nông nghiệp vân chịu thuế
suất cao. Hiện nay, thuế suất áp dụng đối với các mặt hàng nông nghiệp đang
giảm dần. Báo hiệu một thị trường xuất khẩu nông nghiệp hứa hẹn.
Nhìn chung, Nhật Bản đã đạo luật ràng về việc áp dụng quy chế thuế
quan đặc biệt để bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất nội địa mỗi khi có thiệt hại
thật sự do việc bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu của nước ngoài. [1]
c. Hệ thống ưu đãi thuế quan
Sự hỗ trợ của Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nhật. Thời gian qua, Việt Nam
và Nhật Bản đã ký kết nhiều thỏa thuận kinh tế quan trọng như Hiệp định Đối tác
kinh tế Việt - Nhật (VJEPA) được triển khai đồng bvào năm 2010 đến nay. Điểm
quan trọng của thỏa thuận này là việc giảm thuế mạnh mẽ các mặt hàng nông
thủy sản xuất khẩu vào Nhật Bản như trong số 2.020 dòng thuế nông sản, Nhật
Bản đã xóa bỏ ngay đối với 784 dòng, chiếm 36% tổng số dòng thuế nông sản
chiếm 67,6% giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam. Theo lộ trình VJEPA, đến năm
2020 sẽ trên 800 dòng sản phẩm ng thủy sản Việt Nam vào Nhật với thuế
suất 0%
d. Mối quan hệ trao đổi hàng hóa giữa Nhật Bản và Việt Nam
Hiện tại, sự giao lưu kinh tế giữa hai nước đã đang đang ngày càng được thắt
chặt, có thể kể đến các sự kiện hợp tác tiêu biểu giữa hai nước là:
Quan hệ Việt - Nhật (1973)
Thực hiện sáng kiến chung Việt Nhật (07/04/2003)
lOMoARcPSD| 58702377
Hiệp định bảo hộ thúc đẩy tự do hàng hóa đầu tư Việt - Nhật
(14/11/2003)
Hiệp định Đối tác kinh tế Việt - Nhật (25/12/2008) và nhiều sự kiện khác
nữa
Nhật Bản không chỉ một một đất nước cung cấp nguồn vốn hợp tác phát
triển chính thức (ODA) mà còn là một trong những bạn đối tác làm ăn chính với
nước ta. Nhật Bản sẵn sàng chi trả, đầu tư nhiều hơn cho Việt Nam nếu nước ta
có thể đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về hàng hóa nhập khẩu tại Nhật. Đó cũng là cơ
hội cũng như thách thức cho công ty HAGL khi phải khẳng định chất lượng đạt
tiêu chuẩn của mình để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư Nhật Bản.
=> Nhận xét:
Nhật Bản đang tiếp tục duy trì và phát triển chế độ mậu dịch tự do. Từ những
năm 80, Nhật Bản đã xúc tiến mở cửa thị trường bằng việc cắt giảm bãi bỏ
thuế nhập khẩu, chấm dứt và nới lỏng các biện pháp hạn chế số lượng, cải thiện
hệ thống cấp chứng nhận. Đối với nông sản nhập khẩu, cho đến nay, Nhật Bản
vẫn đang cố gắng để tự do hàng nhập khẩu mở rộng cửa thị trường cho các
nông sản chính. Kết hợp với môi trường chính trị tại nơi đây luôn ổn định, quan
hệ hữu nghị mạnh mẽ với Việt Nam thì Công ty HAGL thể hoàn toàn tự tin
các sản phẩm của mình sẽ được chào đón tại nơi đây khi mà đã hoàn toàn đạt các
tiêu chuẩn về hàng hóa nhập khẩu do Nhật Bản đề ra.
4. Môi trường pháp luật
Khái niệm Môi trường pháp luật:
- Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đượcNhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, Nhà nước đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của
giai cấp thống trị thực hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp
với lợi ích ca giai cấp mình.
- Pháp luật dùng để điều chỉnh hành vi kinh doanh ca các nhà đầu tư. Baogồm:
Quyền Nghĩa vụ của nhà đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu tư, Các chính
sách, Các chế tài để kiểm soát các lĩnh vực
Môi trường Pháp Luật tại Nhật Bản:
Nhật Bản là một thị trường lớn và phức tạp với mức độ cạnh tranh rất gay gắt.
Luật pháp Nhật Bàn đòi hỏi phải sự chấp nhận xuất nhập khẩu, hạn ngạch nhập
khẩu, kiểm tra chất ợng sản phẩm… trước khi nhập khẩu để đảm bảo an toàn
y tế cho người dân. Quy định chế độ cho phép nhập khẩu của Nhật Bản tuy
chưa thể hiện sự bất phợp với qua tắc WTO khi các tiêu chuẩn dần được
nới lỏng và thống nhất với tiêu chuẩn quốc tế. Những điều luật cơ bản có thể ảnh
hưởng đến Công ty HAGL có thể kể đến là:
lOMoARcPSD| 58702377
- Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bàn (Luật JAS), ban hành vào tháng 5
năm1970, quy định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các quy tắc về việc ghi
nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS:
Hệ thống JAS gồm hai phần: "the Japanese Agricultural Standards (JAS)
System" và "the Quality Labeling Standards Systems". “Hệ thống
JAS”("The JAS System") được thiết kế nhằm cho phép các sản phẩm đã
qua kiểm tra dựa trên các tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật bản được mang
biểu tượng JAS. "Hệ thống Tiêu chuẩn Ghi nhãn Chất lượng" ("the
Quality Labelling Standards Systems") được thiết kế nhằm yêu cầu các
nhà sản xuất và bán hàng phải dán nhãn sản phẩm của họ phù hợp với các
tiêu chuẩn về Ghi nhãn Chất lượng. Hệ thống JAS quy định cho gần 100
loại sản phẩm với khoảng 350 tiêu chuẩn cho các mặt hàng thực phẩm và
vật liệu gỗ xây dựng. Các tiêu chuẩn về Ghi nhãn chất lượng được áp
dụng cho tất cả các loại thực phẩm. Theo các tiêu chuẩn này, đối với thực
phẩm tươi phải có tên và nơi xuất xứ, với thực phẩm chế biến phải có tên,
thành phần, hạn sử dụng v.v...Ngoài ra, hệ thống kiểm tra, chứng nhận và
ghi nhãn cho sản phẩm thực phẩm hữu cơ cũng được xây dựng và tạo nên
một nhãn riêng cho sản phẩm thực phẩm "hữu cơ".
Tiêu chuẩn JAS là các tiêu chí về chất lượng nông lâm sản như phân loại,
thành phần cấu tạo, đặc tính hoặc về phương pháp sản xuất. Việc xây
dựng, sửa đổi hoặc hủy bỏ tiêu chuẩn JAS do sự quyết định của Ban
Nghiên cứu về Tiêu chuẩn Lâm và Nông nghiệp gồm toàn các chuyên gia
là các đại diện hoặc nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tiêu dùng, sản xuất và
phân phối. Các tiêu chuẩn quốc tế cũng được đưa ra cân nhắc. Tiêu chuẩn
JAS phải được soát xét định kỳ 5 năm.
Các tiêu chuẩn JAS bao quát cả các sản phẩm được sản xuất trong nước
và các sản phẩm nhập khẩu. Đối với hầu hết sản phẩm, Luật JAS quy
định một cách rõ ràng một tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng nhưng đối với
một số sản phẩm các quy định trong luật chỉ đưa ra những hướng dẫn cho
việc nâng cao chất lượng. Việc sử dụng dấu chứng nhận chất lượng JAS
trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như các
cửa hàng bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản
phẩm có chất lượng tiêu chuẩn JAS trừ những sản phẩm bắt buộc do
MAFF quy định. Tuy nhiên, người tiêu dùng Nhật rất tin tưởng đối với
chất lượng của các sản phẩm được đóng dấu JAS. Vì vậy, các nhà sản
xuất nước ngoài khi xuất khẩu hàng hóa vào Nhật Bàn có được dấu
chứng nhận chất lượng JAS sẽ tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hóa
của mình tại đây.
Về hệ thống chứng nhận, có hai phương pháp để được mang nhãn JAS:
nhà sản xuất chọn một tổ chức phân loại đã được đăng ký (registered
grading organization) hoặc họ tự tiến hành việc phân loại. Để có thể tự
tiến hành việc phân loại và dán nhãn JAS, nhà sản xuất phải có được
chứng nhận của tổ chức chứng nhận đã được đăng ký. Theo sửa đổi luật
lOMoARcPSD| 58702377
tháng 7/1999, các tổ chức hải ngoại cũng có thể cung cấp dịch vụ phân
loại và chứng nhận nếu tổ chức đó thoả mãn được cùng các điều kiện như
các tổ chức trong nước (đối với nông sản và lâm sản, chỉ áp dụng cho
những nước có hệ thống phân loại tương đương JAS mà danh sách được
nêu trong Quy định của Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật). Công ty hải
ngoại có thể đăng ký với Bộ này để được đăng ký là tổ chức chứng nhận
và phân loại ngoài nước. Việc này đã tạo nên cơ sở pháp lý cho các sản
phẩm sản xuất ở hải ngoại được phân loại và cấp nhãn JAS bởi chính các
công ty phân loại ở nước sở tại, đồng thời, các nhà sản xuất được công
nhận bởi các tổ chức chứng nhận hải ngoại đã được đăng ký cũng có thể
tự tiến hành các thủ tục và dán nhãn JAS.
- Luật vệ sinh thực phẩm: theo quy định mới, nếu như trong hàng nông sản
nhậpkhẩu phát hiện có chứa thuốc nông nghiệp không đúng tiêu chuẩn của Nhật
Bản, cho dù thuốc nông nghiệp đó phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế không
độc hại tới sức khỏe con người, cũng không cách nào thâm nhập vào thị trường
Nhật Bản, nếu có thì sẽ bị thu hồi và phải bồi thường ngay lập tức.
- Luật về trách nhiệm sản phẩm. Ngoài các tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm,một
điểm khác cũng phải được xem xét khi bán hàng hoa tại Nhật đó là luật về trách
nhiệm sản phẩm. Luật này hiệu lực ttháng 7 năm 1995, quy định trách nhiệm
của nhà sản xuất và người kinh doanh sàn phàm phải bồi thường đối với các các
thiệt hại do sử dụng sản phẩm bị lỗi , dù lỗi đó là do vô tình hay hữu ý. Tuy nhiên
cũng mới chỉ có một số vụ có liên quan tới vấn đề này, trong tương lai , số lượng
các loại kiện tụng về liên đới trách nhiệm sản phẩm sẽ chiều hướng gia tăng.
[4]
=> Nhận xét:
Người Nhật có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào dấu chất
lượng trên bao . Họ coi đó như sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng hàng hóa
được mua. Các nhà xuất khẩu có ý định thâm nhập vào thị trường Nhật Bản cần
được dấu chứng nhận JAS cũng như chế độ xác nhận trước về thực phẩm nhập
khẩu các loại khác cho sản phẩm của mình để đảm bảo rằng các sản phẩm này
được tiêu chuẩn tối thiểu tại thị trường Nhật, từ đó dễ dàng cho việc tiêu thụ hàng
hóa. Hơn nữa, thực tế cho thấy nếu chất lượng của một sản phẩm đã được th
trường Nhật chấp nhận thì sản phẩm đó hoàn toàn thể cạnh tranh được các
thị trường khác. Nếu công ty HAGL muốn thành công trong việc thâm nhập vào
thị trường này thì phải biết đánh gđiều chỉnh chiến lược thâm nhập thị trường
cũng như thấu hiểu sâu sắc về thị trường, về các vấn đề của hệ thống luật lệ của
lOMoARcPSD| 58702377
Nhật Bản đồng thời khả năng thích ứng với các quy định ngày càng gia tăng
về số lượng và tính chất phức tạp của nó.
5. Môi trường kinh tế
Với dân số gần 126 triệu người thu nhập bình quân đầu người khoảng 43.000
USD/người, Nhật Bản là thị trường có sức tiêu thụ lớn. Tuy vậy, theo số liệu của
Cơ quan Hải quan Nhật Bản, nhập khẩu từ Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 3%
trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản từ thế giới. Điều này cho thấy
hàng Việt Nam vẫn còn nhiều địa tiềm năng để thâm nhập vào thị trường
Nhật Bản.
Trong những năm gần đây đang diễn ra làn sóng các doanh nghiệp Nhật Bản
chuyển hướng đầu sang Việt Nam. Các doanh nghiệp Nhật tăng cường xây
dựng nhà máy, sản xuất sản phẩm Việt Nam rồi xuất khẩu ngược lại về Nhật
Bản. Bên cạnh đó số lượng người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản cũng tăng
nhanh trong một thập kỷ qua, khiến cho nhu cầu tiêu thụ hàng nông thủy sản
thực phẩm Việt Nam ngày càng gia tăng.
Nhật Bản là thị trường có khả năng chi trả cao, thu nhập bình quân tính trên đầu
người thuộc dạng cao trên thế giới đạt khoảng 15.250 USD(thời điểm khi Nhật
phát triển quan hệ ngoại giao các nước). Không dừng lại con số GDP, NB còn th
hiện sức hấp dẫn của mình qua mức chi cho tiêu dùng luôn chiếm tỷ trọng cao
khoảng 60-70% GDP.
Nhật Bản trang bị cho mình một hệ thống phân phối đa dạng và sâu rộng, việc
làm ăn với các đối tác Nhật cũng giúp các đối tác làm ăn đẩy mạnh khả năng thâm
nhập các mặt hàng nông nghiệp tới các đại lý phân phối, bán lẻ của Nhật họ hiểu
về những thị hiếu người tiêu dùng nước họ để rồi từ đó các đối tác làm ăn sẽ biết
làm thế nào để người tiêu dùng nước họ chấp nhận tạo cơ sở cho việc kinh doanh
một cách hiệu quả trên thị trường đất khách.
Nhu cầu nhập khẩu nông thủy sản của Nhật gia tăng: Nhu cầu về mặt hàng nông
thủy sản của Nhật ngày càng tăng do tỷ lệ nông nghiệp ngày càng nhỏ đi trong
cấu GDP của Nhật, từ gần 13% năm 1960 xuống chỉ còn n 1% năm 2012.
Do vậy, tỷ lđảm bảo tự cấp lương thực Nhật cũng giảm mạnh trong nhiều năm
qua. Gần đây, Nhật đã nới lỏng hơn một số tiêu chí về lượng kháng sinh đối
với gạo nhằm tăng lượng nhập khẩu gạo so với trước đây. Ngoài ra, việc Nhật
Bản tham gia đàm phán Hiệp ước đối tác xuyên Thái nh Dương (TPP) sẽ làm
giảm đáng kể các mức thuế cao mà Nhật hiện đang áp dụng với một số mặt hàng
nhập khẩu như 778% đối với gạo, 328% với đường và 218% với sữa bột.
lOMoARcPSD| 58702377
6. Môi trường văn hóa hội
Tuy không ảnh hưởng mạnh mẽ như nhân tố kinh tế, song nhân tố văn hóa- xã
hội cũng đóng vai trò rất quan trọng đến sự biến động phát triển của thị trường.
Đặc biệt các yếu tố văn hóa hội tác động rất lớn đến sự hình thành phát
triển của nhu cầu thị trường. vậy trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp
luôn cần có 1 mức độ am hiểu nhất định về văn hóa tại quốc gia đó.
Tuy cũng một cường quốc trên thế giới vkinh tế nhưng Nhật Bản một
sức hấp dẫn mạnh mkhông hề giống bất kỳ một đất nước nào, đó chính là sức
hút từ một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Các yếu tố về văn hóa và xã hội
được công ty tìm hiểu thu thập trong quá trình nghiên cứu để đầu vào thị
trường Nhật Bản như:
Thị hiếu thẩm mỹ
- Người Nhật thích nhất các màu đỏ trắng. Họ cho rằng màu đỏ màu
thểhiện tình yêu, sự kết hợp giữa màu đỏ trắng thể hiện cho hạnh phúc, tốt
lành. Màu đen trắng kết hợp thể hiện sự không may mắn... thế trong các
thiết kế sản phẩm hay quảng cáo ở Nhật Bản chúng ta nên phối hợp các tông màu
hợp lý, bắt mắt.
- Quảng cáo Nhật Bản thường sử dụng quảng cáo bằng pano, áp phích vớimàu
sắc dễ nhìn kết hợp chuỗi các hình ảnh giống nhau trên các đường phố. - Người
Nhật thích người nước ngoài sử dụng tiếng Nhật chữ viết của họ khi Nhật
hơn là sử dụng các ngôn ngữ khác.
Con người
- Một trong những đặc tính của người Nhật là hiếu kỳ nhạy cảm với văn
hóanước ngoài. Cùng với sự phát triển và giao lưu văn hóa hợp tác, số người Nhật
đi du lịch nghiên cứu, làm việc tại nước ngoài tăng, đồng nghĩa với việc c
sản phẩm không Nhật sẽ được biết đến rộng rãi người tiêu dùng Nhật Bản
cũng dễ dàng hơn đối với hàng hóa nhập khẩu
- Tại Nhật Bàn, chất lượng được quan tâm hàng đầu chứ không phải giá cả
nhưthông thường trong ngoại thương. Ngay cả khi mua hàng rẻ tiền thì người
Nhật cũng rất quan m đến chất lượng của mặt hàng đó. Thực tiễn Nhật Bản
chứng tỏ tiêu chuẩn chất lượng đ an toàn của hàng hóa của Nhật Bản cao hơn
và chặt chẽ hơn so với yêu cầu thông thường và tiêu chuẩn quốc tế. Sự tràn ngập
cửa hàng Nhật trên thị trường các nước khác chủ yếu là do các sản phẩm này có
chất lượng cao. Hàng hóa nước ngoài muốn vào thị trường Nhật Bản trước tiên
phải đáp ứng được những tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của nước này.
- Sự suy giảm dân số Nhật Bản cũng ncấu dân số già xu hướng chínhảnh
hưởng đến tiêu dùng rau quả Nhật Bản (Trong năm 2019, dân số tại 40 trong
tổng số 47 tỉnh của Nhật Bản đã giảm, trong khi 7 tỉnh còn lại ghi nhận dân số
tăng lên do xu hướng người dân đổ về các khu vực thành thị). Cùng với đó, sự
bùng nổ thực phẩm chế biến tiện lợi đã tác động lên thực phẩm tươi. Những
cửa hàng bán thực phẩm giá rẻ và nhanh đã đưa ra nhiều lựa chọn thuận tiện hơn
lOMoARcPSD| 58702377
và tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng và cho người tiêu dùng lựa chọn thực phẩm
giá thấp với chất lượng chấp nhận được.
- Do dân s đang già đi của Nhật Bản, nên xu hướng chủ yếu về nhu cầu
thựcphẩm sliên quan tới sức khỏe và an toàn, người tiêu dùng Nhật Bản thường
dùng ít calo hơn những người trẻ tuổi. Cho kinh tế suy giảm hay không,
những thực phẩm thành phần tốt cho sức khỏe sẽ tiếp tục xu hướng chính
của người tiêu dùng Nhật Bản. Hiện nay, xu hướng người tiêu dùng của Nhật Bản
cũng rất quan tâm đến các mặt hàng nông sản nhập khẩu. Theo khảo sát, tần suất
tiêu dùng rau quả của người dân Nhật Bản hiện nay khá cao. Tỷ lệ người tiêu
dùng được phỏng vấn tiêu dùng các sản phẩm rau quả hàng ngày hoặc 2, 3
lần/tuần.
Tần suất tiêu dùng rau quả của người dân Nhật Bản năm 2021 [link cho phần
tài liệu tham khảo]
- một đất nước phát triển và những chính sách ưu đãi cao nên Nhật Bảnđã
thu hút một lượng lớn du học sinh cũng như những người nước ngoài sang đây
để lao động, định cư (con số này lên đến 2,44 triệu người vào năm 2019, tăng lên
211.000 người so với năm ngoái) → Nhu cầu về những sản phẩm chất lượng, đạt
tiêu chuẩn nhưng giá cả cần phải hợp lý tăng mạnh và đó cũng chính là điều mà
Công ty HAGL có thể thỏa mãn.
7. Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của công ty HAGL tại Nhật Bản
# Mô hình SWOT:
Mục tiêu: Xuất khẩu sản phẩm nông sản của công ty sang thị trường Nhật
Bản
lOMoARcPSD| 58702377
Cơ hội
- Nhu cầu v các sản phẩm nông
sảnđang tăng
- Mở rộng các chính sách khuyến
khíchnhập khẩu các hàng hóa từ nước
ngoài - Hiệp định Đối tác kinh tế Việt -
Nhật (VJEPA)
- thị trường khả năng chi tr
lớn,thu nhập bình quân đầu người cao -
Thị trường trong nước có hệ thống phân
phối đa dạng và sâu rộng
- Con người tại nơi đây có sự hứng
thúnhất định dành cho các sản phẩm từ
nước ngoài
- Số lượng lớn người nước ngoài
sinhsống tại Nhật Bản với yêu cầu hàng
hóa có mức giá phải chăng
Thách thức
- Yêu cầu về chất lượng được
đặtlên hàng đầu
- Các mặt hàng nhập khẩu đều
phảitrải qua sự kiểm duyệt, tiêu
chuẩn khắt khe (nhất là Luật JAS)
- thị trường phát triển
Nhiềuđối thủ mạnh cạnh tranh
Điểm mạnh
- Quy lớn, nguồn hàng cung
ứngđều quanh năm với chất lượng ổn
định theo tiêu chuẩn Global GAP
- Các mặt hàng giá cả phải chăng
đi
đôi với chất lượng tốt cũng như đa dạng
về mẫu mã
- Tiềm năng thích nghi tốt trước
nhữngtiêu chuẩn “khắt khe” của nước
bạn
Điểm yếu
- Chưa nhiều kinh nghiệm trong
việc xuất khẩu nông nghiệp sang thị
trường Nhật Bản
=> Tiềm năng xuất khẩu tại Nhật Bản và định hướng cơ hội xuất khẩu của
Công ty HAGL:
- Nhật Bản một trong những thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất thế giới.
Nhận thấy đây là một thị trường tiềm năng với lượng cầu về nông sản đang ngày
một tăng cao nên điều này đã thôi thúc công ty tìm hiểu và nghiên cứu thị trường
này để tạo đà đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung và doanh số của
công ty nói riêng lên một nấc thang mới. Với những yếu tố về điều kiện tự nhiên,
chính trị, pháp luật, kinh tế văn hóa hội đã đang mang lại những cân
nhắc đáng kể cho quá trình bắt đầu đưa nông sản Việt ra thị trường Nhật Bản.
trên thực tế mặt hàng nông sản của Việt Nam ngày càng được người tiêu dùng
Nhật Bản đón nhận. Ngày nay với xu hướng tiêu dùng quan tâm nhiều nhất tới
yếu tố tác động đến sức khỏe, sau đógiá thành sự tiện lợi của sản phẩm…
lOMoARcPSD| 58702377
thì với ưu thế về quy lớn, nguồn hàng cung ứng đều quanh năm với chất lượng
ổn định theo tiêu chuẩn Global GAP công ty hoàn toàn đáp ứng được những điều
kiện khắt khe bên phía thị trường Nhật Bản. - Định hướng: Các sản phẩm chủ đạo
của ng ty như chuối, mít, xoài với thâm niên hơn 10 năm đạt các yêu cầu về
chất lượng cũng như là có được sự tin tưởng của người dùng tại Việt Nam sẽ
một món hàng tiềm năng để xuất khẩu sang một thị trường mới - Nhật Bản. Cụ
thể với mục tiêu là hướng đến những đối tượng khách hàng là người nước ngoài
cũng như những người dân tại Nhật Bản quan tâm về chất lượng, tiêu chuẩn
với giá cả phải chăng. Nhìn nhận một cách tổng quát, Công ty HAGL nhiều
hội thế mạnh hơn những thách thức điểm yếu khi vấn đề khó chịu nhất
chỉ bộ luật với hàng hóa nhập khẩu tại Nhật Bản (đặc biệt Luật JAS). Tuy
nhiên, với thế mạnh và kinh nghiệm trồng cây ăn quả đạt tiêu chuẩn chất lượng,
an toàn sức khỏe tại Việt Nam cùng với khả năng thích ứng nhanh của công ty
HAGL hoàn toàn thể ttin từng bước tiến vào thị trường hoa quả tại Nhật Bản.
lOMoARcPSD| 58702377
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bùi Xuân Lưu (2001), Chính sách ngoại thương của Nhật Bản thời kỳ tăng
trưởng cao và toàn cầu hóa kinh tế, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2002), Thâm nhập thị trường
quốc tế qua GSP, NXB Lao động, Hà Nội.
3. Trung tâm vấn và Đào tạo kinh tế thương mại (ICTC), JETRO (1997), Thị
trường Nhật Bn, NXB Văn hóa Thông Tin, Hà Nội.
4. Viện nghiên cứu thương mại, Viện - vấn phát triển KT-XH nông thôn
vàmiền núi (2003), Cẩm nang thị trường xuất khẩu - Thị trường Nhật Bản,
NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội.
5. Phạm Thị Xuân Mai (2004), "Tự do hóa mậu dịch ng sản của Nhật Bản",
Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, trang. 3-11.
6. Phương Thanh (2004), "Chính sách nhập khẩu rau quả của Nhật Bán"
Thương mại, (29), trang10
7. Đinh Cao Khuê, Nguyễn Thị Thủy, Trần Đình Thao (2021), Đặc điểm thị
trường Nhật Bản và một số giải pháp xuất khẩu rau quả của Việt Nam, Tạp
chí Tài chính.
8. TBT An Giang (2021), Một số đặc điểm của thị trường Nhật Bản doanh
nghiệp cần lưu ý.
9. Bộ Công thương Việt Nam (2022), Hàng nông thủy sản- thực phẩm Việt Nam
có nhiều tiềm năng xuất khẩu sang Nhật Bản trong năm 2022.
10. Diễm Thu, Văn hóa Nhật Bản: Tìm hiểu về Con người, Văn hóa, Phong tục
Nhật Bản.
11. Kho tri thức số, Các vấn đề liên quan đến môi trường vận hành Marketing ở
thị trường Nhật Bản.
12. Đỗ Hương (2022), Nhật Bản ‘ rộng cửa’ đón nhận nông sản Việt Nam.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58702377
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  NHÓM 7
Đề tài: Giả sử em làm chuyên viên phân tích kinh doanh cho một
công ty nông sản/ thực phẩm và công ty này đang cân nhắc xuất khẩu
sang Nhật Bản. Theo em các yếu tố nào về môi trường đầu tư nước
ngoài mà doanh nghiệp cần cân nhắc, em hãy phân tích môi trường đầu
tư dưới góc nhìn mà công ty lựa chọn. Tên thành viên nhóm: 1. Phạm Quang Văn Khổng 2. Lê Trung Phụng 3. Lê Xuân Thành 4. Phạm Thị Thu Hiền 5. Tiêu Thị Thanh Phương Năm học 2021-2022 lOMoAR cPSD| 58702377 MỤC LỤC
1. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam: ........................................... 1
a. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang nước ngoài: .......... 1
b.Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản ... 3
2. Môi trường tự nhiên: ...................................................................................... 3
a. Điều kiện tự nhiên ....................................................................................... 3
b. Nông nghiệp ở Nhật Bản ............................................................................ 4
3. Môi trường chính trị ....................................................................................... 4
a. Chính sách nhập khẩu của Nhật Bản ....................................................... 4
b. Thuế quan tại Nhật Bản ............................................................................. 5
c. Hệ thống ưu đãi thuế quan ......................................................................... 5
d. Mối quan hệ trao đổi hàng hóa giữa Nhật Bản và Việt Nam ................. 5
4. Môi trường pháp luật ..................................................................................... 6
5. Môi trường kinh tế .......................................................................................... 9
6. Môi trường văn hóa xã hội ........................................................................... 10
7. Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của công ty HAGL tại Nhật Bản ............. 11
# Mô hình SWOT: .......................................................................................... 11
Danh mục tài liệu tham khảo ........................................................................... 14
1. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam:
a. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang nước ngoài:
Bước vào năm 2021, hoạt động xuất khẩu đã đối mặt với rất nhiều khó khăn,
thách thức gây ra bởi dịch Covid-19. Đặc biệt trong tháng 7 và tháng 8, làn
sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát mạnh ở nhiều địa phương đã làm đứt
gãy các chuỗi cung ứng – tiêu thụ và ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản
xuất, xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, tính chung 8 tháng năm 2021, xuất khẩu
nông sản Việt Nam (bao gồm 8 mặt hàng chủ yếu là hàng rau quả, hạt điều, hạt lOMoAR cPSD| 58702377
tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) vẫn tăng trưởng khá, nhiều
mặt hàng xuất khẩu nông sản tăng cả về lượng và giá trị xuất khẩu.
Cụ thể, trong 8 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản
đạt 12,4 tỷ USD (tăng 14,2%), trong đó có 6 mặt hàng có giá trị xuất khẩu
tăng là: Rau quả tăng 11,8%; hạt điều tăng 15,1%; cà phê tăng 1,1%; cao su
tăng 61,4%; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 28,4%; hạt tiêu tăng 50,2%. Chỉ
có 2 mặt hàng có giá trị xuất khẩu giảm là: Gạo đạt giảm 6,8%; chè đạt giảm 1,6%.
TỔNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
VÀ MẶT HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU 8 THÁNG NĂM 2021 Nghìn tấn; Triệu USD
Nếu so sánh với mức tăng 13,9% của 6 tháng đầu năm thì mức tăng giá trị
xuất khẩu của 8 tháng so với cùng kỳ tăng 0,3%. Trong đó: Hạt tiêu tăng 9,7%;
cà phê tăng 5,6%; hạt điều tăng 4%. Ngoài ra, có một số mặt hàng giảm: Gạo
giảm 2.1%; sắn và các sản phẩm của sắn giảm 2,1%; rau quả giảm 5,9%; chè
giảm 6%; cao su giảm 18,5%. Điều đó cho thấy mặc dù làn sóng dịch Covid-
19 thứ 4 đã tác động tới nhiều mặt của nền kinh tế nhưng hoạt động xuất khẩu
nông sản vẫn duy trì mức tăng khá.
Tuy bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng giá trị xuất khẩu nhóm hàng rau
quả 8 tháng năm 2021 vẫn đạt cao nhất tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước.
Với đà này, xuất khẩu rau quả năm nay sẽ có sự phục hồi mạnh mẽ. Một số
mặt hàng có lượng xuất khẩu tăng cao là: Cao su; hạt điều; sắn và các sản
phẩm từ sắn. Một số mặt hàng khác có giá trị xuất khẩu tăng cao là: Cao su,
hạt tiêu, sắn và các sản phẩm từ sắn, hạt điều. Giá trị xuất khẩu nhiều mặt hàng lOMoAR cPSD| 58702377
nông sản trong 8 tháng năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước không chỉ do
lượng tăng mà còn do giá xuất khẩu tăng.
b. Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Hiện có hơn 10 triệu người châu Á đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản.
Hàng nông thủy sản-thực phẩm nhập khẩu từ Việt Nam ngày càng được biết đến
rộng rãi, được cả người Nhật và cộng đồng người Việt ở Nhật cũng như người
dân các nước châu Á khác đón nhận và có lượng tiêu thụ tốt tại thị trường Nhật Bản.
Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản (Bộ Công Thương) cho biết, Nhật Bản là thị
trường có nhu cầu nhập khẩu và tiêu thụ lớn các sản phẩm nông thủy sảnthực
phẩm nước ngoài. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có thế mạnh về những mặt
hàng đó và có khả năng cung ứng tốt cho thị trường này. Trong bối cảnh xuất
nhập khẩu của Việt Nam với thế giới bị ảnh hưởng chung, thị trường Nhật Bản
vẫn là điểm sáng khi duy trì được mức tăng trưởng đáng khích lệ. Cụ thể:
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản
năm 2021 đạt 1,8 tỷ USD, giảm nhẹ ở mức 0,5% so với năm 2020. Mặc dù mặt
hàng chủ lực trong nhóm hàng này là hàng thủy sản có mức giảm 7,4%, các mặt
hàng còn lại ghi nhận mức tăng trưởng rất tốt, như cà phê tăng 25,5%, hàng rau
quả tăng 20%, hạt điều tăng 39%, hạt tiêu tăng 56%... Một số mặt hàng trái cây
Việt Nam cũng chiếm thị phần lớn và ngày càng phổ biến trên thị trường, như
thanh long, xoài, dừa, vải...
Cùng với sự đổi mới trong thị hiếu tiêu dùng, người dân Nhật Bản ngày càng
quan tâm đến các sản phẩm chất lượng cao được nhập khẩu từ nước ngoài. Các
sản phẩm nông thủy sản-thực phẩm của Việt Nam đang ngày càng xuất hiện phổ
biến với đa dạng chủng loại trên các kệ hàng của các chuỗi siêu thị lớn tại
Nhật Bản, như AEON, Donkihote, Itoyokado… => Nhận xét:
Trong thời gian qua, hàng nông sản Việt Nam vẫn duy trì được thị phần tại thị
trường Nhật Bản, giá tỉ xuất khẩu tăng theo từng năm. Điều này cho thấy, hàng
nông sản của Việt Nam ngày càng thích nghi tốt hơn với thị trường khá là “khắt
khe" này. Các sản phẩm của chúng ta ngày càng được đa dạng hoá về mẫu mã và
chủng loại sản phẩm để đáp ứng được yêu cầu của người tiên đồng Nhật Bản.
2. Môi trường tự nhiên:
a. Điều kiện tự nhiên * Thuận lợi: - Vị trí địa lí:
+ Nằm ở Đông Á, gần Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên và các nước Đông
Nam Á cũng như cả 4 mặt đều giáp biển giúp cho Nhật Bản có điều kiện giao lOMoAR cPSD| 58702377
lưu, buôn bán, mở rộng thị trường. Đặc biệt, Nhật Bản có vị trí không quá xa
Việt Nam cả về đường biển và đường hàng không (chỉ khoảng 3700km).
- Khí hậu: Nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, mưa nhiều. Phía Bắc có khíhậu
ôn đới, phía nam có khí hậu cận nhiệt đới. * Khó khăn:
- Địa hình chủ yếu là núi, đồng bằng nhỏ, hẹp nên thiếu đất nông nghiệp. -
Trên lãnh thổ có hơn 80 núi lửa đang hoạt động, mỗi năm có hàng nghìn trận
động đất cũng như bão, sóng thần… lớn, nhỏ gây ra nhiều thiệt hại về người và của.
b. Nông nghiệp ở Nhật Bản
– Giữ vai trò thứ yếu, tỉ trọng chỉ chiếm khoảng 1%.
– Diện tích đất ít, chỉ chiếm chưa đầy 14% lãnh thổ. => Nhận xét:
Chưa đáp ứng đủ nhu cầu của đất nước về nông sản (cụ thể là lương thực, trái cây). •
Có sự tiện lợi nhất định khi nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam do khoảng
cách địa lý là không lớn.
3. Môi trường chính trị
Khái niệm Môi trường chính trị:
- Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữacác
giai cấp hoặc giữa các dân tộc hoặc các tầng lớp xã hội
- Ổn định chính trị là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với thu hút đầu tư (nềnchính
trị ổn định → nền kinh tế ổn định) •
Các luật lệ, chính sách, chế độ liên quan đến đầu tư, tạo ra sự phát triển ổn
định của nền KT, ổn định xã hội •
Chính phủ thay đổi định hướng đầu tư (đổi lĩnh vực khuyến khích, chiến
lược xuất nhập khẩu…) → Bất lợi
a. Chính sách nhập khẩu của Nhật Bản
- Trên nguyên tắc, ngoại trừ một số ít mặt hàng, thị trường Nhật Bản là tự
dotrong lĩnh vực ngoại thương. Hiện nay, hầu hết hàng nhập khẩu là các mặt hàng
nhập khẩu tự do mà không cần xin phép của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI).
- Tuy nhiên, vẫn có những mặt hàng nhập khẩu cần có sự phê chuẩn của
Bộtrưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp ghi trong giấy thông báo nhập
khẩu phù hợp với các quy định về kiểm soát nhập khẩu gồm 66 mặt hàng cần hạn
ngạch nhập khẩu là vật nuôi, cây cối và các sản phẩm quy định trong công ước Washington. lOMoAR cPSD| 58702377
- Một số hàng hóa nhập khẩu có thế có tác động tiêu cực đến ngành côngnghiệp,
kinh tế, và vệ sinh, hoặc an toàn xã hội và đạo đức Nhật Bản. Những hàng hoá
này thuộc diện "hạn chế nhập khẩu" theo nhiều quy định và luật lệ trong nước.
b. Thuế quan tại Nhật Bản
- Nhật Bản sờ dụng Hệ thống phân loại HS. Ờ Nhật Bán có hai loại mức thuế
quan là mức thuế tự định (còn gọi là quốc định), và mức thuế hiệp định: (1)
Mức thuế tự định: được quy định trong luật thuế và chia làm ba loại:
mức thuế cơ bản, mức thuế tạm thời và mức thuế ưu đãi: - Mức thuế cơ bản: được
quy định trong luật thuế hải quan. Đây là mức được áp dụng trong thời gian dài.
- Mức thuế tạm thời: được quy định theo luật thuế tạm thời. Đây là mức thuế
mang tính tạm thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian
nhất định trong trường hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. - Mức thuế ưu đãi: là
mức thuế áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Mức thuế
này thấp hơn mức thuế nhập khẩu từ các nước phát triển. (2)
Mức thuế hiệp định: là mức thuế được thỏa thuận trong các hiệp định
kývới nước ngoài. Trong đó quy định chỉ đánh thuế vào mặt hàng nào đó theo một mức thuế thấp.
Theo hiệp hội thuế quan Nhật Bản, biểu thuế áp dụng cho các mặt hàng nhập
khẩu vào Nhật Bản là một trong số những biểu thuế thấp nhất trên thế giới. Tuy
nhiên, một số mặt hàng như đồ da và các sản phẩm nông nghiệp vân chịu thuế
suất cao. Hiện nay, thuế suất áp dụng đối với các mặt hàng nông nghiệp đang
giảm dần. Báo hiệu một thị trường xuất khẩu nông nghiệp hứa hẹn.
Nhìn chung, Nhật Bản đã có đạo luật rõ ràng về việc áp dụng quy chế thuế
quan đặc biệt để bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất nội địa mỗi khi có thiệt hại
thật sự do việc bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu của nước ngoài. [1]
c. Hệ thống ưu đãi thuế quan
Sự hỗ trợ của Hiệp định Đối tác kinh tế Việt – Nhật. Thời gian qua, Việt Nam
và Nhật Bản đã ký kết nhiều thỏa thuận kinh tế quan trọng như Hiệp định Đối tác
kinh tế Việt - Nhật (VJEPA) được triển khai đồng bộ vào năm 2010 đến nay. Điểm
quan trọng của thỏa thuận này là việc giảm thuế mạnh mẽ các mặt hàng nông
thủy sản xuất khẩu vào Nhật Bản như trong số 2.020 dòng thuế nông sản, Nhật
Bản đã xóa bỏ ngay đối với 784 dòng, chiếm 36% tổng số dòng thuế nông sản và
chiếm 67,6% giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam. Theo lộ trình VJEPA, đến năm
2020 sẽ có trên 800 dòng sản phẩm nông thủy sản Việt Nam vào Nhật với thuế suất 0%
d. Mối quan hệ trao đổi hàng hóa giữa Nhật Bản và Việt Nam
Hiện tại, sự giao lưu kinh tế giữa hai nước đã và đang đang ngày càng được thắt
chặt, có thể kể đến các sự kiện hợp tác tiêu biểu giữa hai nước là: •
Quan hệ Việt - Nhật (1973) •
Thực hiện sáng kiến chung Việt Nhật (07/04/2003) lOMoAR cPSD| 58702377 •
Hiệp định bảo hộ thúc đẩy và tự do hàng hóa đầu tư Việt - Nhật (14/11/2003) •
Hiệp định Đối tác kinh tế Việt - Nhật (25/12/2008) và nhiều sự kiện khác nữa
Nhật Bản không chỉ là một là một đất nước cung cấp nguồn vốn hợp tác phát
triển chính thức (ODA) mà còn là một trong những bạn đối tác làm ăn chính với
nước ta. Nhật Bản sẵn sàng chi trả, đầu tư nhiều hơn cho Việt Nam nếu nước ta
có thể đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về hàng hóa nhập khẩu tại Nhật. Đó cũng là cơ
hội cũng như thách thức cho công ty HAGL khi phải khẳng định chất lượng đạt
tiêu chuẩn của mình để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư Nhật Bản. => Nhận xét:
Nhật Bản đang tiếp tục duy trì và phát triển chế độ mậu dịch tự do. Từ những
năm 80, Nhật Bản đã xúc tiến mở cửa thị trường bằng việc cắt giảm và bãi bỏ
thuế nhập khẩu, chấm dứt và nới lỏng các biện pháp hạn chế số lượng, cải thiện
hệ thống cấp chứng nhận. Đối với nông sản nhập khẩu, cho đến nay, Nhật Bản
vẫn đang cố gắng để tự do hàng nhập khẩu và mở rộng cửa thị trường cho các
nông sản chính. Kết hợp với môi trường chính trị tại nơi đây luôn ổn định, quan
hệ hữu nghị mạnh mẽ với Việt Nam thì Công ty HAGL có thể hoàn toàn tự tin
các sản phẩm của mình sẽ được chào đón tại nơi đây khi mà đã hoàn toàn đạt các
tiêu chuẩn về hàng hóa nhập khẩu do Nhật Bản đề ra.
4. Môi trường pháp luật
Khái niệm Môi trường pháp luật:
- Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đượcNhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, Nhà nước đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của
giai cấp thống trị và thực hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp
với lợi ích của giai cấp mình.
- Pháp luật dùng để điều chỉnh hành vi kinh doanh của các nhà đầu tư. Baogồm:
Quyền và Nghĩa vụ của nhà đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu tư, Các chính
sách, Các chế tài để kiểm soát các lĩnh vực
Môi trường Pháp Luật tại Nhật Bản:
Nhật Bản là một thị trường lớn và phức tạp với mức độ cạnh tranh rất gay gắt.
Luật pháp Nhật Bàn đòi hỏi phải có sự chấp nhận xuất nhập khẩu, hạn ngạch nhập
khẩu, kiểm tra chất lượng sản phẩm… trước khi nhập khẩu để đảm bảo an toàn
và y tế cho người dân. Quy định chế độ cho phép nhập khẩu của Nhật Bản tuy
chưa thể hiện sự bất phù hợp với qua tắc WTO khi mà các tiêu chuẩn dần được
nới lỏng và thống nhất với tiêu chuẩn quốc tế. Những điều luật cơ bản có thể ảnh
hưởng đến Công ty HAGL có thể kể đến là: lOMoAR cPSD| 58702377
- Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bàn (Luật JAS), ban hành vào tháng 5
năm1970, quy định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các quy tắc về việc ghi
nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS: •
Hệ thống JAS gồm hai phần: "the Japanese Agricultural Standards (JAS)
System" và "the Quality Labeling Standards Systems". “Hệ thống
JAS”("The JAS System") được thiết kế nhằm cho phép các sản phẩm đã
qua kiểm tra dựa trên các tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật bản được mang
biểu tượng JAS. "Hệ thống Tiêu chuẩn Ghi nhãn Chất lượng" ("the
Quality Labelling Standards Systems") được thiết kế nhằm yêu cầu các
nhà sản xuất và bán hàng phải dán nhãn sản phẩm của họ phù hợp với các
tiêu chuẩn về Ghi nhãn Chất lượng. Hệ thống JAS quy định cho gần 100
loại sản phẩm với khoảng 350 tiêu chuẩn cho các mặt hàng thực phẩm và
vật liệu gỗ xây dựng. Các tiêu chuẩn về Ghi nhãn chất lượng được áp
dụng cho tất cả các loại thực phẩm. Theo các tiêu chuẩn này, đối với thực
phẩm tươi phải có tên và nơi xuất xứ, với thực phẩm chế biến phải có tên,
thành phần, hạn sử dụng v.v...Ngoài ra, hệ thống kiểm tra, chứng nhận và
ghi nhãn cho sản phẩm thực phẩm hữu cơ cũng được xây dựng và tạo nên
một nhãn riêng cho sản phẩm thực phẩm "hữu cơ". •
Tiêu chuẩn JAS là các tiêu chí về chất lượng nông lâm sản như phân loại,
thành phần cấu tạo, đặc tính hoặc về phương pháp sản xuất. Việc xây
dựng, sửa đổi hoặc hủy bỏ tiêu chuẩn JAS do sự quyết định của Ban
Nghiên cứu về Tiêu chuẩn Lâm và Nông nghiệp gồm toàn các chuyên gia
là các đại diện hoặc nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tiêu dùng, sản xuất và
phân phối. Các tiêu chuẩn quốc tế cũng được đưa ra cân nhắc. Tiêu chuẩn
JAS phải được soát xét định kỳ 5 năm. •
Các tiêu chuẩn JAS bao quát cả các sản phẩm được sản xuất trong nước
và các sản phẩm nhập khẩu. Đối với hầu hết sản phẩm, Luật JAS quy
định một cách rõ ràng một tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng nhưng đối với
một số sản phẩm các quy định trong luật chỉ đưa ra những hướng dẫn cho
việc nâng cao chất lượng. Việc sử dụng dấu chứng nhận chất lượng JAS
trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như các
cửa hàng bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản
phẩm có chất lượng tiêu chuẩn JAS trừ những sản phẩm bắt buộc do
MAFF quy định. Tuy nhiên, người tiêu dùng Nhật rất tin tưởng đối với
chất lượng của các sản phẩm được đóng dấu JAS. Vì vậy, các nhà sản
xuất nước ngoài khi xuất khẩu hàng hóa vào Nhật Bàn có được dấu
chứng nhận chất lượng JAS sẽ tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hóa của mình tại đây. •
Về hệ thống chứng nhận, có hai phương pháp để được mang nhãn JAS:
nhà sản xuất chọn một tổ chức phân loại đã được đăng ký (registered
grading organization) hoặc họ tự tiến hành việc phân loại. Để có thể tự
tiến hành việc phân loại và dán nhãn JAS, nhà sản xuất phải có được
chứng nhận của tổ chức chứng nhận đã được đăng ký. Theo sửa đổi luật lOMoAR cPSD| 58702377
tháng 7/1999, các tổ chức hải ngoại cũng có thể cung cấp dịch vụ phân
loại và chứng nhận nếu tổ chức đó thoả mãn được cùng các điều kiện như
các tổ chức trong nước (đối với nông sản và lâm sản, chỉ áp dụng cho
những nước có hệ thống phân loại tương đương JAS mà danh sách được
nêu trong Quy định của Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật). Công ty hải
ngoại có thể đăng ký với Bộ này để được đăng ký là tổ chức chứng nhận
và phân loại ngoài nước. Việc này đã tạo nên cơ sở pháp lý cho các sản
phẩm sản xuất ở hải ngoại được phân loại và cấp nhãn JAS bởi chính các
công ty phân loại ở nước sở tại, đồng thời, các nhà sản xuất được công
nhận bởi các tổ chức chứng nhận hải ngoại đã được đăng ký cũng có thể
tự tiến hành các thủ tục và dán nhãn JAS.
- Luật vệ sinh thực phẩm: theo quy định mới, nếu như trong hàng nông sản
nhậpkhẩu phát hiện có chứa thuốc nông nghiệp không đúng tiêu chuẩn của Nhật
Bản, cho dù thuốc nông nghiệp đó có phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế mà không
độc hại tới sức khỏe con người, cũng không có cách nào thâm nhập vào thị trường
Nhật Bản, nếu có thì sẽ bị thu hồi và phải bồi thường ngay lập tức.
- Luật về trách nhiệm sản phẩm. Ngoài các tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm,một
điểm khác cũng phải được xem xét khi bán hàng hoa tại Nhật đó là luật về trách
nhiệm sản phẩm. Luật này có hiệu lực từ tháng 7 năm 1995, quy định trách nhiệm
của nhà sản xuất và người kinh doanh sàn phàm phải bồi thường đối với các các
thiệt hại do sử dụng sản phẩm bị lỗi , dù lỗi đó là do vô tình hay hữu ý. Tuy nhiên
cũng mới chỉ có một số vụ có liên quan tới vấn đề này, trong tương lai , số lượng
các loại kiện tụng về liên đới trách nhiệm sản phẩm sẽ có chiều hướng gia tăng. [4] => Nhận xét:
Người Nhật có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào dấu chất
lượng trên bao bì. Họ coi đó như là sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng hàng hóa
được mua. Các nhà xuất khẩu có ý định thâm nhập vào thị trường Nhật Bản cần
có được dấu chứng nhận JAS cũng như chế độ xác nhận trước về thực phẩm nhập
khẩu các loại khác cho sản phẩm của mình để đảm bảo rằng các sản phẩm này có
được tiêu chuẩn tối thiểu tại thị trường Nhật, từ đó dễ dàng cho việc tiêu thụ hàng
hóa. Hơn nữa, thực tế cho thấy nếu chất lượng của một sản phẩm đã được thị
trường Nhật chấp nhận thì sản phẩm đó hoàn toàn có thể cạnh tranh được ở các
thị trường khác. Nếu công ty HAGL muốn thành công trong việc thâm nhập vào
thị trường này thì phải biết đánh giá và điều chỉnh chiến lược thâm nhập thị trường
cũng như thấu hiểu sâu sắc về thị trường, về các vấn đề của hệ thống luật lệ của lOMoAR cPSD| 58702377
Nhật Bản và đồng thời là khả năng thích ứng với các quy định ngày càng gia tăng
về số lượng và tính chất phức tạp của nó.
5. Môi trường kinh tế
Với dân số gần 126 triệu người và thu nhập bình quân đầu người khoảng 43.000
USD/người, Nhật Bản là thị trường có sức tiêu thụ lớn. Tuy vậy, theo số liệu của
Cơ quan Hải quan Nhật Bản, nhập khẩu từ Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 3%
trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản từ thế giới. Điều này cho thấy
hàng Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa và tiềm năng để thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.
Trong những năm gần đây đang diễn ra làn sóng các doanh nghiệp Nhật Bản
chuyển hướng đầu tư sang Việt Nam. Các doanh nghiệp Nhật tăng cường xây
dựng nhà máy, sản xuất sản phẩm ở Việt Nam rồi xuất khẩu ngược lại về Nhật
Bản. Bên cạnh đó số lượng người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản cũng tăng
nhanh trong một thập kỷ qua, khiến cho nhu cầu tiêu thụ hàng nông thủy sản –
thực phẩm Việt Nam ngày càng gia tăng.
Nhật Bản là thị trường có khả năng chi trả cao, thu nhập bình quân tính trên đầu
người thuộc dạng cao trên thế giới đạt khoảng 15.250 USD(thời điểm khi Nhật
phát triển quan hệ ngoại giao các nước). Không dừng lại con số GDP, NB còn thể
hiện sức hấp dẫn của mình qua mức chi cho tiêu dùng luôn chiếm tỷ trọng cao khoảng 60-70% GDP.
Nhật Bản trang bị cho mình một hệ thống phân phối đa dạng và sâu rộng, việc
làm ăn với các đối tác Nhật cũng giúp các đối tác làm ăn đẩy mạnh khả năng thâm
nhập các mặt hàng nông nghiệp tới các đại lý phân phối, bán lẻ của Nhật họ hiểu
về những thị hiếu người tiêu dùng nước họ để rồi từ đó các đối tác làm ăn sẽ biết
làm thế nào để người tiêu dùng nước họ chấp nhận tạo cơ sở cho việc kinh doanh
một cách hiệu quả trên thị trường đất khách.
Nhu cầu nhập khẩu nông thủy sản của Nhật gia tăng: Nhu cầu về mặt hàng nông
thủy sản của Nhật ngày càng tăng do tỷ lệ nông nghiệp ngày càng nhỏ đi trong
cơ cấu GDP của Nhật, từ gần 13% năm 1960 xuống chỉ còn hơn 1% năm 2012.
Do vậy, tỷ lệ đảm bảo tự cấp lương thực ở Nhật cũng giảm mạnh trong nhiều năm
qua. Gần đây, Nhật đã nới lỏng hơn một số tiêu chí về dư lượng kháng sinh đối
với gạo nhằm tăng lượng nhập khẩu gạo so với trước đây. Ngoài ra, việc Nhật
Bản tham gia đàm phán Hiệp ước đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ làm
giảm đáng kể các mức thuế cao mà Nhật hiện đang áp dụng với một số mặt hàng
nhập khẩu như 778% đối với gạo, 328% với đường và 218% với sữa bột. lOMoAR cPSD| 58702377
6. Môi trường văn hóa xã hội
Tuy không ảnh hưởng mạnh mẽ như nhân tố kinh tế, song nhân tố văn hóa- xã
hội cũng đóng vai trò rất quan trọng đến sự biến động và phát triển của thị trường.
Đặc biệt các yếu tố văn hóa – xã hội có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát
triển của nhu cầu thị trường. Vì vậy trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp
luôn cần có 1 mức độ am hiểu nhất định về văn hóa tại quốc gia đó.
Tuy cũng là một cường quốc trên thế giới về kinh tế nhưng Nhật Bản có một
sức hấp dẫn mạnh mẽ không hề giống bất kỳ một đất nước nào, đó chính là sức
hút từ một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Các yếu tố về văn hóa và xã hội
được công ty tìm hiểu và thu thập trong quá trình nghiên cứu để đầu tư vào thị trường Nhật Bản như:  Thị hiếu thẩm mỹ
- Người Nhật thích nhất là các màu đỏ và trắng. Họ cho rằng màu đỏ là màu
thểhiện tình yêu, sự kết hợp giữa màu đỏ và trắng thể hiện cho hạnh phúc, tốt
lành. Màu đen và trắng kết hợp thể hiện sự không may mắn... Vì thế trong các
thiết kế sản phẩm hay quảng cáo ở Nhật Bản chúng ta nên phối hợp các tông màu hợp lý, bắt mắt.
- Quảng cáo ở Nhật Bản thường sử dụng quảng cáo bằng pano, áp phích vớimàu
sắc dễ nhìn và kết hợp chuỗi các hình ảnh giống nhau trên các đường phố. - Người
Nhật thích người nước ngoài sử dụng tiếng Nhật và chữ viết của họ khi ở Nhật
hơn là sử dụng các ngôn ngữ khác.  Con người
- Một trong những đặc tính của người Nhật là hiếu kỳ và nhạy cảm với văn
hóanước ngoài. Cùng với sự phát triển và giao lưu văn hóa hợp tác, số người Nhật
đi du lịch và nghiên cứu, làm việc tại nước ngoài tăng, đồng nghĩa với việc các
sản phẩm không có ở Nhật sẽ được biết đến rộng rãi và người tiêu dùng Nhật Bản
cũng dễ dàng hơn đối với hàng hóa nhập khẩu
- Tại Nhật Bàn, chất lượng được quan tâm hàng đầu chứ không phải giá cả
nhưthông thường trong ngoại thương. Ngay cả khi mua hàng rẻ tiền thì người
Nhật cũng rất quan tâm đến chất lượng của mặt hàng đó. Thực tiễn ở Nhật Bản
chứng tỏ tiêu chuẩn chất lượng và độ an toàn của hàng hóa của Nhật Bản cao hơn
và chặt chẽ hơn so với yêu cầu thông thường và tiêu chuẩn quốc tế. Sự tràn ngập
cửa hàng Nhật trên thị trường các nước khác chủ yếu là do các sản phẩm này có
chất lượng cao. Hàng hóa nước ngoài muốn vào thị trường Nhật Bản trước tiên
phải đáp ứng được những tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của nước này.
- Sự suy giảm dân số Nhật Bản cũng như cơ cấu dân số già là xu hướng chínhảnh
hưởng đến tiêu dùng rau quả ở Nhật Bản (Trong năm 2019, dân số tại 40 trong
tổng số 47 tỉnh của Nhật Bản đã giảm, trong khi 7 tỉnh còn lại ghi nhận dân số
tăng lên do xu hướng người dân đổ về các khu vực thành thị). Cùng với đó, sự
bùng nổ thực phẩm chế biến tiện lợi đã có tác động lên thực phẩm tươi. Những
cửa hàng bán thực phẩm giá rẻ và nhanh đã đưa ra nhiều lựa chọn thuận tiện hơn lOMoAR cPSD| 58702377
và tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng và cho người tiêu dùng lựa chọn thực phẩm
giá thấp với chất lượng chấp nhận được.
- Do dân số đang già đi của Nhật Bản, nên xu hướng chủ yếu về nhu cầu
thựcphẩm sẽ liên quan tới sức khỏe và an toàn, người tiêu dùng Nhật Bản thường
dùng ít calo hơn những người trẻ tuổi. Cho dù kinh tế có suy giảm hay không,
những thực phẩm có thành phần tốt cho sức khỏe sẽ tiếp tục là xu hướng chính
của người tiêu dùng Nhật Bản. Hiện nay, xu hướng người tiêu dùng của Nhật Bản
cũng rất quan tâm đến các mặt hàng nông sản nhập khẩu. Theo khảo sát, tần suất
tiêu dùng rau quả của người dân Nhật Bản hiện nay khá cao. Tỷ lệ người tiêu
dùng được phỏng vấn tiêu dùng các sản phẩm rau quả hàng ngày hoặc 2, 3 lần/tuần.
Tần suất tiêu dùng rau quả của người dân Nhật Bản năm 2021 [link cho phần
tài liệu tham khảo]
- Là một đất nước phát triển và có những chính sách ưu đãi cao nên Nhật Bảnđã
thu hút một lượng lớn du học sinh cũng như những người nước ngoài sang đây
để lao động, định cư (con số này lên đến 2,44 triệu người vào năm 2019, tăng lên
211.000 người so với năm ngoái) → Nhu cầu về những sản phẩm chất lượng, đạt
tiêu chuẩn nhưng giá cả cần phải hợp lý tăng mạnh và đó cũng chính là điều mà
Công ty HAGL có thể thỏa mãn.
7. Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của công ty HAGL tại Nhật Bản
# Mô hình SWOT:
 Mục tiêu: Xuất khẩu sản phẩm nông sản của công ty sang thị trường Nhật Bản lOMoAR cPSD| 58702377 Cơ hội Thách thức -
Nhu cầu về các sản phẩm nông -
Yêu cầu về chất lượng được sảnđang tăng đặtlên hàng đầu -
Mở rộng các chính sách khuyến -
Các mặt hàng nhập khẩu đều
khíchnhập khẩu các hàng hóa từ nước phảitrải qua sự kiểm duyệt, tiêu
ngoài - Hiệp định Đối tác kinh tế Việt - chuẩn khắt khe (nhất là Luật JAS) Nhật (VJEPA) -
Là thị trường phát triển → -
Là thị trường có khả năng chi trả Nhiềuđối thủ mạnh cạnh tranh
lớn,thu nhập bình quân đầu người cao -
Thị trường trong nước có hệ thống phân
phối đa dạng và sâu rộng -
Con người tại nơi đây có sự hứng
thúnhất định dành cho các sản phẩm từ nước ngoài -
Số lượng lớn người nước ngoài
sinhsống tại Nhật Bản với yêu cầu hàng
hóa có mức giá phải chăng Điểm mạnh Điểm yếu -
Quy mô lớn, nguồn hàng cung - Chưa có nhiều kinh nghiệm trong
ứngđều quanh năm với chất lượng ổn việc xuất khẩu nông nghiệp sang thị
định theo tiêu chuẩn Global GAP trường Nhật Bản -
Các mặt hàng có giá cả phải chăng đi
đôi với chất lượng tốt cũng như đa dạng về mẫu mã -
Tiềm năng thích nghi tốt trước
nhữngtiêu chuẩn “khắt khe” của nước bạn
=> Tiềm năng xuất khẩu tại Nhật Bản và định hướng cơ hội xuất khẩu của Công ty HAGL:
- Nhật Bản là một trong những thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất thế giới.
Nhận thấy đây là một thị trường tiềm năng với lượng cầu về nông sản đang ngày
một tăng cao nên điều này đã thôi thúc công ty tìm hiểu và nghiên cứu thị trường
này để tạo đà đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung và doanh số của
công ty nói riêng lên một nấc thang mới. Với những yếu tố về điều kiện tự nhiên,
chính trị, pháp luật, kinh tế và văn hóa xã hội đã và đang mang lại những cân
nhắc đáng kể cho quá trình bắt đầu đưa nông sản Việt ra thị trường Nhật Bản. Và
trên thực tế mặt hàng nông sản của Việt Nam ngày càng được người tiêu dùng
Nhật Bản đón nhận. Ngày nay với xu hướng tiêu dùng quan tâm nhiều nhất tới
yếu tố tác động đến sức khỏe, sau đó là giá thành và sự tiện lợi của sản phẩm… lOMoAR cPSD| 58702377
thì với ưu thế về quy mô lớn, nguồn hàng cung ứng đều quanh năm với chất lượng
ổn định theo tiêu chuẩn Global GAP công ty hoàn toàn đáp ứng được những điều
kiện khắt khe bên phía thị trường Nhật Bản. - Định hướng: Các sản phẩm chủ đạo
của Công ty như chuối, mít, xoài với thâm niên hơn 10 năm đạt các yêu cầu về
chất lượng cũng như là có được sự tin tưởng của người dùng tại Việt Nam sẽ là
một món hàng tiềm năng để xuất khẩu sang một thị trường mới - Nhật Bản. Cụ
thể với mục tiêu là hướng đến những đối tượng khách hàng là người nước ngoài
cũng như những người dân tại Nhật Bản có quan tâm về chất lượng, tiêu chuẩn
với giá cả phải chăng. Nhìn nhận một cách tổng quát, Công ty HAGL có nhiều
cơ hội và thế mạnh hơn là những thách thức và điểm yếu khi vấn đề khó chịu nhất
chỉ là bộ luật với hàng hóa nhập khẩu tại Nhật Bản (đặc biệt là Luật JAS). Tuy
nhiên, với thế mạnh và kinh nghiệm trồng cây ăn quả đạt tiêu chuẩn chất lượng,
an toàn sức khỏe tại Việt Nam cùng với khả năng thích ứng nhanh của công ty
HAGL hoàn toàn có thể tự tin từng bước tiến vào thị trường hoa quả tại Nhật Bản. lOMoAR cPSD| 58702377
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bùi Xuân Lưu (2001), Chính sách ngoại thương của Nhật Bản thời kỳ tăng
trưởng cao và toàn cầu hóa kinh tế, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2002), Thâm nhập thị trường
quốc tế qua GSP, NXB Lao động, Hà Nội.
3. Trung tâm Tư vấn và Đào tạo kinh tế thương mại (ICTC), JETRO (1997), Thị
trường Nhật Bản, NXB Văn hóa Thông Tin, Hà Nội.
4. Viện nghiên cứu thương mại, Viện tư- vấn phát triển KT-XH nông thôn
vàmiền núi (2003), Cẩm nang thị trường xuất khẩu - Thị trường Nhật Bản,
NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội.
5. Phạm Thị Xuân Mai (2004), "Tự do hóa mậu dịch nông sản của Nhật Bản",
Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, trang. 3-11.
6. Phương Thanh (2004), "Chính sách nhập khẩu rau quả của Nhật Bán"
Thương mại, (29), trang10
7. Đinh Cao Khuê, Nguyễn Thị Thủy, Trần Đình Thao (2021), Đặc điểm thị
trường Nhật Bản và một số giải pháp xuất khẩu rau quả của Việt Nam, Tạp chí Tài chính.
8. TBT An Giang (2021), Một số đặc điểm của thị trường Nhật Bản doanh
nghiệp cần lưu ý.
9. Bộ Công thương Việt Nam (2022), Hàng nông thủy sản- thực phẩm Việt Nam
có nhiều tiềm năng xuất khẩu sang Nhật Bản trong năm 2022.
10. Diễm Thu, Văn hóa Nhật Bản: Tìm hiểu về Con người, Văn hóa, Phong tục Nhật Bản.
11. Kho tri thức số, Các vấn đề liên quan đến môi trường vận hành Marketing ở
thị trường Nhật Bản.
12. Đỗ Hương (2022), Nhật Bản ‘ rộng cửa’ đón nhận nông sản Việt Nam.