NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỘI
VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM MỚI RA TRƯỜNG
1.Khái niệm
1.1. Cơ hội việc làm
Theo Gangl (2003), cơ hội việc làm được hiểu là khả năng mà một cá nhân có thể tìm
kiếm và tiếp cận một vị trí lao động phù hợp sau khi hoàn tất chương trình đào tạo chính quy
hoặc trải qua một giai đoạn thất nghiệp. Khái niệm này phản ánh mức độ sẵn sàng khả
năng hấp thụ của thị trường lao động đối với người lao động mới hoặc những người quay trở
lại thị trường làm việc.
Trong khi đó, Luật Việc làm Việt Nam (2013) định nghĩa việc làm mọi hoạt động
lao động mang lại thu nhập hợp pháp, không vi phạm các quy định của pháp luật giá
trị kinh tế đối với người thực hiện. Luật cũng nêu rõ sự khác biệt giữa việc làm nói chung và
việc làm công: việc làm công là loại hình lao động tạm thời, có trả công, được hình thành từ
các dự án hoặc chương trình phát triển kinh tế hội sdụng nguồn vốn nhà nước tại địa
phương.
Tổng hợp các quan điểm trên có thể rút ra rằng, mặc cách diễn giải thể khác
nhau, nhưng bản chất của việc làm đều thống nhất hai khía cạnh bản: (1) việc làm
hoạt động lao động mục đích kinh tế, được tạo ra bởi người sử dụng lao động hoặc do
nhân tự tạo cho bản thân; (2) hoạt động đó phải đem lại nguồn thu nhập hợp pháp, ổn
định, góp phần đảm bảo đời sống và tái sản xuất sức lao động cho người lao động.
1.2. Các đặc điểm của sinh viên mới ra trường
“Sinh viên mới ra trường”nhóm đối tượng có những đặc trưng riêng biệt về tâm lý
hành vi nghề nghiệp. Nhìn chung, họ thuộc độ tuổi từ 18 đến 25, đang trong giai đoạn
chuyển tiếp từ môi trường học tập sang môi trường lao động. giai đoạn y, sinh viên
thường kiến thức nền tảng chuyên môn, khả năng tiếp thu nhanh, ham học hỏi, xu
hướng thích nghi tốt với cái mới. Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, họ vẫn
đang trong quá trình hoàn thiện nhân cách, định hình giá trị nghề nghiệp kỹ năng hội.
Đồng thời, đây cũng nhóm dân nhạy cảm với các biến động kinh tế hội, nên rất
cần được định hướng phù hợp về nghề nghiệp và phát triển bản thân (Hoàng Anh, 2021).
Trong nghiên cứu y, tác giả lựa chọn nhóm sinh viên đã tốt nghiệp trong vòng ba
năm làm đối tượng khảo sát. do trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 năm sau khi ra
trường tại Việt Nam, phần lớn sinh viên đã hội trải nghiệm thực tế công việc, thử sức
ở nhiều vị trí khác nhau, từ đó tự đánh giá năng lực, nhận diện điểm mạnh – điểm yếu và bắt
đầu xác định con đường nghề nghiệp lâu dài cho bản thân.
2.Thực trạng cơ hội việc làm của sinh viên mới ra trường tại Việt Nam
Theo khảo sát của Vieclam24h (2025), chỉ khoảng 23,4% doanh nghiệp tại Việt
Nam có kế hoạch tuyển dụng sinh viên mới ra trường hoặc người chưa có kinh nghiệm trong
vòng sáu tháng tới. Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp xu hướng ưu tiên ứng
viên đã có kinh nghiệm làm việc, hoặc tập trung tuyển dụng cho những vị trí quan trọng thay
đầu đào tạo nguồn nhân lực mới. Thực tế cho thấy, nhiều vị trí tuyển dụng hiện nay,
thậm chí cả chương trình thực tập, đều yêu cầu ứng viên phải kinh nghiệm làm việc nhất
định, khiến sinh viên mới ra trường gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chí tuyển
chọn.
Về thu nhập, phần lớn sinh viên sau khi tốt nghiệp chỉ nhận mức lương trung bình từ
5–7 triệu đồng/tháng, trong khi những người năng lực ngoại ngữ tốt hoặc tốt nghiệp từ
các ngành “nóng” như công nghệ thông tin, marketing số, logistics… thể đạt mức 7–10
triệu đồng/tháng hoặc cao hơn. Bên cạnh đó, theo thống của Tổng cục Thống Việt
Nam (2025), tỷ lệ thất nghiệp chung dao động khoảng 2,2–2,3%, trong đó hơn 200.000 cử
nhân vẫn chưa việc làm mỗi năm, mặc mỗi năm khoảng 300.000 sinh viên tốt
nghiệp từ bậc đại học cao đẳng. Trái ngược với tình trạng đó, thị trường lao động Việt
Nam lại thiếu khoảng 836.000 lao động phổ thông, cho thấy sự mất cân đối rệt giữa cung
– cầu nhân lực, đặc biệt ở nhóm lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn.
Thực trạng hội việc làm đối với sinh viên mới tốt nghiệp tại Việt Nam hiện mang
tính hai mặt: về quy mô, thị trường lao động nhìn chung hồi phục sau đại dịch và tiếp tục tạo
ra nhiều vị trí tuyển dụng, nhưng về chất lượng thì áp lực cạnh tranh cùng khoảng cách kỹ
năng vẫn tồn tại rõ rệt. Ngoài ra khoảng trống giữa năng lực nhà trường cung cấp và yêu cầu
của nhà tuyển dụng: nhiều doanh nghiệp ưu tiên tuyển nhân sự kinh nghiệm, trong khi
phần lớn sinh viên tốt nghiệp thiếu kinh nghiệm thực tiễn, dẫn tới áp lực tìm việc ngay
nguy làm trái chuyên môn (underemployment) hoặc chấp nhận công việc thời vụ. Phần
lớn vị trí tuyển dụng năm gần đây hướng tới ứng viên “có kinh nghiệm”, khiến hội việc
làm ổn định cho người mới ra trường bị hạn chế.
3. Mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của sinh viên mới ra
trường tại Việt Nam
3.1. Kỹ năng mềm
Kỹ năng mềm được xem nhóm năng lực phi chuyên môn giúp nhân giao tiếp,
hợp tác, lãnh đạo, quản thời gian, duy phản biện thích ứng hiệu quả trong môi
trường học tập làm việc hiện đại (Phạm Thị Lan, 2015). Trong bối cảnh thị trường lao
động cạnh tranh gay gắt, kỹ năng mềm trở thành yếu tố bổ trợ quan trọng giúp sinh viên
chuyển hóa kiến thức học thuật thành năng lực nghề nghiệp thực tiễn. Các nghiên cứu gần
đây cho thấy sinh viên sở hữu kỹ năng mềm tốt thường có khả năng thích ứng nhanh hơn với
môi trường doanh nghiệp, tự tin hơn khi phỏng vấn và có tỷ lệ tìm được việc làm cao hơn so
với nhóm còn lại (Đỗ Hương Giang & cộng sự, 2022; Thu Trang & Trần Minh Khang,
2023).
Một trong những biểu hiện tiêu biểu của kỹ năng mềm tính chủ động nghề nghiệp.
Sinh viên biết tự tìm kiếm, ng lọc tiếp cận thông tin việc làm thông qua các nền tảng
trực tuyến, hội thảo nghề nghiệp và mạng lưới chuyên môn thường mở rộng được cơ hội lựa
chọn công việc phù hợp với năng lực định hướng nhân (Nguyễn Thị Diệu, 2021).
Tương tự, khả năng chấp nhận rủi ro nghề nghiệp cũng là một kỹ năng quan trọng trong thời
kỳ biến động. Quang Nam Phạm Hồng Anh (2019) cho rằng sinh viên duy cầu
tiến, dám thử thách bản thân trong các ngành nghề đặc thù hoặc lĩnh vực có rủi ro cao như y
tế, logistics hay công nghệ thường đạt được cơ hội nghề nghiệp bền vững hơn.
Ngoài ra, năng lực công nghệ kỹ năng tin học văn phòng ngày càng trở thành tiêu
chí bắt buộc trong hầu hết các vị trí tuyển dụng. Sự phát triển của công nghệ số và xu hướng
làm việc trực tuyến khiến sinh viên cần thành thạo các phần mềm văn phòng, nền tảng quản
công việc công cụ cộng tác kỹ thuật số để tăng khả năng thích ứng với môi trường số
hóa (Hoàng Minh Phúc & Đặng Ngọc Tú, 2024). Cuối cùng, kỹ năng giao tiếp và phỏng vấn
được xem yếu tố quyết định trong quá trình ứng tuyển. Trần Quang Hải Nguyễn Văn
Khánh (2015) nhấn mạnh rằng khả năng diễn đạt ràng, thái độ chuyên nghiệp phong
cách giao tiếp tự tin giúp sinh viên tạo thiện cảm với nhà tuyển dụng, đồng thời phản ánh
năng lực làm việc nhóm khả năng thích ứng tổ chức những yếu tố thiết yếu cho sự
thành công nghề nghiệp lâu dài.
3.2. Nhu cầu nhà tuyển dụng
Theo (2009), tuyển dụng nhân lực được hiểu quá trình tìm kiếm, sàng lọc
đánh giá các ứng viên tiềm năng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân sự của tổ chức trong từng giai
đoạn phát triển. Tương tự, Hoàng (2005) nhấn mạnh rằng đây một trong những
khâu then chốt của quản trị nguồn nhân lực, bởi chất lượng tuyển dụng quyết định trực tiếp
đến hiệu quả hoạt động và năng suất lao động của doanh nghiệp. Do đó, nhu cầu tuyển dụng
của doanh nghiệp mối liên hệ chặt chẽ với hội việc làm của sinh viên mới ra trường,
thể hiện qua số lượng vị trí tuyển dụng, tiêu chí lựa chọn, mức lương, cũng như tính chất
công việc mà tổ chức đưa ra.
Từ năm 2020 đến nay, đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc nhu cầu
nhân lực của thị trường lao động Việt Nam. Báo cáo hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế
Quốc dân quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (NEU–JICA, 2020) chỉ ra rằng, trong khi
các ngành du lịch, hàng không, khách sạn, sản xuất và dịch vụ lưu trú chịu tác động tiêu cực,
thì các lĩnh vực công nghệ thông tin, thương mại điện tử, viễn thông, logistics và y tế lại tăng
mạnh về nhu cầu tuyển dụng nhằm thích ứng với xu hướng số hóa và tiêu dùng trực tuyến.
Bước sang giai đoạn hậu đại dịch (2022–2025), tình trạngy vẫn tiếp diễn. Báo cáo
của Vieclam24h (2025) cho thấy chỉ khoảng 23,4% doanh nghiệp kế hoạch tuyển dụng
sinh viên mới tốt nghiệp hoặc người chưa kinh nghiệm, phần lớn tập trung các ngành
công nghệ, tài chính thương mại điện tử. Ngược lại, doanh nghiệp vẫn thiếu hụt nhân lực
nhóm lao động phổ thông kỹ thuật thực hành, dẫn đến nghịch “thừa cử nhân, thiếu
thợ lành nghề” (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2025).
Như vậy, thể nhận thấy rằng cấu trúc tuyển dụng tại Việt Nam đang trong giai
đoạn chuyển dịch, hướng đến ưu tiên nguồn nhân lực kỹ năng thực tiễn, khả năng thích
ứng nhanh và tư duy số hóa. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở giáo dục đại
học trong việc cập nhật chương trình đào tạo, tăng cường gắn kết với doanh nghiệp mở
rộng cơ hội thực hành, giúp sinh viên rút ngắn khoảng cách giữa kiến thức lý thuyết và năng
lực nghề nghiệp thực tế.
3.3. Mạng lưới quan hệ
Mạng lưới quan hệ hội đóng vai trò trung gian quan trọng trong quá trình tìm việc
làm, đặc biệt đối với sinh viên mới tốt nghiệp. Theo Mark Granovetter (1992), phần lớn
người lao động không tìm việc qua các kênh tuyển dụng chính thức, thông qua các mối
quan hệ xã hội nhân hoặc nghề nghiệp. Ông cho rằng các “liên kết yếu” (weak ties) – tức
các mối quan hệ hội không thường xuyên nhưng đa dạng lại hiệu quả cao trong
việc tiếp cận thông tin việc làm mới và chất lượng hơn.
Tại Việt Nam, Phạm (2016) cũng chỉ ra mối tương quan tích cực giữa mạng lưới
hội và khả năng tìm việc thành công. Các mối quan hệ với giảng viên, bạn học, đồng nghiệp
cũ, hoặc các nhóm nghề nghiệp trực tuyến không chỉ giúp sinh viên nhận được thông tin
nhanh hơn, còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc được giới thiệu hoặc đánh giá uy tín.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy nếu phụ thuộc quá nhiều vào quan hệ cá nhân mà thiếu
năng lực chuyên môn, sinh viên thể gặp khó khăn trong việc phát triển bền vững về nghề
nghiệp.
3.4. Trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn được xem yếu tố cốt lõi phản ánh mức độ hiểu biết, kỹ năng
năng lực chuyên môn mỗi nhân đạt được thông qua quá trình đào tạo chính quy
hoặc bồi dưỡng nghề nghiệp (Trần, 2010). Đây nền tảng quyết định khả năng thích ứng,
năng suất lao động hội thăng tiến của người lao động trong thị trường việc làm hiện
nay. Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trình độ cao vẫn tồn tại do s mất cân đối
giữa ngành đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường (GSO, 2025).
Nguyễn (2017) cho rằng chương trình đào tạo nhiều trường đại học tại Việt Nam
còn thiếu tính thực tiễn, chưa theo kịp yêu cầu của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng “thừa lý
thuyết, thiếu kỹ năng thực hành”. Quan điểm này vẫn phù hợp với bối cảnh hiện nay khi
nhiều doanh nghiệp đánh giá sinh viên mới ra trường cần được đào tạo lại từ đầu
(Vieclam24h, 2025). Sự chênh lệch giữa nội dung giảng dạy yêu cầu công việc khiến
bằng cấp không còn yếu tố duy nhất quyết định khả năng việc làm, kỹ năng ứng
dụng và tư duy linh hoạt ngày càng trở nên quan trọng.
Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng trình độ chuyên môn
ảnh hưởng đáng kể đến năng lực nghề nghiệp hội việc làm của sinh viên sau tốt
nghiệp. Những nhân nền tảng học vấn vững vàng thường thể hiện khả năng duy
phản biện, năng lực phân tích khả năng giải quyết vấn đề cao hơn trong môi trường làm
việc (Nguyễn & Phạm, 2018; Trần, 2021). Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn còn giúp sinh
viên thích ứng nhanh hơn với yêu cầu của công việc, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao
động đang chuyển dịch mạnh mẽ bởi quá trình chuyển đổi số (Lê & Đinh, 2023).
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan tích cực giữa trình độ học vấn
khả năng có việc làm, thể hiện qua tỷ lệ sinh viên đại học có việc làm ổn định cao hơn so với
nhóm trung cấp hoặc cấp (GSO, 2024; Hoàng & Vũ, 2022). Ngoài ra, trình độ chuyên
môn cao còn góp phần nâng cao thu nhập khởi điểm mức độ thăng tiến nghề nghiệp, do
doanh nghiệp xu hướng đánh giá cao những ứng viên sở hữu nền tảng kiến thức chuyên
sâu và kỹ năng nghề nghiệp bài bản (Mai, 2023; Phạm, 2024).
Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng bằng cấp cao chưa đủ nếu
sinh viên thiếu năng lực thực hành hoặc kỹ năng mềm cần thiết cho môi trường làm việc
hiện đại (Vũ & Nguyễn, 2025). Điều này cho thấy trình độ chuyên môn chỉ thực sự phát huy
hiệu quả khi được kết hợp với kinh nghiệm thực tế, khả năng giao tiếp, làm việc nhóm và tự
học những yếu tố quyết định khả năng thích ứng phát triển nghề nghiệp trong dài
hạn.tế.
4. Những khía cạnh chưa được đề cập trong các nghiên cứu trước đó
Qua việc tổng hợp các công trình nghiên cứu trong ngoài nước về chủ đề hội
việc làm của sinh viên tốt nghiệp, có thể nhận thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nghiên cứu về
quy mẫu, thời gian khảo sát, lĩnh vực phân tích phạm vi quốc gia. Phần lớn các công
trình tập trung khảo sát nhóm sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, tuy nhiên
vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được khai thác đầy đủ.
Thứ nhất, đa số các nghiên cứu chỉ thực hiện trong khoảng thời gian tương đối ngắn,
thường dao động từ 1 đến 2 năm. Trong khi đó, để đánh giá một cách toàn diện khách
quan về tác động của các yếu tố đến cơ hội việc làm, cần có dữ liệu quan sát trong khoảng 3
đến 5 năm nhằm phản ánh xu hướng biến động dài hạn và giảm thiểu sai lệch do yếu tố ngẫu
nhiên hoặc thời điểm.
Thứ hai, sự khác biệt về bối cảnh không gian thời gian nghiên cứu dẫn đến những
kết luận trái chiều về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Cụ thể, các kết quả nghiên cứu tại
những quốc gia điều kiện kinh tế hội khác nhau thường đưa ra các lập luận không
thống nhất, phản ánh đặc thù riêng của từng thị trường lao động và hệ thống giáo dục.
Từ đó thể thấy rằng, mặc mỗi nghiên cứu đều ưu điểm đóng góp riêng,
song cũng tồn tại những hạn chế nhất định về phạm vi tính khái quát, khiến cho kết quả
nghiên cứu thường mang tính thời điểm phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế cụ thể. Trong
điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, thường xuyên biến động chịu tác
động từ các yếu tố toàn cầu, việc nghiên cứu sâun về các nhân tố ảnh hưởng đến hội
việc làm của sinh viên mới ra trường yêu cầu cấp thiết, không chỉ giúp doanh nghiệp xây
dựng chính sách tuyển dụng hiệu quả hơn còn giúp sinh viên định hướng nghề nghiệp
phù hợp với nhu cầu thị trường.
DANH MỤC THAM KHẢO
1. Carini, Robert M., Kuh, George D., & Klein, Stephen P. (2006). Student
engagement and student learning: Testing the linkages. Research in Higher
Education, 47(1), 1–32.
2. Dân Trí. (2025). 77% doanh nghiệp không định tuyển nhân sự trẻ mới tốt
nghiệp. Truy cập tại: https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/77-doanh-nghiep-
khong-dinh-tuyen-nhan-su-tre-moi-tot-nghiep 20250806235151544.htm
3. Đỗ Hương Giang & cộng sự. (2022). Ảnh hưởng của kỹ năng mềm đến hội
việc làm của sinh viên mới ra trường tại Việt Nam. Tạp chí Phát triển Nguồn
nhân lực, 8(2), 45–57.
4. General Statistics Office of Vietnam (Tổng cục Thống Việt Nam). (2024).
Báo cáo lao động – việc làm Việt Nam 2024. Nội: Tổng cục Thống Việt
Nam.
5. Hoàng Minh Phúc & Đặng Ngọc Tú. (2024). Năng lực số yêu cầu kỹ năng
trong thời kỳ chuyển đổi số. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 12(1), 61–70.
6. Hoàng Thị Minh & Quang Anh. (2022). Ảnh hưởng của trình độ học vấn
đến cơ hội việc làm của sinh viên tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Kinh tế
Quản trị, 8(3), 45–58.
7. Kuh, George D., Kinzie, Jillian, Buckley, Jennifer A., Bridges, Brian K., &
Hayek, John C. (2008). What matters to student success: A review of the
literature. National Postsecondary Education Cooperative, Washington, DC.
8. Quang Nam & Phạm Hồng Anh. (2019). Kỹ năng chấp nhận rủi ro
hội nghề nghiệp trong các ngành đặc thù. Tạp chí Lao động – Xã hội, 5(3), 88–
97.
9. Lê Thị Ngọc & Đinh Minh Hòa. (2023). Chuyển đổi số và nhu cầu kỹ năng mới
trong thị trường lao động Việt Nam. Tạp chí Lao động – Xã hội, 15(4), 22–33.
10. Thu Trang & Trần Minh Khang. (2023). Tác động của kỹ năng mềm đến
năng lực thích ứng nghề nghiệp của sinh viên. Tạp chí Giáo dục Việt Nam,
7(4), 30–42.
11. Văn Hòa. (2009). Quản trị nguồn nhân lực. Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động
– Xã hội.
12. Mai Khánh An. (2023). Trình độ chuyên môn mức thu nhập của sinh viên
mới ra trường: Phân tích dữ liệu năm 2022. Tạp chí Khoa học hội, 9(2),
67–80.
13. NEU–JICA (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân & quan Hợp tác Quốc tế
Nhật Bản). (2020). Vietnam Labour Market Report 2020: COVID-19 impacts
and policy responses. Nội: National Economics University & Japan
International Cooperation Agency.
14. Nhân Dân. (2025). Tỷ lệ thất nghiệp vẫn dao động quanh mức 2,2%. Truy cập
tại: https://nhandan.vn/ty-le-that-nghiep-van-dao-dong-quanh-muc-22-
post912611.html
15. Nguyễn Hoàng Tú & Phạm Văn Quang. (2018). Mối quan hệ giữa trình độ học
vấn năng lực làm việc của lao động trẻ Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh
tế, 12(4), 101–115.
16. Nguyễn Thị Diệu. (2021). Tính chủ động nghề nghiệp hội việc làm của
sinh viên đại học Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội, 10(2), 71–84.
17. Phạm Thị Lan. (2015). Kỹ năng mềm trong giáo dục đại học: luận và thực
tiễn. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
18. Phạm Thị Thu. (2024). Giá trị của bằng cấp trong thị trường lao động hiện
đại: Góc nhìn từ doanh nghiệp. Tạp chí Phát triển Nguồn nhân lực, 6(1), 55–
69.
19. Quỳnh Chi. (2020, 28 tháng 3). Thị trường lao động Nội quý I/2020: Nhu
cầu tuyển dụng giảm 37%. Truy cập tại: https://laodong.vn
20. Tổng cục Thống Việt Nam (GSO). (2025, tháng 10). Thông cáo báo chí về
tình hình lao động việc làm quý III và 9 tháng năm 2025.
21. Trần Nam Long. (2021). Trình độ chuyên môn khả năng thích ứng nghề
nghiệp của sinh viên sau đại học. Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Nội.
22. Trần Quang Hải & Nguyễn Văn Khánh. (2015). Kỹ năng giao tiếp sự thành
công trong tuyển dụng lao động trẻ. Tạp chí Kinh tế và Quản trị, 4(2), 22–34.
23. Vieclam24h. (2025, tháng 6). Báo cáo thị trường lao động quý II/2025: Chỉ
23,4% doanh nghiệp kế hoạch tuyển sinh viên mới ra trường. Truy cập tại:
https://vieclam24h.vn/nghe-nghiep/loa-tin-tuc/bao-cao-thi-truong-lao-dong-
q2.2025
24. Minh Hằng & Hoàng Thị Phương. (2005). Quản tr nhân sự hiện đại.
Nội: Nhà xuất bản Thống kê.
25. Thị Lan & Nguyễn Quốc Hưng. (2025). Khoảng cách giữa đào tạo và việc
làm: Bằng cấp còn lợi thế tuyệt đối? Báo cáo Hội thảo Quốc gia về Lao
động trẻ 2025.

Preview text:

NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM MỚI RA TRƯỜNG

1.Khái niệm

1.1. Cơ hội việc làm

Theo Gangl (2003), cơ hội việc làm được hiểu là khả năng mà một cá nhân có thể tìm kiếm và tiếp cận một vị trí lao động phù hợp sau khi hoàn tất chương trình đào tạo chính quy hoặc trải qua một giai đoạn thất nghiệp. Khái niệm này phản ánh mức độ sẵn sàng và khả năng hấp thụ của thị trường lao động đối với người lao động mới hoặc những người quay trở lại thị trường làm việc.

Trong khi đó, Luật Việc làm Việt Nam (2013) định nghĩa việc làm là mọi hoạt động lao động mang lại thu nhập hợp pháp, không vi phạm các quy định của pháp luật và có giá trị kinh tế đối với người thực hiện. Luật cũng nêu rõ sự khác biệt giữa việc làm nói chung và việc làm công: việc làm công là loại hình lao động tạm thời, có trả công, được hình thành từ các dự án hoặc chương trình phát triển kinh tế – xã hội sử dụng nguồn vốn nhà nước tại địa phương.

Tổng hợp các quan điểm trên có thể rút ra rằng, mặc dù cách diễn giải có thể khác nhau, nhưng bản chất của việc làm đều thống nhất ở hai khía cạnh cơ bản: (1) việc làm là hoạt động lao động có mục đích kinh tế, được tạo ra bởi người sử dụng lao động hoặc do cá nhân tự tạo cho bản thân; và (2) hoạt động đó phải đem lại nguồn thu nhập hợp pháp, ổn định, góp phần đảm bảo đời sống và tái sản xuất sức lao động cho người lao động.

1.2. Các đặc điểm của sinh viên mới ra trường

“Sinh viên mới ra trường” là nhóm đối tượng có những đặc trưng riêng biệt về tâm lý và hành vi nghề nghiệp. Nhìn chung, họ thuộc độ tuổi từ 18 đến 25, đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ môi trường học tập sang môi trường lao động. Ở giai đoạn này, sinh viên thường có kiến thức nền tảng chuyên môn, khả năng tiếp thu nhanh, ham học hỏi, và có xu hướng thích nghi tốt với cái mới. Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, họ vẫn đang trong quá trình hoàn thiện nhân cách, định hình giá trị nghề nghiệp và kỹ năng xã hội. Đồng thời, đây cũng là nhóm dân cư nhạy cảm với các biến động kinh tế – xã hội, nên rất cần được định hướng phù hợp về nghề nghiệp và phát triển bản thân (Hoàng Anh, 2021).

Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn nhóm sinh viên đã tốt nghiệp trong vòng ba năm làm đối tượng khảo sát. Lý do là trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 năm sau khi ra trường tại Việt Nam, phần lớn sinh viên đã có cơ hội trải nghiệm thực tế công việc, thử sức ở nhiều vị trí khác nhau, từ đó tự đánh giá năng lực, nhận diện điểm mạnh – điểm yếu và bắt đầu xác định con đường nghề nghiệp lâu dài cho bản thân.

2.Thực trạng cơ hội việc làm của sinh viên mới ra trường tại Việt Nam

Theo khảo sát của Vieclam24h (2025), chỉ có khoảng 23,4% doanh nghiệp tại Việt Nam có kế hoạch tuyển dụng sinh viên mới ra trường hoặc người chưa có kinh nghiệm trong vòng sáu tháng tới. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên ứng viên đã có kinh nghiệm làm việc, hoặc tập trung tuyển dụng cho những vị trí quan trọng thay vì đầu tư đào tạo nguồn nhân lực mới. Thực tế cho thấy, nhiều vị trí tuyển dụng hiện nay, thậm chí cả chương trình thực tập, đều yêu cầu ứng viên phải có kinh nghiệm làm việc nhất định, khiến sinh viên mới ra trường gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chí tuyển chọn.

Về thu nhập, phần lớn sinh viên sau khi tốt nghiệp chỉ nhận mức lương trung bình từ 5–7 triệu đồng/tháng, trong khi những người có năng lực ngoại ngữ tốt hoặc tốt nghiệp từ các ngành “nóng” như công nghệ thông tin, marketing số, logistics… có thể đạt mức 7–10 triệu đồng/tháng hoặc cao hơn. Bên cạnh đó, theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2025), tỷ lệ thất nghiệp chung dao động khoảng 2,2–2,3%, trong đó hơn 200.000 cử nhân vẫn chưa có việc làm mỗi năm, mặc dù mỗi năm có khoảng 300.000 sinh viên tốt nghiệp từ bậc đại học và cao đẳng. Trái ngược với tình trạng đó, thị trường lao động Việt Nam lại thiếu khoảng 836.000 lao động phổ thông, cho thấy sự mất cân đối rõ rệt giữa cung – cầu nhân lực, đặc biệt ở nhóm lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn.

Thực trạng cơ hội việc làm đối với sinh viên mới tốt nghiệp tại Việt Nam hiện mang tính hai mặt: về quy mô, thị trường lao động nhìn chung hồi phục sau đại dịch và tiếp tục tạo ra nhiều vị trí tuyển dụng, nhưng về chất lượng thì áp lực cạnh tranh cùng khoảng cách kỹ năng vẫn tồn tại rõ rệt. Ngoài ra khoảng trống giữa năng lực nhà trường cung cấp và yêu cầu của nhà tuyển dụng: nhiều doanh nghiệp ưu tiên tuyển nhân sự có kinh nghiệm, trong khi phần lớn sinh viên tốt nghiệp thiếu kinh nghiệm thực tiễn, dẫn tới áp lực tìm việc ngay và nguy cơ làm trái chuyên môn (underemployment) hoặc chấp nhận công việc thời vụ. Phần lớn vị trí tuyển dụng năm gần đây hướng tới ứng viên “có kinh nghiệm”, khiến cơ hội việc làm ổn định cho người mới ra trường bị hạn chế.


3. Mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của sinh viên mới ra trường tại Việt Nam


3.1. Kỹ năng mềm

Kỹ năng mềm được xem là nhóm năng lực phi chuyên môn giúp cá nhân giao tiếp, hợp tác, lãnh đạo, quản lý thời gian, tư duy phản biện và thích ứng hiệu quả trong môi trường học tập và làm việc hiện đại (Phạm Thị Lan, 2015). Trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh gay gắt, kỹ năng mềm trở thành yếu tố bổ trợ quan trọng giúp sinh viên chuyển hóa kiến thức học thuật thành năng lực nghề nghiệp thực tiễn. Các nghiên cứu gần đây cho thấy sinh viên sở hữu kỹ năng mềm tốt thường có khả năng thích ứng nhanh hơn với môi trường doanh nghiệp, tự tin hơn khi phỏng vấn và có tỷ lệ tìm được việc làm cao hơn so với nhóm còn lại (Đỗ Hương Giang & cộng sự, 2022; Lê Thu Trang & Trần Minh Khang, 2023).

Một trong những biểu hiện tiêu biểu của kỹ năng mềm là tính chủ động nghề nghiệp. Sinh viên biết tự tìm kiếm, sàng lọc và tiếp cận thông tin việc làm thông qua các nền tảng trực tuyến, hội thảo nghề nghiệp và mạng lưới chuyên môn thường mở rộng được cơ hội lựa chọn công việc phù hợp với năng lực và định hướng cá nhân (Nguyễn Thị Diệu, 2021). Tương tự, khả năng chấp nhận rủi ro nghề nghiệp cũng là một kỹ năng quan trọng trong thời kỳ biến động. Lê Quang Nam và Phạm Hồng Anh (2019) cho rằng sinh viên có tư duy cầu tiến, dám thử thách bản thân trong các ngành nghề đặc thù hoặc lĩnh vực có rủi ro cao như y tế, logistics hay công nghệ thường đạt được cơ hội nghề nghiệp bền vững hơn.

Ngoài ra, năng lực công nghệ và kỹ năng tin học văn phòng ngày càng trở thành tiêu chí bắt buộc trong hầu hết các vị trí tuyển dụng. Sự phát triển của công nghệ số và xu hướng làm việc trực tuyến khiến sinh viên cần thành thạo các phần mềm văn phòng, nền tảng quản lý công việc và công cụ cộng tác kỹ thuật số để tăng khả năng thích ứng với môi trường số hóa (Hoàng Minh Phúc & Đặng Ngọc Tú, 2024). Cuối cùng, kỹ năng giao tiếp và phỏng vấn được xem là yếu tố quyết định trong quá trình ứng tuyển. Trần Quang Hải và Nguyễn Văn Khánh (2015) nhấn mạnh rằng khả năng diễn đạt rõ ràng, thái độ chuyên nghiệp và phong cách giao tiếp tự tin giúp sinh viên tạo thiện cảm với nhà tuyển dụng, đồng thời phản ánh năng lực làm việc nhóm và khả năng thích ứng tổ chức — những yếu tố thiết yếu cho sự thành công nghề nghiệp lâu dài.

3.2. Nhu cầu nhà tuyển dụng

Theo Lê (2009), tuyển dụng nhân lực được hiểu là quá trình tìm kiếm, sàng lọc và đánh giá các ứng viên tiềm năng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân sự của tổ chức trong từng giai đoạn phát triển. Tương tự, Vũ và Hoàng (2005) nhấn mạnh rằng đây là một trong những khâu then chốt của quản trị nguồn nhân lực, bởi chất lượng tuyển dụng quyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và năng suất lao động của doanh nghiệp. Do đó, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với cơ hội việc làm của sinh viên mới ra trường, thể hiện qua số lượng vị trí tuyển dụng, tiêu chí lựa chọn, mức lương, cũng như tính chất công việc mà tổ chức đưa ra.

Từ năm 2020 đến nay, đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Việt Nam. Báo cáo hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (NEU–JICA, 2020) chỉ ra rằng, trong khi các ngành du lịch, hàng không, khách sạn, sản xuất và dịch vụ lưu trú chịu tác động tiêu cực, thì các lĩnh vực công nghệ thông tin, thương mại điện tử, viễn thông, logistics và y tế lại tăng mạnh về nhu cầu tuyển dụng nhằm thích ứng với xu hướng số hóa và tiêu dùng trực tuyến.

Bước sang giai đoạn hậu đại dịch (2022–2025), tình trạng này vẫn tiếp diễn. Báo cáo của Vieclam24h (2025) cho thấy chỉ khoảng 23,4% doanh nghiệp có kế hoạch tuyển dụng sinh viên mới tốt nghiệp hoặc người chưa có kinh nghiệm, phần lớn tập trung ở các ngành công nghệ, tài chính và thương mại điện tử. Ngược lại, doanh nghiệp vẫn thiếu hụt nhân lực ở nhóm lao động phổ thông và kỹ thuật thực hành, dẫn đến nghịch lý “thừa cử nhân, thiếu thợ lành nghề” (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2025).

Như vậy, có thể nhận thấy rằng cấu trúc tuyển dụng tại Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển dịch, hướng đến ưu tiên nguồn nhân lực có kỹ năng thực tiễn, khả năng thích ứng nhanh và tư duy số hóa. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở giáo dục đại học trong việc cập nhật chương trình đào tạo, tăng cường gắn kết với doanh nghiệp và mở rộng cơ hội thực hành, giúp sinh viên rút ngắn khoảng cách giữa kiến thức lý thuyết và năng lực nghề nghiệp thực tế.

3.3. Mạng lưới quan hệ

Mạng lưới quan hệ xã hội đóng vai trò trung gian quan trọng trong quá trình tìm việc làm, đặc biệt đối với sinh viên mới tốt nghiệp. Theo Mark Granovetter (1992), phần lớn người lao động không tìm việc qua các kênh tuyển dụng chính thức, mà thông qua các mối quan hệ xã hội cá nhân hoặc nghề nghiệp. Ông cho rằng các “liên kết yếu” (weak ties) – tức là các mối quan hệ xã hội không thường xuyên nhưng đa dạng – lại có hiệu quả cao trong việc tiếp cận thông tin việc làm mới và chất lượng hơn.

Tại Việt Nam, Phạm (2016) cũng chỉ ra mối tương quan tích cực giữa mạng lưới xã hội và khả năng tìm việc thành công. Các mối quan hệ với giảng viên, bạn học, đồng nghiệp cũ, hoặc các nhóm nghề nghiệp trực tuyến không chỉ giúp sinh viên nhận được thông tin nhanh hơn, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc được giới thiệu hoặc đánh giá uy tín. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy nếu phụ thuộc quá nhiều vào quan hệ cá nhân mà thiếu năng lực chuyên môn, sinh viên có thể gặp khó khăn trong việc phát triển bền vững về nghề nghiệp.

3.4. Trình độ chuyên môn

Trình độ chuyên môn được xem là yếu tố cốt lõi phản ánh mức độ hiểu biết, kỹ năng và năng lực chuyên môn mà mỗi cá nhân đạt được thông qua quá trình đào tạo chính quy hoặc bồi dưỡng nghề nghiệp (Trần, 2010). Đây là nền tảng quyết định khả năng thích ứng, năng suất lao động và cơ hội thăng tiến của người lao động trong thị trường việc làm hiện nay. Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động có trình độ cao vẫn tồn tại do sự mất cân đối giữa ngành đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường (GSO, 2025).

Nguyễn (2017) cho rằng chương trình đào tạo ở nhiều trường đại học tại Việt Nam còn thiếu tính thực tiễn, chưa theo kịp yêu cầu của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng “thừa lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành”. Quan điểm này vẫn phù hợp với bối cảnh hiện nay khi nhiều doanh nghiệp đánh giá sinh viên mới ra trường cần được đào tạo lại từ đầu (Vieclam24h, 2025). Sự chênh lệch giữa nội dung giảng dạy và yêu cầu công việc khiến bằng cấp không còn là yếu tố duy nhất quyết định khả năng có việc làm, mà kỹ năng ứng dụng và tư duy linh hoạt ngày càng trở nên quan trọng.

Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng trình độ chuyên môn có ảnh hưởng đáng kể đến năng lực nghề nghiệp và cơ hội việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Những cá nhân có nền tảng học vấn vững vàng thường thể hiện khả năng tư duy phản biện, năng lực phân tích và khả năng giải quyết vấn đề cao hơn trong môi trường làm việc (Nguyễn & Phạm, 2018; Trần, 2021). Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn còn giúp sinh viên thích ứng nhanh hơn với yêu cầu của công việc, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động đang chuyển dịch mạnh mẽ bởi quá trình chuyển đổi số (Lê & Đinh, 2023).

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan tích cực giữa trình độ học vấn và khả năng có việc làm, thể hiện qua tỷ lệ sinh viên đại học có việc làm ổn định cao hơn so với nhóm trung cấp hoặc sơ cấp (GSO, 2024; Hoàng & Vũ, 2022). Ngoài ra, trình độ chuyên môn cao còn góp phần nâng cao thu nhập khởi điểm và mức độ thăng tiến nghề nghiệp, do doanh nghiệp có xu hướng đánh giá cao những ứng viên sở hữu nền tảng kiến thức chuyên sâu và kỹ năng nghề nghiệp bài bản (Mai, 2023; Phạm, 2024).

Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng bằng cấp cao chưa đủ nếu sinh viên thiếu năng lực thực hành hoặc kỹ năng mềm cần thiết cho môi trường làm việc hiện đại (Vũ & Nguyễn, 2025). Điều này cho thấy trình độ chuyên môn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được kết hợp với kinh nghiệm thực tế, khả năng giao tiếp, làm việc nhóm và tự học — những yếu tố quyết định khả năng thích ứng và phát triển nghề nghiệp trong dài hạn.tế.

4. Những khía cạnh chưa được đề cập trong các nghiên cứu trước đó

Qua việc tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề cơ hội việc làm của sinh viên tốt nghiệp, có thể nhận thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nghiên cứu về quy mô mẫu, thời gian khảo sát, lĩnh vực phân tích và phạm vi quốc gia. Phần lớn các công trình tập trung khảo sát nhóm sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, tuy nhiên vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được khai thác đầy đủ.

Thứ nhất, đa số các nghiên cứu chỉ thực hiện trong khoảng thời gian tương đối ngắn, thường dao động từ 1 đến 2 năm. Trong khi đó, để đánh giá một cách toàn diện và khách quan về tác động của các yếu tố đến cơ hội việc làm, cần có dữ liệu quan sát trong khoảng 3 đến 5 năm nhằm phản ánh xu hướng biến động dài hạn và giảm thiểu sai lệch do yếu tố ngẫu nhiên hoặc thời điểm.

Thứ hai, sự khác biệt về bối cảnh không gian và thời gian nghiên cứu dẫn đến những kết luận trái chiều về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Cụ thể, các kết quả nghiên cứu tại những quốc gia có điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau thường đưa ra các lập luận không thống nhất, phản ánh đặc thù riêng của từng thị trường lao động và hệ thống giáo dục.

Từ đó có thể thấy rằng, mặc dù mỗi nghiên cứu đều có ưu điểm và đóng góp riêng, song cũng tồn tại những hạn chế nhất định về phạm vi và tính khái quát, khiến cho kết quả nghiên cứu thường mang tính thời điểm và phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế cụ thể. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, thường xuyên biến động và chịu tác động từ các yếu tố toàn cầu, việc nghiên cứu sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của sinh viên mới ra trường là yêu cầu cấp thiết, không chỉ giúp doanh nghiệp xây dựng chính sách tuyển dụng hiệu quả hơn mà còn giúp sinh viên định hướng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường.

DANH MỤC THAM KHẢO

  1. Carini, Robert M., Kuh, George D., & Klein, Stephen P. (2006). Student engagement and student learning: Testing the linkages. Research in Higher Education, 47(1), 1–32.
  2. Dân Trí. (2025). 77% doanh nghiệp không định tuyển nhân sự trẻ mới tốt nghiệp. Truy cập tại: https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/77-doanh-nghiep-khong-dinh-tuyen-nhan-su-tre-moi-tot-nghiep 20250806235151544.htm
  3. Đỗ Hương Giang & cộng sự. (2022). Ảnh hưởng của kỹ năng mềm đến cơ hội việc làm của sinh viên mới ra trường tại Việt Nam. Tạp chí Phát triển Nguồn nhân lực, 8(2), 45–57.
  4. General Statistics Office of Vietnam (Tổng cục Thống kê Việt Nam). (2024). Báo cáo lao động – việc làm Việt Nam 2024. Hà Nội: Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  5. Hoàng Minh Phúc & Đặng Ngọc Tú. (2024). Năng lực số và yêu cầu kỹ năng trong thời kỳ chuyển đổi số. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 12(1), 61–70.
  6. Hoàng Thị Minh & Vũ Quang Anh. (2022). Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến cơ hội việc làm của sinh viên tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Kinh tế và Quản trị, 8(3), 45–58.
  7. Kuh, George D., Kinzie, Jillian, Buckley, Jennifer A., Bridges, Brian K., & Hayek, John C. (2008). What matters to student success: A review of the literature. National Postsecondary Education Cooperative, Washington, DC.
  8. Lê Quang Nam & Phạm Hồng Anh. (2019). Kỹ năng chấp nhận rủi ro và cơ hội nghề nghiệp trong các ngành đặc thù. Tạp chí Lao động – Xã hội, 5(3), 88–97.
  9. Lê Thị Ngọc & Đinh Minh Hòa. (2023). Chuyển đổi số và nhu cầu kỹ năng mới trong thị trường lao động Việt Nam. Tạp chí Lao động – Xã hội, 15(4), 22–33.
  10. Lê Thu Trang & Trần Minh Khang. (2023). Tác động của kỹ năng mềm đến năng lực thích ứng nghề nghiệp của sinh viên. Tạp chí Giáo dục Việt Nam, 7(4), 30–42.
  11. Lê Văn Hòa. (2009). Quản trị nguồn nhân lực. Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.
  12. Mai Khánh An. (2023). Trình độ chuyên môn và mức thu nhập của sinh viên mới ra trường: Phân tích dữ liệu năm 2022. Tạp chí Khoa học Xã hội, 9(2), 67–80.
  13. NEU–JICA (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân & Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản). (2020). Vietnam Labour Market Report 2020: COVID-19 impacts and policy responses. Hà Nội: National Economics University & Japan International Cooperation Agency.
  14. Nhân Dân. (2025). Tỷ lệ thất nghiệp vẫn dao động quanh mức 2,2%. Truy cập tại: https://nhandan.vn/ty-le-that-nghiep-van-dao-dong-quanh-muc-22-post912611.html
  15. Nguyễn Hoàng Tú & Phạm Văn Quang. (2018). Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và năng lực làm việc của lao động trẻ Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 12(4), 101–115.
  16. Nguyễn Thị Diệu. (2021). Tính chủ động nghề nghiệp và cơ hội việc làm của sinh viên đại học Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội, 10(2), 71–84.
  17. Phạm Thị Lan. (2015). Kỹ năng mềm trong giáo dục đại học: Lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
  18. Phạm Thị Thu. (2024). Giá trị của bằng cấp trong thị trường lao động hiện đại: Góc nhìn từ doanh nghiệp. Tạp chí Phát triển Nguồn nhân lực, 6(1), 55–69.
  19. Quỳnh Chi. (2020, 28 tháng 3). Thị trường lao động Hà Nội quý I/2020: Nhu cầu tuyển dụng giảm 37%. Truy cập tại: https://laodong.vn
  20. Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO). (2025, tháng 10). Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm quý III và 9 tháng năm 2025.
  21. Trần Nam Long. (2021). Trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sau đại học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
  22. Trần Quang Hải & Nguyễn Văn Khánh. (2015). Kỹ năng giao tiếp và sự thành công trong tuyển dụng lao động trẻ. Tạp chí Kinh tế và Quản trị, 4(2), 22–34.
  23. Vieclam24h. (2025, tháng 6). Báo cáo thị trường lao động quý II/2025: Chỉ 23,4% doanh nghiệp có kế hoạch tuyển sinh viên mới ra trường. Truy cập tại: https://vieclam24h.vn/nghe-nghiep/loa-tin-tuc/bao-cao-thi-truong-lao-dong-q2.2025
  24. Vũ Minh Hằng & Hoàng Thị Phương. (2005). Quản trị nhân sự hiện đại. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê.
  25. Vũ Thị Lan & Nguyễn Quốc Hưng. (2025). Khoảng cách giữa đào tạo và việc làm: Bằng cấp có còn là lợi thế tuyệt đối? Báo cáo Hội thảo Quốc gia về Lao động trẻ 2025.