Chương 1: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng của
kinh tế chính trị ML
I. Khái quát sự hình thành và phát triển của KT CTML
- Kinh tế chính trị ML là 1 phần quan trọng trong dòng chảy phát triển tư tưởng
kinh tế của nhân loại, được hình thành và đặt nền móng bởi C.Mác, PH
Ănghen, dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị khoa học của kinh
tế chính trị của nhân loại trước đó. Sau C.Mác và Ph. Ănghen, V.I.Lênin và
các Đảng Cộng sản tiếp tục bổ sung, phát triển Kinh tế chính trị ML cho đến
hiện nay
- Sự ra đời và phát triển của KT CTML:
Thuật ngữ khoa học kinh tế chính trị (political economy) xuất hiện vào
đầu thế kỷ thứ XVII trong tác phẩm ‘Chuyên luận về kinh tế chính trị’ được xuất bản
năm 1615 của nhà kinh tế người Pháp A.Montchretien. Tới thế kỷ XVIII, với sự xuất
hiện lý luận của A.Smith – một nhà kinh tế học người Anh – thì kinh tế chính trị mới
trở thành một môn học có tính hệ thống với các phạm trù, khái niệm chuyên ngành.
Quá trình phát triển của khoa học kinh tế chia thành các giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất, từ thời cổ đại đến cuối TK XVIII
+) Thời cổ đại - thế kỷ XV: Những tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ, trung đại này do trình
độ các nền sản xuất còn lạc hậu nên chỉ xuất hiện số ít tư tưởng kinh tế mà không
phải là những hệ thống lý thuyết kinh tế hoàn chỉnh với nghĩa bao hàm các phạm
trù, khái niệm khoa học
+) Từ thế kỷ XV - cuối thế kỷ XVII: Chủ nghĩa trọng thương là hệ thống lý luận kinh
tế chính trị đầu tiên nghiên cứu về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong đó đặc biệt
coi trọng vai trò của hoạt động thương mại, đặc biệt là ngoại thương. Chủ nghĩa
trọng thương nghiên cứu trọng tâm vào lĩnh vực lưu thông và khái quát đúng mục
đích của các nhà tư bản là tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, họ không lý giải được
nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận khi cho rằng: Lợi nhuận là kết quả của việc
mua rẻ, bán đắt. Nhiều đại diện tiêu biểu: W. Starfod, T.Mun (Anh); G.Scaruffi,
A.Serra (Italia); A.Montchretien (Pháp).
+)Từ thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII: Chủ nghĩa trọng nông là hệ thống lý luận
kinh tế chính trị đầu tiên đặt trọng tâm nghiên cứu lĩnh vực sản xuất, nhấn mạnh vai
trò của sản xuất nông nghiệp, coi trọng sở hữu tư nhân và tự do kinh tế. Chủ nghĩa
trọng nông nổi bật hơn chủ nghĩa trọng thương khi luận giải về nhiều phạm trù kinh
tế (giá trị, tư bản, tiền lương, lợi nhuận, tái sản xuất). Tuy nhiên, hạn chế là khẳng
định chỉ có nông nghiệp mới là sản xuất. Đại biểu tiêu biểu ở Pháp gồm W.Petty; A.
Smith; D. Ricardo
+) Cuối thế kỷ XVIII: Kinh tế chính trị cổ điển Anh là hệ thống lý luận kinh tế của các
nhà kinh tế tư sản trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh
tế thị trường như hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền công, lợi nhuận để rút ra
những quy luật kinh tế. Đại diện tiêu biểu gồm: W.Petty; A.Smith; D.Ricardo
- Giai đoạn thứ hai, từ sau thế kỷ thứ XVIII đến nay:
+) Dòng lý thuyết KTCT Mác - Lênin: C.Mác (1818-1883) và Ph.Ănghen (1820 -
1895) sáng lập trên cơ sở kế thừa trực tiếp những giá trị khoa học của KTCT tư sản
cổ điển Anh, từ đó xây dựng hệ thống lý luận KTCT một cách khoa học, toàn diện về
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Lý luận kinh tế chính trị đó được thể hiện tập trung
và cô đọng nhất trong bộ Tư bản. Các lý luận của C.Mác được khái quát thành các
học thuyết lớn như học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về tích
lũy, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô…Sau đó, tiếp tục được V.I.Lênin
kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận kinh tế chính trị và có nhiều đóng góp lớn. Trong
đó nổi bật là nghiên cứu, chỉ ra những đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản giai
đoạn cuối TK XIX, đầu TK XX - còn gọi là giai đoạn độc quyền, những vấn đề KTCT
cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.. Sau khi V.I.Lenin qua đời, các
Đảng Cộng sản tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển KTCT ML cho đến ngày
nay.
+) Một số lý thuyết chính trị của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng
( TK XV - XIX) và kinh tế chính trị tiểu tư sản (cuối TK XIX). Các lý thuyết kinh tế này
hướng vào phê phán những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản song nhìn chung các
quan điểm dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân
đạo, không chỉ ra được các quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa và do đó không luận chứng được vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản
trong quá trình phát triển của nhân loại
II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của KTCT ML
1. Đối tượng nghiên cứu của KTCT ML: (trang 6-7)
- Đối tượng nghiên cứu của KTCT là các quan hệ của sản xuất và trao đổi
trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển
Nghĩa hẹp: Nghiên cứu quan hệ sản xuất và trao đổi trong 1 phương thức
sản xuất nhất định
Nghĩa rộng: Khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự
trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xac hội loài người, theo
Ph.Ănghen
Như vậy, theo C.Mác và Ph.Ănghen, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị
không phải là một lĩnh vực, một khía cạnh của nền sản xuất xã hội mà phải là một
chỉnh thể các quan hệ sản xuất và trao đổi.
- Đối tượng nghiên cứu của KTCT ML là các quan hệ xã hội của sản xuất và
trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của
phương thức sản xuất nhất định. KTCT ko nghiên cứu biểu hiện kỹ thuật của
sự sản xuất và trao đổi mà là hệ thống các quan hệ xã hội của sản xuất và
trao đổi. về khía cạnh này, V.I.Lênin ………..
III. So sánh đối tượng nghiên cứu của KTCT ML với đối tượng
nghiên cứu của các khoa học khác như kinh tế vĩ mô, quản lý
kinh tế, kinh tế phát triển:
a. Kinh tế chính trị Mác-Lênin (KTCT ML):
- Đối tượng nghiên cứu: KTCT ML nghiên cứu mối quan hệ giữa các giai cấp trong
xã hội thông qua việc phân tích các quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng của cải vật chất. Nó chú trọng vào việc lý giải bản chất và động lực của các
hiện tượng kinh tế trong một bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, thường là với tư duy
biện chứng và duy vật lịch sử.
- Mục tiêu: Nhấn mạnh vào việc phân tích sự bất công xã hội do sự chênh lệch về
quyền sở hữu tư liệu sản xuất và đấu tranh giai cấp, nhằm tìm ra cách thức để xây
dựng xã hội công bằng hơn (xã hội chủ nghĩa).
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào việc hiểu sâu bản chất của các quan hệ kinh
tế trong các hệ thống xã hội khác nhau (chủ nghĩa tư bản, xã hội chủ nghĩa) và sự
phát triển lịch sử của chúng.
- VD: : KTCT ML cũng nghiên cứu về các cuộc cách mạng xã Cách mạng xã hội
hội, như cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, để phân tích sự chuyển đổi từ chế độ
tư bản sang chế độ xã hội chủ nghĩa, khi mà giai cấp công nhân nắm quyền kiểm
soát tư liệu sản xuất.
b. Kinh tế vĩ mô:
- Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế vĩ mô quan tâm đến các hiện tượng kinh tế tổng
thể, bao gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, đầu tư, và
chính sách tài khóa, tiền tệ. Mục tiêu là phân tích và hiểu rõ sự vận động của nền
kinh tế ở cấp độ toàn bộ quốc gia hoặc khu vực.
- Mục tiêu: Đưa ra các giải pháp chính sách để ổn định và phát triển kinh tế, đảm
bảo tăng trưởng bền vững, giảm thất nghiệp, và kiểm soát lạm phát.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các khía cạnh tổng hợp của nền kinh tế như
thu nhập quốc gia, tổng cầu và tổng cung, tác động của chính sách tài khóa và tiền
tệ lên nền kinh tế.
- VD: Lạm phát và chính sách tiền tệ: Khi lạm phát tăng cao, các ngân hàng trung
ương, như Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ, có thể tăng lãi suất để làm giảm lượng
tiền lưu thông trong nền kinh tế, nhằm kiểm soát lạm phát.
c. Quản lý kinh tế:
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý kinh tế tập trung vào các phương pháp và cơ chế
tổ chức, điều hành hoạt động kinh tế ở các cấp khác nhau (quốc gia, doanh nghiệp).
Nó liên quan đến việc phân bổ nguồn lực, điều hành các chính sách kinh tế và tối ưu
hóa hoạt động của nền kinh tế.
- : Tạo ra một hệ thống quản lý hiệu quả, đảm bảo phân bổ nguồn lực tối Mục tiêu
ưu, tăng cường hiệu suất kinh tế và đảm bảo phát triển kinh tế ổn định, bền vững.
+) Phạm vi nghiên cứu: Phân tích cách thức chính phủ và các cơ quan kinh tế
quản lý và điều tiết nền kinh tế thông qua luật pháp, quy định và chính sách.
+) VD: : Một ví dụ khác là việc nhà nước áp dụng các quy định Điều tiết thị trường
về kiểm soát giá, như trần giá đối với các sản phẩm thiết yếu như năng lượng hoặc
lương thực, để tránh tình trạng giá cả tăng quá mức gây thiệt hại cho người dân,
đặc biệt là trong khủng hoảng.
d. Kinh tế phát triển:
- Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế phát triển nghiên cứu về quá trình phát triển kinh
tế của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Nó tập trung vào việc
tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp cho các vấn đề như nghèo đói, bất bình đẳng, và
sự phát triển không đều giữa các quốc gia.
- Mục tiêu: Đưa ra các giải pháp giúp các nước nghèo hoặc đang phát triển thoát
khỏi tình trạng kém phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện điều kiện sống
và phân phối thu nhập công bằng hơn.
- Phạm vi nghiên cứu: Các khía cạnh liên quan đến phát triển con người, nâng cao
chất lượng cuộc sống, và cải thiện hạ tầng kinh tế - xã hội, bao gồm vai trò của giáo
dục, y tế, và sự tham gia của quốc tế.
- VD: : Một ví dụ khác là các chiến Chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp
lược phát triển nhằm chuyển nền kinh tế từ dựa vào nông nghiệp sang công nghiệp
hóa, như kế hoạch phát triển của Trung Quốc từ thập niên 1980, qua đó thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và tạo ra công ăn việc làm.
IV. So sánh quan niệm của A.Smith về đối tượng nghiên cứu của
kinh tế chính trị?
- Quan niệm của Adam Smith
Đối tượng nghiên cứu: Theo Adam Smith, kinh tế chính trị là "nghiên cứu về
bản chất và nguyên nhân của sự giàu có của các quốc gia" (The Wealth of
Nations, 1776). Mục tiêu chính của kinh tế chính trị là giải thích các yếu tố làm
tăng sự giàu có và thịnh vượng của quốc gia, thông qua sự tích lũy tư bản,
thương mại tự do, và sự phân công lao động. Ông cho rằng kinh tế chính trị
cần tập trung vào việc tìm hiểu cách tối ưu hóa sản xuất và phân phối của cải
nhằm nâng cao mức sống cho mọi người trong xã hội.
Quan điểm trọng tâm:
Adam Smith coi là nguồn gốc của của cải, và sự phân công lao động giúp lao động
tăng năng suất. Ông ủng hộ , cho rằng "bàn tay vô hình" sẽkinh tế thị trường tự do
tự điều chỉnh nền kinh tế thông qua các quy luật cung và cầu, mà không cần sự can
thiệp của nhà nước. Mục tiêu của kinh tế chính trị là thúc đẩy sự giàu có cho quốc
gia và các cá nhân thông qua sự phát triển kinh tế tự nhiên và cạnh tranh.
- Quan niệm của Kinh tế chính trị Mác-Lênin
Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế chính trị Mác-Lênin cho rằng đối tượng
nghiên cứu chính của kinh tế chính trị là các quan hệ sản xuất mâu
thuẫn giai cấp trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của
cải vật chất. KTCT ML tập trung nghiên cứu về các quy luật vận động và phát
triển của các hình thái kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong các mối quan hệ giữa
các giai cấp trong xã hội tư bản và xã hội xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm trọng tâm:
Khác với Adam Smith, KTCT ML coi trọng quan hệ sản xuất
cho rằng sự phát triển kinh tế không chỉ do lao động mà còn phụ
thuộc vào các trong xã hội.quan hệ giai cấp
Thay vì "bàn tay vô hình", KTCT ML cho rằng sự phát triển kinh
tế luôn chịu sự chi phối của các , dẫn đến mâu thuẫn giai cấp
đấu tranh giai cấp và sự thay đổi của các hệ thống kinh tế - xã
hội.
Mục tiêu của KTCT ML là khỏi giải phóng giai cấp lao động
sự bóc lột của tư bản, hướng tới một xã hội không có giai cấp.
-So Sánh: Quan điểm của Adam Smith và kinh tế chính trị Mác-Lênin khác
nhau ở một vài tiêu chí. Về đối tượng nghiên cứu, Adam tập trung vào việc
gia tăng sự giàu có, tìm kiếm cách thức để gia tăng của cải như tích lũy của
cải, phân công lao động, tự do kinh tế. Trong khi đó, KTCT ML đi sâu vào việc
nghiên cứu quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giai cấp trong quá trình sản xuất
như quan hệ giai cấp, bóc lột sức lao động của người công nhân, vì thế tạo
nên quy luật giá trị thặng dư. Không chỉ vậy, Adam tin rằng cơ chế điều chỉnh
kinh tế do chính ‘Bàn tay vô hình’ của thị trường và quy luật cung- cầu tự điều
chỉnh, mặt khác, KTCT ML điều chỉnh kinh tế qua đấu tranh giai cấp và sự
thay đổi hình thái kinh tế - xã hội. Ngoài ra, mục tiêu của KTCT ML là xóa bỏ
bóc lột để xây dựng 1 xã hội không giai cấp, trong khi Adam Smith lại mong
muốn tăng trưởng kinh tế, tối ưu hóa sản xuất và phân phối của cải.
V. Mục đích nghiên cứu KTCT ML
( trang 7 -8)
VI. Từ việc nhận thức quy luật kinh tế:
- Đối với con người có thể vận dụng vào hoạt động cụ thể như: sản xuất kinh
doanh,thực hiện trao đổi, mua bán hàng hóa.
Quy luật cung - cầu:
Ví dụ: Một người kinh doanh trái cây nhận thức rằng vào mùa thu hoạch, lượng trái
cây trên thị trường sẽ nhiều và giá bán có xu hướng giảm. Vì vậy, họ có thể dự trữ
hàng từ trước khi mùa thu hoạch bắt đầu để bán ra khi cung bắt đầu giảm, từ đó thu
được lợi nhuận cao hơn.
Quy luật cạnh tranh:
Ví dụ: Một cửa hàng bán quần áo trực tuyến biết rằng thị trường đang cạnh tranh
gay gắt với nhiều đối thủ khác. Để giữ chân khách hàng, cửa hàng có thể tập trung
vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ, như giao hàng nhanh, chính sách đổi trả linh
hoạt, hoặc giảm giá trong các sự kiện khuyến mãi để tạo sự khác biệt và duy trì thị
phần.
Quy luật giá trị:
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử có thể áp dụng công nghệ sản xuất
hiện đại để giảm chi phí lao động và tăng năng suất. Điều này giúp họ duy trì mức
giá cạnh tranh hơn so với đối thủ, đồng thời vẫn đảm bảo được lợi nhuận.
- Đối với nhà nước, khi xây dựng các chính sách kinh tế phải đảm bảo phù
hợp với quy luật kinh tế.
Quy luật cung - cầu và chính sách điều tiết giá cả:
Ví dụ: Khi giá xăng dầu trên thị trường tăng cao đột biến do nguồn cung giảm, nhà
nước có thể can thiệp bằng cách tạm thời giảm thuế hoặc trợ giá để giúp bình ổn giá
xăng dầu. Điều này giúp giảm áp lực chi phí cho các doanh nghiệp và người tiêu
dùng, đồng thời duy trì sự ổn định của nền kinh tế.
Quy luật lưu thông tiền tệ và chính sách tiền tệ:
Ví dụ: Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát (giá cả hàng hóa tăng cao), nhà
nước có thể thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất hoặc giảm
lượng tiền cung ứng trên thị trường. Điều này giúp giảm tiêu dùng, đầu tư, và qua
đó hạ nhiệt nền kinh tế, kiềm chế lạm phát.
Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái kinh tế, nhà nước có thể thực hiện chính sách
nới lỏng tiền tệ, hạ lãi suất để khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, giúp nền kinh tế hồi
phục.
Quy luật phân phối và chính sách thuế:
Ví dụ: Nhà nước có thể áp dụng các chính sách thuế lũy tiến, trong đó những người
có thu nhập cao phải đóng thuế cao hơn để đảm bảo công bằng xã hội và giảm bất
bình đẳng thu nhập. Số tiền thuế thu được sẽ được sử dụng cho các chương trình
phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, nhằm nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư có
thu nhập thấp hơn.
Quy luật tái sản xuất mở rộng và chính sách đầu tư phát triển:
Ví dụ: Nhà nước nhận thức rằng để duy trì và mở rộng quy mô sản xuất, cần phải
thúc đẩy đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ. Do đó, họ có thể ban hành các
chính sách khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp, các dự án giao thông, năng
lượng và công nghệ cao thông qua các ưu đãi về thuế, tài trợ vốn hoặc chính sách đất đai.
VII. Nhận định sau là đúng hay sai, giải thích lý do " quy luật kinh tế và
chính sách kinh tế" là những cách diễn đạt khác nhau của 1 phạm
trù
- Nhận định "quy luật kinh tế và chính sách kinh tế là những cách diễn đạt
khác nhau của một phạm trù"sai. Lý do là vì quy luật kinh tế và chính
sách kinh tế là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau về bản chất:
Quy luật kinh tế
Quy luật kinh tế là các mối quan hệ khách quan, tất yếu và lặp
đi lặp lại trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng
của cải vật chất trong xã hội. Các quy luật này tồn tại độc lập
với ý chí của con người và mang tính tất yếu khách quan.
Ví dụ: Quy luật giá trị trong kinh tế thị trường, quy luật cung cầu,
quy luật giá trị thặng dư (trong KTCT Mác-Lênin).
Chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế là các biện pháp và đường lối mà nhà nước
hoặc các tổ chức kinh tế đưa ra để điều chỉnh, quản lý nền kinh
tế nhằm đạt được các mục tiêu nhất định (ví dụ: tăng trưởng, ổn
định, phát triển bền vững). Chính sách kinh tế phụ thuộc vào sự
lựa chọn và quyết định của con người, được hoạch định dựa
trên các quy luật kinh tế và bối cảnh thực tế.
Ví dụ: Chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách
thương mại quốc tế.
- Sự khác nhau:
Quy luật kinh tế mang tính khách quan, tồn tại độc lập với ý chí con
người, trong khi chính sách kinh tế là sự tác động chủ quan của nhà
nước hoặc các tổ chức lên nền kinh tế nhằm điều chỉnh quá trình kinh
tế theo hướng mong muốn.
Chính sách kinh tế có thể tuân theo hoặc vi phạm quy luật kinh tế. Nếu
chính sách kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế, nó có thể dẫn
đến hậu quả tiêu cực (ví dụ: lạm phát, thất nghiệp).
=> Như vậy, quy luật kinh tế và chính sách kinh tế không phải là hai cách diễn
đạt của cùng một phạm trù, mà là hai khái niệm khác nhau, một bên là quy
luật khách quan, bên còn lại là các biện pháp chủ quan được con người đưa
ra để điều chỉnh nền kinh tế.
VIII. Phương pháp nghiên cứu quan trọng của KTCT ML (pp trừu
tượng hóa khoa học)
- Nội dung (Trang 9)
-Ví dụ: Khi nghiên cứu về lợi nhuận trong kinh tế tư bản,
phương pháp trừu tượng hóa khoa học giúp loại bỏ những yếu
tố tạm thời như giá cả hàng hóa biến động, chi phí vận chuyển,
hoặc chi phí quảng cáo. Thay vào đó, nó tập trung vào bản chất
cốt lõi: người lao động làm ra giá trị nhưng chỉ được trả một
phần nhỏ, phần còn lại (gọi là giá trị thặng dư) được giữ lại bởi
người chủ (nhà tư bản) như lợi nhuận. Phương pháp này giúp
làm rõ rằng lợi nhuận của nhà tư bản không phải đến từ mua
bán đơn giản, mà từ việc chiếm đoạt giá trị lao động.
IX. KTCT ML sử dụng kết hợp với các phương pháp logic kết hợp với
lịch sử, thống kê:
- Nội dung (trang 9)
-Ví dụ: Khi nghiên cứu sự chuyển đổi từ chủ nghĩa phong kiến
sang tư bản, KTCT ML sử dụng phương pháp lịch sử để phân
tích các giai đoạn phát triển của xã hội. Đồng thời, phương
pháp logic được dùng để giải thích mâu thuẫn giữa quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất. Cuối cùng, phương pháp thống kê
giúp minh họa bằng các dữ liệu cụ thể về năng suất lao động và
phân phối tài sản trong các giai đoạn chuyển đổi.
(KHÔNG CHÉP, Phần này chi tiết từng phương pháp,it is
necessary? )
1. Phương pháp logic
Phương pháp logic trong KTCT ML giúp phân tích và lý luận để tìm ra các quy luật
vận động kinh tế một cách nhất quán. Mục tiêu là làm rõ bản chất của các quá trình
và giai đoạn phát triển kinh tế.
- Ví dụ: Phân tích quy luật giá trị bằng cách suy luận từ lao động xã hội cần thiết đến
giá trị hàng hóa và tác động của nó lên trao đổi, phân phối.
2. Phương pháp lịch sử:
KTCT ML sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu quá trình phát triển của các
quan hệ kinh tế qua các thời kỳ, từ đó rút ra quy luật phát triển khách quan của xã
hội.
- Ví dụ: Nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản từ sơ khai đến hiện đại và
kết luận về mâu thuẫn nội tại dẫn đến chuyển đổi sang chủ nghĩa xã hội.
3. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê giúp sử dụng dữ liệu thực tế để phân tích các quy luật kinh
tế. Số liệu thống kê cung cấp cái nhìn cụ thể về tình hình kinh tế xã hội.
- Ví dụ: Phân tích bất bình đẳng thu nhập trong nền kinh tế tư bản, minh chứng rằng
giai cấp lao động chỉ nhận được phần nhỏ giá trị lao động họ tạo ra.
Kết hợp các phương pháp:
KTCT ML kết hợp phương pháp logic, lịch sử và thống kê để có cái
nhìn toàn diện. Ví dụ, khi nghiên cứu sự chuyển đổi từ phong kiến
sang tư bản, KTCT ML dùng lịch sử để phân tích các giai đoạn, logic
để làm rõ mâu thuẫn giai cấp và thống kê để minh họa sự thay đổi kinh
tế xã hội.
X. Chức năng của KTCT ML
1. KTCT ML có , với mỗi chức năng, mang lại bốn chức năng
những giá trị về: (TRANG 10 -11-12)
- Nhận thức:
- Thực tiễn:
- Tư tưởng:
- Phương pháp luận
XI. Ví dụ về những mối liên hệ của chức năng với các lĩnh vực đời sống kinh
tế, chính trị, xã hội:
- Đầu tiên, chức năng phân tích và dự báo kinh tế
Mối liên hệ với kinh tế: KTCT ML phân tích các quy luật vận động của nền
kinh tế, từ đó giúp dự báo các xu hướng phát triển kinh tế trong tương lai. Ví
dụ, qua nghiên cứu quy luật giá trị và giá trị thặng dư, KTCT ML có thể dự
đoán xu hướng giá cả và thu nhập trong nền kinh tế tư bản.
Mối liên hệ với chính trị: Những phân tích này cung cấp cơ sở cho chính phủ
xây dựng các chính sách kinh tế hợp lý. Chẳng hạn, nếu phân tích cho thấy
sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập, nhà nước có thể điều chỉnh chính sách
thuế để giảm thiểu tình trạng này.
- Thứ hai, chức năng giáo dục và tuyên truyền
Mối liên hệ với xã hội: KTCT ML có chức năng giáo dục, nâng cao nhận thức
của người dân về quy luật kinh tế và các vấn đề xã hội. Ví dụ, việc giảng dạy
về sự bất công trong phân phối thu nhập có thể giúp người lao động nhận
thức rõ hơn về quyền lợi của mình, từ đó tham gia vào các phong trào xã hội
để đấu tranh cho quyền lợi.
Mối liên hệ với chính trị: Những hiểu biết này có thể ảnh hưởng đến thái độ
của công dân đối với chính quyền. Nếu người dân hiểu rõ hơn về sự bất công
trong hệ thống kinh tế, họ có thể yêu cầu thay đổi chính sách hoặc tham gia
vào các phong trào đòi quyền lợi.
- Cuối cùng, chức năng đề xuất chính sách
Mối liên hệ với kinh tế: Dựa trên những phân tích và đánh giá của mình,
KTCT ML có thể đề xuất các chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển bền
vững. Ví dụ, KTCT ML có thể khuyến nghị tăng cường đầu tư vào giáo dục và
y tế để nâng cao chất lượng lao động, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mối liên hệ với xã hội: Các chính sách này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế
mà còn góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, tạo ra một
xã hội ổn định và hòa bình.
XII. Ý nghĩa việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác Lênin đối với bản
thân trong quá trình tham gia vào các hoạt động xã hội (căn cứ mỗi chức
năng -> em có lập trường tốt hơn, nhận thức đúng đắn, nhiều mặt vấn đề,
cách lập luận...)
hức năng nhận thức: Nghiên cứu KTCT ML giúp em hiểu rõ hơn về các quy
luật kinh tế - xã hội, cũng như mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế và
chính trị. Em sẽ phát triển được lập trường rõ ràng hơn, từ đó có nhận thức
đúng đắn về các vấn đề xã hội, như bất bình đẳng, nghèo đói, và sự phát
triển bền vững. Điều này giúp em có thể tham gia vào các hoạt động xã hội
một cách tự tin và có cơ sở lý luận vững chắc
Chức năng thực tiễn: Nghiên cứu KTCT ML không chỉ mang tính lý thuyết
mà còn giúp em áp dụng những kiến thức vào thực tiễn đời sống.Em phát
triển được khả năng phân tích các tình huống cụ thể trong xã hội, từ đó đề
xuất các giải pháp thiết thực cho các vấn đề mà cộng đồng đang đối mặt.
Chức năng tư tưởng: Nghiên cứu KTCT ML giúp hình thành tư tưởng chính
trị và xã hội rõ ràng, có hệ thống. Em có cơ hội phát triển khả năng tư duy
phản biện và lập luận chặt chẽ hơn. Khi tham gia vào các hoạt động xã hội,
em có thể dễ dàng diễn đạt ý kiến của mình và thuyết phục người khác về
quan điểm của mình, đặc biệt trong các vấn đề như công bằng xã hội và
quyền lợi của người lao động.
Chức năng phương pháp luận: KTCT ML cung cấp cho em phương
pháp luận rõ ràng để nghiên cứu và phân tích các vấn đề xã hội. Em sẽ
có khả năng áp dụng các phương pháp phân tích logic và lịch sử để
hiểu rõ hơn về các xu hướng phát triển và mâu thuẫn trong xã hội. Điều
này giúp em có cái nhìn đa chiều về các vấn đề, từ đó đưa ra những
giải pháp khả thi và hiệu quả hơn.

Preview text:

Chương 1: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng của
kinh tế chính trị ML I.
Khái quát sự hình thành và phát triển của KT CTML -
Kinh tế chính trị ML là 1 phần quan trọng trong dòng chảy phát triển tư tưởng
kinh tế của nhân loại, được hình thành và đặt nền móng bởi C.Mác, PH
Ănghen, dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị khoa học của kinh
tế chính trị của nhân loại trước đó. Sau C.Mác và Ph. Ănghen, V.I.Lênin và
các Đảng Cộng sản tiếp tục bổ sung, phát triển Kinh tế chính trị ML cho đến hiện nay
- Sự ra đời và phát triển của KT CTML:
● Thuật ngữ khoa học kinh tế chính trị (political economy) xuất hiện vào
đầu thế kỷ thứ XVII trong tác phẩm ‘Chuyên luận về kinh tế chính trị’ được xuất bản
năm 1615 của nhà kinh tế người Pháp A.Montchretien. Tới thế kỷ XVIII, với sự xuất
hiện lý luận của A.Smith – một nhà kinh tế học người Anh – thì kinh tế chính trị mới
trở thành một môn học có tính hệ thống với các phạm trù, khái niệm chuyên ngành.
● Quá trình phát triển của khoa học kinh tế chia thành các giai đoạn: -
Giai đoạn thứ nhất, từ thời cổ đại đến cuối TK XVIII
+) Thời cổ đại - thế kỷ XV: Những tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ, trung đại này do trình
độ các nền sản xuất còn lạc hậu nên chỉ xuất hiện số ít tư tưởng kinh tế mà không
phải là những hệ thống lý thuyết kinh tế hoàn chỉnh với nghĩa bao hàm các phạm trù, khái niệm khoa học
+) Từ thế kỷ XV - cuối thế kỷ XVII: Chủ nghĩa trọng thương là hệ thống lý luận kinh
tế chính trị đầu tiên nghiên cứu về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong đó đặc biệt
coi trọng vai trò của hoạt động thương mại, đặc biệt là ngoại thương. Chủ nghĩa
trọng thương nghiên cứu trọng tâm vào lĩnh vực lưu thông và khái quát đúng mục
đích của các nhà tư bản là tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, họ không lý giải được
nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận khi cho rằng: Lợi nhuận là kết quả của việc
mua rẻ, bán đắt. Nhiều đại diện tiêu biểu: W. Starfod, T.Mun (Anh); G.Scaruffi,
A.Serra (Italia); A.Montchretien (Pháp).
+)Từ thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII: Chủ nghĩa trọng nông là hệ thống lý luận
kinh tế chính trị đầu tiên đặt trọng tâm nghiên cứu lĩnh vực sản xuất, nhấn mạnh vai
trò của sản xuất nông nghiệp, coi trọng sở hữu tư nhân và tự do kinh tế. Chủ nghĩa
trọng nông nổi bật hơn chủ nghĩa trọng thương khi luận giải về nhiều phạm trù kinh
tế (giá trị, tư bản, tiền lương, lợi nhuận, tái sản xuất). Tuy nhiên, hạn chế là khẳng
định chỉ có nông nghiệp mới là sản xuất. Đại biểu tiêu biểu ở Pháp gồm W.Petty; A. Smith; D. Ricardo
+) Cuối thế kỷ XVIII: Kinh tế chính trị cổ điển Anh là hệ thống lý luận kinh tế của các
nhà kinh tế tư sản trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh
tế thị trường như hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền công, lợi nhuận để rút ra
những quy luật kinh tế. Đại diện tiêu biểu gồm: W.Petty; A.Smith; D.Ricardo -
Giai đoạn thứ hai, từ sau thế kỷ thứ XVIII đến nay:
+) Dòng lý thuyết KTCT Mác - Lênin: C.Mác (1818-1883) và Ph.Ănghen (1820 -
1895) sáng lập trên cơ sở kế thừa trực tiếp những giá trị khoa học của KTCT tư sản
cổ điển Anh, từ đó xây dựng hệ thống lý luận KTCT một cách khoa học, toàn diện về
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Lý luận kinh tế chính trị đó được thể hiện tập trung
và cô đọng nhất trong bộ Tư bản. Các lý luận của C.Mác được khái quát thành các
học thuyết lớn như học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về tích
lũy, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô…Sau đó, tiếp tục được V.I.Lênin
kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận kinh tế chính trị và có nhiều đóng góp lớn. Trong
đó nổi bật là nghiên cứu, chỉ ra những đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản giai
đoạn cuối TK XIX, đầu TK XX - còn gọi là giai đoạn độc quyền, những vấn đề KTCT
cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.. Sau khi V.I.Lenin qua đời, các
Đảng Cộng sản tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển KTCT ML cho đến ngày nay.
+) Một số lý thuyết chính trị của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng
( TK XV - XIX) và kinh tế chính trị tiểu tư sản (cuối TK XIX). Các lý thuyết kinh tế này
hướng vào phê phán những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản song nhìn chung các
quan điểm dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân
đạo, không chỉ ra được các quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa và do đó không luận chứng được vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản
trong quá trình phát triển của nhân loại II.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của KTCT ML
1. Đối tượng nghiên cứu
của KTCT ML: (trang 6-7) -
Đối tượng nghiên cứu của KTCT là các quan hệ của sản xuất và trao đổi
trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển
Nghĩa hẹp: Nghiên cứu quan hệ sản xuất và trao đổi trong 1 phương thức sản xuất nhất định
Nghĩa rộng: Khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự
trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xac hội loài người, theo Ph.Ănghen
Như vậy, theo C.Mác và Ph.Ănghen, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị
không phải là một lĩnh vực, một khía cạnh của nền sản xuất xã hội mà phải là một
chỉnh thể các quan hệ sản xuất và trao đổi. -
Đối tượng nghiên cứu của KTCT ML là các quan hệ xã hội của sản xuất và
trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của
phương thức sản xuất nhất định. KTCT ko nghiên cứu biểu hiện kỹ thuật của
sự sản xuất và trao đổi mà là hệ thống các quan hệ xã hội của sản xuất và
trao đổi. về khía cạnh này, V.I.Lênin ………..
III. So sánh đối tượng nghiên cứu của KTCT ML
với đối tượng
nghiên cứu của các khoa học khác như kinh tế vĩ mô, quản lý
kinh tế, kinh tế phát triển
:
a. Kinh tế chính trị Mác-Lênin (KTCT ML):
- Đối tượng nghiên cứu: KTCT ML nghiên cứu mối quan hệ giữa các giai cấp trong
xã hội thông qua việc phân tích các quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng của cải vật chất. Nó chú trọng vào việc lý giải bản chất và động lực của các
hiện tượng kinh tế trong một bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, thường là với tư duy
biện chứng và duy vật lịch sử.
- Mục tiêu: Nhấn mạnh vào việc phân tích sự bất công xã hội do sự chênh lệch về
quyền sở hữu tư liệu sản xuất và đấu tranh giai cấp, nhằm tìm ra cách thức để xây
dựng xã hội công bằng hơn (xã hội chủ nghĩa).
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào việc hiểu sâu bản chất của các quan hệ kinh
tế trong các hệ thống xã hội khác nhau (chủ nghĩa tư bản, xã hội chủ nghĩa) và sự
phát triển lịch sử của chúng.
- VD: Cách mạng xã hội: KTCT ML cũng nghiên cứu về các cuộc cách mạng xã
hội, như cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, để phân tích sự chuyển đổi từ chế độ
tư bản sang chế độ xã hội chủ nghĩa, khi mà giai cấp công nhân nắm quyền kiểm soát tư liệu sản xuất. b. Kinh tế vĩ mô:
- Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế vĩ mô quan tâm đến các hiện tượng kinh tế tổng
thể, bao gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, đầu tư, và
chính sách tài khóa, tiền tệ. Mục tiêu là phân tích và hiểu rõ sự vận động của nền
kinh tế ở cấp độ toàn bộ quốc gia hoặc khu vực.
- Mục tiêu: Đưa ra các giải pháp chính sách để ổn định và phát triển kinh tế, đảm
bảo tăng trưởng bền vững, giảm thất nghiệp, và kiểm soát lạm phát.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các khía cạnh tổng hợp của nền kinh tế như
thu nhập quốc gia, tổng cầu và tổng cung, tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ lên nền kinh tế.
- VD: Lạm phát và chính sách tiền tệ: Khi lạm phát tăng cao, các ngân hàng trung
ương, như Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ, có thể tăng lãi suất để làm giảm lượng
tiền lưu thông trong nền kinh tế, nhằm kiểm soát lạm phát.
c. Quản lý kinh tế:
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý kinh tế tập trung vào các phương pháp và cơ chế
tổ chức, điều hành hoạt động kinh tế ở các cấp khác nhau (quốc gia, doanh nghiệp).
Nó liên quan đến việc phân bổ nguồn lực, điều hành các chính sách kinh tế và tối ưu
hóa hoạt động của nền kinh tế.
- Mục tiêu: Tạo ra một hệ thống quản lý hiệu quả, đảm bảo phân bổ nguồn lực tối
ưu, tăng cường hiệu suất kinh tế và đảm bảo phát triển kinh tế ổn định, bền vững.
+) Phạm vi nghiên cứu: Phân tích cách thức chính phủ và các cơ quan kinh tế
quản lý và điều tiết nền kinh tế thông qua luật pháp, quy định và chính sách.
+) VD: Điều tiết thị trường: Một ví dụ khác là việc nhà nước áp dụng các quy định
về kiểm soát giá, như trần giá đối với các sản phẩm thiết yếu như năng lượng hoặc
lương thực, để tránh tình trạng giá cả tăng quá mức gây thiệt hại cho người dân,
đặc biệt là trong khủng hoảng.
d. Kinh tế phát triển:
- Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế phát triển nghiên cứu về quá trình phát triển kinh
tế của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Nó tập trung vào việc
tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp cho các vấn đề như nghèo đói, bất bình đẳng, và
sự phát triển không đều giữa các quốc gia.
- Mục tiêu: Đưa ra các giải pháp giúp các nước nghèo hoặc đang phát triển thoát
khỏi tình trạng kém phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện điều kiện sống
và phân phối thu nhập công bằng hơn.
- Phạm vi nghiên cứu: Các khía cạnh liên quan đến phát triển con người, nâng cao
chất lượng cuộc sống, và cải thiện hạ tầng kinh tế - xã hội, bao gồm vai trò của giáo
dục, y tế, và sự tham gia của quốc tế.
- VD: Chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp: Một ví dụ khác là các chiến
lược phát triển nhằm chuyển nền kinh tế từ dựa vào nông nghiệp sang công nghiệp
hóa, như kế hoạch phát triển của Trung Quốc từ thập niên 1980, qua đó thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và tạo ra công ăn việc làm. IV.
So sánh quan niệm của A.Smith về đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị?
- Quan niệm của Adam Smith
Đối tượng nghiên cứu: Theo Adam Smith, kinh tế chính trị là "nghiên cứu về
bản chất và nguyên nhân của sự giàu có của các quốc gia" (The Wealth of
Nations, 1776). Mục tiêu chính của kinh tế chính trị là giải thích các yếu tố làm
tăng sự giàu có và thịnh vượng của quốc gia, thông qua sự tích lũy tư bản,
thương mại tự do, và sự phân công lao động. Ông cho rằng kinh tế chính trị
cần tập trung vào việc tìm hiểu cách tối ưu hóa sản xuất và phân phối của cải
nhằm nâng cao mức sống cho mọi người trong xã hội.
Quan điểm trọng tâm:
Adam Smith coi lao động là nguồn gốc của của cải, và sự phân công lao động giúp
tăng năng suất. Ông ủng hộ kinh tế thị trường tự do, cho rằng "bàn tay vô hình" sẽ
tự điều chỉnh nền kinh tế thông qua các quy luật cung và cầu, mà không cần sự can
thiệp của nhà nước. Mục tiêu của kinh tế chính trị là thúc đẩy sự giàu có cho quốc
gia
và các cá nhân thông qua sự phát triển kinh tế tự nhiên và cạnh tranh.
- Quan niệm của Kinh tế chính trị Mác-Lênin
Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế chính trị Mác-Lênin cho rằng đối tượng
nghiên cứu chính của kinh tế chính trị là các quan hệ sản xuấtmâu
thuẫn giai cấp
trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của
cải vật chất. KTCT ML tập trung nghiên cứu về các quy luật vận động và phát
triển của các hình thái kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong các mối quan hệ giữa
các giai cấp trong xã hội tư bản và xã hội xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm trọng tâm:
○ Khác với Adam Smith, KTCT ML coi trọng quan hệ sản xuất
cho rằng sự phát triển kinh tế không chỉ do lao động mà còn phụ
thuộc vào các quan hệ giai cấp trong xã hội.
○ Thay vì "bàn tay vô hình", KTCT ML cho rằng sự phát triển kinh
tế luôn chịu sự chi phối của các mâu thuẫn giai cấp, dẫn đến
đấu tranh giai cấp và sự thay đổi của các hệ thống kinh tế - xã hội.
○ Mục tiêu của KTCT ML là giải phóng giai cấp lao động khỏi
sự bóc lột của tư bản, hướng tới một xã hội không có giai cấp.
-So Sánh: Quan điểm của Adam Smith và kinh tế chính trị Mác-Lênin khác
nhau ở một vài tiêu chí. Về đối tượng nghiên cứu, Adam tập trung vào việc
gia tăng sự giàu có, tìm kiếm cách thức để gia tăng của cải như tích lũy của
cải, phân công lao động, tự do kinh tế. Trong khi đó, KTCT ML đi sâu vào việc
nghiên cứu quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giai cấp trong quá trình sản xuất
như quan hệ giai cấp, bóc lột sức lao động của người công nhân, vì thế tạo
nên quy luật giá trị thặng dư. Không chỉ vậy, Adam tin rằng cơ chế điều chỉnh
kinh tế do chính ‘Bàn tay vô hình’ của thị trường và quy luật cung- cầu tự điều
chỉnh, mặt khác, KTCT ML điều chỉnh kinh tế qua đấu tranh giai cấp và sự
thay đổi hình thái kinh tế - xã hội. Ngoài ra, mục tiêu của KTCT ML là xóa bỏ
bóc lột để xây dựng 1 xã hội không giai cấp, trong khi Adam Smith lại mong
muốn tăng trưởng kinh tế, tối ưu hóa sản xuất và phân phối của cải. V.
Mục đích nghiên cứu KTCT ML ( trang 7 -8) VI.
Từ việc nhận thức quy luật kinh tế:
- Đối với con người
có thể vận dụng vào hoạt động cụ thể như: sản xuất kinh
doanh,thực hiện trao đổi, mua bán hàng hóa.
Quy luật cung - cầu:
Ví dụ: Một người kinh doanh trái cây nhận thức rằng vào mùa thu hoạch, lượng trái
cây trên thị trường sẽ nhiều và giá bán có xu hướng giảm. Vì vậy, họ có thể dự trữ
hàng từ trước khi mùa thu hoạch bắt đầu để bán ra khi cung bắt đầu giảm, từ đó thu
được lợi nhuận cao hơn.
Quy luật cạnh tranh:
Ví dụ: Một cửa hàng bán quần áo trực tuyến biết rằng thị trường đang cạnh tranh
gay gắt với nhiều đối thủ khác. Để giữ chân khách hàng, cửa hàng có thể tập trung
vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ, như giao hàng nhanh, chính sách đổi trả linh
hoạt, hoặc giảm giá trong các sự kiện khuyến mãi để tạo sự khác biệt và duy trì thị phần.
Quy luật giá trị:
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử có thể áp dụng công nghệ sản xuất
hiện đại để giảm chi phí lao động và tăng năng suất. Điều này giúp họ duy trì mức
giá cạnh tranh hơn so với đối thủ, đồng thời vẫn đảm bảo được lợi nhuận.
- Đối với nhà nước, khi xây dựng các chính sách kinh tế phải đảm bảo phù
hợp với quy luật kinh tế.
Quy luật cung - cầu và chính sách điều tiết giá cả:
Ví dụ: Khi giá xăng dầu trên thị trường tăng cao đột biến do nguồn cung giảm, nhà
nước có thể can thiệp bằng cách tạm thời giảm thuế hoặc trợ giá để giúp bình ổn giá
xăng dầu. Điều này giúp giảm áp lực chi phí cho các doanh nghiệp và người tiêu
dùng, đồng thời duy trì sự ổn định của nền kinh tế.
Quy luật lưu thông tiền tệ và chính sách tiền tệ:
Ví dụ: Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát (giá cả hàng hóa tăng cao), nhà
nước có thể thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất hoặc giảm
lượng tiền cung ứng trên thị trường. Điều này giúp giảm tiêu dùng, đầu tư, và qua
đó hạ nhiệt nền kinh tế, kiềm chế lạm phát.
Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái kinh tế, nhà nước có thể thực hiện chính sách
nới lỏng tiền tệ, hạ lãi suất để khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, giúp nền kinh tế hồi phục.
Quy luật phân phối và chính sách thuế:
Ví dụ: Nhà nước có thể áp dụng các chính sách thuế lũy tiến, trong đó những người
có thu nhập cao phải đóng thuế cao hơn để đảm bảo công bằng xã hội và giảm bất
bình đẳng thu nhập. Số tiền thuế thu được sẽ được sử dụng cho các chương trình
phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, nhằm nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư có thu nhập thấp hơn.
Quy luật tái sản xuất mở rộng và chính sách đầu tư phát triển:
Ví dụ: Nhà nước nhận thức rằng để duy trì và mở rộng quy mô sản xuất, cần phải
thúc đẩy đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ. Do đó, họ có thể ban hành các
chính sách khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp, các dự án giao thông, năng
lượng và công nghệ cao thông qua các ưu đãi về thuế, tài trợ vốn hoặc chính sách đất đai. VII.
Nhận định sau là đúng hay sai, giải thích lý do " quy luật kinh tế và
chính sách kinh tế" là những cách diễn đạt khác nhau của 1 phạm trù
-
Nhận định "quy luật kinh tế và chính sách kinh tế là những cách diễn đạt
khác nhau của một phạm trù"
sai. Lý do là vì quy luật kinh tế và chính
sách kinh tế là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau về bản chất: ● Quy luật kinh tế
○ Quy luật kinh tế là các mối quan hệ khách quan, tất yếu và lặp
đi lặp lại trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng
của cải vật chất trong xã hội. Các quy luật này tồn tại độc lập
với ý chí của con người và mang tính tất yếu khách quan.
○ Ví dụ: Quy luật giá trị trong kinh tế thị trường, quy luật cung cầu,
quy luật giá trị thặng dư (trong KTCT Mác-Lênin). ● Chính sách kinh tế
○ Chính sách kinh tế là các biện pháp và đường lối mà nhà nước
hoặc các tổ chức kinh tế đưa ra để điều chỉnh, quản lý nền kinh
tế nhằm đạt được các mục tiêu nhất định (ví dụ: tăng trưởng, ổn
định, phát triển bền vững). Chính sách kinh tế phụ thuộc vào sự
lựa chọn và quyết định của con người, được hoạch định dựa
trên các quy luật kinh tế và bối cảnh thực tế.
○ Ví dụ: Chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách thương mại quốc tế. - Sự khác nhau:
● Quy luật kinh tế mang tính khách quan, tồn tại độc lập với ý chí con
người, trong khi chính sách kinh tế là sự tác động chủ quan của nhà
nước hoặc các tổ chức lên nền kinh tế nhằm điều chỉnh quá trình kinh
tế theo hướng mong muốn.
● Chính sách kinh tế có thể tuân theo hoặc vi phạm quy luật kinh tế. Nếu
chính sách kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế, nó có thể dẫn
đến hậu quả tiêu cực (ví dụ: lạm phát, thất nghiệp).
=> Như vậy, quy luật kinh tế và chính sách kinh tế không phải là hai cách diễn
đạt của cùng một phạm trù, mà là hai khái niệm khác nhau, một bên là quy
luật khách quan, bên còn lại là các biện pháp chủ quan được con người đưa
ra để điều chỉnh nền kinh tế.
VIII. Phương pháp nghiên cứu
quan trọng của KTCT ML (pp trừu tượng hóa khoa học) - Nội dung (Trang 9)
-Ví dụ: Khi nghiên cứu về lợi nhuận trong kinh tế tư bản,
phương pháp trừu tượng hóa khoa học giúp loại bỏ những yếu
tố tạm thời như giá cả hàng hóa biến động, chi phí vận chuyển,
hoặc chi phí quảng cáo. Thay vào đó, nó tập trung vào bản chất
cốt lõi: người lao động làm ra giá trị nhưng chỉ được trả một
phần nhỏ, phần còn lại (gọi là giá trị thặng dư) được giữ lại bởi
người chủ (nhà tư bản) như lợi nhuận. Phương pháp này giúp
làm rõ rằng lợi nhuận của nhà tư bản không phải đến từ mua
bán đơn giản, mà từ việc chiếm đoạt giá trị lao động. IX.
KTCT ML sử dụng kết hợp với các phương pháp logic kết hợp với
lịch sử, thống kê: - Nội dung (trang 9)
-Ví dụ: Khi nghiên cứu sự chuyển đổi từ chủ nghĩa phong kiến
sang tư bản, KTCT ML sử dụng phương pháp lịch sử để phân
tích các giai đoạn phát triển của xã hội. Đồng thời, phương
pháp logic được dùng để giải thích mâu thuẫn giữa quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất. Cuối cùng, phương pháp thống kê
giúp minh họa bằng các dữ liệu cụ thể về năng suất lao động và
phân phối tài sản trong các giai đoạn chuyển đổi.
(KHÔNG CHÉP, Phần này chi tiết từng phương pháp,it is necessary? ) 1. Phương pháp logic
Phương pháp logic trong KTCT ML giúp phân tích và lý luận để tìm ra các quy luật
vận động kinh tế một cách nhất quán. Mục tiêu là làm rõ bản chất của các quá trình
và giai đoạn phát triển kinh tế.
- Ví dụ: Phân tích quy luật giá trị bằng cách suy luận từ lao động xã hội cần thiết đến
giá trị hàng hóa và tác động của nó lên trao đổi, phân phối.
2. Phương pháp lịch sử:
KTCT ML sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu quá trình phát triển của các
quan hệ kinh tế qua các thời kỳ, từ đó rút ra quy luật phát triển khách quan của xã hội.
- Ví dụ: Nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản từ sơ khai đến hiện đại và
kết luận về mâu thuẫn nội tại dẫn đến chuyển đổi sang chủ nghĩa xã hội.
3. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê giúp sử dụng dữ liệu thực tế để phân tích các quy luật kinh
tế. Số liệu thống kê cung cấp cái nhìn cụ thể về tình hình kinh tế xã hội.
- Ví dụ: Phân tích bất bình đẳng thu nhập trong nền kinh tế tư bản, minh chứng rằng
giai cấp lao động chỉ nhận được phần nhỏ giá trị lao động họ tạo ra.
● Kết hợp các phương pháp:
KTCT ML kết hợp phương pháp logic, lịch sử và thống kê để có cái
nhìn toàn diện. Ví dụ, khi nghiên cứu sự chuyển đổi từ phong kiến
sang tư bản, KTCT ML dùng lịch sử để phân tích các giai đoạn, logic
để làm rõ mâu thuẫn giai cấp và thống kê để minh họa sự thay đổi kinh tế xã hội. X.
Chức năng của KTCT ML
1. KTCT ML có bốn chức năng, với mỗi chức năng, mang lại
những giá trị về: (TRANG 10 -11-12) - Nhận thức: - Thực tiễn: - Tư tưởng: - Phương pháp luận
XI. Ví dụ về những mối liên hệ của chức năng
với các lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, xã hội:
- Đầu tiên, chức năng phân tích và dự báo kinh tế
Mối liên hệ với kinh tế: KTCT ML phân tích các quy luật vận động của nền
kinh tế, từ đó giúp dự báo các xu hướng phát triển kinh tế trong tương lai. Ví
dụ, qua nghiên cứu quy luật giá trị và giá trị thặng dư, KTCT ML có thể dự
đoán xu hướng giá cả và thu nhập trong nền kinh tế tư bản.
Mối liên hệ với chính trị: Những phân tích này cung cấp cơ sở cho chính phủ
xây dựng các chính sách kinh tế hợp lý. Chẳng hạn, nếu phân tích cho thấy
sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập, nhà nước có thể điều chỉnh chính sách
thuế để giảm thiểu tình trạng này.
- Thứ hai, chức năng giáo dục và tuyên truyền
Mối liên hệ với xã hội: KTCT ML có chức năng giáo dục, nâng cao nhận thức
của người dân về quy luật kinh tế và các vấn đề xã hội. Ví dụ, việc giảng dạy
về sự bất công trong phân phối thu nhập có thể giúp người lao động nhận
thức rõ hơn về quyền lợi của mình, từ đó tham gia vào các phong trào xã hội
để đấu tranh cho quyền lợi.
Mối liên hệ với chính trị: Những hiểu biết này có thể ảnh hưởng đến thái độ
của công dân đối với chính quyền. Nếu người dân hiểu rõ hơn về sự bất công
trong hệ thống kinh tế, họ có thể yêu cầu thay đổi chính sách hoặc tham gia
vào các phong trào đòi quyền lợi.
- Cuối cùng, chức năng đề xuất chính sách
Mối liên hệ với kinh tế: Dựa trên những phân tích và đánh giá của mình,
KTCT ML có thể đề xuất các chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển bền
vững. Ví dụ, KTCT ML có thể khuyến nghị tăng cường đầu tư vào giáo dục và
y tế để nâng cao chất lượng lao động, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mối liên hệ với xã hội: Các chính sách này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế
mà còn góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, tạo ra một
xã hội ổn định và hòa bình. XII.
Ý nghĩa việc nghiên cứu kinh tế
chính trị Mác Lênin đối với bản thân
trong quá trình tham gia vào các hoạt động xã hội (căn cứ mỗi chức
năng -> em có lập trường tốt hơn, nhận thức đúng đắn, nhiều mặt vấn đề, cách lập luận...)
hức năng nhận thức: Nghiên cứu KTCT ML giúp em hiểu rõ hơn về các quy
luật kinh tế - xã hội, cũng như mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế và
chính trị. Em sẽ phát triển được lập trường rõ ràng hơn, từ đó có nhận thức
đúng đắn về các vấn đề xã hội, như bất bình đẳng, nghèo đói, và sự phát
triển bền vững. Điều này giúp em có thể tham gia vào các hoạt động xã hội
một cách tự tin và có cơ sở lý luận vững chắc
Chức năng thực tiễn: Nghiên cứu KTCT ML không chỉ mang tính lý thuyết
mà còn giúp em áp dụng những kiến thức vào thực tiễn đời sống.Em phát
triển được khả năng phân tích các tình huống cụ thể trong xã hội, từ đó đề
xuất các giải pháp thiết thực cho các vấn đề mà cộng đồng đang đối mặt.
Chức năng tư tưởng: Nghiên cứu KTCT ML giúp hình thành tư tưởng chính
trị và xã hội rõ ràng, có hệ thống. Em có cơ hội phát triển khả năng tư duy
phản biện và lập luận chặt chẽ hơn. Khi tham gia vào các hoạt động xã hội,
em có thể dễ dàng diễn đạt ý kiến của mình và thuyết phục người khác về
quan điểm của mình, đặc biệt trong các vấn đề như công bằng xã hội và
quyền lợi của người lao động.
Chức năng phương pháp luận: KTCT ML cung cấp cho em phương
pháp luận rõ ràng để nghiên cứu và phân tích các vấn đề xã hội. Em sẽ
có khả năng áp dụng các phương pháp phân tích logic và lịch sử để
hiểu rõ hơn về các xu hướng phát triển và mâu thuẫn trong xã hội. Điều
này giúp em có cái nhìn đa chiều về các vấn đề, từ đó đưa ra những
giải pháp khả thi và hiệu quả hơn.