


















Preview text:
Câu Đ/A Giải thích
Triết học phương Tây cổ đại có đối tượng nghiên cứu là thế giới tự
nhiên và con người, chứ không phải thần học. Các nhà triết học
thời kỳ này đã tìm cách giải thích thế giới bằng lý trí, không dựa vào
thần linh hay các câu chuyện thần thoại. Thần học chỉ trở thành đối
tượng nghiên cứu chính của triết học trong thời kỳ Trung cổ, khi
1 Sai triết học bị lệ thuộc vào tôn giáo.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, đối tượng nghiên cứu của triết
học Mác - Lênin là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội
và tư duy. Mặc dù triết học Mác - Lênin có sử dụng và tổng kết
những thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhưng
nó không trực tiếp nghiên cứu các lĩnh vực này mà chỉ khái quát
2 Sai những quy luật chung nhất từ đó.
Loại hình thế giới quan đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là thế giới
quan thần thoại, sau đó là thế giới quan tôn giáo. Triết học xuất
hiện muộn hơn, khi con người đạt đến trình độ tư duy khái quát cao
hơn, tìm cách giải thích thế giới một cách có hệ thống và logic,
3 Sai không dựa vào các câu chuyện thần thoại hay tín ngưỡng.
Thuyết khả tri luận (Gnosticism) khẳng định con người có thể nhận thức
được thế giới. Thuyết bất khả tri luận (Agnosticism) mới là thuyết cho
4 Sai rằng con người không thể nhận thức được thế giới.
Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của thế
giới là ý thức, nhưng ý thức đó không phải của con người mà là ý
thức khách quan, tinh thần tuyệt đối, tồn tại độc lập với con người
5 Sai và sản sinh ra thế giới vật chất.
Đây là định nghĩa đúng về chủ nghĩa duy tâm khách quan, thừa
nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng ý thức đó là tinh thần, ý niệm
6 Đúng tồn tại độc lập với con người và sản sinh ra thế giới vật chất.
Thuyết khả tri luận (Gnosticism) là một trường phái triết học khẳng
7 Đúng định con người có khả năng nhận thức được bản chất của thế giới.
Phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái
tĩnh, cô lập, tách rời khỏi các mối liên hệ. Ngược lại, phương pháp biện
chứngmới nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái động, trong mối
liên hệ phổ biến. Ví dụ nhìn cái cây có mối liên hệ với rừng là cách nhìn 8 Sai biện chứng.
Công lao lớn nhất của C.Mác và Ph. Ăngghen là đã xây dựng nên chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tạo ra bước ngoặt cách
mạng trong triết học. Việc loại bỏ chủ nghĩa duy tâm tôn giáo là một phần
9 Sai của quá trình này, nhưng không phải là công lao lớn nhất.
Tri thức triết học ra đời phải có 3 tính chất cơ bản là tính khái quát,
tính hệ thống và tính trừu tượng. "Cụ thể hóa, đại chúng hóa, duy
cảm" là những tính chất của tri thức thông thường, không phải của
10 Sai tri thức triết học.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, vật chất và vận động, không
gian và thời gian là những phạm trù có mối liên hệ mật thiết, không
thể tách rời. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, và
không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
Chúng tồn tại trong sự thống nhất biện chứng, không độc lập với 11 Sai nhau.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh thế giới khách
quan vào bộ óc con người, có nguồn gốc tự nhiên (bộ óc người) và nguồn
gốc xã hội (lao động và ngôn ngữ). Rô bốt hay người máy được ứng dụng
công nghệ AI có thể mô phỏng và thực hiện các chức năng của ý thức,
nhưng không thể có ý thức thực sự như con người vì chúng không có
12 Sai nguồn gốc sinh học và xã hội như con người
thích: Theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức được hình thành từ cả
nguồn gốc tự nhiên (bộ óc con người) và nguồn gốc xã hội (lao động và
ngôn ngữ). Chỉ có nguồn gốc xã hội (lao động và ngôn ngữ) là chưa đủ để
13 Sai hình thành ý thức con người.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, vật chất quyết định ý thức,
nhưng ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động
thực tiễn của con người. Mối quan hệ này là mối quan hệ biện
14 Đúng chứng, hai chiều.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm khách quan được
rút ra từ nguyên tắc khách quan, tức là phải xuất phát từ thực tế
khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, chứ
15 Sai không phải từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm toàn diện được rút ra từ
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chứ không phải từ nguyên lý về sự phát 16 Sai triển
Theo quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm phát triển được rút ra từ
nguyên lý về sự phát triển, yêu cầu khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt
17 Đúng nó trong trạng thái vận động, biến đổi, đi lên.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm thực tiễn được rút ra từ
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong đó thực tiễn là hoạt động vật
chất có mục đích của con người, là cơ sở, động lực và mục đích của nhận 18 Đúng thức.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, thế giới vật chất thống nhất ở
tính vật chất của nó. Tính thống nhất này thể hiện ở chỗ tất cả các sự
vật, hiện tượng trong thế giới đều là những dạng tồn tại cụ thể của
19 Đúng vật chất, có mối liên hệ và chuyển hóa lẫn nhau.
Biện chứng khách quan là biện chứng của bản thân thế giới vật chất,
còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào
20 Sai tư duy con người. Nhận định này đã đảo ngược khái niệm.
Theo Ph. Ăngghen, phép biện chứng chính là môn khoa học nghiên cứu về
những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển trong tự nhiên, xã
hội và tư duy.Nghĩa là, phép biện chứng không chỉ xem xét từng lĩnh vực
riêng lẻ mà chỉ ra tính phổ biến của sự vận động, mâu thuẫn và phát triển
21 Đúng trong mọi lĩnh vực của hiện thực.)
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguyên lý về sự phát triển có các tính
22 Sai chất cơ bản là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có
các tính chất cơ bản là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, 23 Sai phong phú.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, cái riêng tồn tại độc lập và thể
hiện sự tồn tại của mình thông qua cái chung. Cái chung chỉ tồn tại
24 Sai trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, cái chung không phải là cái toàn
bộ, cái riêng cũng không phải là cái bộ phận. Cái chung chỉ là một
thuộc tính, một mặt của cái riêng. Cái riêng là một chỉnh thể toàn vẹn,
25 Sai phong phú hơn cái chung.
Đây là một ví dụ thực tế, thể hiện mối quan hệ nhân quả. "Diễn biến
hòa bình" là nguyên nhân dẫn đến các "cách mạng màu", gây ra tình
trạng bất ổn chính trị, là kết quả. Các thế lực phản động bên ngoài lợi
dụng và kích động các phần tử trong nước là nguyên nhân, dẫn đến
26 Đúng kết quả là sự chống đối Đảng, Nhà nước.
Trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, nguyên
nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau. Một kết quả của quá
27 Đúng trình này có thể trở thành nguyên nhân của quá trình khác.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, cả cái tất nhiên và cái ngẫu
nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người.
Chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, không tách 28 Sai rời nhau.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, tất nhiên quyết định chiều hướng phát
triển cơ bản của sự vật, hiện tượng. Ngẫu nhiên chỉ ảnh hưởng đến tốc độ,
29 Sai quy mô và hình thức biểu hiện của sự phát triển đó.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nội dung và hình thức là hai mặt
thống nhất hữu cơ của sự vật, hiện tượng. Nội dung là toàn bộ
những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình
thức là phương thức tồn tại và phát triển của nội dung đó. Nội dung
quyết định hình thức, nhưng hình thức cũng có sự tác động trở lại đối 30 Đúng với nội dung.
Bản chất và hiện tượng là sự thống nhất của hai mặt không đối lập.
Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất yếu,
tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát
triển của sự vật đó. Hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản
chất. Chúng thống nhất với nhau, nhưng không phải là hai mặt đối 31 Sai lập.
Hiện tượng và bản chất thống nhất với nhau, nhưng không phải là sự
thống nhất tuyệt đối. Bản chất là cái tương đối ổn định, còn hiện
tượng là cái thường xuyên biến đổi. Do đó, hiện tượng có thể phản
32 Sai ánh bản chất một cách không đầy đủ, thậm chí xuyên tạc bản chất.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, cả khả năng và hiện thực đều
tồn tại khách quan. Hiện thực là những gì đang tồn tại, đang diễn ra.
Khả năng là những gì chưa có, nhưng sẽ có khi có điều kiện thích
hợp. Chúng không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ biện chứng với 33 Sai nhau.
Nhận định trên là sai. Mặc dù hiện thực là cơ sở của mọi hoạt động, nhưng nếu chỉ
dựa vào hiện thực mà không tính đến khả năng thì sẽ không thể phát triển. Khả
năng là cái chưa có, nhưng nó là mầm mống của hiện thực tương lai. Do đó, trong
34 Sau nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần phải kết hợp cả hiện thực và khả năng
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu, phổ biến và lặp đi lặp
lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật, hiện tượng hay
giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Việc đi bên phải hay bên trái là quy tắc giao
thông do con người đặt ra, không phải là quy luật khách quan của tự nhiên hay xã 35 Sai hội.
Chất là tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất
hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải là cái khác. Lượng là
tính quy định khách quan vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ,
nhịp độ vận động và phát triển của sự vật. Chất tương đối ổn định, còn lượng
36 Đúng thường xuyên biến đổi.
Bước nhảy là sự kết thúc một quá trình biến đổi về lượng, chuyển sang
một quá trình biến đổi về chất. Bước nhảy cục bộ là sự thay đổi chất ở một
số mặt, một số yếu tố của sự vật. Do đó, nó không làm thay đổi căn bản về
chất của sự vật, hiện tượng. Bước nhảy toàn bộ mới làm thay đổi căn bản
37 Sai về chất của sự vật.
"Độ" là khoảng giới hạn mà trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay
đổi về chất của sự vật. Khi sự biến đổi của lượng vượt ra ngoài giới hạn
38 Đúng của "Độ", sự vật sẽ thay đổi về chất.
Theo quy luật lượng – chất, sự thay đổi về lượng phải đạt đến một giới hạn nhất
định mới dẫn đến sự thay đổi về chất.
→ “Giục tốc bất đạt” nghĩa là nếu thay đổi quá nhanh, nóng vội, chưa tích lũy đủ
lượng cần thiết thì chất mới chưa thể hình thành, dẫn đến thất bại hoặc kết quả không bền vững.
39 Đúng Ví dụ: Học quá gấp để thi mà không hiểu bài → không đạt kết quả tốt.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, mâu thuẫn là hiện tượng khách quan,
phổ biến và tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mâu thuẫn không chỉ giới hạn trong lĩnh vực xã hội mà còn có ở cả tự
nhiên (ví dụ: mâu thuẫn giữa đồng hóa và dị hóa trong sinh vật) và tư duy
40 Sai (ví dụ: mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết).
Theo quan điểm duy vật biện chứng, mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận
động và phát triển. Mâu thuẫn tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, ở mọi lúc, mọi
nơi. Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất của các mặt đối lập,
41 Sai và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập này tạo nên mâu thuẫn.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập là hai mặt không thể tách rời của mâu thuẫn. Sự thống nhất chỉ là tương đối,
42 Sai tạm thời vì nó chỉ tồn tại trong một trạng thái ổn định nhất định. Ngược lại, sự đấu
tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối vì nó diễn ra liên tục, không ngừng nghỉ,
dẫn đến sự chuyển hóa của sự vật, hiện tượng
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phủ định biện chứng là quá trình tự
phủ định, tự phát triển, trong đó cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ nhưng
không loại bỏ hoàn toàn cái cũ mà có sự kế thừa có chọn lọc. Phủ định
biện chứng có tính khách quan và tính kế thừa. Tính kế thừa thể hiện ở chỗ
cái mới ra đời từ cái cũ, giữ lại những yếu tố hợp lý, tích cực của cái cũ để
43 Sai phát triển lên trình độ cao hơn.
Theo quan điểm siêu hình, phủ định chỉ là sự thủ tiêu, xóa bỏ hoàn toàn cái cũ,
không có sự kế thừa. Quan điểm này nhìn nhận sự phát triển là một đường thẳng,
44 Đúng không có sự liên hệ giữa cái mới và cái cũ.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phủ định biện chứng là quá trình tự
thân của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, sự phát triển của sự vật, hiện
tượng không thể tách rời sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Các yếu tố
bên ngoài có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình phủ định biện chứng,
45 Sai nhưng không thể thay thế được nguyên nhân bên trong.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nhận thức là một quá trình biện
chứng đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính
(cảm giác, tri giác, biểu tượng) cung cấp những tài liệu ban đầu về sự vật,
hiện tượng. Nhận thức lý tính (khái niệm, phán đoán, suy lý) dựa trên các
tài liệu đó để khái quát, trừu tượng hóa, tìm ra bản chất, quy luật của sự
vật. Bỏ qua giai đoạn nhận thức cảm tính sẽ không có cơ sở để nhận thức
46 Sai lý tính hoạt động, dẫn đến nhận thức sai lệch.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, con người có khả năng nhận thức
được thế giới. Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc
con người một cách tích cực, tự giác và sáng tạo. Thừa nhận năng lực
nhận thức của con người là một trong những nguyên tắc cơ bản để khám
47 Đúng phá và hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, chân lý là tri thức phù hợp với hiện
thực khách quan. Chân lý có tính tuyệt đối vì nó phản ánh đúng đắn, đầy
đủ, hoàn toàn về hiện thực khách quan. Chân lý có tính tương đối vì nó
phản ánh chưa đầy đủ, chưa hoàn toàn về hiện thực khách quan do giới
hạn của lịch sử, nhận thức. Chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối có mối
quan hệ biện chứng với nhau, trong đó chân lý tương đối là những nấc
48 Đúng thang trên con đường tiến đến chân lý tuyệt đối.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, chân lý là tri thức của con người về sự vật,
hiện tượng. Tuy nhiên, chân lý có tính khách quan vì nội dung phản ánh của nó là
hiện thực khách quan, không phụ thuộc vào ý chí, tình cảm hay sở thích của con
người. Con người chỉ có thể nhận thức và khám phá chân lý, chứ không thể tạo ra 49 Đúng chân lý.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là toàn bộ
hoạt động vật chất có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự
nhiên và xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này không chỉ nhằm phục vụ nhân
loại tiến bộ mà còn bao gồm cả các hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động
50 Sai chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Nhận thức lý tính của con người được thể hiện qua các hình thức: khái niệm, phán
đoán và suy luận. Cảm giác, tri giác và biểu tượng là các hình thức của nhận thức 51 Sai cảm tính.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sản xuất vật chất là loại hình sản xuất quan trọng
nhất, chi phối các loại hình sản xuất xã hội khác, bao gồm cả sản xuất tinh thần.
Sản xuất vật chất cung cấp những điều kiện cơ bản để con người tồn tại và phát 52 Sai triển.
Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội. Thông qua hoạt
động sản xuất vật chất, con người tạo ra của cải để duy trì sự sống và đồng thời
53 Đúng hoàn thiện, phát triển bản thân cả về thể chất lẫn tinh thần.
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất. Mối
quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất là biểu hiện của
54 Sai quan hệ sản xuất.
Sự phát triển của xã hội loài người là do sự tác động biện chứng của cả
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất đóng
vai trò quyết định. Quan hệ sản xuất chỉ đóng vai trò là hình thức xã hội của
55 Sai lực lượng sản xuất.
Trong ba mối quan hệ cơ bản của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu tư liệu sản
xuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ
56 Sai phân phối sản phẩm lao động.
Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ cơ bản nhất, quyết định bản chất và
tính chất của quan hệ sản xuất. Nó quyết định ai là người nắm quyền tổ chức,
57 Đúng quản lý sản xuất và ai là người được hưởng thành quả lao động.
Lực lượng sản xuất là yếu tố động, cách mạng, không ngừng biến đổi. Khi lực
lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, nó sẽ đòi hỏi quan hệ sản 58 Đúng
xuất phải thay đổi cho phù hợp. Do đó, lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định
đối với quan hệ sản xuất.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ
sản xuất. Do đó, trong xây dựng đường lối phát triển kinh tế, cần ưu tiên
59 Sai phát triển lực lượng sản xuất trước, sau đó mới đến quan hệ sản xuất.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, cơ sở hạ tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất hợp
thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định. Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ
những quan điểm chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật,
v.v. cùng với các thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, đoàn thể, v.v.
60 Sai được xây dựng trên cơ sở hạ tầng đó.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng
tầng. Mặc dù kiến trúc thượng tầng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ
61 Sai tầng, nhưng vai trò quyết định vẫn thuộc về cơ sở hạ tầng.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là bỏ qua việc xác lập vị trí thống
trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, chứ
không phải bỏ qua lực lượng sản xuất đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa. Việt Nam vẫn tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật, công
62 Sai nghệ tiên tiến của chủ nghĩa tư bản để phát triển lực lượng sản xuất.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội,
sản xuất ra của cải vật chất, chủ yếu bằng lao động chân tay và lao động trí
63 Đúng óc, nhưng không sở hữu tư liệu sản xuất và bị bóc lột giá trị thặng dư.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, trí thức không phải là một giai cấp độc lập.
Trí thức là một tầng lớp xã hội gắn với các giai cấp khác nhau và có thể
thuộc về các giai cấp khác nhau tùy thuộc vào quan hệ của họ với tư liệu 64 Sai sản xuất.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là
nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự phân hóa xã hội thành các giai cấp đối lập
65 Đúng nhau về lợi ích.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, kết cấu xã hội - giai cấp trong một xã hội
có giai cấp được quy định bởi quan hệ sản xuất, đặc biệt là quan hệ sở
66 Đúng hữu về tư liệu sản xuất.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, đấu tranh kinh tế là hình thức đấu tranh
giai cấp ở trình độ thấp, chủ yếu xoay quanh các vấn đề lợi ích kinh tế trực
67 Sai tiếp. Đấu tranh chính trị mới là hình thức đấu tranh ở trình độ cao.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, đấu tranh chính trị là hình thức đấu tranh
giai cấp ở trình độ cao nhất, nhằm giành lấy chính quyền và thiết lập sự
68 Đúng thống trị của giai cấp mình.
Theo quan điểm duy vật lịch sử của Mác – Lênin, nhà nước ra đời khi xã
hội phân chia thành các giai cấp có lợi ích đối lập, mâu thuẫn giai cấp phát
triển đến mức không thể tự điều hòa được, cần có một bộ máy quyền lực
Đúng đặc biệt (nhà nước) để duy trì trật tự và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống 69 trị.
→ Dẫn chứng: Nhà nước chiếm hữu nô lệ ra đời khi xã hội nguyên thủy
tan rã do xuất hiện mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến sự ra đời của nhà nước là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Sự phát triển của lực
lượng sản xuất dẫn đến sự dư thừa tương đối của cải và sự xuất hiện chế
70 Sai độ tư hữu chỉ là nguyên nhân sâu xa.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nguyên nhân sâu xa của
cách mạng xã hội là do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã phát triển
đến một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất đã lỗi thời. Khi mâu thuẫn
này trở nên gay gắt, nó tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp, và đấu tranh
71 Đúng giai cấp là nguyên nhân trực tiếp của cách mạng xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
bao gồm phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý và
dân số. Trong đó, phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất, quyết định
sự vận động và phát triển của xã hội. Dân số và mật độ dân số chỉ là một trong các
72 Sai yếu tố cơ bản, không phải là yếu tố cơ bản nhất
Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Ý
thức xã hội mang tính giai cấp vì trong xã hội có giai cấp, tồn tại xã hội cũng mang
tính giai cấp. Do đó, ý thức xã hội của mỗi giai cấp sẽ phản ánh lợi ích, địa vị và
73 Sai quan hệ của giai cấp đó
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội. Điều này thể hiện ở việc ý thức xã
hội có thể dự báo được sự phát triển của tồn tại xã hội hoặc đi trước để mở
đường cho sự phát triển đó. Ví dụ, các học thuyết khoa học có thể vượt trước
74 Đúng thực tiễn và định hướng cho sự phát triển của xã hội trong tương lai.
Ý thức xã hội không phải là một hiện tượng biệt lập mà luôn có tính kế
75 Sai thừa. Trong quá trình phát triển, ý thức xã hội luôn kế thừa những giá trị, tư
tưởng của các thời đại trước, đồng thời loại bỏ những yếu tố lỗi thời và bổ
sung những yếu tố mới phù hợp với tồn tại xã hội hiện tại.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã
hội. Tồn tại xã hội là cơ sở vật chất, là nguồn gốc sản sinh ra ý thức xã hội. Ý thức
xã hội chỉ là sự phản ánh của tồn tại xã hội. Mối quan hệ này là mối quan hệ biện
chứng, trong đó tồn tại xã hội đóng vai trò quyết định, còn ý thức xã hội có tính
76 Sai độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội.
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, ý thức xã hội có nguồn gốc từ tồn tại xã
hội. Tồn tại xã hội quyết định nội dung, hình thức và sự phát triển của ý
thức xã hội. Tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo,
77 Đúng mặc dù có độ trễ nhất định.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, sự hình thành con người là một
quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, kết hợp giữa yếu tố sinh học và yếu tố
xã hội. Ý niệm tuyệt đối là một khái niệm của chủ nghĩa duy tâm khách quan, cho
rằng thế giới vật chất và con người được tạo ra từ một ý niệm, một tinh thần tuyệt
78 Sai đối. Quan điểm này hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Theo quan điểm duy vật lịch sử của Mác, bản chất con người không cố
định, mà thay đổi tùy thuộc vào điều kiện lịch sử – xã hội. Con người là
tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nên khi quan hệ xã hội và phương thức
sản xuất thay đổi, bản chất con người cũng biến đổi theo.
→ Dẫn chứng: Con người trong xã hội phong kiến khác với con người
79 Sai trong xã hội tư bản hay xã hội xã hội chủ nghĩa
Con người là chủ thể của lịch sử: Con người là người tạo ra lịch sử thông
qua các hoạt động lao động sản xuất, đấu tranh xã hội và nhận thức. Con
người có ý thức, ý chí và mục đích để cải tạo tự nhiên và xã hội.
80 Đúng Con người là sản phẩm của lịch sử: Con người sinh ra và lớn lên trong một
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội. Các yếu tố này đã hình thành nên nhân cách, tư
tưởng, tình cảm của con người.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo ra lịch
sử, trong đó bao gồm việc sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần. Quần chúng
nhân dân không chỉ là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất mà còn là chủ thể sáng
81 Sai tạo ra của cải tinh thần
Quần chúng nhân dân là lực lượng đông đảo nhất, chịu sự áp bức, bóc lột
82 Đúng nặng nề nhất và có ý chí đấu tranh mạnh mẽ nhất.
Quần chúng nhân dân là lực lượng trực tiếp tham gia vào các cuộc đấu
tranh, lật đổ chế độ cũ và xây dựng chế độ mới.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, lãnh tụ là người có vai trò định hướng, dẫn dắt
quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng xã hội. Lãnh tụ trưởng thành từ
trong phong trào quần chúng, từ quá trình đấu tranh và được quần chúng thừa 83 Sai nhận.
Lãnh tụ có thể kìm hãm sự phát triển của lịch sử - xã hội khi họ không còn
đại diện cho lợi ích của quần chúng nhân dân, đi ngược lại quy luật khách
quan của lịch sử, hoặc mắc phải những sai lầm nghiêm trọng trong đường
84 Đúng lối, chính sách.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, thời thế tạo nên anh hùng. Các điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội cụ thể đã tạo ra hoàn cảnh lịch sử, từ đó sản sinh ra những cá
nhân kiệt xuất (anh hùng) có khả năng đáp ứng được yêu cầu của thời đại và dẫn
85 Sai dắt quần chúng nhân dân
TRẮC NGHIỆM LOẠI CÂU HỎI 0,2 ĐIỂM/ CÂU Câu Đáp án 1 C 2 C 3 C 4 A 5 B 6 C 7 D 8 A 9 A 10 B 11 B 12 B 13 B 14 C 15 B 16 B 17 E 18 B 19 E 20 C 21 A 22 A 23 C 24 B 25 C 26 A 27 C 28 A 29 E 30 D 31 A 32 D 33 C 34 A 35 A 36 D 37 A 38 C 39 A 40 D 41 A 42 C 43 B 44 A 45 D 46 D 47 D 48 C 49 B 50 D 51 B 52 E 53 C 54 A 55 C 56 B 57 A 58 C 59 A 60 B 61 A 62 C 63 A 64 D 65 B 66 A 67 A 68 A 69 D 70 C 71 C 72 B 73 D 74 A 75 A 76 D 77 A 78 C 79 A 80 B
TRẮC NGHIỆM LOẠI CÂU HỎI 0,25/ CÂU Câu Đáp án 1 C 2 D 3 A 4 C 5 D 6 A 7 B 8 B 9 B 10 B 11 D 12 C 13 C 14 B 15 C 16 B 17 B 18 B 19 A 20 A 21 D 22 B 23 C 24 A 25 B 26 B 27 C 28 D 29 B 30 D 31 D 32 D 33 D 34 C 35 B 36 A 37 C 38 C 39 B 40 B 41 C 42 B 43 D 44 B 45 A 46 B 47 A 48 B 49 D 50 D 51 D 52 B 53 C 54 B 55 C 56 B 57 C 58 A 59 A 60 A 61 A 62 B 63 B 64 B 65 A 66 D 67 A 68 C 69 A 70 A 71 B 72 D 73 A 74 C 75 D 76 A 77 B 78 B 79 A 80 B 81 B 82 B 83 A 84 A 85 A 86 B 87 D 88 B 89 C 90 A 91 C 92 C 93 C 94 C 95 D 96 B 97 B 98 C 99 C 100 A 101 C 102 C 103 C 104 C 105 A 106 B 107 B 108 A 109 B 110 B 111 C 112 B 113 A 114 A 115 A 116 D 117 D 118 C 119 B 120 B 121 B 122 D 123 C 124 B 125 A 126 B 127 A 128 B 129 B 130 A 131 B 132 B 133 A 134 B 135 B 136 C 137 B 138 C 139 C 140 B 141 A 142 B 143 A 144 D 145 D 146 D 147 C 148 C 149 D 150 B 151 D 152 C 153 C 154 B 155 D 156 B 157 B 158 C 159 A 160 C 161 A 162 B 163 A 164 B 165 C 166 A 167 B 168 C 169 D 170 D 171 B 172 B 173 C 174 B 175 B 176 D 177 B 178 A 179 C 180 C