



















Preview text:
Đề Cương Triết Học Mác-Lênin
CÂU 1: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC? Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN ? CHO VÍ DỤ MINH HỌA? (tr/172)
1. Định nghĩa vật chất của Lênnin
Theo Lênin: ”Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại;
phản ánh không lệ thuộc vào cảm giác”
2. Định nghĩa ý thức của Lênnin
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lenin là một phạm trù được quyết định với
phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ
óc con người và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan biện chứng với vật chất.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó vật chất
có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức nhưng
không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người.
Theo Lê-nin thì vật chất là một phạm trù triết học để chỉ thực tại khách quan, đem đến
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của con người chép lại, chụp lại, phản
ánh lại và không tồn tại lệ thuộc vào cảm giác.
Đặc điểm của vật chất:
- Vật chất tồn tại bằng vận động và thể hiện sự tồn tại thông qua vận động.
- Không có vận động ngoài vật chất và không có vật chất không có vận động
- Vật chất vận động trong không gian và thời gian
- Không gian và thời gian là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể và
là hình thức tồn tại của vật chất.
Bên cạnh vật chất, ý thức là kết quả của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội.
Ý thức mang bản chất là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chính là sự phản
ánh tích cực, tự giác, chủ động thế giới khách quan và bộ não con người thông qua hoạt động thực tiễn.
4. Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
*Thứ nhất: Vật chất quyết định ý thức
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Vật chất là cái có trước, ý thức là cái
có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, nội dung này được hiểu theo hai ý sau đây:
+ Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau:
Ý thức là ý thức của con người, không tách rời con người, nhưng sự ra đời của con
người cũng có giới hạn còn thế giới vật chất thì tồn tại vĩnh viễn, vô hạn. Do đó có thể
khẳng định rằng thế giới vật chất là cái có trước con người, vì vậy thế giới vật chất
phải có trước ý thức.
Con người xuất hiện trên trái đất này chỉ có lịch sử hơn 6 triệu năm, bản thân thế giới
vật chất vĩ mô hơn con người có lịch sử 4,5 tỷ năm. Trong khi đó quan điểm về thế
giới vật chất là vô cùng, vô tận không do ai sinh ra, cũng không ai làm mất đi thế giới
khách quan, chúng ta không thể nào đếm được điểm khởi đầu của thế giới vật chất
cũng như dự đoán được điểm kết thúc của thế giới vật chất. Vì những lý lẽ trên cho
thấy thế giới vật chất phải có trước ý thức, vũ trụ phải có trước trái đất, trái đất phải có
trước con người và có con người rồi mới có ý thức.
Vì vậy, vai trò của vật chất với ý thức được thể hiện ở chỗ vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau.
+ Vật chất là nguồn gốc của ý thức:
Nguồn gốc của ý thức bao gồm cả nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. Trong đó
nguồn gốc tự nhiên của ý thức gồm có bộ não người và thế giới khách quan cùng với
quá trình phản ánh năng động, sáng tạo giữa chúng, tác động qua lại giữa chúng.
Nguồn gốc xã hội của ý thức đó chính là lao động và ngôn ngữ.
Khi phân tích nguồn gốc của ý thức, chúng ta thấy bộ óc người thực ra là một dạng vật
chất có tổ chức cao, chứa đựng trong nó hàng tỷ noron thần kinh có khả năng sao lại,
chụp lại, chép lại và phản ánh thế giới khách quan bằng một cách năng động, sáng tạo.
Như vậy, yếu tố tạo nên ý thức là bộ não người là một dạng vật chất.
Thế giới khách quan thực chất là thế giới vật chất. Bản chất của ý thức chỉ là sự phản
ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con người. Nếu không
có thế giới khách quan, bộ óc con người sẽ không có đối tượng để phản ánh và do đó
chắc chắn không có ý thức.
Lao động chính là hoạt động vật chất, mang tính tất yếu nhằm đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của con người. Nhờ lao động mà con người có thể chủ động, tác động vào
thế giới khách quan làm cho nó bộc lộ những thuộc tính, kết cấu bản chất, quy luật
vận động qua đó phản ánh vào bộ óc người, hình thành những tri thức về tự nhiên, về xã hội.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất nhưng mang nội dung ý thức. Ngôn ngữ chính
là lớp vỏ vật chất của tư duy.
- Vật chất quyết định nội dung và mọi sự biến đổi của ý thức.
Ví dụ: Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thì
mới có sức để đi theo đạo, hoàn cảnh sẽ quyết định lối suy nghĩ, đời sống vật chất
phải được đáp ứng thì chúng ta mới hướng tới đời sống tinh thần. Điều này đã chứng
minh cho quan niệm vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức.
*Thứ hai: Vai trò của ý thức đối với vật chất
Ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác động ngược trở lại vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức tác động vào vật chất theo hai hướng:
- Hướng tích cực khi con người có tri thức đúng đắn, có nghị lực, ý chí và tình cảm
tích cực thì con người có khả năng hành động hợp quy luật khách quan.
- Hướng tiêu cực khi con người không có tri thức đúng đắn, thiếu tình cảm, ý chí cách
mạng sẽ nhận thức sai lầm và hành động trái quy luật.
Ví dụ: Sai lầm từ nhận thức "việc nhẹ lương cao" của một bộ phận người dân vùng
đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tin vào những lời dụ dỗ, cơ hội đổi
đời của các đối tượng lừa đảo qua mạng, đã bị chúng lừa bán vào ổ mại dâm trá hình,
hoặc sang Campuchia làm việc, bị đánh đập và không đảm bảo quyền lợi lao động.
Điều này cho thấy ý thức có thể quyết định hành động của con người, dựa trên ý thức
đúng hay sai mà hành động của con người đúng hoặc sai theo nhận thức.
5. Ý nghĩa phương pháp luận từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Tôn trọng tính khách quan kết hợp với phát huy tính năng động chủ quan. Mọi nhận
thức, hành động, chủ trương, đường lối, kế hoạch, mục tiêu đều phải xuất phát từ thực
tế khách quan, từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có. Cần phải tránh chủ nghĩa
chủ quan, bệnh chủ quan duy ý chí. Không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho
chiến lược và sách lược cách mạng.
- Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của nhân tố con
người, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính
sáng tạo. Điều này đòi hỏi con người phải coi trọng ý thức, coi trọng vai trò của tri
thức, phải tích cực học tập, nghiên cứu khoa học, đồng thời phải tu dưỡng, rèn luyện
phẩm chất đạo đức, ý chí, nghị lực của bản thân.
- Phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích, kết hợp hài hòa lợi
ích cá nhân với lợi ích tập thể, xã hội dựa trên thái độ khách quan.
6. Vận dụng vào học tập và cuộc sống của bản thân
- Đầu tiên, vì vật chất quyết định ý thức nên nhận thức và hoạt động của tôi phải xuất
phát từ thực tế khách quan. Bản thân tôi phải nhận thức được các điều kiện thực tiễn
ảnh hưởng đến học tập, cuộc sống của mình để tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Ví dụ: Trong học tập, tôi cần phải xác định được nội quy trường học, giờ học, thời
khóa biểu, những yếu tố thực tế để có ý thức chấp hành đúng quy định, tham gia các
tiết học đầy đủ và hoàn thành các nhiệm vụ giảng viên đề ra.
Trong thời gian dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, tôi nhận thức được sự nguy
hiểm của dịch bệnh để thực hiện các phương pháp phòng tránh dịch, tuân thủ quy tắc
5K, ở yên tại nhà để bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng.
- Thứ hai, ý thức cũng có sự tác động trở lại với vật chất nên cần phải phát huy tính
năng động, sáng tạo của ý thức. Tôi phải chủ động tìm kiếm và trau dồi tri thức cho
bản thân mình, bồi dưỡng những kỹ năng cần thiết cho bản thân, không quá phụ thuộc
vào người khác mà phải tự phát huy tính sáng tạo, suy nghĩ mới lạ.
Ví dụ : Trước mỗi giờ học, tôi phải chủ động xem trước giáo trình của ngày hôm đó
để đánh dấu những chỗ mình vẫn chưa hiểu. Trong giờ học tôi thường xuyên tích cực
phát biểu và thảo luận để hiểu rõ hơn bài học. Sau giờ học tôi sẽ tìm thêm bài tập và
tài liệu để luyện tập thêm, trau dồi thêm kiến thức. Ngoài ra để cải thiện kỹ năng mềm
tôi cũng tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, các phong trào của các tổ chức xã hội.
Không chỉ bồi dưỡng kiến thức, tôi còn cố gắng rèn luyện đạo đức, phẩm chất của
mình qua việc đọc sách, tập yoga, tham gia các buổi trao đổi, thảo luận.
- Thứ ba, tôi phải tiếp thu chọn lọc các ý kiến mới, không để bản thân thụ động, bảo
thủ, không chủ quan trước mọi tình huống.
Ví dụ : Khi tham gia thảo luận nhóm, tôi sẽ lắng nghe và tiếp thu những điều hay mà
các thành viên góp ý cho mình để hoàn thành công việc theo kế hoạch. Hay khi đăng
ký học phần, tôi không chủ quan vào năng lực của mình mà đăng ký quá nhiều môn
tránh cho bản thân không kham nổi.
Trong cuộc sống, trước khi đánh giá một người nào đó, tôi phải tiếp xúc với người đó
và lắng nghe những đánh giá của những người xung quanh về người đó,không thể chủ
quan “trông mặt mà bắt hình dong”, không thể chỉ dựa vào cảm xúc cá nhân mà đánh giá người đó.
CÂU 2: PHÂN TÍCH NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA
NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN? CHO VÍ DỤ MINH HỌA (tr/189) 1. Khái niệm liên hệ
- Là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm
đối tượng kia thay đổi; ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng, khi
sự thay đổi của đối tượng này không ảnh hưởng gì đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi.
- Mối liên hệ: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối quan hràng buộc tương
hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong môtj đối tượng
hoặc giữa các đối tượng với nhau.
Ví dụ: Mối liên hệ giữa các cơ quan trong cơ thể con người
+ Các bộ phận trong cơ thể đều có mối liên hệ, hỗ trợ nhau các chức năng
từ rất nhỏ đến rất lớn như chân giúp cơ thể chúng ta đứng vững hay các
mạch máu giúp vận chuyển máu đến tim…
+ Cơ thể, sức khỏe tốt khi sinh sống trong một môi trường trong lành, thích hợp và ngược lại
+ Một vài cây trong môi trường thiếu ánh sáng, lá của chúng sẽ vàng úa và
ngược lại những cây đón đủ ánh sáng sẽ xanh tốt và phát triển nhanh
- Mối liên hệ phổ biến: Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, chỉ
những mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới hay nói
cách khác mối liên hệ phổ biến được dùng với hai nghĩa: dùng để chỉ tính
phổ biến của các mối liên hệ; dùng để chỉ sự khái quát những mối liên hệ có tính chất phổ biến
- Cô lập (tách rời): Là trạng thái của các đối tượng khi sự thay cô lập (tách rời)
đổi của đối tượng này không ảnh hưởng đến các đối tượng khác, không
làm chúng thay đổi. Chẳng hạn như sự biến đổi của các nguyên tắc đạo
đức không làm quỹ đạo chuyển động thay đổi hay sự biến đổi của các hạt không ảnh
hưởng đến các nguyên tắc đạo đức.
2. Nội dung nguyên lí ( các tính chất của mối liên hệ) 2.1. Nguyên lí
- Quan điểm siêu hình: thường phủ định mối liên hệ tất yếu giữa các đối
tượng, sự vật. Coi các sự vật, hiện tượng tồn tại tách rời nhau, cái này bên
cạnh cái kia, hết cái này đến cái kia,….
- Quan điểm biện chứng duy vật: thừa nhận có mối liên hệ phổ biến giữa
các đối tương. Thế giới không phải là thể hỗn loạn các đối tượng mà là
hệ thống các đối tượng, chúng qua lại với nhau, quy định lẫn nhau, thâm
nhập, chuyển hoá lẫn nhau và không tách biệt. Theo đó, các sự vật, hiện
tượng phong phú trong thế giới chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của
một thế giới vật chất duy nhất. Đó là nguyên lý của mối liên hệ phổ biến.
- Biểu hiện: mối liên hệ phổ biến được biểu hiện rõ qua 6 cặp phạm trù + Cái riêng và cái chung
+ Bản chất và hiện tượng + Nội dung và hình thức
+ Nguyên nhân và kết quả
+ Khả năng và hiện thực
+ Tất nhiên và ngẫu nhiên
2.2. Tính chất của mối liên hệ phổ biến
- Tính khách quan: Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự
vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan. Trong thế giới vật chất, các sự vật,
hiện tượng luôn có mối liên hệ với nhau→ Các mối liên hệ, tác động đều là sự quy
định, tác động qua lại, chuyển hóa và phụ thuộc lẫn nhau giữa các hiện tượng.
Ví dụ: “Hiệu ứng cánh bướm” của nhà toán học Edward Norton Lorenz khám phá ra
“Chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra một cơn lốc xoáy ở Texas.”
→ Hiện tượng ở rất xa nhau nhưng đều có liên quan đến nhau.
- Tính đa dạng, phong phú: Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể
hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ
cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó;
mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những
điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động,
phát triển của sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau.
Ví dụ: + Các loài cá, chim, thú đều có quan hệ với nước, nhưng cá quan hệ với nước khác với chim và thú
+Cá sống thường xuyên trong nước, không có nước thường xuyên thì cá không thể tồn
tại được, nhưng các loài chim và thú thì lại không thể sống thường xuyên trong nước được
- Tính phổ biến: Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng
hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình
khác. Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu
trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của
nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống.
Ví dụ: Mưa đều có liên hệ đến gió mùa hay gió mùa đều có liên hệ đến những dòng hải lưu
3. Ý nghĩa phương pháp luận
3.1. Quan điểm toàn diện
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xem xét sự vật, hiện tượng trong tổng thể
các mối liên hệ đa dạng, phong phú, cả bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp,
tránh cách nhìn phiến diện, một chiều.
- Trong học tập, nhận thức:
+ Một là, khi xem xét các sự vật, hiện tượng, cần phải xem xét tất cả các mặt,các mối
liên hệ, kể cả những mắt khâu trung gian trong những điều kiệnkhông gian, thời gian
nhất định. V. I. Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát
và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mốiliên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”
+ Hai là, trong vô vàn các mối liên hệ, trước hết cần rút ra những mối liên hệ cơ bản,
chủ yếu, tức là xem xét một cách có trọng tâm, trọng điểm, nhờ đónắm bắt được bản
chất của sự vật, hiện tượng.
+Ba là, sau khi nắm bắt được bản chất của sự vật, hiện tượng thì cần phải đối chiếu
với các mối liên hệ còn lại để tránh mắc sai lầm trong nhận thức. Ứng với mỗi con
người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng
chỉ phản ánh được một số hữu hạn những mối liên hệ. Do đó, trí thức đạt được về sự
vật, hiện tượng chỉ là tương đối, không trọn vẹn, đầy đủ. Ý thức được điều này sẽ giúp
ta tránh được tuyệt đối hóa những tri thức đã có, tránh xem đó là những chân lý luôn
luôn đúng. Để nhận thức được sự vật, chúng ta phải nghiên cứu tất cả những mối liên hệ.
+Bốn là, chống lại cách xem xét siêu hình, phiên diện, một chiều (Không thấy được
trọng tâm, trọng điểm, đánh giá tràn lan các mối liên hệ, không thấyđâu là chủ yếu,
chỉ thấy một mặt mà không thấy nhiều mặt, chỉ thấy một mốiliên hệ mà không thấy các mối liên hệ khác).
+Năm là, chống lại cách xem xét cào bằng, dàn trải (coi mọi mối liên hệ như nhau),
có nghĩa là chống lại chủ nghĩa chiết trung về mối liên hệ. Quan điểm toàn diện đòi
hỏi ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mốiliên hệ đến chỗ khái quát để rút ra cái
bản chất, cái quan trọng nhất của sựvật, hiện tượng. Điều này không đồng nhất với
cách xem xét dàn trải, liệt kê.
+Sáu là, chống lại thuật ngụy biện (quy cái thứ yếu thành cái chủ yếu, quy cái không
cơ bản thành cái cơ bản, bằng lý lẽ, lập luận tưởng rằng có lý, nhưng thực chất là vô lý).
- Trong hoạt động thực tiễn:
+ Một là, chú trọng đến mọi mối liên hệ, và đánh giá đúng vai trò vị trí của từng mối
liên hệ đang chi phối đối tượng.
+ Hai là, thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ, toàn diện,
phương tiện thích hợp, chọn lĩnh vực nào là chủ yếu để biến đổi những mối liên hệ nội
tại của sự vật và những mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với những sự vật khác, đặc
biệt là những mối liên hệ bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng...
Ví dụ: Trong Công tác quản lý thì phải phân cấp quản lý như nhà nước (bộ ban
ngành), cơ quan (phòng, ban),...
+ Ba là, nắm vững sự chuyển hóa của các mối liên hệ để kịp thời đưa ra các biện pháp
bổ sung nhằm phát huy hay hạn chế sự tác động của chúng, và lèo lái sự vận động,
phát triển của đối tượng đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta.
+ Bốn là, khi giải quyết một vấn đề cần xem xét các yếu tố cấu thành liên hệ mật
thiết, phải xem xét yếu tố lịch sử hình thành trong mối tương quan với hiện tại.
- Vận dụng quan điểm toàn diện + Trong học tập:
Khi đánh giá kết quả học tập của một sinh viên, không chỉ dựa vào điểm thi cuối kỳ,
mà phải xem xét toàn diện các yếu tố như: quá trình học tập, ý thức tự học, điều kiện
hoàn cảnh gia đình, phương pháp học tập, môi trường học tập và sự hỗ trợ của nhà
trường. Việc xem xét toàn diện như vậy giúp đưa ra nhận định khách quan, tránh
cách đánh giá phiến diện, một chiều. + Trong thực tiễn:
Trong phát triển kinh tế – xã hội, nếu chỉ chú trọng tăng trưởng GDP mà bỏ qua các
mối liên hệ với bảo vệ môi trường, công bằng xã hội và phát triển con người, sẽ
dẫn đến những hệ quả tiêu cực lâu dài. Do đó, vận dụng quan điểm toàn diện đòi hỏi
phải kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
3.2. Quan điểm lịch sử
Quan điểm lịch sử – cụ thể là quan điểm phương pháp luận của phép biện chứng duy
vật, đòi hỏi khi nhận thức và giải quyết vấn đề phải xem xét sự vật, hiện tượng trong
những điều kiện lịch sử cụ thể, gắn với hoàn cảnh không gian, thời gian, trình độ phát
triển và các mối quan hệ xác định của nó; chống lại lối tư duy giáo điều, máy móc, siêu hình.
- Trong nhận thức, học tập:
+ Một là, nhận thức kiến thức trong bối cảnh lịch sử ra đời của nó, hiểu rõ điều kiện
kinh tế – xã hội, trình độ khoa học và nhu cầu thực tiễn đã sản sinh ra học thuyết, quan
điểm hay khái niệm đó, tránh tiếp thu kiến thức một cách phiến diện, tách rời hoàn cảnh.
+ Hai là, phân biệt giá trị lịch sử và giá trị hiện thời của tri thức, kế thừa những yếu tố
còn phù hợp, đồng thời nhận thức được những mặt hạn chế đã bị điều kiện lịch sử vượt qua.
+ Ba là, vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện, trình độ và mục
tiêu học tập cụ thể của bản thân, tránh học thuộc máy móc, sao chép rập khuôn.
+ Bốn la, trong quá trình học tập, phải biết đánh giá kết quả học tập trong từng giai
đoạn phát triển, không áp đặt tiêu chuẩn của giai đoạn sau cho giai đoạn trước.
- Trong hoạt động thực tiễn:
+ Một là, khi hoạch định đường lối, chính sách hay giải pháp, phải xuất phát từ điều
kiện lịch sử – cụ thể của từng quốc gia, từng địa phương và từng thời kỳ, không sao
chép mô hình phát triển của nước khác một cách máy móc.
+ Hai là, mọi chủ trương, biện pháp phải phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa ở từng giai đoạn nhất định.
+ Ba là, trong giải quyết các vấn đề xã hội, cần xem xét quá trình hình thành, phát
triển và xu hướng vận động của sự vật, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn, tránh tư duy
nóng vội hoặc bảo thủ.
+ Bốn là, quan điểm lịch sử – cụ thể giúp phát huy các nhân tố tích cực của quá khứ,
đồng thời khắc phục những yếu tố lỗi thời, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững trong hiện tại và tương lai.
- Ví dụ vận dụng quan điểm lịch sử – cụ thể + Trong học tập:
Khi học các quan điểm triết học Mác – Lênin, người học cần đặt các học thuyết đó
trong bối cảnh lịch sử – xã hội cụ thể khi chúng ra đời, từ đó kế thừa những giá trị
khoa học còn phù hợp, đồng thời nhận thức rõ những nội dung cần được bổ sung, phát
triển cho phù hợp với điều kiện hiện nay. + Trong thực tiễn:
Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước không sao chép máy móc mô
hình kinh tế của các nước khác, mà xuất phát từ điều kiện lịch sử – cụ thể của Việt
Nam, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là
biểu hiện điển hình của việc vận dụng quan điểm lịch sử – cụ thể vào thực tiễn cách mạng.
CÂU 3: THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN
THỨC? Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN ( QUAN ĐIỂM CỦA THỰC TIỄN
LIÊN HỆ VỚI VIỆC HỌC TẬP). tr/266
1. Phạm trù thực tiễn
- Khái niệm thực tiễn: Theo quan điểm của của triết học Mác-Lênin, thực tiễn là toàn
bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử, xã hội của con người nhằm cải
tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ
- Đặc trưng của thực tiễn:
+ Thứ nhất, thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính. Đó là những hoạt động mà con
người phải dùng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật
chất để làm biến đổi chúng. Trên cơ sở đó con người mới làm biến đổi được thế giới
khách quan phục vụ cho mình.
Ví dụ: hoạt động cày ruộng, đào đất, xây nhà, sản xuất ra của cải vật chấtnói chung...
+ Thứ hai, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội. Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động
của con người, chỉ diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người trong xã
hội. Trong hoạt động thực tiễn con người truyền lại cho nhau những kinh nghiệm từ
thế hệ này qua thế hệ khác. Cũng vì vậy, hoạt động thực tiễn luôn bị giới hạn bởi
những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định.
+ Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự
nhiên và xã hội phục vụ con người. Khác với hoạt động có tính bản năng, tự phát
của động vật nhằm thích nghi thụ động với thế giới, con người bằng và thông qua
hoạt động thực tiễn, chủ động tác động cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của
mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới. Như vậy, nói tới thực
tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác với hoạt động bản
năng thụ động thích nghi của động vật
- Các hình thức của hoạt động thực tiễn (tr/269)
+ Hoạt động sản xuất của cải vật chất: (Hoạt động gặt lúa, hái rau của bác nông
dân, công nhân sản xuất sản phẩm trong các nhà máy xí nghiệp).
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học: (Hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các
nhà khoa học để tìm ra những giống cây mới, những loại thuốc chữa bệnh mới, những
nguồn năng lượng thay thế mới,…)
+ Hoạt động chính trị – xã hội: (Tiến hành đội đại biểu Đoàn TNCS HCM; hoạt
động bầu cử đại biểu Quốc hội,…
2. Khái niệm về nhận thức
Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cực, chủ động,
sáng tạobởi con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử cụ thể.
- Nhận thức thể hiện khả năng hiểu biết của con người.
- Nhận thức chỉ một trong những hoạt động của con người nhằm hình thành ý thức, tri thức.
- Nhận thức không phải là giản đơn, máy móc, thụ động mà là quá trình biện chứng
phức tạp, tích cực, sáng tạo bởi vì không nhận thức sự vật chết cứng mà chúng ta phải
nhận thức sự vật trong quátrình vận động phát triển của chúng và khi nhận thức chúng
ta phải tuân theo các nguyên lý củaphép biện chứng duy vật.
- Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp của nhận thức. Ví dụ:
- Tiền là một phương tiện dùng để mua bán trao đổi các hàng hóa, dịch vụ mà chúng
ta sử dụng phục vụ cho cuộc sống, nhận thức được vai trò quan trọngcủa tiền do đó,
người ta phải cố gắng học tập,làm việc chăm chỉ để kiếm được nhiều tiền.
- Tấm bằng giỏi đại học là một lợi thế khi ra trường của các sinh viên, biết được các
nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên hơn cho những người có tấm bằng giỏi, sinh viên cố gắng
học bài, đạt điểm cao.
2. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức:
+ Thứ nhất, con người có nhu cầu tất yếu khác quan là giải thích và cải tạo thế
giới, điều này buộc con người phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt
đồng thực tiễn của mình. Sự tác động đó làm cho sự vật, hiện tượng bộc lộ thuộc
tính, tính chất, quy luật, mối quan hệ khác nhau giữa chúng. Trên cơ sở đó, con
người có hiểu biết về chúng. Như vậy, thực tiễn đã cung cấp “vật liệu, tài liệu” cho
nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và
phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó hình thành nên các học thuyết khoa học.
+ Thứ hai, thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả
lời. Nói khác đi, chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giải quyết.
Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển.
+ Thứ ba, thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người, làm cho
chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn, trên cơ sở đó giúp quá trình nhận thức
thế giới khách quan của con người hiệu quả hơn, đúng đắn hơn. Chính vì vậy,
Ph.Awngghen đã khẳng định: “Chính việc người ta biến đổi tự nhiên… là cơ sở
chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người và trí tuệ con người đã phát
triển song song với việc người ta đã học cách cải biến tự nhien.”
+ Thứ tư, hoạt động thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện,
máy móc hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức. Các phương tiện ngày càng
hiện đại kéo theo nhận thức ngày càng hiện quả và chính xác.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
+ Nhận thức của con người ngay từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất
với tư cách là người đã bị quy định bởi nhu cầu thực tiễn. Bởi lẽ, muốn sống, muốn
tồn tại con người phải sản xuất và cải tạo tự nhiên, xã hội. Chính nhu cầu sản xuất
vật chất và cải tạo tự nhiên, xã hội buộc con người phải nhận thức thế giới xung quanh.
+ Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận
dụng vào thực tiễn phục vụ con người. Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu chuẩn
đánh giá giá trị của tri thức - kết quả của nhận thức.
+ Vì vậy, mọi tri thức khoa học - kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa, giá trị
khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người.
+ Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức,
chủ nghĩa thành tích… thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng, bế tắc sẽ phải trả giá.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí:
Theo triết học Mác-Lênin, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra
chân lý, bác bỏ sai lầm. Bởi lẽ, chỉ có thông qua thực tiễn, con người mới “vật chất
hoá” được tri thức, “hiện thực hoá” được tư tưởng, thông qua quá trình đó, con người
mới có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm. C.Mác đã khẳng định: “Vấn đề tìm
hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lí khách quan không, hoàn toàn
không phải là một vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn”.
- Có nhiều hình thức thực tiễn khác nhau, do vậy cũng có nhiều hình thức kiểm tra
chân lí khác nhau, có thể bằng thực nghiệm khoa học, có thể áp dụng lý luận xã hội
vào quá trình cải biến xã hội…
- Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có
tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối.
+ Tính tuyệt đối của thực tiễn với tư cách tiêu chuẩn chân lí thể hiện ở chỗ, thực tiễn
là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra, khẳng định chân lí, bác bỏ sai lầm.
+ Tính tương đối của thực tiễn với tư cách tiêu chuẩn chân lí thể hiện ở chỗ, thực tiễn
có quá trình vận động, biến đổi, phát triển, do đó “không bao giờ có thể xác nhận hoặc
bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa”.
- Muốn kiểm tra chân lý ta phải kiểm tra nhiều lần, nếu xem xét thực tiễn trong không
gian càng rộng, trong thời gian càng dài, trong chỉnh thể thì càng rõ đâu là chân lý, đâu là sai lầm.
3. Ý nghĩa phương pháp luận luận
- Phải thường xuyên quán triệt những quan điểm thực tiễn luôn đi sâu đi sát thực tiễn,
tiến hànhnghiên cứu tổng kết thực tiễn một cách nghiêm túc.
- Nhờ có thực tiễn mà bản chất của nhận thức được làm rõ, thực tiễn là cơ sở động lực
và mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý cho nên mọi nhận thức đều
xuất phát từ thực tiễn
- Trong quá trình nhận thức phải luôn thấy rõ vai trò của hoạt động thực tiễn, không
được xa rời thựctiễn. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý
chí, giáo điều, máy móc,...Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò cả thực tiễn sẽ rơi vào
chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủnghĩa. Tránh tuyệt đối hoá thực tiễn, coi thường lý luận
-Trong hoạt động của con người, nghiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn,học đi
đôi với hành. Lý luận mà không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để xác định tính
chân lý của nó thì chỉ là lý luận suông. Ngược lại, thực tiễn mà không có lý luận khoa
học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biến thành thực tiễn mù quáng.
4. Ý nghĩa của thực tiễn trong quá trình học tập
- Phải có quan điểm thực tiễn, từ điều kiện thực tế cụ thể của mỗi sinh viên từ đó vạch
ra lộ trình học tập nghiên cứu phù hợp.
- Không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để trau dồi vốn kiến thức của bản thân.
- Tránh học theo lý thuyết rồi xa rời thực tiễn, luôn nhớ mục đích học tập là gắn liền
với thực tiễn, học tập để phục vụ Tổ quốc, góp phần nâng cao đời sống xã hội của nhân dân.
CÂU4: BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG
TẦNG CỦA XÃ HỘI (tr/305)
1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội
1.1. Cơ sở hạ tầng
- Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong
sự vận động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội. Cơ sở hạ tầng ở
đây là một phàm trù triết học cần phân biệt với thuật ngữ cơ sở hạ tầng trong ngành
xây dựng (điện, đường, trường, trạm)
- Về mặt cấu trúc của cơ sở hạ tầng gồm có: Kết cấu cơ sở hạ tầng quan hệ sản xuất
thống trị, những quan hệ sản xuất tàn dư của thế hệ trước đó, những quan hệ sản xuất
là nền móng của xã hội sau. Trong đó quan hệ sản xuất thống trị giữ địa vị chi phối, có
vai trò chủ đạo quyết định tính chất của một cơ sở hạ tầng nhất định. Tuy nhiên, hai
kiểu quan hệ sản xuất còn lại cũng có vai trò nhất định
- Nếu xét trong nội bộ phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất là hình thức phát triển
của lực lượng sản xuất. Còn nếu xét trong tổng thể các quan hệ xã hội, các quan hệ
sản xuất hợp thành cơ sở kinh tế của xã hội đó. Đây là cơ sở hiện thực để con người
dựng nên kiến trúc thượng tầng tương ứng
1.2. Kiến trúc thượng tầng
- Khái niệm: Là toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội với những thiết chế xã hội
tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
- Về mặt cấu trúc của kiến trúc thượng tầng gồm: những quan điểm, tư tưởng của
xã hội pháp quyền, đạo đức, tôn giáo,…) và (nhà nước, những thiết chế xã hội tương
ứng đảng phái, giáo hội và những đoàn thể xã hội khác).
- Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát
triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành
trên cơ sở hạ tầng. Song, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ
tầng. Có những yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng;
còn những yếu tố như triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với nó.
2. Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cở sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội
Mỗi một xã hội đều có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó, đây là hai
mặt của đời sống xã hội và được hình thành một cách khách quan, gắn liền với những
điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Không như các quan niệm duy tâm giải thích sự vận
động của các quan hệ kinh tế bằng những nguyên nhân thuộc về ý thức, tư tưởng hay
thuộc về vai trò của nhà nước và pháp quyền, trong Lời tựa tác phẩm “Góp phần phê
phán khoa kinh tế chính trị”, C.Mác đã khẳng định: “không thể lấy bản thân những
quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát
triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ và hình thái đó,
mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”.
- Thứ nhất, vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện qua:
+ Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với
nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống
trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội. Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét
đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh
giai cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống kinh tế. Tất
cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo,
… đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định.
VD: Trước đây, vào khoảng từ 2000-4000 năm tcn, trên thế giới có xuất hiện hình thái
kinh tế chiếm hữu nô lệ: quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, đất đai và các tư liệu sản
xuất khác hầu hết thuộc sở hữu tư nhân của các chủ nô, kể cả nô lệ, từ đó hình thành
nên kiểu nhà nước chủ nô. Cơ sở kinh tế xã hội (hay CSHT) của nhà nước chủ nô là
nhân tố quyết định bản chất, chức năng, bộ máy, hình thức nhà nước (hay KTTT) cũng
như quá trình tồn tại, phát triển của nhà nước chủ nô. Nô lệ có địa vị vô cùng thấp
kém, họ bị coi là tài sản thuộc sở hữu của chủ nô, chủ nô có quyền tuyệt đối đối với
nô lệ, khai thác bóc lột sức lao động, đánh đập, đem bán, tặng cho, bỏ đói hay giết chết
+ Khi cơ sở hạ tầng thay đổi kéo theo kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
Quá trình thay đổi diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh
tế-xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bản
thân mỗi hình thái kinh tế – xã hội. Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi
kiến trúc thượng tầng diễn rất phức tạp. Trong đó, có những yếu tố của kiến trúc
thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở hạ tầng như chính trị, phápluật.
VD: + Thay đổi từ HT KT-XH này sang HT-KT XH khác: Nhà nước phong kiến là
nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến, cơ sở hình thành của nhà nước là quan hệ
sản xuất phong kiến mà đặc trưng là chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp này. Các
địa chủ phong kiến nắm trong tay đủ mọi quyền lực, còn nông dân chỉ có quyền sở
hữu nhỏ phụ thuộc vào địa chủ và hầu như không có quyền gì. Khi nền kinh tế hàng
hóa thị trường phát triển (tức sự thay đổi trong cơ sở hạ tầng), sự tập trung tư liệu sản
xuất và xã hội hóa lao động đòi hỏi con người phải có quyền tự do bình đẳng, hội họp
kinh doanh và đảm bảo quyền sở hữu tài sản. Chế độ phong kiến hà khắc đã không
còn phù hợp với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vì thế các cuộc cách mạng dân
chủ tư sản liên tiếp nổ ra dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản, lật đổ nhà nước phong
kiến, thiết lập nhà nước tư sản, mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.
+ Diễn ra ngay trong bản thân các HT KT-XH: thời bao cấp, VN ta có nền kinh tế
nhà nước chỉ huy, tức là các thương nghiệp tư nhân bị loại bỏ. Tuy nhiên dần dần cho
tới hiện nay, VN đang phát triển kinh tế theo nền kinh tế thị trường, có sự tham gia
của rất nhiều doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp được tạo điều kiện để phát
triển. Sự thay đổi này diễn ra ngay trong hình thái KT-XHXHCN
- Thứ hai, sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện qua:
+ Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến cơ sở hạ
tầng. Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động khác nhau.
+ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai
chiều. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách
quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác động ngược lại,
nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội
+ Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triểnkinh tế,
nhưng không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội
3. Ý nghĩa trong đời sống xã hội
- Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
là cơ sở khoa học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
- Kinh tế và chính trị tác động biện chứng, trong đó kinh tế tác động chính trị,
chính trị tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh tế. Thực chất của vai trò kiến
trúc thượng tầng là vai trò hoạt động tự giác tích cực của các giai cấp, đảng phái vì lợi
ích kinh tế sống còn của mình. Sự tác động của kiến thức thượng tầng đối với cơ sở hạ
tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối, chính sách của đảng, nhà nước. Chính
vì vậy Lenin viết: “Chính trị là biểu hiện của sự tập trung kinh tế… Chính trị không
thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế”.
- Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào
giữa kinh tế và chính trị đều là sai lầm. Bởi:
+ Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị là rơi vào quan
điểm duy vật tầm thường, duy vật kinh tế sẽ dẫn đến vô chính phủ, bất chấp kỷ cương,
pháp luật và không tránh khỏi thất bại, đổ vỡ.
+ Còn nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc phủ định vai trò của kinh tế sẽ
dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại.
- Có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
rất quan tâm đến nhận thức và vận dụng quy luật này. Điều đó thể hiện ở chỗ:
trong thời kỳ đổi mới đất nước, ĐCS Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện cả kinh
tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm, đồng thời đổi mới chính trị từng
bước thận trọng vững chắc bằng những hình thức, bước đi thích hợp; giải quyết tốt
mối quan hệ giữa đổi mới - ổn định – phát triển, giữ vững định hướng XHCN.
4. Sự vận dụng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng ở nước ta hiện nay
- Trước đổi mới (1986): đề cao thái quá vai trò của kiến trúc thượng tầng, chính trị là
thống soái, Nhà nước, cơ quan quản lí can thiệp thô bạo vào kinh tế bằng những mệnh
lệnh chủ quan; vi phạm các quy luật kinh tế khách quan => khủng hoảng kinh tế, xã hội.
- Từ 1986 đến nay: thực hiện đổi mới toàn diện (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội),
lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới về chính trị, trước hết là đổi mới
tư duy về kinh tế; giải quyết tốt mốiquan hệ giữa đổi mới - ổn định – phát triển, giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
=> Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị tác động mạnh mẽ qua lại với kinh tế
5. Sự vận dụng của Đảng CSVN trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế xã
hội ở Việt Nam hiện nay Về CSHT:
- Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế
tri thức là nhiệm vụ trọng tâm.
+ Tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của
nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát triển mạnh các ngành
kinh tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị tăng cao dựa nhiều vào tri thức.
+ Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải
quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
- Đa dạng hoá các thành phần kinh tế, các kiểu QHSX gắn liền với các hình thức sở
hữu và bước đi thích hợp làm cho QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.
+ Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
+ Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước: Nhà nước làm tốt các chức năng
định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế; chính
sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Thực hiện quản lý Nhà nước
bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị
trường và doanh nghiệp…
+ Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản
theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.
- Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trongnền sản xuất
xã hội, thực hiện công bằng ngày một tốt hơn. Thực hiện nhiều hình thức phân phối,
khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo.
- Giữ vững độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, độc lập dân tộc, quan hệ
kinh tế với nước ngoài. Về KTTT:
- Nâng cao bản lĩnh và trình độ trí tuệ của Đảng:
+ Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong hoạt động của Đảng.
+ Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước coi
xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
+ Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận, tiếp tục làm sáng tỏ
những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa:
+ Xây dựng hệ thống chính trị XHCN vừa đảm bảo tính quốc tế, tính giai cấp, tính
dân tộc, tính nhân dân; trong đó quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân.
+ Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội để
quản lý mọi mặt của xã hội văn minh hiện đại.
+ Cải cách nền hành chính quốc gia, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Nhà
nước, phát huy dân chủ tăng cường pháp chế XHCN.
+ Phân định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của Đảng, chính quyền, các ban
ngành, các tổ chức quần chúng từ trung ương đến địa phương.
- Phát triển các lĩnh vực khoa học, giáo dục, công nghệ nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển văn hóa tiến bộ mang đậm bản sắc dân
tộc, giải quyết tốt vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội.
- Tăng cường củng cố sức mạnh của lực lượng vũ trang, nâng cao cảnh giác cách
CÂU5: QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ
HỘI, TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI (tr/440)
Các hình thái ý thức xã hội có đặc điểm chung là mặc dù bị tồn tại xã hội quy định,
song đều có tính độc lập tương đối, thể hiện ở những điểm sau đây:
- Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội (1):
Lịch sử xã hội đã cho chúng ta thấy được rằng, trong nhiều trường hợp khi tồn tại xã
hội cũ đã mất đi, nhưng ý thức xã hội cũ tương ứng thì nó lại vẫn còn tồn tại. Cụ thể
thì điều đó biểu hiện rằng ý thức xã hội muốn thoát ly ra khỏi sự ràng buộc của tồn tại
xã hội, ý thức xã hội trong trường hợp này đã biểu hiện tính độc lập tương đối.
Những nguyên nhân làm cho ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội, có 3 nguyên nhân sau đây:
+ Thứ nhất, do tác động mạnh mẽ và nhiều mặt trong hoạt động thực tiễn của
con người nên tồn tại xã hội diễn ra với tốc độ nhanh hơn khả năng phản ảnh của ý thức xã hội.
+ Thứ hai, do sức mạnh của thói quen, tập quán truyền thống và do cá tính bảo
thủ của hình thái ý thức xã hội. Hơn nữa, những điều kiện tồn tại xã hội mới cũng
chưa đủ để làm cho những thói quen, tập quán và truyền thống cũ hoàn toàn mất đi.
+ Thứ ba, ý thức xã hội gắn liền với lợi ích của những tập đoàn người, của các
giai cấp nàp đó trong xã hội. Các tập đoàn hay giai cấp lạc hậu thường níu kéo, bám
chặt vào những tư tưởng lạc hậu để bảo vệ và duy trí quyền lợi ích kỉ của họ, để chống
lại các lực lượng tiến bộ trong xã hội.
=> Ta nhận thấy, ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Cho nên
trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới chúng ta sẽ cần phải thường xuyên tăng cường