NOTE: chữ thường: nói
Chữ đậm, nghiêng, có màu: ghi vào slide
1. Khái lược các quan điểm triết học về con người trong lịch sử:
Các nhà triết học cổ điển Đức trước kia nói chung từ Cantơ đến Hêghen nói riêng đã phát triển
quan điểm triết học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm:
Hêghen: quan niệm con người là sản phẩm của Ý Niệm tức là con người do thần thánh hoặc
thượng đế sinh ra. Cuộc sống con người do đấng tối cao sắp đặt.
Đối lập với Hêghen
Phoiơbắc lại đưa ra quan điểm duy vật cho rằng con người không phải là nô lệ của thượng đế
hay tinh thần tuyệt đói mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển của
tự nhiên, là cái cao quý nhất mà giới tự nhiên có.
Ông đã sử dụng thành tựu của KH tự nhiên để chứng minh mối liên hệ ko thể chia cắt của tư duy
với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người. Nhưng khi giải thích con người trong
mối liên hệ cộng đồng thì ông lại rơi vào lập trường của chủ nghĩa duy tâm.
Các quan niệm trên đều tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa
mặt sinh học mà ko thấy mặt xã hội
Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế phát triển những đó đồng thời
quan niệm về con người đã có trong các học thuyết triết học trước đây để đưa ra quan niệm
về bản chất con người
2. Quan điểm triết học Mác-Lênin về con người:
a) Con người là thực thể sinh học – xã hội:
- Trong triết học, con người là một thực thể sinh học xã hội là một
luận điểm được triết học Mác - Lênin đưa ra để phản ánh bản chất
đa chiều của con người
- Con người là một thực thể sinh học – xã hội, luôn giữ vai trò chủ thể trong mọi hoạt động
- Khái niệm về con người:
Theo C. Mác: Con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triển cao
nhất của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên
tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa.
+ Thực thể sinh học: Chịu sự quy định của các quy luật sinh học để tồn tại và phát triển => CON
+ Thực thể xã hội: Thông qua những sinh hoạt cộng đồng như lao động, giao tiếp. Nhờ đó, một
hệ thống các quan hệ xã hội được thiết lập => NGƯỜI
- Về phương diện sinh học:
Con người là 1 thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là 1 động vật xã hội.
"Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định con người
không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của động vật"
Con người cũng như mọi động vật khác phải tìm kiếm thức ăn, nước uống, phải “đấu tranh
sinh tồn” để tồn tại và phát triển -> chịu sự chi phối của quy luật sinh học.
*Tuy nhiên, ko được tuyệt đối hóa điều đó, không phải đặc tính sinh học, bản năng sinh học, sự
sinh tồn thể xác là cái duy nhất tạo nên bản chất của con người, mà con người còn là một thực
thể xã hội.
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Khi xem xét con người, không thể tách rời hai
phương diện sinh học và xã hội của con người thành những phương diện biệt lập, duy nhất,
quyết định phương diện kia.
- Không chỉ là một thực thể sinh học, mà con người cũng còn là một bộ phận của giới tự nhiên.
“Giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người,... đời sống thể xác và tinh thần của con người
gắn liền với giới tự nhiên”?.
-Tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự
nhiên, vì vậy bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người.
+ Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển
hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn
tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người
đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay
đổi từ vượn thành người, điều đó đã chứng minh trong /các công trình nghiên cứu của Đacuyn.
Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy
định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy, con người trước hết là một tồn tại
sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối
quan hệ của nó đối với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm -
sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.
câu hỏi: Vậy từ tính chất nêu trên, bạn nào có thể lấy một ví dụ ngắn gọn để minh họa không? =>
TRẢ LỜI: SỰ TIẾN HÓA CỦA LOÀI NGỰỜI: VƯỢN CỔ - NHÓM NGƯỜI HOMO- NGƯỜI HIỆN ĐẠI,
với những đặc tính phát triển dần theo thời gian như sống bầy đàn, chế tạo dụng cụ, học hỏi kiến
thức để phát triển
= (Giải thích chi tiết )Ví dụ: Con người bắt nguồn từ loài vượn cổ, chủ yếu sống dựa vào thiên
nhiên, rồi tiến hóa thành nhóm người Homo, biết sống bầy đàn, chế tác dụng cụ từ những vật
liệu thô sơ, rồi học cách săn bắn, hái lượm. Qua nhiều quá trình phát triển, họ dần trở thành
người hiện đại, chế tạo dụng cụ một cách tinh xảo, rồi tách ra thành những chúng tộc khác nhau
(da vàng, da trắng, da đen), biết học hỏi kiến thức để tiếp tục phát triển.
+ không chỉ là một thực thể sinh học, mà cũng còn Thứ hai, con người là một bộ phận của giới
tự nhiên Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người", ./
Con người là một bộ phận của tự nhiên:
Phục tùng các quy luật của giới tự nhiên, các quy luật sinh học như di truyền, tiến hóa sinh học
và các quá trình sinh học của giới tự nhiên.
Ví dụ: Con cái khi sinh ra đều mang những nét tương đồng với cha mẹ của mình, hay những
thế hệ đi sau đều có những suy nghĩ tiến hóa, phát triển hơn các thế hệ đi trước. Các nhà khoa
học đã chứng minh rằng con cái sẽ được nhận những đặc điểm như chiều cao, màu mắt, răng, trí
thông minh,... từ bố mẹ
Giới tự nhiên là "thân thê vô cơ của con người":
Con người sống bằng những sản phẩm tự nhiên, dù là dưới hình thức thực phẩm, nhiên liệu,
quần áo, nhà ở,... /Con người phải dựa vào giới tự nhiên, gắn bó với tự nhiên, hòa hợp với
giới tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển.
Ví dụ: con người dựa vào những tài nguyên thiên nhiên để khai thác, sản xuất (khai thác nguồn
nước để cung cấp nước, khai thác vàng, sắt, khai thác nguyên vật liệu xây dựng...)
-> Vì thế con người phải dựa vào giới tự nhiên, gắn bó với giới tự nhiên, hòa hợp với giới tự nhiên
mới có thể tồn tại và phát triển. Quan điểm này là nền tảng lý luận và phương pháp luận rất quan
trọng
- Về mặt xã hội:
Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là bảntính xã hội: (Con người
khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra nhữngtư liệu sinh hoạt của mình)
-Một là, xét từ giác ngộ nguồn gốc hình thành con người, loài người thì không phải chỉcó
nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà có nguồn gốc xã hộicủa nó,
(CÂU HỎI TƯƠNG TÁC: AI CÓ THỂ CHO NHÓM BIẾT YẾU TỐNÀO LÀ YẾU TỐ CƠ BẢN NHẤT GIÚ
CON NGƯỜI VƯƠN LÊN TIẾNHÓA TỪ LOÀI ĐỘNG VẬT ĐỂ PHÁT TRIỂN THÀNH NGƯỜI KHÔNG?
=>TRẢ LỜI: YẾU TỐ LAO ĐỘNG)
(giải thích) Chính nhờ lao động mà con ngườicó khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát
triển thành người. Đó là mộttrong những phát hiện mới của chủ nghĩa Mác- Lênin, nhờ đó mà có thể
hoàn chỉnhhọc thuyết về nguồn gốc loài người mà tất cả các học thuyết trong lịch sử đều chưa cólời
giải đáp đúng đắn và đầy đủ. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con ngườisản xuất ra của cải
vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành vàphát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập
quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tốquyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng
thời hình thành nhân cáchcá nhân trong cộng đồng xã hội.
-Hai là, xét từ góc độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì sự tồn tại củanó
luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổithì mỗi
con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi tương ứng và ngược lại, sự pháttriển của mỗi
cá nhân là tiền đề cho sự phát triển của xã hội.
-Mối quan hệ biện chứng giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong con
người
-Theo luận điểm này, con người không chỉ là một sản phẩm của quá trình tiến hóa và
phát triển của giới tự nhiên, mà còn là một thành viên của xã hội, có ý thức, ngôn
ngữ, lao động và văn hóa. Con người được hình thành và biến đổi bởi sự tương tác
giữa các yếu tố sinh học và xã hội, giữa cái tự nhiên và cái lịch sử.
Mặt sinh học (sinh vật) là tiền đề cơ sở cho mặt xã hội của con người. Mặt xã hội chỉ có thể phát
triển được trên cơ sở phù hợp với mặt sinh học. Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên
quá trình hình thành và phát triển con người chịu sự quy định của ba hệ thống quy luật:
-Quy luật tự nhiên: quy định phương diện sinh học của con người.
Vd: quy luật đồng hoá và dị hoá.
-Quy luật tâm lý ý thức: quy định sự hình thành tình cảm, niềm tin, khát vọng, v.v của con
người, mặc dù chúng được hình thành trên cơ sở nền tảng sinh học của con người.
Vd: Sự hoảng loạn tập thể khi xảy ra hỏa hoạn, sự cuồng nhiệt trên sân bóng đá
-Quy luật xã hội: quy định quan hệ xã hội của con người.
Vd: quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp.
Trong mối quan hệ đó, mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã
hội là đặc trưng bản chất của con người, giữ vai trò chi phối và quyết định.
tóm lại:

Preview text:

NOTE: chữ thường: nói
Chữ đậm, nghiêng, có màu: ghi vào slide
1. Khái lược các quan điểm triết học v
ề con người trong lịch sử:
Các nhà triết học cổ điển Đức trước kia nói chung từ Cantơ đến Hêghen nói riêng đã phát triển
quan điểm triết học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm:
Hêghen: quan niệm con người là sản phẩm của Ý Niệm tức là con người do thần thánh hoặc
thượng đế sinh ra. Cuộc sống con người do đấng tối cao sắp đặt. Đối lập với Hêghen
Phoiơbắc lại đưa ra quan điểm duy vật cho rằng con người không phải là nô lệ của thượng đế
hay tinh thần tuyệt đói mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển của
tự nhiên, là cái cao quý nhất mà giới tự nhiên có.
Ông đã sử dụng thành tựu của KH tự nhiên để chứng minh mối liên hệ ko thể chia cắt của tư duy
với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người. Nhưng khi giải thích con người trong
mối liên hệ cộng đồng thì ông lại rơi vào lập trường của chủ nghĩa duy tâm.
Các quan niệm trên đều tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa
mặt sinh học mà ko thấy mặt xã hội
Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế đó đồng thời phát triển những
quan niệm về con người đã có trong các học thuyết triết học trước đây để đưa ra quan niệm về bản chất con người
2. Quan điểm triết học Mác-Lênin về c on người:
- Tr a) Con người là thực thể sinh học – xã hội:
ong triết học, con người là một thực thể sinh học xã hội là một
luận điểm được triết học Mác - Lênin đưa ra để phản ánh bản chất đa chiều của con người
- Con người là một thực thể sinh học – xã hội, luôn giữ vai trò chủ thể trong mọi hoạt động
- Khái niệm về con người:
Theo C. Mác: Con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triển cao
nhất của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên
tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa.
+ Thực thể sinh học: Chịu sự quy định của các quy luật sinh học để tồn tại và phát triển => CON
+ Thực thể xã hội: Thông qua những sinh hoạt cộng đồng như lao động, giao tiếp. Nhờ đó, một
hệ thống các quan hệ xã hội được thiết lập => NGƯỜI
- Về phương diện sinh học:
Con người là 1 thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là 1 động vật xã hội.
"Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định con người
không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của động vật"
Con người cũng như mọi động vật khác phải tìm kiếm thức ăn, nước uống, phải “đấu tranh
sinh tồn” để tồn tại và phát triển -> chịu sự chi phối của quy luật sinh học.
*Tuy nhiên, ko được tuyệt đối hóa điều đó, không phải đặc tính sinh học, bản năng sinh học, sự
sinh tồn thể xác là cái duy nhất tạo nên bản chất của con người, mà con người còn là một thực thể xã hội.
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Khi xem xét con người, không thể tách rời hai
phương diện sinh học và xã hội của con người thành những phương diện biệt lập, duy nhất,
quyết định phương diện kia.
- Không chỉ là một thực thể sinh học, mà con người cũng còn là một bộ phận của giới tự nhiên.
“Giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người,... đời sống thể xác và tinh thần của con người
gắn liền với giới tự nhiên”?.
-Tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự
nhiên, vì vậy bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người.
+ Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển
hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn
tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người
đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay
đổi từ vượn thành người, điều đó đã chứng minh trong /các công trình nghiên cứu của Đacuyn.
Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy
định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy, con người trước hết là một tồn tại
sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối
quan hệ của nó đối với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm -
sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.
câu hỏi: Vậy từ tính chất nêu trên, bạn nào có thể lấy một ví dụ ngắn gọn để minh họa không? =>
TRẢ LỜI: SỰ TIẾN HÓA CỦA LOÀI NGỰỜI: VƯỢN CỔ - NHÓM NGƯỜI HOMO- NGƯỜI HIỆN ĐẠI,
với những đặc tính phát triển dần theo thời gian như sống bầy đàn, chế tạo dụng cụ, học hỏi kiến thức để phát triển
= (Giải thích chi tiết )Ví dụ: Con người bắt nguồn từ loài vượn cổ, chủ yếu sống dựa vào thiên
nhiên, rồi tiến hóa thành nhóm người Homo, biết sống bầy đàn, chế tác dụng cụ từ những vật
liệu thô sơ, rồi học cách săn bắn, hái lượm. Qua nhiều quá trình phát triển, họ dần trở thành
người hiện đại, chế tạo dụng cụ một cách tinh xảo, rồi tách ra thành những chúng tộc khác nhau
(da vàng, da trắng, da đen), biết học hỏi kiến thức để tiếp tục phát triển.
+ Thứ hai, không chỉ là một thực thể sinh học, mà con người cũng còn là một bộ phận của giới
tự nhiên./ Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người",
Con người là một bộ phận của tự nhiên:
Phục tùng các quy luật của giới tự nhiên, các quy luật sinh học như di truyền, tiến hóa sinh học
và các quá trình sinh học của giới tự nhiên.
Ví dụ: Con cái khi sinh ra đều mang những nét tương đồng với cha mẹ của mình, hay những
thế hệ đi sau đều có những suy nghĩ tiến hóa, phát triển hơn các thế hệ đi trước. Các nhà khoa
học đã chứng minh rằng con cái sẽ được nhận những đặc điểm như chiều cao, màu mắt, răng, trí thông minh,... từ bố mẹ
Giới tự nhiên là "thân thê vô cơ của con người":
Con người sống bằng những sản phẩm tự nhiên, dù là dưới hình thức thực phẩm, nhiên liệu,
quần áo, nhà ở,... /Con người phải dựa vào giới tự nhiên, gắn bó với tự nhiên, hòa hợp với
giới tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển.
Ví dụ: con người dựa vào những tài nguyên thiên nhiên để khai thác, sản xuất (khai thác nguồn
nước để cung cấp nước, khai thác vàng, sắt, khai thác nguyên vật liệu xây dựng...)
-> Vì thế con người phải dựa vào giới tự nhiên, gắn bó với giới tự nhiên, hòa hợp với giới tự nhiên
mới có thể tồn tại và phát triển. Quan điểm này là nền tảng lý luận và phương pháp luận rất quan trọng - Về mặt xã hội:
Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là bảntính xã hội: (Con người
khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra nhữngtư liệu sinh hoạt của mình)
-Một là, xét từ giác ngộ nguồn gốc hình thành con người, loài người thì không phải chỉcó
nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà có nguồn gốc xã hộicủa nó,
(CÂU HỎI TƯƠNG TÁC: AI CÓ THỂ CHO NHÓM BIẾT YẾU TỐNÀO LÀ YẾU TỐ CƠ BẢN NHẤT GIÚ
CON NGƯỜI VƯƠN LÊN TIẾNHÓA TỪ LOÀI ĐỘNG VẬT ĐỂ PHÁT TRIỂN THÀNH NGƯỜI KHÔNG?
=>TRẢ LỜI: YẾU TỐ LAO ĐỘNG)
(giải thích) Chính nhờ lao động mà con ngườicó khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát
triển thành người. Đó là mộttrong những phát hiện mới của chủ nghĩa Mác- Lênin, nhờ đó mà có thể
hoàn chỉnhhọc thuyết về nguồn gốc loài người mà tất cả các học thuyết trong lịch sử đều chưa cólời
giải đáp đúng đắn và đầy đủ. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con ngườisản xuất ra của cải
vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành vàphát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập
quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tốquyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng
thời hình thành nhân cáchcá nhân trong cộng đồng xã hội.
-Hai là, xét từ góc độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì sự tồn tại củanó
luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổithì mỗi
con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi tương ứng và ngược lại, sự pháttriển của mỗi
cá nhân là tiền đề cho sự phát triển của xã hội.
-Mối quan hệ biện chứng giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong con người
-Theo luận điểm này, con người không chỉ là một sản phẩm của quá trình tiến hóa và
phát triển của giới tự nhiên, mà còn là một thành viên của xã hội, có ý thức, ngôn
ngữ, lao động và văn hóa. Con người được hình thành và biến đổi bởi sự tương tác
giữa các yếu tố sinh học và xã hội, giữa cái tự nhiên và cái lịch sử.
Mặt sinh học (sinh vật) là tiền đề cơ sở cho mặt xã hội của con người. Mặt xã hội chỉ có thể phát
triển được trên cơ sở phù hợp với mặt sinh học. Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên
quá trình hình thành và phát triển con người chịu sự quy định của ba hệ thống quy luật:
-Quy luật tự nhiên: quy định phương diện sinh học của con người.
Vd: quy luật đồng hoá và dị hoá.
-Quy luật tâm lý ý thức: quy định sự hình thành tình cảm, niềm tin, khát vọng, v.v của con
người, mặc dù chúng được hình thành trên cơ sở nền tảng sinh học của con người.
Vd: Sự hoảng loạn tập thể khi xảy ra hỏa hoạn, sự cuồng nhiệt trên sân bóng đá
-Quy luật xã hội: quy định quan hệ xã hội của con người.
Vd: quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp.
Trong mối quan hệ đó, mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã
hội là đặc trưng bản chất của con người, giữ vai trò chi phối và quyết định. tóm lại: