
Câu 2: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định
nghĩa.
* Một số quan niệm về vật chất trong lịch sử:
- Thời kì cổ đại: con người đi tìm thứ vật chất đầu tiên sinh ra thế giới (bản nguyên
vật chất), và đồng nhất vật chất với một dạng tồn tại cụ thể của nó. VD: Ta lét
đồng nhất vật chất với nước, Hê ra clits đồng nhất vật chất với lửa, Hệ âm dương
ngũ hành của Trung Quốc,... thể hiện lối tư duy trực quan, mộc mạc, chất phác.
- Thế kỉ XVII – XVIII: tồn tại ba loại quan niệm
+ Quan niệm 1: đồng nhất vật chất với các thực thể vật chất cụ thể + Quan niệm 2:
cho rằng vật chất chính là nguyên tử
+ Quan niệm 3: của Hônbách, cho rằng vật chất là những gì tác động vào giác quan
của con người mà gây nên cảm giác.
- Quan niệm của Mác - Ăngghen:
+, Vật chất là một khái niệm trừu tượng
+, Chỉ những gì tồn tại khách quan không phụ thuộc vào đầu óc của con người.
*Định nghĩa vật chất của Lênin
Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin đã
khẳng định về vật chất như sau: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
*Nội dung định nghĩa vật chất của Lenin
-Thứ nhất “vật chất là một phạm trù triết học”
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ triết học, chứ không phải dưới

góc độ của khoa học cụ thể. Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, dùng để
chỉ thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi sự tồn tại vật chất là thực tại
khách quan. Còn khái niệm vật chất được sử dụng trong các khoa học cụ thể, dùng
để chỉ những dạng vật chất cụ thể, cảm tính. Vì vậy, không thể quy vật chất về vật
thể, không thể đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của vật chất giống như
quan niệm của các nhà duy vật trước Mác.
+ Là một phạm trù rộng và khái quát nhất, cho nên không thể định nghĩa vật chất
theo phương pháp thông thường. Về mặt nhận thức, Lênin định nghĩa phạm trù vật
chất trong quan hệ với phạm trù đối lập với nó - phạm trù ý thức (phương pháp
định nghĩa thông qua cái đối lập với nó).
-Thứ 2 thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “ thực tại khách quan”, tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác.
Đây là thuộc tính cơ bản để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất
cả trong tự nhiên cũng như trong xã hội.
-Thứ 3, Vật chất “được đem lại cho con người trong cảm giác…” Nghĩa là vật chất
là cái có thể gây nên cảm giác cho con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác
động đến giác quan của con người. Và thực tại
khách quan chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác”. Điều này
khẳng định rằng, con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất.
* Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin
- Định nghĩa đã giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Định nghĩa đã khắc phục được tính chất trực quan, siêu hình, máy móc trong quan
niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật trước Mac, đồng thời kế thừa, phát triển
được những tư tưởng của Mác và Ăngghen về vật chất.
- Định nghĩa là cơ sở khoa học và là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống chủ nghĩa
duy tâm và thuyết không thể biết một cách hiệu quả. - Định nghĩa là cơ sở thế giới
quan và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế
giới vật chất, định hướng, cổ vũ họ tin tưởng ở khả năng nhận thức của con người,

tiếp tực đi sâu khám phá những thuộc tính mới của vật chất, tìm ra các dạng các
hình thức mới của vật thể trong thế giới.
- Định nghĩa còn là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện
chứng trong lĩnh vực xã hội, trong đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Câu 3: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trên cơ sở đó
rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
I. Các khái niệm:
1. Khái niệm “vật chất”:
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”
2. Khái niệm “Ý thức”:
Ý thức là toàn bộ đời sống tinh thần của con người, là những hình ảnh chủ quan của
thế giới khách quan được chuyển vào đầu óc con người, và sáng tạo lại theo nhu
cầu và mục đích của con người.
II. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức :
a. Quan điểm phi Mác xít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, coi ý thức quyết
định vật chất và hạ thấp vai trò của vật chất
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: coi ý niệm tuyệt đối, tinh thần là cái có trước,
sáng tạo ra thế giới vật chất, thế giới vật chất chỉ là cái bóng của ý niệm, sự tha
hóa của ý niệm tuyệt đối, là một sự tồn tại của ý niệm tuyệt đối
⇨ Cả chủ nghĩa duy tâm chủ quan và khách quan đều không thừa nhận tính
vật chất của thế giới và cho rằng ý thức quyết định vật chất

- Chủ nghĩa duy vật trước Mác: tuyệt đối hóa vật chất, phủ nhận tính độc lập
tương đối của ý thức, phủ nhận vai trò to lớn của ý thức con người trong hoạt
động thực tiễn, cải tạo thế giới khách quan
b. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin về mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức: vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó vật chất là
cái có trước, ý thức là cái có sau, và vật chất quyết định ý thức, cụ thể như sau:
1. Vật chất quyết định ý thức
- Ý thức là kết quả của sự tác động lẫn nhau giữa 2 hay nhiều dạng vật chất giữa thế
giới khách quan quyết định nội dung của ý thức
- Do ý thức được bắt nguồn từ nguồn gốc tự nhiên đó là bộ não người 1 tổ chức vật
chất phát triển cao nhất và ý thức chỉ ra đời trên cơ sở con người có bộ não hoàn
chỉnh,phát triển bình thường
2. Vai trò của ý thức đối với vật chất( Tính độc lập tương đối của ý thức đối
với vật chất)
- Mặc dù vật chất quyết định ý thức nhưng ý thức cũng có sự tác động trở lại với
vật chất , cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con
người.
- Ý thức tác động trở lại vật chất theo 2 xu hướng:
+ Thúc đẩy sự phát triển của thế giới khách quan => khi chúng ta nhận thức và
phản ánh đúng hiện thực khách quan
+ Kìm hãm sự phát triển của thế giới khách quan => khi chúng ta nhận thức vầ
phản ánh không đúng hiện thực khách quan
-Trong hoạt động của con người, chủ thể hoạt động giữ vai trò quyết định sự thành
công hay thất bại của hoạt động đó.
II- Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì vật chất quyết định ý thức cho nên trong ý thức và hoạt động thực tiễn phải

xuất phát từ hiện thực khách quan,tuân theo quy luật khách quan và những điều
kiện khách quan
- Vì ý thức có thể tác động trở lại vật chất cho nên cần phải hạn chế,loại bỏ những ý
thức tiêu cực,lạc hậu,phát huy ý thức tích cực ,chống quan điểm chủ quan duy ý
chí.
- Phương pháp
+ giáo dục, nâng cao dân trí
+ Thông qua tuyên truyền, cổ động
+ Vì tự bản thân ý thức không thể cải biến,thay đổi hiện thực khách quan phải
thông qua hoạt động con người,do đó,phải phát huy nhân tố con người,giáo dục
con người nhận thức những giá trị tốt đẹp để điều chỉnh hoạt động của mình cho
tốt.
Câu 4: Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trên cơ sở đó rút ra ý
nghĩa phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
1. Khái niệm về mối liên hệ phổ biến.
+ Quan niệm siêu hình khẳng định rằng :trên thế giới các sự vật hiện tượng không
có mối liên hệ với nhau,tách rời nhau.
+ Quan niệm duy tâm cho rằng :sự vật ,hiện tượng trên thế giới có mối liên hệ với
nhau nhưng chịu sự tác động chi phối
+ Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng :
+Liên hệ là 1 phạm trù của triết học ,là sự tác động ,chuyển hóa qua lại lẫn nhau
giữa các yếu tố,các bộ phận cấu thành một sự vật ,hiện tượng
+ Mối liên hệ phổ biến là 1 phạm trù của triết học,là sự tác động qua lại,chuyển hóa
lẫn nhau ,là điều kiện tiền đề giữa các sự vật ,hiện tượng trong tự nhiên ,xã hội và

tư duy.
2.Cơ sở của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến:
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan: cái quyết
định mối liên hệ và sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực
lượng siêu tự nhiên hoặc ý thức, cảm giác của con người
-Chủ nghĩa duy vật biện chứng: cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng
là tính thống nhất vật chất của thế giới.Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù
có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu cũng chỉ là những dạng khác nhau
của một thế giới duy nhất, thống nhất là thế
giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, các sự vật hiện tượng không thể tồn tại biệt
lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo
các quan hệ xác định
3.Tính chất
- Tính khách quan :mỗi sự vật ,hiện tượng trên thế giới đều có mối liên hệ với
nhau,không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ đó,không phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan của con người.
- Tính phổ biến: sự vật, hiện tượng này luôn liên hệ với sự vật, hiện tượng khác. Và
mối liên hệ của sự vật ,hiện tượng diễn ra trong cả tự nhiên ,xã hội và tư duy.
- Tính đa dạng: Mỗi lĩnh vực khác nhau của thế giới tồn tại và biểu hiện những mối
liên hệ khác nhau, rất phong phú và nhiều vẻ. Căn cứ vào đây ta có thể phân chia
ra một số mối liên hệ:
+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài:
• Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố bên trong các sự vật,
quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật.

• Mối liên hệ bên ngoài là liên hệ giữa các sự vật với nhau. + Mối liên hệ cơ bản và
mối liên hệ không cơ bản.
• Mối liên hệ cơ bản là liên hệ giữa các mặt, các yếu tố cơ bản của sự vật, quyết
định sự tồn tại và phát triển của sự vật.
• Mối liên hệ không cơ bản là mối liên hệ giữa các yếu tố, các mặt không cơ bản
của sự vật. Mối liên hệ không cơ bản phụ thuộc vào liên hệ cơ bản.
+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
• Mối liên hệ chủ yếu là lên hệ nổi lên ở một thời điểm nhất định trong sự phát triển
của sự vật và quyết định sự phát triển của sự vật tại thời điểm đó.
• Mối liên hệ thứ yếu là liên hệ không quyết định sự phát triển của sự vật tại thời
điểm trên.
+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
• Mối liên hệ trực tiếp là liên hệ không thông qua khâu trung gian nào.
• Mối liên hệ gián tiếp là liên hệ được xác lập thông qua khâu trung gian nào đó.
* Chú ý: Sự phân biệt này có tính tương đối, các mối liên hệ có thể chuyển hóa cho
nhau. Những liên hệ khác nhau của sự vật có nội dung và vai trò khác nhau trong
sự tồn tại và phát triển của sự vật.
3. Ý nghĩa phương pháp luận với nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người.
a. Quan điểm toàn diện:
-Khi nhận thức sự vật, hiện tượng, phải xem xét tất cả mối liên hệ trong sự tác động
qua lại vốn có, giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và
trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực
tiếp và mối liên hệ gián tiếp của chúng, tránh phiến diện.

- Trong hoạt động thực tiễn, khi tác động vào sự vật, không những phải chú ý đến
những mối quan hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự
vật ấy với sự vật khác. Đồng thời, phải sử dụng đồng bộ các biện pháp, các
phương tiện khác nhau khi tác động để đạt đến hiệu quả cao nhất khi làm việc
- Tránh chiết trung: phải biết phân biệt từng mối liên hệ, chú ý tới mối liên hệ bên
trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên,… và phải
xác định đúng vai trò, vị trí của mỗi loại liên hệ đó nhằm
tìm ra cái nào chi phối bản chất của sự vật, hiện tượng, không tuyệt đối hóa hoặc
xem nhẹ bất cứ mối liên hệ nào.
- Tránh ngụy biện: không đem những mặt, những mối liên hệ thứ yếu làm chủ
yếu, không cơ bản làm cơ bản, không tuyệt đối hóa những mặt riêng biệt, chuyển
cái cá biệt thành cái phổ biến. Phải nhận thức được thuật ngụy biện đưa lại những
lập luận có vẻ như đúng đắn nhưng thực chất chỉ là sự
vận dụng xuyên tạc mối liên hệ toàn diện và tính chất mềm dẻo, linh hoạt của các
khái niệm và phạm trù.
b. Quan điểm lịch sử, cụ thể:
- Khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chủ điều kiện, hoàn cảnh lịch
sử cụ thể, môi trường cụ thể mà trong đó, sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển
-Có những luận điểm đúng trong điều kiện này nhưng không đúng trong điều kiện
khác. Không được lấy mối liên hệ cảu sự vật trong giai đoạn này để ví dụ cho giai
đoạn sau một các dập khuôn, máy móc
Câu 5 : Phân tích nguyên lý về sự phát triển, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn. nguyên lí về sự phát
triển

1. Khái niệm phát triển là gì?
a. Những quan điểm khác nhau về sự phát triển
- Quan điểm siêu hình: xem xét sự phát triển chỉ là sự tăng hay giảm đơn thuần về
mặt lượng, mà không có sự biến đổi về chất, không có cái mới ra đời thay thế cho
cái cũ. Sự phát triển như là một quá trình liên tục, bằng phẳng, không có quanh co,
phức tạp.
- Quan điểm biện chứng: xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến
cao, không phải diễn ra theo đường thẳng mà quanh co, phức tạp, thậm chí có cả
vận động thụt lùi. Sự phát triển là quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn tới
những thay đổi về chất, diễn ra theo đường xoáy ốc làm cho cái mới ra đời thay
thế cho cái cũ.
- Quan điểm duy tâm và tôn giáo về nguồn gốc của sự phát triển: một số nhà triết
học có quan điểm duy tâm thừa nhận sự phát triển, nhưng họ lại tìm nguồn gốc sự
phát triển ở thần linh, thượng đế, ở lực lượng siêu tự nhiên (Heghen) hay ở ý thức
con người (Beccơli).
- Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc của sự phát triển cho rằng: nguồn
gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn trong chính
sự vật quy định. Nói cách khác, đó là quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong
bản thân sự vật, do đó là quá trình tự thân của sự
vật.
b. Khái niệm phát triển
Phát triển là phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động của các sự vật hiện
tượng theo chiều hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, đưa đến
sự ra đời của cái mới thay thế cho cái cũ.
Phát triển trước hết là vận động, không có sự vận động tương tác giữa các sự vật,
hiện tượng với nhau thì không có khả năng hoặc tiền đề cho bất
cứ sự phát triển nào. Tuy nhiên, không phải vận động nào cũng đưa tới sự phát triển.

Trong thực tế có những vận động thụt lùi, kìm hãm sự tiến bộ.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng chỉ có sự vận động theo chiều hướng đi lên,
đưa đến sự ra đời của cái mới thay thế cho cái cũ mới là phát triển. Khái niệm vận
động rộng hơn khái niệm phát triển.
Đặc trưng cho sự phát triển của sự vật là sự ra đời của cái mới thay thế cho cái cũ.
Không có cái mới xuất hiện thì không có phát triển. Cái mới bao hàm trong nó cái
tiến bộ, cái tích cực, sau khi đã loại bỏ cái tiêu cực, lạc hậu của cái cũ. Cái mới là
một chất lượng khác, mới trong sự phát triển của sự vật, nó tổng hợp sự phát triển
của sự vật trong các giai đoạn phát triển trước nó làm thành một giai đoạn phát
triển cao hơn.
2. Các tính chất của sự phát triển:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Duy Vật Biện chứng, phát triển có những tính chất
cơ bản sau: tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng phong phú, tính kế thừa.
-Tính khách quan: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguồn gốc
của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quấ trình giải quyết những
mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vân động của sự vật. Nhờ đó sự vật luôn
luôn phát triển. Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào
ý thức của con người. Ví dụ như: Khi trông một cái chồi non xuống đất nhưng con
người ko chăm sóc, nhưng cây vẫn phát triển, sinh trưởng tốt. Đó là do điều kiện
đất đai, khí hậu…
-Tính phổ biến:sự phát triển của sự vật diễn ra trong xã hội, tự nhiên, tư duy, ở bất
cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan. VD: Sự hiểu biết của con người
là ko giới hạn. Hay, trong tự nhiên, có một loại cỏ cho dù cho con người có cuốc
xới, phun thuốc nhưng nó vẫn tiếp tục phát triển , sinh sôi.

-Tính đa dạng, phong phú: phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện
tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển ko giống nhau. Tồn
tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển khác nhau.
VD: Ngày nay, tuổi thọ trung bình của con người cao hơn ngày xưa, bởi do kinh tế
phát triển, chất lượng các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chất lượng bữa ăn
được cải thiện.
- Tính kế thừa: Cái mới ra đới phải dựa trên cơ sở thừa hưởng những yếu tố của sự
vật cũ nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển tiếp theo. VD: khi gieo hạt lúa xuống
đất, hạt lúa nảy mầm và sinh trưởng thành cây lúa. Lúa mới cho ra nhiều hạt lúa
và lại tiếp tục gieo. Quá trình đó cứ liên tục tiếp diễn.
3.Ý nghĩa của phương pháp luận:
Vì mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong sự vận động và phát triển, do đó khi xem
xét sự vận động và phát triển của SV, HT thì phải đứng trên quan điểm phát triển.
+ Quan điểm phát triển:
- Đặt sự vật hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển để thấy rõ được khuynh
hướng biến đổi của chúng trong tương lai để có biện pháp giải quyết phù hợp.
VD: Bố mẹ muốn tạo điều kiện cho con cái, khi quyết định cho con học ở trường
này, trường nọ vì điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của con sau này.
- Phải phân chia sự phát triển của sự vật thành những giai đọan khác nhau để đánh
giá 1 cách khách quan sự vật, hiện tượng, đồng thời để đưa ra biện pháp thúc đẩy
sự phát triển hợp quy luật và lạo bỏ sự phát triển lệch lạc kìm hãm.
Vd: Khi gieo lúa xuống đất, phải xác định được thời gian nảy mầm, thời gian nào
thuận lợi cho bệnh đạo ôn, bệnh vàng lá xuất hiện để từ đó có biện pháp phòng trị.
- Không được tuyệt đối hóa, đánh giá quá mức một nhận thúc nào đó như các nhà
quan điểm duy tâm và tôn giáo, khi họ cho rằng: Phát triển chỉ đơn thuần là tăng
lên hay giảm đi về số lượng mà ko có sự thay đổi về chất.

- Tránh quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến, tức là quan điểm chỉ dựa vào một nhận
thức nào đó về sự vật và xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật
trong quá trình phát triển tiếp theo của nó.
Câu 6: Phân tích phạm trù thực tiễn và Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức,
ý nghĩa phương pháp luận.
1. Các khái niệm:
a, Thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã
hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
- Phạm trù thực tiễn có 2 đặc trưng:
+ Thứ nhất, hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất của con người nhằm cải tạo
biến đổi tự nhiên và xã hội.
+ Thứ hai, hoạt động thực tiễn có tính lịch sử và xã hội, nghĩa là hoạt động thực
tiễn không phải chỉ là của các cá nhân riêng lẻ, mà của quần chúng nhân dân, của
xã hội loài người nói chung.
*Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn:
+ Hoạt động sản xuất vật chất, là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực
tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác
động vào GTN để tạo ra những của cải vật chất nhằm duy trì sự tồn tại và phát
triển của mình.
+ Hoạt động chính trị xã hội, là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác
nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát
triển.
+ Thực nghiệm khoa học, là một hình thức đặc biệt của thực tiễn. Dạng hoạt động

thực tiễn này ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc
biệt là trong thời kỳ cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
=> Các hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn trên có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt
động cơ bản nhất, có tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của con người.
Còn các hình thức hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động sản xuất vật chất phát triển.
b. Nhận thức và các trình độ nhận thức
* Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách
quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về
thế giới khách quan.
Như vậy theo quan điểm của CNDVBC thì nhận thức thuộc phạm vi hoạt động
phản ánh của con người đối với thế giới khách quan, được tiến
hành thông qua hoạt động thực tiễn và nhằm sáng tạo ra tri thức phục vụ hoạt động
thực tiễn, đồng thời cũng lấy thực tiễn là tiêu chuẩn để xác định tính chân lý của
những tri thức đó.
* Các trình độ nhận thức:
- Nhận thức kinh nghiệm:
+Là trình độ nhận thức hình thành từ quan sát và thí nghiệm, kết quả của nó là
những tri thức kinh nghiệm.
+Tri thức kinh nghiệm mới phản ánh được các mặt riêng rẽ, bề ngoài, rời rạc, chưa
phản ánh được bản chất, quy luật của các sự vật
-Nhận thức lý luận:
+ Là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong việc khái quát
bản chất, quy luật sự vật, hiện tượng, kết quả của nó là tri thức lý luận

+ Xét về bản chất, lí luận là hệ thống những tri thức được hệ thống hóa, khái quát
hóa từ những kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất,những
quy luật của thế giới
c. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
CNDVBC khẳng định: Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, là động lực của nhận
thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
- Thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc của nhận thức
+ Thực tiễn cung cấp những tư liệu sinh hoạt những tư liệu, công cụ vật chất cho
hoạt động nhận thức
+ Thực tiễn tạo ra những tiền đề vật chất cho sự phân công lao động xã hội. Sự
phân chia xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc hình thành trên cơ sở
thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất vật chất.
+ Trong thực tiễn con người đã phát triển dần dần những giác quan, năng lực tư
duy.
+ Thực tiễn làm cho con người tiếp xúc với đối tượng khách quan, từ đó đem lại cho
con người tri thức về đối tượng. Như vậy, thực tiễn đem lại cho con người đối
tượng nhận thức.
+ Thực tiễn cung cấp những tri thức kinh nghiệm giúp xây dựng những tri thức lý
luận, những hệ thống lý thuyết.
- Thực tiễn là động lực và là mục đích của nhận thức
Nhờ theo đuổi những lợi ích thực tiễn mà con người hoạt động nhận thức để khám
phá, hiểu biết đối tượng. Con người không nhận thức vì nhận thức.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của quá trình nhận thức.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, nó quyết định sự tồn tại
và phát triển của con người. Do đó nhận thức của con người phải được vận dụng

vào thực tiễn. Tri thức nếu đúng phải giúp con người đạt được mục đích thực tiễn
và phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, tiêu chuẩn của chân lý là có tính tương đối.
Tùy theo tính lịch sử - xã hội riêng biệt mà thực tiễn đóng vai trò tiêu chuẩn của
chân lý một cách khác nhau.
3.Ý nghĩa phương pháp luận:
Trong quá trình nhận thức phải luôn thấy rõ vai trò của hoạt động thực tiễn, không
được xa rời thực tiễn.
Trong hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học phải kết hợp với họat động sản
xuất thực tiễn theo phương châm học đi đôi với hành =>học mới có kết quả.
Câu 7: Phân tích các yếu tố cấu thành Hình thái kinh tế - xã hội và làm rõ vai
trò của các yếu tố đó.
HTKT - XH là một phạm trù của CNDVLS dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch
sử nhất định, với một kiểu QHSX đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình
độ nhất định của LLSX, và với một KTTT tương ứng được xây dựng trên những
quan hệ sản xuất ấy.
b. Kết cấu của HTKT - XH
HTKT - XH là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt
cơ bản là LLSX, QHSX và KTTT. Mỗi mặt của HTKT - XH có vị trí riêng và tác
động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
* Lực lượng sản xuất và các yếu tố cấu thành
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, con người kết hợp với sức lao động của
mình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai
thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình.

=> Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất, là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm
đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình.
Người lao động: là yếu tố đầu tiên chủ yếu của mọi quá trình sản xuất, bao gồm
các nhân tố:
+ Nhu cầu sinh sống tự nhiên của con người. Nhu cầu thúc đẩy hoạt động.
+ Sức lao động của người lao động: sức thần kinh, sức thần kinh, sức cơ bắp mà
con người vận dụng để sử dụng, điều khiển công cụ lao động (như mang, vác,
đẩy...)
+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động: là sự hiểu biết về đối tượng lao động, tính
năng, tác dụng của công cụ lao động, môi trường, sự thành thạo ít hay nhiều trong
việc sử dụng công cụ lao động, khả năng cải tiến công cụ...
=> Toàn bộ những nhân tố đó kết hợp trong người lao động làm thành yếu tố người
lao động.
Tư liệu sản xuất: Bao gồm: tư liệu lao động và đối tượng lao động + Tư liệu lao
động: • Công cụ lao động (búa, rìu, cuốc, máy móc...)
• Những phương tiện, vật liệu khác dùng để tăng cường, hỗ trợ cho tác động của
công cụ lao động lên đối tượng (nhà kho, sân bay, đường sá, cầu cống...)
+ Đối tượng lao động: là toàn bộ những khách thể tự nhiên, hoặc những vật liệu tự
nhiên đã được con người làm biến đổi nhưng chưa thành sản phẩm.
Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tức
trở thành yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất, khác với trước đây việc ứng
dụng và sáng tạo những thành tựu khoa học ở cách xa sản xuất.
Trong những yếu tố của lực lượng sản xuất thì người lao động giữ vai trò quyết
định. Vì con người không chỉ tạo ra lực lượng sản xuất mà còn sử dụng nó. Lực
lượng sản xuất chỉ là biểu hiện những năng lực của bản thân con người.

* Quan hệ sản xuất và ba mặt của quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất. Đó
là quan hệ tất yếu khách quan được hình thành trong quá trình sản xuất của các
cá nhân với nhau.
- Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt:
+ Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất
+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức và quản lý sản xuất.
+ Quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội
- Ba mặt của quan hệ sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với những quan hệ khác. Trong
hệ thống sản xuất xã hội người sở hữu tư liệu sản xuất quyết định quá trình tổ
chức, phân công lao động, phân phối sản phẩm xã hội vì lợi ích của mình, còn
người không sở hữu thì phục tùng sự phân công nói trên.
- Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết
học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng
như nhà nước, đảng phát, giáo hội… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
Kết cấu: Gồm các yếu tố chính trị, tư tưởng, luật pháp, tôn giáo, nghệ thuật, triết
học, đạo đức và các thể chế xã hội tương ứng (Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã
hội)
* Vai trò của các yếu tố cấu thành nên hình thái kinh tế xã hội.
- Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mối hình thái kinh tế xã
hội. HTKT - XH khác nhau có LLSX khác nhau. Suy đến cùng, sự phát triển của
LLSX quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái
kinh tế - xã hội.
- Các QHSX tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định tất cả mọi quan hệ xã

hội khác. Mỗi một HTKT - XH có một kiểu QHSX đặc trưng cho nó. QHSX là
tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.
- KTTT được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là
công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó.
Ngoài các mặt cơ bản nêu trên, các HTKT - XH còn có quan hệ gia đình, dân tộc và
các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với QHSX, biến đổi
cùng với sự biến đổi của QHSX.
* Sự vận dụng của Đảng ta:
- Đảng ta đã vận dụng học thuyết về hình thái kinh tế xã hội để xây dựng hình thái
kinh tế xã hội ở nước ta.
- Xây dựng nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
- Xây dựng hệ thống chính trị theo nguyên tắc nhân dân lao động là người chủ xã
hội, bảo vệ quyền dân chủ của mọi thành viên của xã hội.
- Mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp cận và vận dụng những giá trị mới của văn minh
nhân loại.
- Tạo môi trường cho hoạt động tự do sáng tạo cho mọi sáng kiến cá nhân và đơn
vị. Khai thác triệt để yếu tố con người, vì con người.
Như vậy xây dựng hình thái kinh tế xã hội, XHCN ở nước ta trong thời quá độ là
phát triển LLSX và xây dựng QHSX mới theo định hướng XHCN xây dựng một
hệ thống chính trị bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động, hoạt động theo
nguyên tắc tất cả từ con người vì con người. Tiếp tục cải cách bộ máy Nhà nước
xây dựng hoàn thiện Nhà nước CHXHCN Việt Nam Nhà nước của dân do dân và
vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
XHCN làm nền tảng cho Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Câu 8 :Phân tích quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật đó ở Việt Nam hiện
nay.
Trả lời:
1. Các khái niệm:
a. Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.
* Lực lượng sản xuất và các yếu tố cấu thành
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, con người kết hợp với sức lao động của
mình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai
thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình.
=> Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất, là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm
đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình.
Người lao động: là yếu tố đầu tiên chủ yếu của mọi quá trình sản xuất, bao gồm
các nhân tố:
+ Nhu cầu sinh sống tự nhiên của con người. Nhu cầu thúc đẩy hoạt động.
+ Sức lao động của người lao động: sức thần kinh, sức cơ bắp mà con người vận
dụng để sử dụng, điều khiển công cụ lao động (như mang, vác, đẩy...)
+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động: là sự hiểu biết về đối tượng lao động, tính
năng, tác dụng của công cụ lao động, môi trường, sự thành thạo ít hay nhiều trong
việc sử dụng công cụ lao động, khả năng cải tiến công cụ...
=> Toàn bộ những nhân tố đó kết hợp trong người lao động làm thành yếu tố người
lao động.

Tư liệu sản xuất: Bao gồm: tư liệu lao động và đối tượng lao động + Tư liệu lao
động: • Công cụ lao động (búa, rìu, cuốc, máy móc...)
• Những phương tiện, vật liệu khác dùng để tăng cường, hỗ trợ cho tác động của
công cụ lao động lên đối tượng (nhà kho, sân bay, đường sá, cầu cống...)
+ Đối tượng lao động: là toàn bộ những khách thể tự nhiên, hoặc những vật liệu tự
nhiên đã được con người làm biến đổi nhưng chưa thành sản phẩm.
Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tức
trở thành yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất, khác với trước đây việc ứng
dụng và sáng tạo những thành tựu khoa học ở cách xa sản xuất.
Trong những yếu tố của lực lượng sản xuất thì người lao động giữ vai trò quyết
định. Vì con người không chỉ tạo ra lực lượng sản xuất mà còn sử dụng nó. Lực
lượng sản xuất chỉ là biểu hiện những năng lực của bản thân con người.
* Quan hệ sản xuất và ba mặt của quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất. Đó
là quan hệ tất yếu khách quan được hình thành trong quá trình sản xuất của các
cá nhân với nhau.
- Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt:
+ Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất
+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức và quản lý sản xuất.
+ Quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội
- Ba mặt của quan hệ sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với những quan hệ khác. Trong
hệ thống sản xuất xã hội người sở hữu tư liệu sản xuất quyết định quá trình tổ
chức, phân công lao động, phân phối sản phẩm xã hội vì lợi ích của mình, còn
người không sở hữu thì phục tùng sự phân công nói trên.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.