Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN - DU LỊCH BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài 1 (chính) : Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Đề tài 2 (phụ) : Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng của
Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. Nhóm thực hiện Nhóm 4
Giảng viên hướng dẫn
Th.S Ngô Thị Minh Nguyệt
Th.S Ngô Thị Huyền Trang Chuyên ngành
Khách sạn – Du lịch Lớp học phần 232_HCMI0111_10 Khoá 2022-2026 1 MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................2
BIÊN BẢN HỌP NHÓM......................................................................................................4
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN VÀ ĐIỂM THẢO LUẬN.......................................................5
ĐỀ TÀI 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC.
LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM.............................................6
I. LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................6
II.NỘI DUNG........................................................................................................................7
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc........................................7
2.1.1 Sự cần thiết phải thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc..................................7
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc....................................7
2.1.2.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách
mạng vô sản..................................................................................................................... 7
2.1.2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi
phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo..................................................................................10
2.1.2.3 Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân
tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng...................................................................13
2.1.2.4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc..........................................................18
2.1.2.5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo
lực cách mạng................................................................................................................22
III. KẾT LUẬN...................................................................................................................27
DANH MỤC THAM KHẢO..............................................................................................28
ĐỀ TÀI 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA
ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY..................................................................29
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................... 29
NỘI DUNG....................................................................................................................... 30
I, Quan niệm Hồ Chí Minh về con người.......................................................................30
II, Quan niệm HCM về vai trò con người......................................................................30
Con người là mục tiêu của cách mạng.........................................................................30 2
Con người là động lực của cách mạng.........................................................................30
III, Quan niệm HCM về xây dựng con người................................................................30
IV, Sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay................................................31
1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay.................................................................................................................................. 31
2. Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn hiện
nay.................................................................................................................................. 31
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................35 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 31 tháng 1 năm 2024
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
I. Thời gian và địa điểm họp
Thời gian: 21h ngày 31/1/2024
Địa điểm: Phòng họp Google Meet
II. Thành viên tham gia
37. Nguyễn Thị Thu Huyền – K58B1KN 43. Bùi Nguyễn Diệu Linh
38. Nguyễn Thị Thu Huyền – K58B2KN 44. Lê Khánh Linh
39. Vũ Thị Huyền (Thư ký) 45. Ngô Thị Khánh Linh
40. Nguyễn Phi Hùng 46. Phạm An Linh (Nhóm trưởng)
41. Đặng Vân Khánh 47. Tạ Thị Thuỳ Linh
42. Nguyễn Thị Nhật Lệ 48. Nguyễn Mạnh Lương
III. Nội dung cuộc họp
Nhóm trưởng triển khai dàn ý bài thảo luận và phân công nhiệm vụ cho các thành viên.
IV. Kết luận cuộc họp
Cuộc họp kết thúc vào 21h45 ngày 31/1/2024. Biên bản được các thành viên nhất trí thông
qua và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nhóm trưởng Thư ký Linh Huyền
Phạm An Linh Vũ Thị Huyền 4
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN VÀ ĐIỂM THẢO LUẬN STT Họ và tên Nội dung công việc Đánh giá Điểm 37 Nguyễn Thị Thu
-Nội dung mục 1.2.5 và 2.5 Huyền B1 -Phản biện đề tài 1 38 Nguyễn Thị Thu -Mở đầu đề tài 1 Huyền B2 -Thuyết trình -Nội dung I, II đề tài 2 39 Vũ Thị Huyền -Biên bản họp nhóm ( Thư ký ) -Phản biện đề tài 2
-Nội dung chương IV.3 và Kết luận đề tài 2 40 Nguyễn Phi Hùng -PowerPoint
-Nội dung chương IV.2 và Mở đầu đề 41 Đặng Vân Khánh tài 2 -Word 42
Nguyễn Thị Nhật Lệ -Nội dung III và IV.1 -Phản biện đề tài 2 43 Bùi Nguyễn Diệu
-Nội dung mục 1.2.1 và 2.1 Linh -Phản biện đề tài 1 44 Lê Khánh Linh
-Nội dung mục 1.2.3 và 2.3 -Phản biện đề tài 1 45
Ngô Thị Khánh Linh -Nội dung mục 1.2.4 và 2.4 -Phản biện đề tài 1
-Lên dàn ý đề 1,2; Chỉnh sửa word và 46 Phạm An Linh PowerPoint (Nhóm trưởng)
-Nội dung mục 1.2.2 và 2.2 -Phản biện đề tài 1
-Nội dung 1.1; tổng hợp tài liệu tham 47 Tạ Thị Thuỳ Linh khảo -Phản biện đề tài 1 48 Nguyễn Mạnh -Kết luận đề tài 1 Lương -Thuyết trình 5
ĐỀ TÀI 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC.
LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM I. LỜI MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh – Người anh hùng dân tộc vĩ đại, đó chính là nhận định của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã dành tặng cho người nhằm tôn vinh công lao to lớn của Người.
Bác là người tìm ra con đường cứu nước, sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta thành một
Đảng chân chính toàn dân , toàn ý phục vụ đất nước, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh từ
đó mà ra đời cũng đã trở thành ngọn cờ tư tưởng dẫn đường cho cách mạng Việt Nam đi từ
thắng lợi này sang thắng lợi khác. Tư tưởng của Người chính là một hệ thống những quan
điểm lí luận chiến lược, sách lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, về sự cải biến cách mạng xã hội. Nó được coi là hệ thống mở đầy sức
sống được Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục vận dụng, sáng tạo, bổ sung , phát triển trong
sự nghiệp đổi mới hiện nay và trong tương lai. Trong suốt các chặng đường cách mạng Việt
Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng soi đường, là kim chỉ nam định hướng hành động
cho Đảng và nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tài sản vô giá của Đảng và dân tộc
ta đặc biệt trong giai đoạn cách mạng giành độc lập. 6 II. NỘI DUNG
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
2.1.1 Sự cần thiết phải thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì, cuộc cách mạng thuộc địa trước hết đó là
cần phải đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc chứ không phải là cuộc cách mạng xóa
bỏ sự tư hữu cũng như bóc lột nói chung. Bởi mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa là mâu thuẫn
dân tộc, quy định tính chất và nhiệm vụ quan trọng nhất của cuộc cách mạng ở các nước
thuộc địa đó là giải phóng dân tộc. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
trong tác phẩm “Đường cách mệnh” khi Người đã phân loại thành 3 cuộc cách mạng đó là:
“Cách mạng tư sản; Cách mạng vô sản; Cách Mạng giải phóng dân tộc”. Trong tác phẩm
này, Người đã hết sức nhấn mạnh vai trò cũng như tầm quan trọng nhiệm vụ cách mạng của
nước ta tại thời điểm đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.Trong nhiều tác phẩm do bản
thân chắp bút, cũng như trong các bài phát biểu tại các hội nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh đều
khẳng định vai trò của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc là một nhiệm vụ trọng tâm, là
nhiệm vụ bức thiết nhất.
Với việc nghiên cứu kỹ chủ nghĩa Mác – Lênin cùng với đó là việc trực tiếp tham gia vào
Quốc tế III Người đã nhận định, cách mạng giải phóng dân tộc là cuộc cách mạng nhằm
đánh đổ hoàn toàn ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và thiết lập
một chính quyền do nhân dân làm chủ. Người cũng đã xác định, mục tiêu cấp thiết của cách
mạng nước nhà cũng như của các nước thuộc địa nói chung là cần phải thực hiện một cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc trước khi thực hiện các cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải
quyết mâu thuẫn giữa các tầng lớp, giai cấp.
Quan điểm thực hiện đấu tranh giải phóng dân tộc của Người mặc dù là một quan điểm đúng
đắn và phù hợp với tất yếu của lịch sử, nhưng đôi khi vấp phải những ý kiến trái chiều, dẫn
đến các quan điểm phê phán. Tuy nhiên, bằng thực tiễn lịch sử cùng với bản lĩnh cách mạng
Người đã chứng minh được quan điểm của mình là hoàn toàn đúng đắn với thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cũng như thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp 1954 và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước năm 1975.
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc 7
2.1.2.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
Trên thế giới và ở Việt Nam lúc bấy giờ có ba con đường cách mạng, đó là: Con
đường phong kiến, Con đường Dân chủ tư sản ở Việt Nam và Cách mạng tư sản ở trên thế
giới với khuynh hướng cách mạng vô sản. Lịch sử Việt Nam trên con đường dựng nước và
giữ nước, cha ông ta đã rất nhiều đời đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ gìn giữ nước
nhà. Kẻ thù của ta đều là những kẻ mạnh, ví dụ như quân Nguyên Mông, quân Thanh,..
nhưng ta đều giành được thắng lợi. Đó là những cuộc đấu tranh ghi danh sử sách về dân tộc
ta dưới sự lãnh đạo của lực lượng phong kiến. Nhưng hiện tại, phong kiến không thể lãnh
đạo được nữa, con đường này đã trở nên lỗi thời.
Trước đây, kẻ thù của chúng ta là thực dân phong kiến phương Bắc, họ cùng phương
thức sản xuất, cùng một trình độ lực lượng sản xuất với chúng ta, cho nên hoàn toàn có thể
đấu tranh lại họ. Còn bây giờ, dân tộc Việt Nam phải đối mặt với thực dân, nhưng lại là thực
dân đế quốc tư bản chủ nghĩa, họ hơn ta một bậc về phương thức sản xuất, lực lượng sản
xuất và phương tiện chiến tranh. Phong trào nông dân Yên Thế do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh
đạo chính là một ví dụ cụ thể. Nhận xét về con đường của cụ Hoàng Hoa Thám, Hồ Chí
Minh nói: “ Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì còn trực tiếp đấu tranh chống Pháp.
Nhưng theo người ta kể thì Cụ còn mang nặng cốt cách phong kiến”.
Con đường phong kiến đã lỗi thời, Hồ Chí Minh tìm tới con đường dân chủ tư sản ở
Việt Nam và cách mạng tư sản ở trên thế giới. Tại Việt Nam, hai đại diện tiêu biểu nhất cho
phong trào này là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Phan Bội Châu đã sai lầm khi nhìn
nhận “ bầu bạn ” với Nhật Bản. Cụ ỷ Nhật đả Pháp, nhưng lại không nhìn thấu bản chất thật
của Nhật là Đế quốc, đều đi xâm lược thuộc địa. Thực tế đã xảy ra, Nhật Bản đã hất cẳng
Pháp và chiếm đóng lãnh thổ Việt Nam. Hồ Chí Minh nhận xét con đường cầu viện Nhật
Bản của cụ Phan Bội Châu thì chẳng khác gì việc “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.
Cụ Phan Châu Trinh lợi dụng sự đầu tư của Pháp để đánh Pháp. Tuy nhiên, những nỗ
lực này có thể đã không đạt được kết quả như mong đợi do các yếu tố khách quan và mưu
lược của Pháp. Nhìn vào nền kinh tế giữa các nước thuộc địa của Anh ( Mỹ, Hongkong ) với
các nước thuộc địa của Pháp (Việt Nam, Lào, Campuchia...), có thể thấy rõ sự khác biệt rất
lớn. Mặc dù cả Anh và Pháp đều thực hiện chính sách thực dân, nhưng cách tiếp cận và mục 8
tiêu của họ có thể khác nhau. Anh thường tập trung vào việc phát triển kinh tế địa phương để
thu lại lợi nhuận, trong khi Pháp thường tập trung vào việc khai thác tài nguyên và lợi ích
trực tiếp từ hoạt động sản xuất của thuộc địa. Hồ Chí Minh nhận xét “Cụ Phan Châu Trinh
chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương, đó là sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”.
Điểm chung của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là sau khi giành độc lập sẽ đưa
nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhận thấy cả 2 con đường phong kiến và dân chủ
tư sản đều không thể đi theo, còn một con đường cuối là vô sản, Hồ Chí Minh quyết định
sang Nga học hỏi, tìm hiểu về Cách mạng Tháng 10 Nga, cách mạng vô sản, ý tưởng vô sản
của Lênin. Người nói: “ Nước Nga có chuyện lạ đời, biến người nô lệ thành người tự do ”.
Người nhận ra rằng Cách mạng Tháng Mười Nga đã thực sự thay đổi cảnh quan chính trị và
xã hội của Nga, biến một xã hội đang bị áp bức bởi chế độ phong kiến thành một xã hội tự
do, công bằng và tiến bộ. Trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có
dịp khảo sát các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới. Nghiên cứu về cách mạng Mỹ năm
1776, Người đi đến kết luận: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay,
nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai, ấy là vì cách mệnh
Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản chưa phải là cách mệnh đến nơi”. Nghiên cứu
cuộc cách mạng Pháp năm 1789, Người thấy rằng: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh
Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ
thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã bốn lần
rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới thoát khỏi vòng áp
bức”. Vì vậy, Người không chọn con đường cách mạng Việt Nam đi theo cách mạng tư sản
vì cho rằng cách mạng tư sản “không đến nơi”, “không triệt để”.
Những sáng tạo trong luận điểm của Hồ Chí Minh còn ở chỗ, cũng đi theo con đường
cách mạng vô sản giống Mác Lênin, nhưng ở Mác Lênin đưa ra con đường cách mạng vô
sản cho một cuộc đấu tranh giai cấp thống trị, giải phóng giai cấp trước thì Hồ Chí Minh lại
đặt giải phóng dân tộc lên trên hết. Người đưa lý luận của Mác Lênin về đấu tranh giai cấp
vào để gắn kết giữa nhiệm vụ giai cấp với nhiệm vụ dân tộc, hướng đến thực hiện nhiệm vụ
dân tộc là chính. - Điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo
đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu 9
nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát
từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
=> Quan điểm của Hồ Chí Minh không chỉ là việc áp dụng lý thuyết Marx và Lenin vào tình
hình cụ thể của Việt Nam mà còn là sự sáng tạo trong việc linh hoạt và thích ứng với các
tình huống biến đổi, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn để đưa ra chiến lược cách mạng hiệu quả.
Phong trào đấu tranh vô sản được sự ủng hộ rất lớn của nhân dân Việt Nam. Con
đường đấu tranh của phong trào Cần Vương theo khuynh hướng phong kiến, mặc dù mục
đích là đánh đuổi quân xâm lược, tuy nhiên lại chưa giải phóng được quần chúng nhân dân,
họ vẫn bị địa chủ phong kiến chiếm đoạt ruộng đất, bóc lột, cho nên chưa nhận được sự ủng
hộ của lực lượng đông đảo nhất này. Lực lượng của phong trào chưa toàn diện, còn chưa
nhận được sự ủng hộ của giai cấp tư sản - chưa lôi kéo được về phía mình. Vũ khí thô sơ,
không đánh lại súng ống của Pháp và quan trọng nhất là lực lượng còn ít, các phong trào nổ
ra lẻ tẻ, chưa có sự thống nhất, còn mang tính tự phát.
Con đường đấu tranh như Phong trào duy tân, Phong trào Đông Du vì mang khuynh
hướng tư sản cho nên chưa giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nhân dân, vẫn còn áp bức ,
bóc lột nhân dân nghèo nên cũng chưa nhận được sự ủng hộ của nhân dân. Còn cách mạng
vô sản xóa bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, là
nguồn gốc sinh ra tình trạng người bóc lột người, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
chủ yếu, cơ sở kinh tế đảm bảo cho nhân dân lao động thoát khỏi đói nghèo, hướng tới cuộc
sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo điều kiện giải
phóng và phát triển con người toàn diện. Cho nên giành được sự ủng hộ của toàn dân.
2.1.2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải
do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, một loạt các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa và phụ thuộc bùng nổ, làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu nghiêm trọng,
còn Liên Xô thì trở thành người bạn đồng minh tin cậy và chỗ dựa vững chắc của nhân dân
các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tiếp thu lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin và rất chú trọng đến việc thành lập Đảng Cộng sản, Người khẳng định vai 10
trò to lớn của Đảng đối với cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” ( 1972), Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng “Trước
hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc
với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công,
cũng như người cầm lái đò có vững thuyền mới chạy”. Luận điểm nêu trên đã chỉ rõ: Đảng
Cộng sản có trách nhiệm như "người cầm lái", dẫn đường, hoạch định đường lối đúng đắn và
đưa đường lối đó vào quần chúng để giác ngộ, tập hợp, tổ chức nhân dân đứng lên đấu tranh
thực hiện giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Cách mạng chỉ có thể giành được
thắng lợi khi biết đoàn kết nhân dân, biết phát huy sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo”,“Cách
mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có
Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng.”. Ngay từ
khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra được chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp
với yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ niềm tin của hết thảy nhân
dân đối với Đảng, dù Đảng tồn tại dưới hình thức nào (bí mật hay công khai), dù có bao
nhiêu đảng phái, tổ chức khác tham gia trên vũ đài chính trị thì quyền lãnh đạo cách mạng
vẫn thuộc về Đảng Cộng sản. Với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt... do Hồ Chí Minh
soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930), những vấn đề cơ bản
mang tính chiến lược của cách mạng Việt Nam đã được giải quyết.
Lịch sử đã cho thấy, trong quá trình đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp,
không chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất có mục tiêu giải phóng đất
nước khỏi ách thống trị của ngoại bang. Các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đã diễn
ra, song tất cả đều lần lượt thất bại. Cuối những năm 20, đầu những năm 30 thế kỷ XX,
nhiều tổ chức và đảng phái chính trị ở Việt Nam được thành lập như: Việt Nam Nghĩa đoàn
(1925), Đảng Thanh niên Việt Nam (tháng 3-1926), Việt Nam Quốc dân Đảng (tháng 12-
1926),.. Ngoài ra còn có một số tổ chức và đảng phái chính trị ra đời sau Đảng Cộng sản
Việt Nam, nhưng tất cả đều không nắm được quyền lãnh đạo cách mạng ( ngoại trừ Đảng
Cộng sản ). Cho dù có những đảng được phép hoạt động công khai, thậm chí còn nhận được 11
sự giúp đỡ của các thế lực ngoại bang cả về phương diện tổ chức lẫn tiền bạc (như Việt
Quốc, Việt Cách...) đều thất bại và tan rã nhanh chóng.
Sớm nhận ra con đường do những người đi trước mở ra sẽ không giải phóng được
dân tộc mà cần thiết phải có con đường cứu nước mới phù hợp với quy luật phát triển của
lịch sử để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc
ra sức truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Việt Nam, đặc biệt là việc xuất bản tờ báo Thanh niên ra ngày 21-6-1925, Người đã chuẩn bị
về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người cũng tập trung
cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ với việc Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ và gửi đi học ở Liên Xô... Khi điều kiện
thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 03-02-1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái
Quốc tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản đã nhất trí thành
lập một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã hoạch định được đường lối cách mạng đúng đắn, sáng
tạo. Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2 năm 1930, tại Hương Cảng, Trung Quốc, Hội nghị thành lập
Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược
vắn tắt. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Để tập hợp,
đoàn kết các giai tầng thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, Hội nghị Trung ương 6 (11-
1939) đã chủ trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Thành
lập Mặt trận Việt Minh là một sáng tạo của Đảng, là mốc lịch sử quan trọng đã tạo cho cách
mạng nước ta có một đội quân chính trị hùng mạnh áp đảo các thế lực phản động, là nhân tố
làm nên Cách mạng Tháng Tám. Năm 1943, Đảng đưa ra Đề cương về văn hóa Việt Nam,
nêu rõ đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam. Đề cương đã trở thành “kim chỉ nam”
định hướng cho trí thức trên con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Với sự tuyên truyền
và tổ chức của Đảng, dưới sự tập hợp của Hội Văn hóa cứu quốc (thành lập năm 1943) và
theo tinh thần của Đề cương về văn hóa Việt Nam, đông đảo thanh niên, sinh viên, trí thức,
văn nghệ sĩ đã bước vào hàng ngũ cách mạng, tham gia các phong trào do Việt Minh tổ
chức, góp phần trực tiếp vào thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tháng 6
năm 1944, Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời và tham gia Mặt trận Việt Minh làm cho mặt trận 12
dân tộc chống đế quốc, phát xít thêm sâu rộng, mặt khác, làm thất bại âm mưu của địch tìm
mọi cách lôi kéo trí thức và tư sản dân tộc chống phá cách mạng.
Trước khi cuộc tổng khởi nghĩa diễn ra, Đảng đã lãnh đạo tập dượt cho cho quần
chúng đấu tranh. Từ khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ, binh biến Đô Lương cuối
1940 đầu năm 1941, đến cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật, giải quyết nạn đói đầu năm
1945. Cùng với chuẩn bị mọi mặt, Đảng rất chủ động trong nhận tình hình, nắm đúng thời
cơ, kịp thời phát động quần chúng đứng lên giành chính quyền. Khi cuộc chiến tranh thế giới
lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hội nghị nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành
chính quyền độc lập đã tới” và quyết định phát động tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ
tay phát xít Nhật và tay sai, trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Hưởng ứng chủ
trương tổng khởi nghĩa của Đảng và lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả
nước, triệu người như một, nhất tề vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng
15 ngày (từ 14 đến 28-8), cuộc khởi nghĩa đã thành công. Lần đầu tiên trong lịch sử chính quyền về tay nhân dân.
2.1.2.3 Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc,
lấy liên minh công nông làm nền tảng
Theo học thuyết Mác – Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân;
quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Kế thừa lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người
quan niệm: “Có dân là có tất cả, trên đời này không gì quý bằng dân, được lòng dân thì được
tất cả, mất lòng dân thì mất tất cả”. Người lý giải rằng, dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai
cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”. Trong xã hội xuất
hiện các giai cấp mới ngoài các giai cấp cơ bản là nông dân, địa chủ phong kiến xã hội còn
xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tư bản, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản trong đó
giai cấp công nhân có vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo cách mạng đấu tranh chống đế
quốc giải phóng dân tộc. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tồn tại nhiều mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam.
Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy
nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế
độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. 13
Giai cấp nông dân với số lượng đông đảo nhất, họ bị bóc lột nặng nề, cuộc sống thì khổ cực
vì vậy họ căm thù thực dân, phong kiến. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông dân
Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí
cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Giai cấp
công nhân Việt Nam, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ
với giai cấp nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Do bản chất giai cấp, giới tư
sản người Việt bắt tay với tư sản Pháp ra sức bóc lột công nhân để làm giàu. Tuy nhiên, họ
cũng bị tư sản Pháp cạnh tranh, chèn ép và kiềm hãm. Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản
Pháp cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh
thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học
sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành
người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, có khả năng tiếp thu những tư
tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào. Pháp sử dụng giới tư sản mại bản Hoa kiều đồng thời
thu mua lúa gạo của Nam Kỳ bán cho thực dân Pháp. Sự cấu kết của tư bản Pháp và tư bản
Hoa kiều nhằm hạn chế sự phát triển của giới thương gia người Việt.
Sự áp bức, bóc lột đã đưa đến sự bần cùng hóa không thể tránh khỏi của nhân dân lao
động và kèm theo đó là sự phân hóa xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc. Các giai cấp, tầng lớp
trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ
khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn
cơ bản giữa Nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh
mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu
thuẫn giữa toàn thể Nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội
Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuổi
thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân; Hai là, xóa bỏ chế
độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho Nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân.
Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thấy rõ, vấn đề liên
minh giữa giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác trong xã hội, nhất là giai cấp
nông dân trở thành vấn đề có tính sống còn đối với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp
công nhân. Kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vị trí, vai 14
trò của liên minh công - nông, V.I.Lênin cho rằng, liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức là nguyên tắc tối cao của chuyên chính vô sản. Giai
cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác cũng không thể thoát khỏi ách áp bức
bóc lột của giai cấp tư sản, không thể được giải phóng một cách thực sự và triệt để nếu
không liên minh với giai cấp công nhân, không trở thành người bạn đồng minh của giai cấp
công nhân. Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là
điều kiện đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, là mối liên hệ tự nhiên gắn bó và
sự thống nhất lợi ích cơ bản của tất cả các giai cấp, tầng lớp và là do sự gắn bó thống nhất
giữa sản xuất công nghiệp, nông nghiệp với khoa học kỹ thuật. Nếu không có sự liên minh
chặt chẽ của cả ba lực lượng này thì các ngành kinh tế sẽ khó phát triển.
Luận cương tháng 10 của Trần Phú: Trong cách mạng tư sản dân quyền, công nhân
và nông dân là hai động lực chính, nhưng giai cấp công nhân phải nắm quyền lãnh đạo, cách
mạng mới thành công, vạch rõ tầm quan trọng của liên minh công nhân với nông dân trong
cuộc cách mạng đánh đổ thực dân Pháp và phong kiến phản cách mạng, cũng như tư tưởng
đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở “công nông là gốc”. Trái ngược với chủ nghĩa Mác -
Lênin và luận cương tháng 10 của đồng chí Trần Phú, Hồ Chí Minh cho rằng lực lượng
không chỉ ở liên minh công-nông-binh hay liên minh công- nông,..mà phải là “toàn dân
tộc”. Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn
điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý. Chèn ép tầng
lớp tư sản Việt Nam về lợi ích bằng cách thực hiện chính sách độc quyền xuất khẩu. Từ đó,
không chỉ tầng lớp nông dân mà tất cả các tầng lớp của xã hội Việt Nam đều bị thực dân
Pháp áp bức, bóc lột vậy nên tất cả các tầng lớp giai cấp ở Việt Nam đều mang trong mình
mâu thuẫn với thực dân Pháp. Tư bản Việt Nam cũng bị chèn ép, xét về lợi ích, tất cả giai
cấp đều mâu thuẫn với thuộc địa.
Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất
nước và đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột, chèn ép nên đều căm phẫn thực dân Pháp. Dù
ở giai cấp nào, người dân Việt Nam luôn có tinh thần yêu nước nồng nàn nên khi bị Pháp
xâm lược đều có một mối căm thù với kẻ thù dân tộc, nên mỗi giai cấp đều mang hai mối
thù: nợ nước, thù nhà. Vậy nên khi đó mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam lúc này là mâu
thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mẫu thuẫn bao 15
trùm lên xã hội Việt Nam, tất cả con người Việt Nam. Hồ Chí Minh cho rằng, trong hai
nhiệm vụ đánh đổ đế quốc và đánh đổ phong kiến, cần tập trung cho nhiệm vụ đánh đổ đế
quốc giành độc lập dân tộc, còn đánh đổ phong kiến thực hiện sau. Với mục tiêu tập trung
lực lượng để chống kẻ thù số một của dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dân tộc cách mệnh thì
chưa phân chia giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”.
Xuất phát từ lợi ích, truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đây
chính là cội nguồn để toàn thể nhân dân Việt Nam muôn người như một chống lại kẻ thù
chung, giành độc lập cho dân tộc.Vì vậy, lực lượng để có thể thực hiện cách mạng giải
phóng dân tộc phải là toàn dân tộc chứ không riêng một giai cấp nào.
Trong sự tập hợp rộng rãi đó, Người khẳng định cái cốt của nó là công – nông, “công
nông là người chủ cách mệnh... công nông là gốc cách mệnh”. Trong sách lược vắn tắt,
Người viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân
Việt... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư
bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng
tập trung…” Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở phải quán triệt quan điểm giai cấp: “công nông là
gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không
cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”. Và trong
khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của
công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”. Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định về sau, trong Báo
cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản (tháng 7/1940) chỉ rõ: dù là sĩ, nông, công, thương,
ai cũng căm ghét ách thống trị của người Pháp, ai cũng muốn giành lại độc lập dân tộc. Với
Việt Nam, lực lượng cách mạng chính là giai cấp công nhân, nông dân, tư sản dân tộc, tiểu
tư sản... Trong đó, “...ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh
càng quyết...công nông bị áp bức nặng hơn... công nông là đông nhất nên sức mạnh hơn
hết,... nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan
góc... nên công nông là gốc cách mệnh”.
Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là sự nổi dậy đồng loạt của nhân
dân cả nước từ miền Bắc lan tới miền Trung và miền Nam; từ miền núi lan tới đồng bằng, từ
khắp các vùng nông thôn và vùng đô thị với sức mạnh của hơn 20 triệu người Việt Nam.
Khởi nghĩa giành chính quyền đã lan rộng và nhanh chóng thành công ở các trung tâm lớn 16
như: Hà Nội, Huế, Sài Gòn bởi Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động được mọi tầng
lớp, mọi lực lượng tán thành mục tiêu độc lập dân tộc. Khởi nghĩa giành chính quyền đã
nhanh chóng giành thắng lợi tại thủ đô Hà Nội vào ngày 19-8-1945, chính là nhờ sức mạnh
áp đảo của hơn 60 vạn đồng bào ở cả nội và ngoại thành cùng một số huyện thuộc tỉnh Hà
Đông (cũ), Bắc Ninh, bao gồm công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, học sinh, sinh
viên, công chức trí thức... tham gia. Sức mạnh để giành chính quyền thắng lợi ở Huế, ngày
23-8-1945 là sức mạnh nổi dậy của hơn 15 vạn người gồm nhiều tầng lớp, bộ phận tham gia.
Giai cấp nông dân tại Chiêm Hóa đã chủ động tổ chức lực lượng vũ trang, tạo ra
những quân đội dân quân tự vệ, góp phần đáng kể vào cuộc kháng chiến chống giặc Pháp và
bảo vệ chính quyền Dân tộc. Đặc biệt, nông dân ở Chiêm Hóa đã có nhiều lãnh đạo xuất sắc,
như lãnh đạo kỳ cựu Đặng Lộc và những người lính nông dân nổi tiếng như Đặng Thúc
Liễn, Phạm Văn Xô, Nguyễn Văn Rốt, làm nổi bật tinh thần đoàn kết và quyết tâm chiến
đấu. Không những hăng hái tham gia cuộc kháng chiến , những người tại hậu phương tiền
tuyến muốn đóng góp sức lực của mình vào công cuộc kháng chiến đã ra sức sản xuất lương
thực, nhu yếu phẩm để gửi đến tận tay các anh bộ đội cụ Hồ ta. Một trong những ví dụ điển
hình khác như từ tháng 5/1945, để tăng cường cung cấp vũ khí cho cách mạng, hội viên công
nhân cứu quốc ở nhiều xí nghiệp đã lấy nguyên vật liệu của nhà máy để chế tạo vũ khí, trang
bị cho các tổ tự vệ chiến đấu.
Thêm vào đó tầng lớp trí thức trẻ cũng không ngừng đóng góp các nhà văn nhà thơ
không những tham gia đóng góp sức lực vào công cuộc kháng chiến mà họ còn sáng tạo ra
những bài thơ văn, những bài hát vừa kêu gọi đứng lên đấu tranh vừa khích lệ tinh thần
kháng chiến và lòng yêu nước ví dụ như nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác một bài thơ mang tên là
Nhà thơ Tố Hữu đã viết bài “Hồ Chí Minh” ngay trong ngày 26-8-1945. Đây là bài thơ sớm
nhất viết về Bác Hồ kính yêu của chúng ta: “…Hồ Chí Minh
Hỡi ngọn đuốc thiêng liêng
Trên đầu ta ngọn cờ dân tộc
Trăm thế kỷ trong tên người Ái Quốc
Bạn muôn đời của thế giới đau thương…” 17
để giúp người đọc thêm niềm tin vào sự nghiệp của Đảng của đất nước và ca ngợi vẻ đẹp ,
công lao to lớn của Người - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta.
Không những sự đóng góp của toàn thể dân tộc được thể hiện qua tầng lớp công -
nông trí thức mà đại đoàn kết dân tộc còn được thể hiện ngay cả giai cấp tư sản và tiểu tư
sản có lòng nồng nàn yêu nước. Sau cách mạng tháng 8 đất nước ta trong giai đoạn “ Ngàn
cân treo sợi tóc” nạn đói nạn dốt và những nguy cơ quay trở lại của các thế lực thù địch bên
ngoài nước ta nên Bác đã có những chính sách hiệu quả để giải quyết tình trạng khó khăn
này của đất nước. Tiêu biểu trong số đó tầng lớp tư sản và tiểu tư sản có lòng yêu nước đã
cống hiến tài sản của mình để hỗ trợ cho ngân quỹ của Đảng và nhà nước ta thời bấy giờ như
gia đình ông Thiện, bà Điền là một trong những nhà tư sản đã từ sớm có nhiều đóng góp vật
chất, tài chính với số lượng lớn cho Đảng và Chính phủ. Năm 1943, ông bà ủng hộ Đảng
30.000 đồng Đông Dương; đầu năm 1945, tiếp tục ủng hộ Đảng 100.000 đồng Đông Dương.
Một minh chứng điển hình khác về sự đóng góp to lớn của tầng lớp tư sản yêu nước đó
chính là gia đình ông Trịnh Văn Bô đã đem hết công sức, tài sản ra ủng hộ cách mạng.
Trong vòng ba tháng, tính từ cuối tháng 3/1945, gia đình ông bà đã ủng hộ cho Việt Minh 7
vạn đồng và Hội Phụ nữ cứu quốc 1,5 vạn, tất cả là 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương
với 212,5 lạng vàng,...Một số đại gia địa chủ và tiểu địa chủ đã quyên góp tài chính lớn cho
quỹ quốc phòng và chiến tranh. Những nguồn lực này giúp hỗ trợ việc mua sắm vũ khí, cung
cấp trang thiết bị và duy trì hoạt động của quân đội. Như vậy ta có thể thấy cách mạng giải
phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết dân tộc và biết phát huy sức mạnh đại
đoàn kết của toàn thể dân tộc đặc biệt là lực lượng nòng cốt liên minh công- nông
Sự thành công của cách mạng Tháng 8 năm 1945 có nhiều nguyên nhân, trong đó
nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo
của Đảng. Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của quá trình
đấu tranh, hy sinh xương máu của toàn thể dân tộc Việt Nam suốt 15 năm dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam; đã khẳng định trên thực tế đường lối đúng đắn, năng lực và
hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một mốc son chói lọi trên con đường
cách mạng do Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã hoạch định từ đầu năm 1930, và là nền
tảng vững chắc cho dân tộc Việt Nam thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội. Đánh giá vai trò của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng đinh: "Chẳng những giai cấp lao động 18
và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức
nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các
dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành
công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
2.1.2.4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi
trước cách mạng vô sản ở chính quốc
Trong khi Lênin và quốc tế Cộng sản đều cho rằng Cách mạng giải phóng dân tộc
phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, đánh giá thấp vị trí, vai trò của cách mạng
thuộc địa trong mối quan hệ với cách mạng vô sản ở chính quốc, Nguyễn Ái Quốc lại đưa ra
những quan điểm khác với quan điểm của Quốc tế Cộng sản. Người khẳng định: “... Vận
mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi
xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa... nọc độc
và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa...”, và nếu
khinh thường cách mạng ở thuộc địa tức là “...muốn đánh chết rắn đằng đuôi”. Người đã chỉ
rõ cái sai của Quốc tế Cộng sản lúc bấy giờ và tìm ra được liều thuốc vực dậy cuộc cách
mạng thuộc địa; Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn phê bình những người cộng sản ở các nước tư
bản đã coi nhẹ vấn đề thuộc địa và nói ngược lại “Không những không phụ thuộc mà nó là
quan hệ bình đẳng, tác động qua lại lẫn nhau”. Người cho rằng đó là mối quan hệ bình đẳng,
độc lập, bởi vì cách mạng vô sản ở chính quốc và những nước thuộc địa đều có chung một
kẻ thù, tác động qua lại với nhau một cách khăng khít.
Người đã lấy hình ảnh con đỉa hai vòi để minh họa cho chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ
với hai đầu hút máu ở chính quốc và thuộc địa. Thuộc địa vô cùng quan trọng với các nước
đế quốc bởi do nhu cầu về nguồn nguyên, nhiên liệu, nguồn nhân công rẻ mạt ngày càng lớn
để đáp ứng nhu cầu sản xuất của chủ nghĩa tư bản; Các thuộc địa sẽ là thị trường tiêu thụ
hàng hóa lớn của chính quốc bởi họ là những nước tư bản phát triển, sản xuất hàng hoá dư
thừa dẫn đến độc chiếm thị trường ở các nước thuộc địa; Các thuộc địa sẽ là nơi cung cấp
binh lính cho các cuộc chiến tranh đồng thời thể hiện sức mạnh của các nước đế quốc và có
vai trò vô cùng quan trọng tới sự phát triển hưng thịnh của các nước Đế quốc. Nước nào có
nhiều thuộc địa, nước đó sẽ trở nên hùng cường, có vị thế cao. 19
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có sức bật
thuận lợi vì: Chính sách khai thác, bóc lột thuộc địa hết sức tàn bạo và dã man của chủ nghĩa
đế quốc ở nhiều nơi đã đầy nhân dân thuộc địa vào khó khăn, túng quẫn; Điều đó đã làm cho
lòng căm thù, tức giận chủ nghĩa đế quốc tư bản trong nhân dân thuộc địa vô cùng sâu sắc.
Tinh thần yêu nước chân chính của các dân tộc là một sức mạnh to lớn, một vũ khí tiềm ẩn
của cách mạng giải phóng dân tộc. Sức mạnh đó nếu được giác ngộ và soi đường sẽ tạo
thành một sức mạnh to lớn thật sự, có thể đánh đổ được chủ nghĩa tư bản. Hồ Chí Minh nhận
thấy, thuộc địa là một khâu yếu nhất trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc còn chủ nghĩa
yêu nước ở thời hiện đại đã thực sự trở thành động lực giải phóng dân tộc. Đây là một luận
điểm mới và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1924, Người đã sớm cho rằng cách
mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có
thể giành thắng lợi trước. Đây là một cống hiến rất quan trọng vào kho tàng lý luận Mác –
Lênin, đã được thắng lợi của cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
Thời C.Mác và Ph. Ăngghen, vận mệnh loài người, tương lai của cách mạng giải
phóng dân tộc vẫn phần lớn phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản
chủ nghĩa phát triển. Đến thời Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ
phận của cách mạng vô sản, ông đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị
áp bức đoàn kết lại”. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh trên góc độ của người thuộc địa, góc độ của
các dân tộc bị áp bức đã phê phán một cách có căn cứ và hết sức sâu sắc chủ nghĩa đế quốc
và đã chỉ ra rằng sức sống của chủ nghĩa đế quốc một phần quan trọng nằm ở thuộc địa.
Người nói: “Hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung
ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”. Đây là điều quan trọng mà Hồ Chí Minh bổ
sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đó Người viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa
có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp
vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai
vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô
sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”. Bởi vậy, vừa phải tiến
hành đồng thời cách mạng ở chính quốc và ở thuộc địa. Trên góc độ phê phán ấy, người đã
nhìn ra được khả năng cách mạng của các nước thuộc địa và đi đến khẳng định rằng: cách
mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng 20