Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG TRUNG QUỐC -- -- Đề tài thảo luận
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG
GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
GV hướng dẫn: Ngô Thị Minh Nguyệt
Lớp học phần: 232_HCMI0111_22 Nhóm thực hiện: 01
Hà Nội, tháng 03 năm 2024
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 01 STT Họ và Tên Mã SV Lớp HC Nhiệm vụ Đánh giá 1
Đỗ Thị Phương Anh 22D107002 K58QT2 2
Hoàng Phương Anh 22D107003 K58QT3 3 Lê Thị Ngọc Anh 22D107005 K58QT1 4 Lê Thùy Anh 22D107006 K58QT2 5 Lương Vân Anh 22D107008 K58QT4 6 Nguyễn Thị Trung 22D107011 K58QT4 Anh 7 Phạm Vân Anh 22D107014 K58QT3 8 Trần Ngọc Anh 22D107016 K58QT2 9 Trần Thị Phương 22D107018 K58QT1 Anh 10 Vi Kim Anh 22D107019 K58QT3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG TRUNG QUỐC BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1. Thời gian: 9h00 ngày 19/02/2024.
2. Địa điểm: Google Meet.
3. Thành viên tham gia buổi họp: - Đỗ Thị Phương Anh - Hoàng Phương Anh - Lê Thị Ngọc Anh - Lê Thùy Anh - Lương Vân Anh - Nguyễn Thị Trung Anh - Phạm Vân Anh - Trần Ngọc Anh - Vi Kim Anh 4. Nội dung cuộc họp:
- Lên ý tưởng cho bài thảo luận
- Tổng hợp ý tưởng thành văn bản (bản nháp).
- Nhóm trưởng phân nhiệm vụ cho từng thành viên.
- Thành viên nhận nhiệm vụ và thống nhất ý kiến.
Hà Nội, ngày 19 tháng 02 năm 2024 Thư ký Nhóm trưởng Anh Anh Trần Ngọc Anh Đỗ Thị Phương Anh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG TRUNG QUỐC BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1. Thời gian: 9h00 ngày 25/02/2024.
2. Địa điểm: Google Meet.
3. Thành viên tham gia buổi họp: - Đỗ Thị Phương Anh - Hoàng Phương Anh - Lê Thị Ngọc Anh - Lê Thùy Anh - Lương Vân Anh - Nguyễn Thị Trung Anh - Phạm Vân Anh - Trần Ngọc Anh - Vi Kim Anh 4. Nội dung cuộc họp:
- Tổng hợp nội dung các thành viên đã tìm hiểu
- Nhóm trưởng tổng duyệt bài
- Các thành viên chỉnh sửa bài, đóng góp nội dung
5. Ghi chú: Các thành viên nộp nội dung đúng hạn, tất cả đều tham gia, tích cực đóng góp ý kiến.
Hà Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2024 Thư ký Nhóm trưởng Anh Anh Trần Ngọc Anh Đỗ Thị Phương Anh MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ................................................................................................ 2
1. 1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh .............................................................. 2
1.1.1 Cơ sở thực tiễn ................................................................................................ 2
1.1.2. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 4
1.1.3. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh ...................................................................... 8
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc ...................................... 9
1.2.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách
mạng vô sản ............................................................................................................. 9
1.2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh
đạo ......................................................................................................................... 12
1.2.3 Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc. Cách
mạng sự nghiệp là sự nghiệp đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công-nông và
lao động trí óc. ....................................................................................................... 14
1.2.4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. ..................................................... 15
1.2.5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng
bạo lực ................................................................................................................... 17
II. LIÊN HỆ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI THỰC TIỄN CÁCH MẠNG
VIỆT NAM ................................................................................................................. 20
2.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải theo Con đường cách mạng vô
sản ............................................................................................................................ 21
2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng cộng sản lãnh đạo ...........................24
2.3 Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc. Cách mạng sự
nghiệp là sự nghiệp đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công-nông và lao động trí
óc. ............................................................................................................................. 25
2.4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi
trước Cách mạng vô sản ở chính quốc.........................................................................28
2.5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo
lực, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; thực hiện khởi
nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn ........................... 30
III KẾT LUẬN ...............................................................................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................34 LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động...”. Sự khẳng định đó nói lên vai trò to lớn và cực kỳ quan trọng của tư tưởng Hồ
Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Tư tưởng của người là sự kế thừa tinh hoa trí tuệ
của nhân loại, được vận dụng sáng tạo dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi vẻ vang. Tư tưởng Hồ Chí
Minh còn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta và là tài sản quý giá trong kho tàng văn hóa nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng là
tư tưởng Triết học. Tìm hiểu tư tưởng biện chứng của Người trong cách mạng giải phóng
dân tộc là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bởi vì để xác định được mục tiêu,
đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn thì tư tưởng biện chứng khoa học có ý nghĩa đặc biệt.
Có thể nói tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc
mang tính cách mạng, khoa học và sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt
Nam . Tư tưởng đó có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân
tộc ở Việt Nam mấy chục năm qua và ngày nay đang tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của dân tộc ta trên nhiều lĩnh vựa như: xác
định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy nội lực kết hợp với chủ động hội
nhập quốc tế; Xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh.
Nhận biết được tầm quan trọng của nội dung trên, nhóm 1 chúng em đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc. Liên hệ
với thực tiễn cách mạng Việt Nam” để làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung và cách mạng dân tộc nói riêng. Mặc dù đã cố gắng hết sức
trong quá trình thực hiện đề tài, xong không thể tránh khỏi những thiếu sót hạn chế, do
vậy chúng em rất mong nhận được những lời góp ý, nhận xét từ cô và các bạn để bài thảo luận hoàn thiện hơn. 1 I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. 1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 1.1.1 Cơ sở thực tiễn
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu
cầu khách quan và là sự giải đáp những nhu cầu bức thiết do cách mạng Việt Nam đặt ra.
Hồ Chí Minh đã nắm bắt chính xác xu hướng phát triển của thời đại để tìm ra con đường
cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
a. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Từ năm 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà, Đà
Nẵng. Triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, từng bước trở thành
tay sai của thực dân Pháp.
=> Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp
Từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì các phong
trào yêu nước liên tục nổ ra, trong đó có các cuộc khởi nghĩa dưới ngọn cờ “Cần Vương”
do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo đều rất dũng cảm, với tinh thần quyết chiến cứu nước
nhưng cuối cùng đều thất bại.
=> Chứng tỏ nhân dân ta rất yêu nước, song giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng của
nó đã suy tàn, tỏ ra lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử.
Sau khi đã hoàn thành căn bản việc bình định Việt Nam về mặt quân sự, thực dân
Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam một cách mạnh mẽ và từng bước biến
nước ta từ một nước phong kiến thành một nước “thuộc địa và phong kiến”.
=> Điều này dẫn đến sự chuyển biến và phân hóa mạnh mẽ về cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
Đến đầu thế kỷ XX, trước ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách, của cách mạng
dân chủ tư sản ở trung Quốc và tấm gương Duy Tân của Nhật Bản, ở Việt Nam xuất hiện 2
các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản với sự dẫn dắt của các phong
trào yêu nước có tinh thần cải cách:
+ Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng (1905 – 1909)
+ Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (1906 – 1908)
+ Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số
nhân sĩ khác phát động từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1907
+ Phong trào chống đi phu, chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản nói trên đều gặp thất bại.
Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt Nam còn non yếu. Nguyên nhân trực tiếp là
các tổ chức và người lãnh đạo của các phong trào đó chưa có đường lối và phương pháp
cách mạng đúng đắn. Nhưng tinh thần yêu nước vẫn sục sôi trong lòng nhân dân. Song,
cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước diễn ra sâu sắc. Xuất hiện câu hỏi từ thực tiễn
đặt ra là: Cứu nước bằng con đường nào để có thể đi đến thắng lợi?
Cuối thế kỷ XIX, lượng công nhân ít ỏi, không ổn định đã có ở Việt Nam. Mãi đến
đầu XX tình hình công nhân có sự khởi sắc hơn, phát triển và trở thành giai cấp ngay
trước Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918).
Công nhân Việt Nam chịu ba tầng áp bức bóc lột: thực dân, tư bản, phong kiến. Họ
sớm vùng dậy đấu tranh chống lại giới chủ. Từ hình thức đấu tranh thô sơ như đốt lán trại,
bỏ trốn tập thể, họ đã nhanh chóng tiến tới đình công, bãi công.
Hồ Chí Minh là người đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào
công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận chính trị, tư tưởng và tổ
chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước hình thành cơ bản tư tưởng Hồ
Chí Minh về cách mạng Việt Nam.
Sau đó, chính thực tiễn Đảng lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công, lãnh đạo
cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi; lãnh đạo vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa
kháng chiến chống Mỹ cứu nước là nhân tố góp phần bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh trên tất cả phương diện. 3
b. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới phát triển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa). Một số nước đế
quốc như Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Đức, Nga, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà
Lan,…đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới, xác lập quyền thống trị trên phạm vi toàn thế
giới. Chủ nghĩa đế quốc trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-
Lênin ở một nước lớn rộng một phần sáu thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đánh
đổ giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ phong kiến, lập lên một xã hội mới - xã hội chủ
nghĩa. Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người -
thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, mở ra con đường giải
phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
=> Đây là sự thức tỉnh các dân tộc Châu Á
Tháng 3/1919, sự ra đời của Nhà nước Xô Viết, Quốc tế Cộng sản và thực tiễn xây
CNXH ở Liên Xô cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản, công nhân và
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí Minh trên
hành trình đi ra thế giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước.
=> Chống lại kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc 1.1.2. Cơ sở lý luận
a. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của nhân
tộc Việt Nam. Đây cũng nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy Hồ Chí
Minh ra đi tìm đường cứu nước, và tìm thấy chủ nghĩa Mác – Lênin con đường cứu nước,
cứu dân. Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất
vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Hồ Chí Minh chú trọng yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, nhân ái,
khoan dung trong cộng đồng và hòa hiếu với các dộc tộc, sáng tạo, lạc quan, thương 4
người của dân tộc Việt Nam. Đây là một niềm tự hào về lịch sử, trân trọng nền văn hóa,
ngôn ngữ, phong tục, tập quán và những giá trị tốt đẹp khác.
=> Hồ Chí Minh chính là một biểu tượng cao đẹp của sự tích hợp tinh hoa và văn hóa
phương Đông và phương Tây.
b. Tinh hoa văn hóa nhân loại * Văn hóa phương Đông - Nho giáo
+ Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Vốn tri thức đầu tiên
mà người có được là vốn tri thức Nho giáo thông qua sự dạy dỗ của cha, các thầy giáo
làng và qua con đường tự học, tự nghiên cứu đã cho phép Người phát huy những ưu điểm,
tránh những hạn chế của học thuyết này để phục vụ sự nghiệp cách mạng.
+ Hồ Chí Minh kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị, để quản lý xã hội.
Kế thừa và phát triển quan niệm của Nho giáo về xây dựng một xã hội lý tưởng trong đó
công bằng, bác ái, nhân nghĩa, dũng, tín, liêm được coi trọng để có thể đi đến một thế giới
đại đồng với hòa bình, không có chiến tranh, các dân tộc có quan hệ hữu nghị và hợp tác. - Phật giáo
+ Phật giáo là một tôn giáo lớn sớm được du nhập vào Việt Nam và để lại nhiều dấu
ấn văn hóa dân tộc, cũng như trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chú ý kế thừa,
phát triển những mặt tích cực của Phật giáo như tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con
người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác, đề cao quyền bình đẳng của con
người và chân lý, khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước của Đạo Phật.
+ Hồ Chí Minh chú trọng kế thừa, phát triển những tư tưởng nhân bản, đạo đức tích
cực trong Phật giáo vào việc xây dựng xã hội mới, con người mới Việt Nam hiện nay. - Lão giáo (Đạo giáo)
+ Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử, khuyên con người nên sống
gắn bó với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống. Hồ Chí Minh 5
còn kế thừa, phát triển nhiều ý tưởng của các trường phái khác nhau trong tư tưởng
phương Đông cổ đại như Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Quản Tử,…
+ Hồ Chí Minh cũng chú ý tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn trong
cách mạng dân chủ tư sản thành tư tưởng đấu tranh cho Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của
con người và dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản. *Văn hóa phương Tây
+ Hồ Chí Minh quan tâm tới khẩu hiệu của Đại Cách mạng Pháp năm 1789: Tự do –
Bình đẳng – Bác ái. Khi sang phương Tây, Người tìm hiểu những khẩu hiệu nổi tiếng đó
trong các cuộc CMTS ở Anh, Pháp, Mỹ.
+ Người đã kế thừa, phát triển những quan điểm nhân quyền, dân quyền trong bản
Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791
của Pháp và đề xuất quan điểm về quyền mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc của các dân tộc.
c. Chủ nghĩa Mác – Lênin
Khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước thuộc địa và nhiều
nước tư bản đế quốc. Trong khoảng thời gian đó, Hồ Chí Minh được bổ sung thêm những
nhận thức mới về những gì ẩn dấu đằng sau các từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Khoảng cuối
năm 1917, khi trở lại Pari, Hồ Chí Minh đã làm quen với nhiều nhà hoạt động chính trị, xã
hội của nước Pháp và nhiều nước trên thế giới. Năm 1919, Hồ Chí Minh tham gia Đảng
Xã hội Pháp (SFIO), một đảng tiến bộ lúc bấy giờ thuộc Quốc tế II.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và thời đại mới cũng như chủ nghĩa Mác -
Lênin là cơ sở lý luận quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
khiến Người vượt hẳn lên phía trước so với những người yêu nước cùng thời. Ngay từ
cuối những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Bây giờ học thuyết
nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất
là chủ nghĩa Lênin”. Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan,
phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động cách mạng. Trên cơ sở lập trường, quan
điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã triệt để kế thừa, đổi 6
mới, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hóa
nhân loại kết hợp với thực tiễn cách mạng trong nước và thế giới hình thành lên một hệ
thống các quan điểm cơ bản, toàn diện về cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin
tiền đề lý luận quan trọng nhất, có vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản với tầm
vóc trí tuệ lớn như Lênin mong muốn: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi
biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.
Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản trên cơ sở hiểu biết sâu sắc kho tàng tri thức
của nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Về việc đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Học
thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm
là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.
Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những ưu điểm chung đó sao? Họ
đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Nếu hôm nay họ
còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với
nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết.
“Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”.
Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng -
mà không phải chỉ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin - chúng tôi giành được
những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những
đã vận dụng sáng tạo, mà còn bổ sung, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác -
Lênin trong thời đại mới. Trong các vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; chủ
nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; các vấn đề xây dựng Đảng, Nhà
nước, văn hóa, con người, đạo đức, v.v. Hồ Chí Minh đều có những luận điểm bổ sung, 7
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước nhảy vọt
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
1.1.3. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
a. Phẩm chất Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh có hoài bão lớn cứu dân, cứu nước thoát khỏi cảnh lầm than, cơ cực để
đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Người một mình dám tự đi khắp thế giới rộng lớn,
xa lạ để khảo sát thực tế các nước đế quốc giàu có cũng như các dân tộc thuộc địa nghèo
nàn, lạc hậu, mà chỉ với 2 bàn tay trắng. Người đã làm nhiều nghề nghiệp khác nhau để
kiếm sống, biết rất nhiều ngoại ngữ, tự học hỏi và hoạt động cách mạng.
Hồ Chí Minh là người có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, giàu tính phê phán, đổi mới
và cách mạng; đã vận dụng đúng quy luật chung của xã hội loài người, của cách mạng thế
giới vào hoàn cảnh riêng, cụ thể của Việt Nam, đề xuất tư tưởng, đường lối cách mạng
mới đáp ứng đúng đòi hỏi thực tiễn, có năng lực tổ chức biến tư tưởng, đường lối thành hiện thực.
Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, đã đưa cách mạng
Việt Nam vào dòng chảy chung của cách mạng thế giới. Người suốt đời tận trung với
nước, tận hiếu với dân, là người suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
b. Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận
Hồ Chí Minh là người có vốn sống và thực tiễn cách mạng phong phú. Người hiểu
sâu sắc chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và chế độ thực dân cả phong trào giải phóng dân tộc.
Hồ Chí Minh là nhà tổ chức vĩ đại cách mạng Việt Nam. Người thực hiện hóa tư
tưởng, lý luận cách mạng thành hiện thực sinh động. Người tham gia sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp, chuẩn bị nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản VN – tổ chức lãnh đạo
cách mạng Việt Nam theo chủ nghĩa Mác – Lênin. 8
=> Những phẩm chất cá nhân cùng với những hoạt động thực tiễn phong phú trên
nhiều lĩnh vực khác nhau ở trong nước và thế giới là nhân tố chủ quan hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
Vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, trước sự thất bại của những phong trào yêu nước
chống thực dân Pháp. Một vấn đề cấp bách đã được đặt ra cho cách mạng Việt Nam là
cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi thì phải theo con đường nào, ai lãnh đạo và
lực lượng cũng như phương pháp cách mạng như thế nào? Hồ Chí Minh đã có lời giải đáp
và dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến thành công. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng
giải phóng dân tộc có thể tóm tắt thành một hệ thống các luận điểm như sau:
1.2.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
Từ khi thực dân Pháp xâm lược lược ta, hàng loạt những phong trào yêu nước đã nổ ra
theo những khuynh hướng khác nhau. Trong đó, có các phong trào yêu nước theo ý thức
hệ phong kiến mà tiêu biểu nhất là phong trào Cần Vương (1886- 1896) do vua Hàm Nghi
và Tôn Thất Thuyết phát động. Hưởng ứng Chiếu Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa của
nhân dân ta đã diễn ra sôi nổi nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa trên đều thất bại. Điều đó
chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và khuynh hướng thiết lập nhà nước
phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Đầu thế
kỷ XX, trước ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách, của cách mạng dân chủ tư sản ở
Trung Quốc và tấm gương Duy Tân Nhật Bản, ở nước ta nhiệm vụ giành độc lập dân tộc
do lịch sử đặt ra. Đầu thế kỷ XX, trước ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách, của
cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc và tấm gương Duy Tân Nhật Bản, ở nước ta xuất
hiện các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản với sự dẫn dắt của các sĩ
phu yêu nước có tinh thần cải cách. Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng
(1905-1909). Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động năm 1906 đến năm
1908 thì kết thúc. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền
và một số nhân sĩ khác phát động từ tháng 3-1907 đến tháng 11-1907. Phong trào chống
đi phu, chống sưu thuế ở Trung kỳ năm 1908. Các phong trào yêu nước theo khuynh
hướng dân chủ tư sản nói trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt 9
Nam còn non yếu. Nguyên nhân trực tiếp là các tổ chức và người lãnh đạo của các phong
trào đó chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. Tinh thần yêu nước vẫn
âm ỉ sục sôi trong lòng nhân dân. Song, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước diễn ra
sâu sắc. Xuất hiện câu hỏi từ thực tiễn đó đặt ra là: Cứu nước bằng con đường nào mới có
thể đi đến thắng lợi?
Từ những bài học thực tiễn của các phong trào yêu nước Việt Nam là cơ sở quan trọng
để Hồ Chí Minh hình thành một tư duy cách mạng mới là tìm kiếm con đường cứu nước,
giải phóng dân tộc mới khác với con đường cứu nước của các vị tiền bối. Người đã nói:
“Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét học làm
như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.
Trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có dịp khảo sát các
cuộc cách mạng điển hình trên thế giới. Nghiên cứu về cách mạng Mỹ năm 1776, Người
đi đến kết luận: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công
nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai, ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách
mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản chưa phải là cách mệnh đến nơi? Nghiên cứu cuộc
cách mạng pháp năm 1789. Người thấy rằng: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ,
nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ
thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã bốn
lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới thoát khỏi
vòng áp bức”. Vì vậy, Người không chọn con đường cách mạng Việt Nam đi theo cách
mạng tư sản vì cho rằng cách mạng tư sản “không đến nơi”, “không triệt để”.
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (năm 1917) đã ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí
Minh trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Khi nghiên cứu thành
quả cách mạng tháng Mười Nga do V.I Lênin lãnh đạo, Hồ Chí Minh rút ra kết luận quan
trọng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến
nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do
và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam... Nói tóm lại
là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Năm 1920, sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ
nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh tìm 10
thấy ở đó con đường cứu nước, giải phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản, như sau
này Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là con đường cách mạng triệt để nhất phù hợp
với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Khi vận dụng học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác-Lenin, Hồ Chí Minh
luôn vận dụng một cách sáng tạo và đồng thời cũng phát triển thêm học thuyết cách mạng
vô sản về con đường cách mạng vô sản giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Người
đầu tiên vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản vào Việt Nam, xây
dựng học thuyết giải phóng và phát triển dân tộc theo khuynh hướng vô sản, gắn độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội:
Giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, trong đó giải phóng dân tộc là trước
hết, trên hết. Theo Mác và Ăngghen, con đường cách mạng vô sản ở châu Âu là đi từ giải
phóng giai cấp - giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội - giải phóng con người. Còn theo
Hồ Chí Minh, thì ở Việt Nam và các nước thuộc địa do hoàn cảnh lịch sử - chính trị khác
với châu Âu nên phải là: giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội - giải phóng giai cấp - giải phóng con người.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng
năm 1930, Hồ Chí Minh đã khẳng định phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam:
làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Phương
hướng này vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại vừa hướng tới giải quyết một
cách triệt để những yêu cầu khách quan, cụ thể mà cách mạng Việt Nam đặt ra vào cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trong Chánh cương vắn tắt, Hồ Chí Minh nêu rõ: Cách mạng
tư sản dân quyền trước hết là phải đánh đổ đế quốc và bọn phong kiến, làm cho nước
Nam được hoàn toàn độc lập... Hồ Chí Minh không coi hai nhiệm vụ chống đế quốc và
phong kiến nhất loạt phải thực hiện ngang nhau, mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế
quốc, giải phóng dân tộc, còn nhiệm vụ chống phong kiến, mang lại ruộng đất cho nông
dân thì sẽ từng bước thực hiện. Đây là nét độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh. 11
1.2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Về mặt lý luận, tư tưởng quan niệm này của Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở của học
thuyết Mác-Lênin. Vai trò quan trọng của Đảng được Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định là
nhân tô chủ quan đê giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Giai cấp
công nhân đã được Mác khẳng định là “ Người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”. Tuy nhiên,
giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình khi biết tự tổ chức
nên chính Đảng và được Đảng đó trực tiếp lãnh đạo với mục tiêu đấu tranh là giải phóng
giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi ách áp bức bóc lột, xóa bỏ chủ nghĩa
tư bản, đưa dân tộc đến chế độ tự do, ấm no và hạnh phúc – đó là xã hội cộng sản chủ
nghĩa, mà giai đọan đầu là là xã hội xã hội chủ nghĩa.
C. Mác chỉ ra rằng: Giai cấp công nhân phải có chính đảng tiên phong được tổ chức
chặt chẽ. Bao gồm những người triệt để cách mạng nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công
nhân, đại biểu cơ bản cho lợi ích của giai cấp công nhân. Đảng tiên phong được trang bị
lý luận khoa học đóng vai trò là người tổ chức, định hướng chính trị và giáo dục, động
viên tập hợp quần chúng hành động cách mạng một cách tự giác; phong trào công nhân
dưới sự lãnh đạo của chính đảng tiên phong phải vạch ra được cương lĩnh chính trị đúng
đắn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể…
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, lĩnh hội quan điểm tư tưởng này của Chủ nghĩa Mác-Lênin
đem về và vận dụng vào Việt Nam. Người cũng khẳng định vai trò to lớn của Đảng đối
với cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, chỉ có đi theo con
đường này dân tộc ta mới có thể giành được thắng lợi. Trong tác phẩm Đường cách mệnh,
Người khẳng định: ‘Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức
dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có
vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Đầu
năm 1930, Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính đảng của giai cấp công
nhân và dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt”, có tổ chức chặt chẽ, kỷ
luật nghiêm minh và mật thiết liên lạc với quần chúng.
Kết hợp lý luận Mác - Lênin về Đảng Cộng sản với thực tiễn cách mạng Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trên một loạt vấn 12
đề về cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng nên một lý luận cách mạng giải phóng dân
tộc. Lý luận đó không chỉ được truyền bá trong phong trào công nhân, mà cả trong phong
trào yêu nước, giải quyết vấn đề đường lối cứu nước gắn liền với sự chuẩn bị những điều
kiện về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng cách mạng ở Việt Nam,
sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Phát triển sáng tạo học thuyết Mác -
Lênin về Đảng Cộng sản, Người cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng của giai
cấp vô sản”, đồng thời là “Đảng của dân tộc Việt Nam”. “Đảng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên
quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”.
Khi khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã nêu một luận điểm quan trọng, bổ sung thêm cho lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản, định hướng cho việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt
Nam thành một Đảng có sự gắn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân, với nhân dân lao
động và cả dân tộc trong mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Mọi người Việt Nam yêu
nước, dù là đảng viên hay không, đều thật sự cảm nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng
của Bác Hồ, là Đảng của mình và đều gọi Đảng là “Đảng ta”. Hồ Chí Minh đã xây dựng
được một Đảng cách mạng tiên phong, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, gắn bó với nhân
dân, với dân tộc, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, được nhân dân,
được dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình.
Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, vừa là đội tiên
phong của nhân dân lao động, vừa là những người kiên quyết nhất, hăng hái nhất, tận tâm
tận lực phụng sự Tổ quốc. Họ đã hội tụ, kết tinh lại trở thành bộ tham mưu chiến đấu,
lãnh đạo giai cấp công nhân và người lao động đấu tranh thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của Cách mạng.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập đã quy tụ được lực lượng và
sức mạnh của toàn bộ giai cấp công nhân và cả dân tộc Việt Nam. Đó là một đặc điểm,
đồng thời là một ưu điểm của Đảng. Nhờ đó, ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã nắm ngọn
cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và trở thành nhân tố hàng đầu đảm bảo
cho mọi thắng lợi của cách mạng. 13
1.2.3 Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc. Cách
mạng sự nghiệp là sự nghiệp đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công-nông và lao động trí óc.
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là
người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng phải
trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách
mạng. Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng.
Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nhân vơ i nông
dân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Rằng nếu không có
sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức
giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.
Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh đưa ra quan
điểm: Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc. Cách mạng sự
nghiệp là sự nghiệp đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công-nông và lao động trí óc.
Kế thừa và vận dụng triết lý của cha ông, quan điểm của Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã
lý giải và tìm ra cẩm nang thần kì của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất,
xây dựng đất nước là ở lực lượng vô địch của nhân dân. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất
là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì
mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. No i vê s c ư ma
nh cu a nhân dân, Người chỉ rõ: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều
thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi
hoàn toàn”. Hồ Chí Minh quan niệm: có dân là có tất cả, trên đời này không gì quý bằng
dân, được lòng dân thì được tất cả, mất lòng dân thì mất tất cả. Người khẳng định: “cách
mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”. Người lý giải rằng,
dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí
chống lại cường quyền. Vậy nên phải tập hợp và đoàn kết toàn dân thì cách mạng mới thành công.
Sinh thời, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết
toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông làm nòng cốt”... Trong đó, “thực hiện cho được 14