Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỀ TÀI :
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ XÂY
DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.
VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY NHÓM : 5 LỚP HP : 251_HCMI0111_31
GIẢNG VIÊN : TS. NGÔ THỊ HUYỀN TRANG Hà N i - 2025 ộ
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ STT Họ và tên LHC Nhiệm vụ Điểm 40 Nguyễn Thị Huyền K59Q1 Nội dung 41 Nguyễn Thị Huyền K59Q2 Nội dung, thuyết trình 42 Vương Ngọc Huyền K59V2 Nội dung 43 Vũ Thị Minh Hường K59V2 Nội dung Dương Vân Khánh Nội dung, tổng hợp, 44 K59PQ1 (Nhóm trưởng) chỉnh sửa nội sung 45 Đoàn Minh Khuê K59PQ2 Nội dung, Word 46 Đỗ Hoàng Kỳ K59PQ2 Nội dung 47 Phạm Thị Hương Lan K59Q1 Nội dung, thuyết trình 48 Nguyễn Diệu Linh K59PQ2 Nội dung, powerpoint 2
MỤC LỤC
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
A. MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
B. NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ XÂY
DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội………………………………………7
1.1.1 Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1.2 Tiến lên chủ nghĩa xã hội là tính tất yếu khách quan . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam……………12
1.2.1 Mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.2.2 Động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam………………………………………………………………………………17
1.3.1 Tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . 17
1.3.2 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . 18
1.3.3 Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . 19
1.3.4 Một số nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
2.1 Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh………………………………………. 24
2.2 Đổi mới là sự nghiệp của toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi
dậy mạnh mẽ các nguồn lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước….26 3
2.3 Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy
mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, cần, kiệm xây dựng chủ nghĩa xã
hội……………………………………………………………………………………. .29
2.4 Củng cố, kiện toàn, phát huy sức mạnh và hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ
thống chính trị………………………………………………………………………. .31
C. KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
ĐỀ TÀI PHỤ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
A. LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
B. NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO QUÁ TRÌNH TU
DƯỠNG, RÈN LUYỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG
MẠI……………………………………………………………………………………39
2.1 Thực trạng vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình tu dưỡng, rèn
luyện của sinh viên trường Đại học Thương Mại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
2.2. Giải pháp khắc phục hạn chế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 41
C. KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 42 4 A. MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa xã hội (CNXH) là lý tưởng cao đẹp của nhân loại, thể hiện khát vọng xây
dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi mọi người đều được phát triển toàn
diện và hạnh phúc. Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, CNXH luôn là mục tiêu, là
con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn ngay từ
những ngày đầu thành lập Đảng. Đây không chỉ là sự lựa chọn về mặt chính trị mà còn là
kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người đã hình thành một hệ thống tư tưởng
toàn diện và sâu sắc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH không chỉ khẳng định tính tất yếu khách quan của con
đường xã hội chủ nghĩa, mà còn xác định rõ đặc trưng, bản chất, mục tiêu và những nhiệm
vụ cơ bản trong tiến trình xây dựng CNXH. Đặc biệt, Người luôn nhấn mạnh vai trò của
nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định thành công của sự nghiệp xây
dựng CNXH. Đây chính là di sản tư tưởng quý báu, là nền tảng vững chắc định hướng cho
mọi hoạt động cách mạng ở Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, sau 39 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986),
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực:
kinh tế tăng trưởng ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế quốc tế ngày
càng nâng cao, quốc phòng – an ninh được giữ vững. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
đạt được, công cuộc đổi mới vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: chênh lệch
giàu nghèo, nguy cơ tụt hậu về kinh tế, vấn đề tham nhũng, quan liêu, suy thoái đạo đức
xã hội, cũng như tác động từ toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Trong bối
cảnh đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và xây dựng CNXH vào thực tiễn
đổi mới là vô cùng cấp thiết. Điều này giúp Đảng và Nhà nước ta định hướng đúng đắn
cho sự phát triển, đảm bảo vừa đạt được mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, vừa giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Học tập và nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH không chỉ giúp thế hệ hôm
nay hiểu rõ hơn về mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà còn góp phần củng cố niềm tin của
nhân dân vào con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đây cũng là cơ sở
để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời đề ra các giải 5
pháp đổi mới phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.
Vì vậy, việc tìm hiểu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vận dụng vào quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay.”
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ giá trị bền
vững và sức sống lâu dài của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Về
mặt thực tiễn, đề tài giúp nhận diện những vấn đề đặt ra trong công cuộc đổi mới, từ đó
xác định phương hướng và giải pháp phù hợp để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững,
từng bước hiện thực hóa khát vọng về một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh” mà Bác Hồ hằng mong ước. 6 B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
1.1.1 Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội
Khái niệm “chủ nghĩa xã hội” được Người tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau của
chủ nghĩa xã hội, song tất cả đều hướng đến mục tiêu cơ bản của nó mà theo Người: “Nói
một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động
thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời
hạnh phúc, là làm sao cho dân giàu nước mạnh”. Có thể nói, tư tưởng của Hồ Chí Minh
xuất phát từ khát vọng giải phóng dân tộc, liên kết với chủ nghĩa xã hội khoa học. Người
nhận ra chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới thực sự giải phóng được các
dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vốn dĩ tư tưởng cốt lõi mà Hồ
Chí Minh xây dựng là: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, đây là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt cách mạng Việt Nam và là lựa chọn chiến lược để bảo vệ nền độc lập dân tộc,
đồng thời xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
So sánh các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử để thấy sự khác nhau về bản chất
giữa chủ nghĩa xã hội với các chế độ khác, Hồ Chí Minh viết: “Trong xã hội có giai cấp
bóc lột thống trị, chỉ có lợi ích cá nhân của một số rất ít người thuộc giai cấp thống trị là
được thoả mãn, còn lợi ích cá nhân của quần chúng lao động thì bị giày xéo. Trái lại, trong
chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ,
thì mỗi người là một bộ phận của của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một
phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là
một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng
của cá nhân mới có điều kiện được thoả mãn”. Người khẳng định mục đích của cách mạng
Việt Nam là tiến đến chủ nghĩa xã hội, rồi đến chủ nghĩa cộng sản: Cộng sản có hai giai
đoạn. Giai đoạn thấp, tức là chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn cao, tức là chủ nghĩa cộng sản.
Hai giai đoạn ấy giống nhau ở chỗ: sức sản xuất đã phát triển cao; nền tảng kinh tế thì tư
liệu sản xuất đều là của chung; không có giai cấp áp bức bóc lột. Hai giai đoạn ấy khác
nhau ở chỗ: chủ nghĩa xã hội vẫn còn chút ít vết tích xã hội cũ. Xã hội cộng sản thì hoàn
toàn không còn vết tích xã hội cũ. 7
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là xã hội ở giai đoạn đầu của chủ
nghĩa cộng sản. Mặc dù còn tồn đọng tàn dư của xã hội cũ nhưng chủ nghĩa xã hội không
còn áp bức, bóc lột, xã hội do nhân dân lao động làm chủ, trong đó con người sống ấm no,
tự do, hạnh phúc, quyền lợi của cá nhân và tập thể vừa thống nhất, vừa gắn bó chặt chẽ với
nhau. Tư tưởng của Người luôn thống nhất biện chứng, là sự tổng hoà giữa các nhân tố
kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức. Người không tách rời vật chất và tinh thần, kinh tế và
đạo đức. Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH qua con đường chiến đấu vì độc lập, nhưng
luôn đặt đạo đức, nhân cách, văn hóa làm trọng tâm; quan điểm CNXH của Người là thực
tế, nhân bản, mang dấu ấn dân tộc.
1.1.2 Tiến lên chủ nghĩa xã hội là tính tất yếu khách quan
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác khẳng định sự phát triển của xã hội
loài người là quá trình lịch sử - tự nhiên. Theo quá trình này, “Sự sụp đổ của giai cấp tư
sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau”. Vận dụng học thuyết của C. Mác
để nghiên cứu về tiến trình lịch sử, Hồ Chí Minh cho rằng: “Cách sản xuất và sức sản xuất
phát triển và biến đổi mãi, do đó mà tư tưởng của con người, chế độ xã hội, v.v., cũng phát
triển và biến đổi”. Trong một bài viết của Cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã một
lần nữa khẳng định “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của Nhân dân ta, là sự lựa chọn
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Trên hành trình qua khắp năm châu, bốn biển, Người đã có điều kiện nghiên cứu kỹ
lưỡng về các cuộc cách mạng tư sản Âu - Mỹ và các thể chế chính trị - xã hội đương thời.
Người rút ra kết luận, các cuộc cách mạng tư sản là các cuộc ' cách mệnh không đến nơi,
tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp
bức thuộc địa”, “nó chỉ mang lại quyền lợi cho một số ít người”. Năm 1917, Cách mạng
Tháng Mười Nga thắng lợi, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người - thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Bằng trí tuệ thiên tài, phẩm chất, nhân cách
và năng lực hoạt động thực tiễn của mình, từ chủ nghĩa yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng
thời xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh lịch sử thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã xây dựng sáng tạo học thuyết cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển đất nước của
Việt Nam. Trong đó, vấn đề cơ bản nhất, xuyên suốt nhất là: “Độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội' . Đó là sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn, khách quan, phù hợp với xu thế 8
phát triển của thời đại, đáp ứng khát vọng thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam,
giải quyết triệt để những mâu thuẫn nội tại của cách mạng Việt Nam.
Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác, Hồ Chí Minh cho rằng
lịch sử loài người phát triển theo quy luật khách quan. Chế độ xã hội cũng phát triển từ
cộng sản nguyên thuỷ đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ
nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ
cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được. Tuy nhiên, ngay
từ năm 1953, Hồ Chí Minh đã nhận thấy: “Tuỳ vào hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển
theo con đường khác nhau. Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội như Liên Xô. Có
nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội như các nước
Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta”. Người giải thích: “Chế độ dân chủ mới là chế độ
dưới sự lãnh đạo của Đảng và giai cấp công nhân, nhân dân đã đánh đổ đế quốc và phong
kiến; trên nền tảng công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ, nhân dân dân chủ
chuyên chính theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin”.
Tư tưởng trên đặt vào bối cảnh xã hội đương thời, Hồ Chí Minh muốn khẳng định,
lịch sử xã hội loài người phát triển qua các chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến, tư bản chủ nghĩa rồi tiến lên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; nhưng lộ
trình này không bắt buộc đối với tất cả các nước mà nó diễn ra theo hai phương thức: có
thể trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa như Liên Xô và cũng có thể bỏ qua giai
đoạn này như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam…
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình tất yếu, tuân
theo những quy luật khách quan, trước hết là những quy luật trong sản xuất vật chất; song,
tuỳ theo bối cảnh cụ thể mà thời gian, phương thức tiến lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc
gia sẽ diễn ra một cách khác nhau; trong đó, những nước đã qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa sẽ “đi thẳng” lên chủ nghĩa xã hội. Những nước chưa qua giai đoạn phát triển
này có thể đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi đã “đánh đổ đế quốc và phong kiến” dưới sự
lãnh đạo của Đảng và được tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin dẫn đường. Hồ Chí Minh nhấn
mạnh tính tất yếu của con đường chủ nghĩa xã hội, nhưng không tỏ ra máy móc; đó vừa là
nhận thức lý luận, vừa là lựa chọn nhân sinh quan của những người cách mạng – chọn đi
con đường chủ nghĩa xã hội dù khó khăn, nhưng vì mục tiêu “ai cũng no ấm, sung sướng,
tự do” là đáng theo đuổi, đó là điểm sáng trong tư tưởng đi vượt thời đại của Người. Việt 9
Nam tiến thẳng lên CNXH qua chế độ dân chủ nhân dân; vừa là nhận thức, vừa là lựa chọn thực tiễn.
1.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa
Thứ nhất, về chính trị: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hội do nhân dân làm chủ.
Xã hội chủ nghĩa trước hết là xã hội cho dân làm chủ, nhân dân là chủ dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản trên nền tảng tư tưởng liên minh công – nông để huy động được
sự tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước
là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mọi quyền lợi, quyền lực, quyền hạn thuộc về nhân
dân và mọi hoạt động xây dựng, bảo vệ đất nước, bảo vệ chế dộ xã hội chủ nghĩa cũng
thuộc về nhân dân. Ví dụ, trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấp, người dân trực tiếp tham gia bầu chọn những người đại diện cho mình trong cơ quan
quyền lực nhà nước. Đây là biểu hiện rõ nét của quyền làm chủ chính trị. Qua đó ta không
chỉ thấy tính nhân văn cao cả của chủ tịch Hồ Chí Minh trong tư tưởng mà còn thấy được
nhận thức sâu sắc về sức mạnh, địa vị và vai trò của nhân dân; về sự thắng lợi của chủ
nghĩa xã hội khi Đảng lãnh đạo dựa vào nhân dân và huy động được sức mạnh của nhân dân.
Thứ hai, về kinh tế: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội có nền kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội có nền kinh tế dựa
trên lực lượng sản xuất (bao gồm công cụ lao động và phương tiện lao động) hiện đại và
chế độ sở hữu tư liệu sản xuất tiến bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng nhà máy, xe lửa,
ngân hàng,… làm của chung; là tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân. Đó chính là chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân mà trước hết là nhân dân lao động. Ví dụ, Việt Nam đang áp dụng mô hình
kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và công hữu về tư
liệu sản xuất trong các lĩnh vực trọng yếu như năng lượng, hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên
với các tập đoàn nhà nước như EVN (điện lực), PVN (dầu khí), Viettel (viễn thông),…đóng
vai trò chủ lực trong nền kinh tế. 10
Thứ ba, về văn hóa, đạo đức và các quan hệ xã hội: Xã hội xã hội chủ nghĩa có
trình độ phát triển cao về văn hóa và đạo đức, đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong các quan hệ xã hội.
Sự phát triển cao về văn hóa và đạo đức của xã hội xã hội chủ nghĩa thể hiện xã hội
không còn hiện tượng người bóc lột người; con người được tôn trọng, được đảm bảo đối
xử công bằng, bình đẳng và các dân tộc đoàn kết, gắn bó với nhau bởi với Người khi đó
mỗi người mới có thể có điều kiện cải thiện cuộc sống của mình, phát huy tính cách riêng
và sở trường riêng của mình. Bên cạnh đó chủ nghĩa xã hội là cơ sở, tiền đề để tiến tới chế
độ xã hội hòa bình, đoàn kết, ấm no, tự do, hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, việc làm cho mọi
người và vì mọi người. Hơn thế nữa chủ nghĩa xã hội đảm bảo tính công bằng, hợp lý trong
các quan hệ xã hội. Con người bình đẳng về quyền và nghĩa vụ với nhau trước pháp luật,
ai cũng phải lao động và được hưởng thành quả của chính mình trừ những người không có
khả năng lao động và không còn khả năng lao động. Ví dụ, Việt Nam đang cố gắng xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các chương trình như “Xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn
minh”,… đã góp phần nâng cao ý thức cộng đồng và giữ gìn bản sắc dân tộc.
Thứ tư, về chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội: Chủ nghĩa xã hội là công trình tập
thể của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa – chế độ của nhân dân, do nhân dân làm chủ, lợi ích
của cá nhân gắn liền với lợi ích của chế độ xã hội chủ nghĩa nên chính nhân dân là chủ thể,
là lực lượng quyết định tốc độ xây dựng và sự vững mạnh của chủ nghĩa xã hội. Và cần có
sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ
thể của nước mình dể cách mạng xã hội chủ nghĩa đi đến thành công. Ví dụ, phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nơi người dân đóng vai trò trung tâm
trong việc xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh và giàu bản sắc dân tộc. Dưới
sự chỉ đạo của Đảng, các cấp chính quyền đã triển khai các hoạt động văn hóa, giáo dục,
bảo vệ môi trường và giữ gìn an ninh trật tự, trong đó nhân dân chủ động tham gia, đóng
góp ý kiến, công sức và tài nguyên. Từ việc xây dựng hương ước, quy ước cộng đồng đến
tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, người dân đã thể hiện quyền làm chủ và tinh thần
đoàn kết, góp phần hình thành một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ. Qua đó, có thể
thấy rằng quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải là nhiệm vụ của riêng một tổ 11
chức hay cá nhân, mà là sự chung tay của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.2.1 Mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Mục tiêu về chế độ chính trị: Phải xây dựng được chế độ dân chủ.
Chế độ dân chủ trong mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được Hồ Chí Minh
khẳng định và giải thích: “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ” “Nước
ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Khi khẳng định “dân làm chủ”
và “dân là chủ”, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền lợi và quyền hạn, trách nhiệm và địa
vị của nhân dân. Người chỉ rõ: Tất cả lợi ích đều vì dân, tất cả quyền hạn đều của dân, công
cuộc đổi mới là trách nhiệm của dân, sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước là công việc
của dân, các cấp chính quyền do dân cử ra, các tổ chức đoàn thể do dân tổ chức nên. Trong
thực tế, dân chủ được thể hiện qua hệ thống bầu cử từ Quốc hội đến Hội đồng nhân dân
các cấp. Các chính sách quan trọng như xây dựng nông thôn mới, chính sách an sinh xã
hội, quy hoạch đô thị đều được lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân trước khi ban hành, thực
hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
Mục tiêu về kinh tế: Phải xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết
với mục tiêu về chính trị.
Khái quát mục tiêu về kinh tế của chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hồ Chí
Minh xác định: Đây phải là nền kinh tế phát triển cao “với công nghiệp và nông nghiệp
hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến”, là “một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể”. Mục tiêu này phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu về chính
trị vì “Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của
nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển”. Theo Người, “kinh tế
quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà
nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên… Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập
thể của nhân dân lao động. Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp cho nó
phát triển”. Trong quá trình Đổi mới, Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí
Minh về mục tiêu kinh tế bằng việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt,
trong khi hệ thống hợp tác xã được đổi mới và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực
nông nghiệp. Sự phát triển kinh tế đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật 12
chất để thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, thể hiện mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa
mục tiêu kinh tế và chính trị như Hồ Chí Minh đã khẳng định.
Mục tiêu về văn hoá: Phải xây dựng được nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học,
đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Hồ Chí Minh cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị và kinh tế là mối
quan hệ biện chứng. Chế độ chính trị và kinh tế của xã hội là nền tảng và quyết định tính
chất của văn hóa; còn văn hóa góp phần thực hiện mục tiêu của chính trị và kinh tế. Người
đã từng nói: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy”; “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải phát
triển kinh tế và văn hóa”. Theo Người, “để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức”, “Phải triệt để tẩy
trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời, phát triển
những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa
tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và
đại chúng”. Hiện nay, nhà nước đã đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục, y tế,..để nâng cao trình
độ dân trí; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống như ca trù, quan họ, múa
rối nước; đồng thời chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới
phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Mục tiêu về quan hệ xã hội: Phải bảo đảm dân chủ, công bằng, văn minh.
Theo Hồ Chí Minh, với tư cách làm chủ, là chủ của đất nước, nhân dân phải làm
tròn nhiệm vụ của người chủ để xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó mọi người đều có
quyền làm việc; có quyền nghỉ ngơi; có quyền học tập; có quyền tự do thân thể; có quyền
tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình; có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào; có quyền bầu cử, ứng cử. Mọi công dân đều bình đẳng trước
pháp luật. Nhà nước đảm bảo quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi
dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân. Như
vậy, xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội dân chủ, công bằng, văn minh,
tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó
được thỏa mãn để mỗi người có điều kiện cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính
cách riêng và sở trường riêng của mình trong sự hài hòa với đời sống chung, lợi ích chung
của tập thể. Hiến pháp 2013 đã quy định đầy đủ các quyền con người, quyền công dân bao
gồm quyền sống, quyền làm việc, nghỉ ngơi, học tập, tự do ngôn luận, tín ngưỡng, bầu cử
và ứng cử trong khuôn khổ pháp luật. Việt Nam liên tục cải thiện đời sống nhân dân thông 13
qua các chương trình giảm nghèo, nâng cao thu nhập, phát triển giáo dục và y tế, tạo điều
kiện cho mỗi người cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường
riêng. Hệ thống an sinh xã hội được mở rộng với chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, trợ cấp xã hội, thể hiện xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mà Hồ Chí Minh hướng
tới, đồng thời đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích.
1.2.2 Động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Về động lực bên trong chính là nội lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh
cho rằng, chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo
của Đảng; là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy. Bởi vậy, Người nêu rõ:
"Ai xây dựng chủ nghĩa xã hội? Nói chung là những người lao động trong xã hội, gồm
công nhân, nông dân, trí thức cách mạng, v.v…". Người khẳng định: "Trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc
thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam…. Chúng ta
phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân, động viên lực lượng của nhân dân để phấn
đấu hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa… Phải đoàn kết các dân tộc
anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc". Ví dụ hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ
chức tập hợp các tầng lớp nhân dân; phong trào xây dựng nông thôn mới với sự tham gia
tích cực của công - nông - trí thức; cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa" với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.
• Theo Hồ Chí Minh, con người chính là động lực quan trọng nhất của chủ nghĩa xã
hội và nhận thấy sự kết hợp sức mạnh của mỗi cá nhân với xã hội. Người luôn nhấn mạnh
sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh của từng cá nhân với sức mạnh của toàn xã hội. Không
có chế độ xã hội nào đề cao và bảo đảm lợi ích chính đáng của con người như chế độ xã
hội chủ nghĩa. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, mỗi người giữ một vị trí nhất định, đóng góp
một phần công lao nhất định vì sự nghiệp phát triển chung. Khi nhân dân lao động đã thoát
khỏi bần cùng, có công ăn việc làm, cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mỗi người có điều kiện
phát huy năng lực, sở trường và hoàn thiện bản thân, nên ngay từ những ngày đầu xây dựng
chế độ xã hội mới, Người đã dạy rằng: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có
hại cho dân phải hết sức tránh”, “phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy”. Tuy vậy,
Bác không tách rời lợi ích riêng khỏi lợi ích chung mà luôn đặt chúng trong mối quan hệ
thống nhất: “Lợi ích cá nhân là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích tập thể được bảo
đảm thì lợi ích cá nhân mới có điều kiện thỏa mãn”. Trong thực tiễn, tư tưởng này được 14
thể hiện qua nhiều chính sách như các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân
trong khuôn khổ định hướng xã hội chủ nghĩa; các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác trong
nông nghiệp kết hợp lợi ích cá nhân và tập thể hay chế độ lương, thưởng trong doanh
nghiệp nhà nước gắn với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
• Trong yếu tố con người, Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến truyền thống yêu nước, từ
đó nhấn mạnh yêu cầu chăm lo phát triển tinh thần yêu nước của nhân dân, làm cho lòng
yêu nước của mỗi người không cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm mà phải được đem
ra thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bởi “nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao
động cần cù... lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Chúng ta cần phát huy truyền thống và
tinh thần ấy” trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Truyền thống yêu nước của dân
tộc, sự đoàn kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân, đó là sức mạnh tổng hợp
sáng tạo nên động lực quan trọng của chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra, các phong trào như "Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" được lan tỏa rộng rãi trong toàn Đảng,
toàn dân hay tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong thiên tai như bão Bualoi, dịch
bệnh COVID-19 là minh chứng rõ nét và sống động nhất cho tinh thần yêu nước, đoàn kết của nhân dân ta.
• Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới văn hóa, khoa học, giáo dục, coi đó là động lực
tinh thần không thể thiếu của chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã
hội thì nhất định phải có học thức”. “Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đòi
hỏi Đảng ta phải nắm vững khoa học và kỹ thuật, do đó mỗi đảng viên đều phải cố gắng
học tập văn hóa, học tập khoa học và kỹ thuật”. Đồng thời, Người còn đặc biệt quan tâm
giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về đạo đức cách mạng, coi đạo đức cách mạng
là động lực tinh thần có tầm quan trọng hàng đầu, là cái gốc làm nên sức mạnh của cách
mạng. Hiện nay, nhà nước có các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Không những vậy, nhà nước còn dành nhiều ngân sách vào việc đầu tư phát triển hệ thống
giáo dục, từ việc phổ cập giáo dục cho đến việc xây dựng các trường đại học, viện nghiên
cứu hàng đầu. Nhiều học bổng và chương trình đào tạo chuyên sâu được triển khai nhằm
khuyến khích sinh viên, nghiên cứu sinh học tập và nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Bên
cạnh đó, các phong trào thi đua "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh" cũng được đẩy mạnh trong toàn xã hội. Điều này không chỉ giúp nâng cao trình
độ tri thức, khoa học của người dân mà còn bồi đắp phẩm chất đạo đức, lối sống, góp phần 15
tạo nên một lực lượng lao động vừa có tài, vừa có đức để xây dựng và phát triển đất nước, như lời Bác đã dạy.
Về động lực bên ngoài chính là ngoại lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với
phát huy các yếu tố nội lực, cần phát huy tốt cả động lực bên ngoài, đồng thời kết hợp bên
trong lẫn bên ngoài để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
• Trong phát huy ngoại lực, cần coi trọng tăng cường đoàn kết quốc tế; kết hợp chủ
nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Bởi theo Người
“Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại,
của lịch sử, không ai ngăn cản nổi. Sự đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản, của các đảng
cộng sản và công nhân, của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa là mối tình sắt đá không
gì lay chuyển nổi”. Và điều đó cũng được thực tiễn chứng minh rằng: “Hệ thống xã hội chủ
nghĩa đã trở thành một lực lượng quyết định sự phát triển của xã hội loài người và thúc
đẩy cả thế giới tiến lên theo con đường hòa bình, độc lập, dân chủ và xã hội chủ nghĩa.
Với sự giúp đỡ tích cực của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, gần một nửa loài
người đã thóat khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân, và đã thành hơn 40 nhà nước độc lập”.
• Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là: Những thành tựu khoa học đã đem lại lại cho con
người và thời đại những sức mạnh mới chưa từng có. Người nhận định: “Thế giới ngày nay
đang tiến những bước khổng lồ về mặt kiến thức của con người. Khoa học tự nhiên cũng
như khoa học xã hội không ngừng mở rộng ra những chân trời mới, con người ngày càng
làm chủ được thiên nhiên, cũng như làm chủ được vận mệnh của xã hội và của bản thân
mình”. Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam đã
thu hút nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các tập đoàn công nghệ lớn như
Samsung, Intel, LG,. . Thông qua các dự án này, Việt Nam tiếp nhận công nghệ sản xuất
tiên tiến, và quy trình chất lượng cao. Một minh chứng rõ nét cho việc này đó là hiện nay,
các tập đoàn lớn như NVIDIA đã triển khai các kế hoạch xây dựng các nhà máy sản xuất,
trung tâm nghiên cứu công nghệ để phát triển trí tuệ nhân tạo, điều này không chỉ tạo ra
việc làm mà còn giúp Việt Nam làm chủ một phần công nghệ sản xuất hiện đại.
Bàn về mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, Người xác định rất rõ nội lực là quyết
định nhất, ngoại lực là rất quan trọng. Trong tư duy Hồ Chí Minh để tranh thủ sự giúp đỡ
từ bên ngoài, trước hết phải chủ động tạo ra sức mạnh của chính mình. Người nhấn mạnh: 16
“Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng
đáng được độc lập”. Đây là triết lý về tinh thần tự chủ, tự cường làm nền tảng, song song
với việc tích cực tranh thủ hỗ trợ và hợp tác từ cộng đồng quốc tế, nhằm hòa quyện sức
mạnh nội tại của dân tộc với xu thế phát triển của thời đại, từ đó tạo ra một sức mạnh tổng
thể để thành công trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên việc đảm bảo các quyền
lợi dân tộc căn bản của Việt Nam, theo nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không xâm phạm
vào các vấn đề nội bộ, cùng nhau chung sống trong hòa bình và phát triển bền vững.
Như vậy, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải vừa phát huy các động lực tích cực, vừa
ngăn chặn những lực cản. Quan điểm "xây" đi đôi với "chống" là nét đặc sắc xuyên suốt
tư tưởng của Người, được thể hiện qua thực tiễn vừa xây dựng kinh tế vừa chống tham
nhũng, vừa phát triển dân chủ vừa tăng cường pháp chế, vừa hội nhập quốc tế vừa bảo vệ
chủ quyền dân tộc để đưa đất nước phát triển giàu mạnh, bền vững và toàn diện.
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.3.1 Tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đây là khoảng thời gian lâu dài, khó khăn, phức tạp, gian khổ.
Không phải là thời kỳ có thể “đốt cháy giai đoạn”, hay đạt được mục tiêu xã hội
chủ nghĩa chỉ trong một sớm một chiều. Vì phải thực hiện nhiều bước: xây dựng lực lượng
sản xuất, cải tạo quan hệ sản xuất, chuyển hóa tư tưởng, văn hóa, kỳ vọng xã hội… Khó
khăn xuất phát từ: xuất phát điểm thấp; ảnh hưởng của chiến tranh; hậu quả thuộc địa, lạc
hậu; sự chống phá từ thế lực thù địch; các mâu thuẫn nội bộ; khó khăn về tài chính, tri thức,
nguồn nhân lực. Sự phức tạp trong tổ chức xã hội: Nhà nước, Đảng phải điều chỉnh chính
sách, luật pháp, cơ chế điều tiết, vừa phải giữ ổn định, vừa thúc đẩy đổi mới; vừa phát triển
kinh tế, vừa bảo đảm công bằng – phân phối – phúc lợi; vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường…
Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải
biến xã hội cũ thành xã hội mới - một xã hội chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Thời kỳ
dân tộc ra phải thay đổi triệt để nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa
hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành
một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc trong điều kiện nước ta là một nước
nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến nên nó là công cuộc biến
đổi sâu sắc nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc, vì vậy, tiến lên 17
chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần.
1.3.2 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đặc điểm quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa thuận lợi vừa khó khăn đan xen với đặc trưng cơ bản:
• Xuất phát từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất
thấp. Đất nước ta phải hứng chịu nặng nề hậu quả từ chiến tranh kéo dài nhiều thập kỷ
cùng với đó là những tàn dư phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm
cách chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập của nhân dân ta.
• Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các nước.
Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh
hưởng tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo ra cơ
hội phát triển nhanh cho các nước vừa tạo ra thách thức gay gắt.
• Thời đại hiện nay vẫn là thời đại quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên xã hội chủ nghĩa.
Các nước với chế độ xã hội chủ nghĩa vừa hợp tác vừa đấu tranh gay gắt vì lợi ích dân tộc.
Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất
đúng, khoa học và phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của Cách mạng Việt Nam
trong thời đại ngày nay. Thêm vào đó, Đảng ta cũng đã xác định rằng, con đường lên đi
lên cùa nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa,
tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư
bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế
độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản
xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Đây là tư tưởng mới, phản ánh nhận thức mới, tư duy
mới của Đảng ta về con đường đi lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tư
tưởng này cần được hiểu đầy đủ với nội dung như sau:
Thứ nhất, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường
cách mạng tất yếu khách quan, con đường xây dựng đất nước trong tời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. 18
Thứ hai, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc
xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa.
Nghĩa là ở thời kỳ này sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và thành phần kinh tế tư nhân tư
bản chủ nghĩa không chiếm vai trò chủ đạo cũng như quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa
không giữ vai trò thống trị.
Thứ ba, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải
tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là
thành tựu về khoa học công nghệ, thành tựu về quản lý xã hội phát triển đặc biệt là xây
dựng nền kinh tế hiện đại, phát triển nhanh về lực lượng sản xuất.
Thứ tư, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là tạo ra sự biến
đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực, là sự nghiệp khó khăn, phức tạp và lâu dài
với nhiều chặng đường nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ đòi hỏi
phải có quyết tâm chính trị cao và khát vọng lớn của toàn Đảng, toàn dân.
1.3.3 Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đấu tranh cải tạo, xóa bỏ tàn tích của chế độ cũ, xây dựng các yếu tố mới phù hợp
với quy luật tiến lên của chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó:
• Về mặt chính trị, phải xây dựng được chế độ dân chủ vì đây là bản chất của chủ
nghĩa xã hội. Muốn xây dựng được chế độ dân chủ, theo Hồ Chí Minh, phải chống tất cả
các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trước hết ở trong Đảng, trong bộ máy chính quyền từ
cấp cơ sở đến Trung ương đồng thời phải bồi dưỡng, giáo dục để nhân dân có tri thức, có
năng lực làm chủ chế độ xã hội. Vào tháng 11 năm 2022, Quốc hội đã ban hành Luật Thực
hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, qua đó mở rộng quyền dân chủ và phát huy
vai trò làm chủ của nhân dân.
• Về mặt kinh tế, trong bối cảnh nền kinh tế của nước ta còn nghèo nàn, kỹ thuật, lạc
hậu, Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ quan trọng nhất của thời kỳ quá độ là phải cải tạo
nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây là
quá trình xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Giữa cải tạo và xây
dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài và luôn phải gắn với việc thực hiện đầy đủ quyền làm
chủ của nhân dân. Trong tiến trình đổi mới đất nước, Việt Nam ta đã thực hiện Chương
trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 với mục tiêu là vừa cải tạo nông nghiệp lạc 19
hậu, vừa đưa tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, góp phần hiện đại hóa nông thôn và
nâng cao đời sống người dân.
• Về mặt văn hoá, phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của
văn hóa đế quốc; đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và
hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ trên thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt
Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng. Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO
công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (2003), thể hiện nỗ lực bảo tồn, phát
huy truyền thống văn hóa dân tộc đồng thời quảng bá với thế giới.
• Về các quan hệ xã hội, phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ đã trở thành thói
quen trong lối sống, nếp sống của con người; xây dựng được một xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh, tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo
đảm cho nó được thỏa mãn để mỗi người có điều kiện cải thiện đời sống riêng của mình,
phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình trong sự hài hòa với đời sống chung,
với lợi ích chung của tập thể. Nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, tháng 11 năm 2006,
Quốc hội đã ban hành Luật Bình đẳng giới năm 2006, tạo cơ sở pháp lý để xóa bỏ bất bình
đẳng giới, bảo đảm phụ nữ có cơ hội bình đẳng với nam giới trong học tập, lao động, chính
trị và đời sống xã hội.
1.3.4 Một số nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ
Nguyên tắc thứ nhất, mọi tư tưởng, hành động phải được thực hiện trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng do Các Mác và
Ph. Ăngghen sáng lập, được V. I. Lênin kế thừa và phát triển trong điều kiện lịch sử mới.
Nó bao gồm ba bộ phận: Triết học, kinh tế chính trị Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa
học. Học thuyết này khẳng định vai trò cách mạng của giai cấp công nhân, hướng tới xã
hội không áp bức, bóc lột. V. I. Lênin đã kế thừa và phát triển học thuyết này, đặc biệt ông
còn vận dụng vào trong việc lãnh đạo cách mạng tháng mười Nga, mở ra thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Qua thực tiễn cách mạng và nghiên cứu lý
luận, đặc biệt là tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ
có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và
những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là kim chỉ nam cho hành động mà còn là nền tảng vững
chắc để dẫn dắt phong trào giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 20