Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ —— —— BÀI THẢO LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA
ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: Ngô Thị Minh Nguyệt Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Lớp học phần : 232_HCMI0111_27 HÀ NỘI – 3/2024
BẢNG ĐÁNH GIÁ THẢO LUẬN NHÓM Lớp: 232_HCMI0111_27 Nhóm: Nhóm 8
Điểm TB nhóm: …………………….... STT HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ ĐÁNH GIÁ 71 Lê Qúy Chỉnh sửa và hoàn thành Hoàn thành Word 72 Nguyễn Phương Thảo
1.1 Quan niệm của Hồ Chí Hoàn thành Minh về con người 73 Nguyễn Thu Thảo
2.1 Sự cần thiết phải đẩy Hoàn thành
mạnh xây dựng con người
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 74 Nguyễn Thị Hồng Thắm
2.2 Quan điểm, chủ trương Hoàn thành tốt
của Đảng về xây dựng con
người trong giai đoạn hiện nay. 75 Hoàng Thị Huyền Thu
Lời mở đầu, kết luận Hoàn thành tốt 76 Đỗ Thu Thủy
1.2 Quan điểm của Hồ Chí (Nhóm trưởng)
Minh về vai trò của con người
1.3 Quan điểm của Hồ Chí
Minh về xây dựng con người
2.1 Sự cần thiết phải đẩy
mạnh xây dựng con người
Việt Nam trong giai đoạn hiện 1 nay -Thuyết trình -Soát nội dung 77 Xa Thị Thu Thùy
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Hoàn thành
Minh về xây dựng con người 78 Nguyễn Thu Thủy Làm PowerPoint Hoàn thành 79 Nguyễn Thị Anh Thư
2.3. Nhiệm vụ, giải pháp xây Hoàn thành tốt
dựng con người Việt Nam,
đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Ngày tháng năm Nhóm trưởng (Ký và ghi rõ họ tên)
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI............................4 2
1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người.....................................................4
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người.................................7
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người.................................10
1.3.1. Ý nghĩa của việc xây dựng con người...............................................10
1.3.2. Nội dung xây dựng con người...........................................................12
1.3.3. Phương pháp xây dựng con người....................................................19
CHƯƠNG II: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY.........................................................................................................................26
2.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng văn hóa. con người Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay .................................................................................................26
2.1.1 Bối cảnh tình hình...............................................................................26
2.1.2. Con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.................................28
2.1.3 Sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng con người Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.....................................................................................................30
2.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn
hiện nay...................................................................................................................32
2.3 Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát
triển trong tình hình mới......................................................................................38
2.3.1. Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển
trong tình hình mới............................................................................................38
2.3.2 Giải pháp xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát
triển trong tình hình mới...................................................................................39
KẾT LUẬN.............................................................................................................42
TÀI LIỆU THAM KHẢO:.....................................................................................43 3 LỜI MỞ ĐẦU
"Cuộc đời Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng chói, những phẩm chất cách
mạng và nhân đạo cao cả nhất... Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt
mà cái chết là mầm mống của sự sống đời đời bất diệt” (Lãnh tụ Cu Ba Fidel Castro).
Có thể thấy, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cống hiến trọn đời cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc mà còn để lại cho thế hệ sau một di sản tinh thần vô cùng quý báu, đó
là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng về con người. Hồ Chí
Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa
nhân văn Hồ Chí Minh. Sinh thời Người cho rằng, mục tiêu của độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội chính là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để đi đến giải phóng con
người. Như vậy, con người vừa là chủ thể cũng vừa là mục tiêu cao nhất của cách mạng
Việt Nam, chính vì thế trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân ngay sau ngày giải phóng
là phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và được học hành. Người căn dặn, chính
sách của Đảng và Chính phủ là hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Người cho
rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư
tưởng xã hội chủ nghĩa”. Kế tục quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương
phải xây dựng và phát triển con người Việt Nam một cách toàn diện. Trong công cuộc
đổi mới đất nước, Đảng ta đã chú trọng phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân
và hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Đồng thời, Đảng ta cũng
chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, trên cơ sở bảo đảm công bằng và bình
đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Mục tiêu là phát huy mọi tiềm năng thế mạnh
của con người để vừa tập trung cao cho phát triển kinh tế, vừa tăng cường quốc phòng, an
ninh, và tạo cơ sở nền tảng vững chắc để bảo vệ thành quả của cách mạng trong điều kiện mới .
Để làm rõ những vấn đề trên, nhóm 8 quyết định chọn đề tài thảo luận “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay”. Chúng
em hi vọng đề tài không chỉ mang đến cái nhìn sâu sắc, toàn diện về tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người mà còn giúp chúng ta nhận thức rõ hơn sự vận dụng tư tưởng ấy của
Đảng ta trong thời đại mới, trong xã hội công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay. 4
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người được biểu hiện đa dạng và vô cùng phong phú, thể
hiện trong từng việc làm, cử chỉ và mối quan tâm của mỗi con người. Tất cả đều toát lên
tình yêu vô hạn, sự tôn trọng, thái độ bao dung và niềm tin tuyệt đối vào con người.
Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta: ngay khi
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi thì “Đầu tiên là công việc đối với con
người”, tức là phải có chính sách xã hội đối với con người.
Hồ Chí Minh đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu những ý kiến của C.Mác về
con người và bản chất con người một cách thấu đáo. C.Mác đã chỉ rõ: “Con người không
phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới, con người chính là thế
giới con người, là Nhà nước, là xã hội”. Khi nói về bản chất con người, C.Mác đã đưa ra
một định nghĩa nổi tiếng: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
những quan hệ xã hội”. Như vậy, bản chất con người không phải là trừu tượng mà là cụ
thể, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là vốn có trong mỗi cá nhân riêng
biệt, cô lập mà là tổng hòa của toàn bộ các mối quan hệ xã hội. Nếu tách con người khỏi
các quan hệ xã hội thì không còn là con người, mà chỉ là một loài sinh vật mang tính bầy
đàn sinh vật chứ không phải là xã hội con người.
Khi nói con người là tổng hòa các mối quan hệ thì trong các mối quan hệ xã hội ấy,
quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối, quyết định các quan hệ xã hội khác, vì nó xác
định con người thuộc các giai cấp khác nhau. Khi nói con người trong xã hội có giai cấp
thì phải nói đến tính giai cấp của nó. Hồ Chí Minh không coi nhẹ quan hệ sản xuất,
nhưng lại không tuyệt đối hóa quan hệ sản xuất, coi quan hệ sản xuất là quan hệ duy nhất
tạo thành bản chất con người. Không ít người đã nhận thức không đúng về vấn đề này, đã
dẫn đến những lệch lạc coi bản chất con người chỉ là bản chất giai cấp, đồng nhất bản
chất con người với bản chất giai cấp, không còn là tổng hòa các quan hệ xã hội như
C.Mác đã chỉ ra. Những lệch lạc này đã dẫn đến hậu quả, hoặc là mơ hồ về mặt giai cấp,
hoặc cứng nhắc về lập trường giai cấp vô sản.
Trong vấn đề con người, điều mà Hồ Chí Minh quan tâm nhất đó là con người Việt
Nam, những quan hệ xã hội trong xã hội Việt Nam, Người đã nêu rõ ý kiến riêng, quan 5
điểm của mình khi tiếp thu những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những ý kiến, quan
điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về con người. Quan điểm của Người về con người và
bản chất của con người đều xuất phát từ thực tiễn, Người đưa ra những quan điểm chủ
yếu về con người rất độc đáo mà rất thiết thực.
Theo Hồ Chí Minh, con người là một chỉnh thể, thống nhất về trí lực, tâm lực, thể
lực, đa dạng bởi mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội (quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã,
quan hệ giai cấp, dân tộc,...) và các mối quan hệ xã hội (quan hệ chính trị, văn hoá, đạo
đức, tôn giáo…). Trong mỗi con người đều có tính tốt và tính xấu. Người giải thích “Chữ
người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em họ hàng, bè bạn; nghĩa rộng là đồng bào cả nước;
rộng hơn nữa là cả loài người”. Con người có tính xã hội, thành viên của một cộng đồng xã hội.
Hồ Chí Minh chỉ ra yếu tố sinh vật của con người. Theo Người, “dân vĩ thực vi
thiên”; “dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Theo
Người, trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phải thực hiện ngay làm
cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành. Tất cả nhu cầu về vật chất và tinh thần đó
được đáp ứng hay không, lại hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ xã hội, vào hình thái kinh tế
- xã hội mà con người đang sống. Người nói: “Người ta ai cũng cần có ăn, có mặc...” vì
đây là những điều thiết yếu để tồn tại. Người vẫn nhớ và thường nhắc lại “Dân vi thực vi
thiên” (dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời). Lại có câu “có thực mới
vực được đạo” (không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả). Từ đó ta thấy việc quan tâm
đến cái ăn, cái mặc, cái ở của nhân dân luôn luôn đặt lên hàng đầu trong quan tâm của Hồ Chí Minh.
Trong thực tiễn, con người có nhiều chiều quan hệ: quan hệ với cộng đồng xã hội (là
một thành viên); quan hệ với một chế độ xã hội (làm chủ hay bị áp bức); quan hệ với tự
nhiên (một bộ phận không tách rời)
Xa lạ với con người trừu tượng, phi nguồn gốc lịch sử, Hồ Chí Minh nhìn nhận con
người lịch sử - cụ thể về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, vị trí, đảng viên, công
dân…, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Nét đặc sắc trong quan niệm của Hồ CHí Minh về con người là nhìn nhận đặc điểm
con người Việt Nam với những điều kiện lịch sử cụ thể, với những cấu trúc kinh tế, xã 6
hội cụ thể. Cách tiếp cận này đi đến việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp rất
sáng tạo, không chỉ về mặt đường lối cách mạng mà cả về mặt con người.
Hồ Chí Minh đã đi đến tổng kết, một dân tộc dù nhỏ bé sẽ không bị một dân tộc lớn
gấp hàng chục lần thôn tính và đồng hóa nếu dân tộc ấy phát huy được sức mạnh con
người với những phẩm chất tinh thần, tư tưởng và văn hóa. Ðối với dân tộc Việt Nam,
con người làm ra lịch sử, nhân dân là chủ thể của lịch sử, là chân lý cụ thể, sinh động đã
được Hồ Chí Minh củng cố và nâng cao thành triết lý nhân sinh. Triết lý nhân sinh này đã
được phát huy và đã được chứng minh hùng hồn trong lịch sử hiện đại của dân tộc. Phải
đương đầu với hai đế quốc to, trong khi lực lượng ta yếu về nhiều mặt, nhưng Hồ Chí
Minh vững tin ở nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng, sẽ biến ít thành nhiều, nhỏ thành
lớn, yếu thành mạnh, tạo được cả thế và lực để giành thắng lợi.
Lòng tin của Hồ Chí Minh vào nhân dân là do thấm nhuần sâu sắc truyền thống lịch
sử dân tộc về phẩm chất của con người Việt Nam: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu
nước. Ðó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm
lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người
1.2.1. Con người là mục tiêu của cách mạng:
Vì sống gần dân, với dân, giữa lòng dân, hiểu rõ dân tình, dân tâm, dân ý, Hồ Chí
Minh thấy rõ yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng con người, giải phóng lao động xã
hội. Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Năm 1911, giữa lúc đất
nước đang bị xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh lầm than. Người ra đi với ý chí "quyết
giải phóng gông ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được cùm nô lệ cho đồng bào”. Người xác định rõ trách
nhiệm của Người cũng là của Đảng và Chính phủ là "làm sao cho nước học hành".
Ở Hồ Chí Minh, có sự cảm nhận, thông cảm sâu sắc với thân phận những người
cùng khổ và nô lệ lầm than. Nhưng không phải là sự cảm thông kiểu tôn giáo; ngược lại,
người có niềm tin vững chắc và trí tuệ, bản lĩnh của con người, ở khả năng tự giải phóng
của chính bản thân con người. Người làm hết sức để xây dựng, rèn luyện con người và
quyết tâm đấu tranh để đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho con người. Người xác định
con người là mục tiêu trong điều kiện cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Khi đất nước 7
còn nô lệ, lầm than thì mục tiêu trước hết trên hết là giải phóng dân tộc. giành độc lập
dân tộc. Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân, thì mục tiêu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành,
chữa bệnh lại được ưu tiên hơn, bởi vì, "nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh
phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Vì vậy chúng ta phải thực hiện ngay:
Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học
hành. Đến Di chúc, Người viết: "Đầu tiên là công việc đối với con người".
Con người là chiến lược đầu tiên trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh.
Mục tiêu này được cụ thể hóa trong 3 giai đoạn cách mạng (giải phóng dân tộc - xây
dựng chế độ dân chủ nhân dân - tiến dần lên xã hội chủ nghĩa) nhằm giải phóng dân tộc,
giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Giải phóng dân tộc là xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, giành lại độc lập cho
dân tộc. Con người trong giải phóng dân tộc là cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Phạm vi
thế giới là giải phóng các dân tộc thuộc địa.
Giải phóng xã hội là đưa xã hội phát triển thành một xã hội không có chế độ người
bóc lột người, một xã hội có nền sản xuất phát triển cao và bền vững, văn hóa tiên tiến,
mọi người là chủ và làm chủ xã hội, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, một xã hội
văn minh, tiến bộ. Xã hội đó phát triển cao nhất là xã hội cộng sản, giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Giải phóng giai cấp là xóa bỏ sự áp bức, bóc lột của giai cấp này đối với giai cấp
khác; xóa bỏ sự bất công, bất bình đẳng xã hội; xóa bỏ nền tảng kinh tế - xã hội đẻ ra sự
bóc lột giai cấp; dần dần thủ tiêu sự khác biệt giai cấp, các điều kiện dẫn đến phân chia
xã hội thành giai cấp và xác lập một xã hội không có giai cấp. Con người trong giải
phóng xã hội là giai cấp cần lao trước hết là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân.
Phạm vi thế giới là giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước.
Giải phóng con người là xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch con người; xóa
bỏ các điều kiện xã hội làm tha hóa con người, làm cho mọi người được hưởng tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên và
làm chủ bản thân, phát triển toàn diện theo đúng bản chất tốt đẹp của con người. Con
người trong giải phóng con người là cá nhân mỗi con người. Phạm vi thế giới là giải phóng loài người. 8
Các “giải phóng” đó kết hợp chặt chẽ với nhau, giải phóng dân tộc đã có một phần
giải phóng xã hội và giải phóng con người; đồng thời nối tiếp nhau, giải phóng dân tộc
mở đường cho giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
1.2.2. Con người là động lực của cách mạng
Theo Người, con người là vốn quý nhất, động lực, nhân tố quyết định thành công
của sự nghiệp cách mạng. Người nhấn mạnh “mọi việc đều do người làm ra”; “trong bầu
trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn
kết của nhân dân.” ( Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.10,tr.453.). “Ý dân là ý trời”. “Dễ
trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng. Nhân dân là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử thông qua các
hoạt động thực tiễn cơ bản nhất như lao động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội, sáng
tạo ra các giá trị văn hóa. Nói đến nhân dân là nói đến lực lượng, trí tuệ, quyền hành,
lòng tốt, niềm tin, đó chính là gốc, động lực cách mạng.
Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả nước, toàn
thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân. Điều này có ý nghĩa to
lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước mới theo
tư tưởng của Hồ Chí Minh lấy công - nông - trí làm nền tảng. Từ thắng lợi của Cách
mạng Tháng Mười phải nhìn nhận và đánh giá đúng giai cấp đứng ở trung tâm của thời
đại mới,đó là giai cấp công nhân. Chỉ có giai cấp công nhân với những đặc điểm chung
và riêng mới lãnh đạo được dân tộc đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản. Muốn vậy giai cấp
công nhân chỉ có liên minh với giai cấp nông dân và gắn bó với dân tộc mới trở thành lực lượng hùng mạnh.
Không phải mọi con người đều trở thành động lực mà phải là những. con người
được giác ngộ và tổ chức. Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi
dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam...
Chính trị, văn hóa, tinh thần là động lực cơ bản trong động lực con người.
Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, có lãnh
đạo. Vì vậy, cần có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Giữa con người - mục tiêu và con người - động lực có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Càng chăm lo cho con người - mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ tạo thành con người - 9
động lực tốt bấy nhiêu. Ngược lại, tăng cường được sức mạnh của con người - động lực
thì sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu cách mạng.
Phải kiên quyết khắc phục kịp thời các phản động lực trong con người và tổ chức.
Đó là chủ nghĩa cá nhân. Thứ vi trùng rất độc này đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: thói quen
truyền thống lạc hậu, tàn tích xã hội cũ để lại, bảo thủ, rụt rè không dám nói. không dám
làm, không dám đề ra ý kiến, tóm lại không dám đổi mới và sáng tạo.
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người
1.3.1. Ý nghĩa của việc xây dựng con người
Xây dựng con người là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa cấp
bách vừa lâu dài, có ý nghĩa chiến lược. Xây dựng con người là một trọng tâm, bộ phận
hợp thành của chiến lược phát triển đất nước, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây
dựng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hồ Chí Minh nêu hai quan điểm nổi bật làm sáng
tỏ sự cần thiết xây dựng con người.
Vì lợi ích trăm năm thì phải “trồng người”. “Trồng người” là công việc lâu dài,
gian khổ, vừa vì lợi ích trước mắt vừa vì lợi ích lâu dài, là công việc của văn hóa giáo
dục. “Trồng người” là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng, vừa đáp ứng yêu cầu trước
mắt, vừa chuẩn bị cho tương lai. Đó là một sự nghiệp to lớn đòi hỏi vừa phải có chiến
lược cơ bản, lâu dài, vừa phải có chính sách và kế hoạch toàn diện, cụ thể, khoa học, gắn
với chiến lược và chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng thời kỳ, từng
giai đoạn cách mạng. Hồ Chí Minh căn dặn: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định
rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng ngôi nhà như thế nào rồi mới dùng gạch, vữa,
vôi cát, tre gỗ,... mà xây nên". Và đó là công việc của giáo dục, khi con người sinh ra lớn
lên mà không được nuôi nấng đầy đủ, không có sự giáo dục của gia đình và xã hội sẽ
mang phần “con” nhiều hơn phần “người”, không thể trở thành con người xã hội chủ
nghĩa. Giáo dục sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tươi sáng cho thế hệ tương lai của đất nước.
Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện về cả đức, trí, thể, mỹ, phải đặt đạo
đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Hai mặt
đức, tài thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó đức là gốc, tài là nền tảng cho
khả năng phát triển. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô
dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Việc giáo dục cần phải xây dựng 10
thống nhất giữa đức và tài. Giáo dục phải có sự kết hợp giữa gia đình - nhà trường và xã hội.
“Trồng người” phải được tiến hành thường xuyên trong suốt tiến trình đi lên chủ
nghĩa xã hội và phải đạt được những kết quả cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng. Bởi
vì, nếu sao nhãng việc trồng người, nhất định sẽ dẫn đến những bất cập, hơn nữa còn là
những suy thoái về con người có thể gây những hậu quả khôn lường. R.Tagore nói: “Một
ngày mà quên giáo hoá, ta lùi gần về thú tính hơn". “Trồng người” là công việc “trăm
năm”, không thể nóng vội “ một sớm một chiều”, không phải làm một lúc là xong, cũng
không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó. Nhận thức và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa
thường trực, bền bỉ trong cuộc đời mỗi con người, trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng: “Việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải
học". Nhiệm vụ “trồng người” phải được tiến hành song song với nhiệm vụ phát triển lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. “Trồng người” phải được tiến hành
bền bỉ, thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người, với ý nghĩa vừa là quyền lợi vừa là
trách nhiệm của cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Công việc “trồng người”
là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội kết hợp với tính tích
cực, chủ động của từng người.
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội
chủ nghĩa". Người viết: "Xây dựng CNXH là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên,
làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được
ấm no hạnh phúc”. CNXH là một xã hội mới mang bản chất tốt đẹp có khả năng giải
phóng con người triệt để nhất, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện cá nhân.
CNXH là một chế độ không có người bóc lột người, là một chế độ quan tâm đến lợi ích
thiết thực nhất của con người, nhân dân lao động là người chủ của xã hội mới. Hồ Chí
Minh nêu rõ: "CNXH là xã hội ngày càng tiến tới vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày
càng tốt". Sáng tạo lớn của Người là đề ra mục tiêu trước mắt của CNXH một cách thiết
thực, cụ thể đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của nhân dân. Một khi tất cả các giá trị đó đã
đạt được thì loài người sẽ vươn tới lý tưởng cao nhất, đó là “liên hiệp tự do của những
người lao động” mà C.Mác và Ph.Ăng ghen đã dự báo. Ở đó, cá tính con người được phát
triển đầy đủ, năng lực con người được phát huy cao nhất. Và sau đó chính những con
người xã hội chủ nghĩa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh có lòng
thương yêu nhân dân gắn liền với lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh, tính chủ động sáng 11
tạo của nhân dân và lòng tôn trọng, kính trọng nhân dân. Người khái quát: "Trong bầu
trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của nhân dân”. Một nội dung rất quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là
phải chăm lo bồi dưỡng, sử dụng, phát động sức mạnh của con người, của nhân dân. Với
Bác “con người là vốn quý nhất, là lực lượng to lớn nhất”, “dân làm chủ”. Bao nhiêu lợi
ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách
nhiệm của dân. Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Trong công cuộc kháng
chiến phải “động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước
cũng phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại
của toàn dân”. Có thể nói, con người XHCN là con người phát triển toàn diện, hoàn toàn
đi đến không có chủ nghĩa cá nhân.
Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa, con người xã hội
chủ nghĩa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không phải chờ cho kinh tế, văn hóa
phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; cũng không phải xây dựng
xong những con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây
dựng con người xã hội chủ nghĩa được đặt ra ngay từ đầu và phải được quan tâm trong
suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Trước hết cần phải có những con người xã hội
chủ nghĩa” cần được hiểu trước hết cần có những con người với những nét tiêu biểu của
xã hội xã hội chủ nghĩa như lý tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong xã hội chủ nghĩa. Đó
là những con người đi trước, làm gương lôi cuốn người khác theo con đường xã hội chủ
nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong bất cứ phong trào cách mạng nào, tiên tiến là số ít và
số đông là trung gian, muốn củng cố và mở rộng phong trào, cần phải nâng cao hơn nữa
trình độ giác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến”.
1.3.2. Nội dung xây dựng con người
Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Đó là những con người có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
những con người của chủ nghĩa xã hội, có tư tưởng, tác phong và đạo đức xã hội chủ
nghĩa và năng lực làm chủ. Xây dựng con người toàn diện với những khía cạnh chủ yếu sau:
1.3.2.1. Có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng “mình vì mọi
người, mọi người vì mình” 12
Luận điểm này được Người lý giải như sau: Nhà nước ta ngày nay là của tất cả
những người lao động. Vậy công nhân, nông dân, trí thức cách mạng cần nhận rõ ràng:
Hiện nay nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta, chứ không phải là những
người làm thuê cho giai cấp bóc lột như thời cũ nữa. Chúng ta có quyền và có đủ điều
kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình. Nhân dân lao động là
những người chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ. Bởi vậy mọi người đều phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “mình vì
mọi người, mọi người vì mình”. “Muốn xây dựng XHCN phải có tinh thần XHCN, muốn
có tinh thần XHCN phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong bài nói chuyện với sinh viên đại học vào tháng 6-1959. Nghĩa là con người
cần nhận thức về vai trò, vị trí và trách nhiệm của bản thân trong việc làm chủ đất nước,
làm chủ cuộc sống của mình, mỗi người cần hiểu rằng mình là một phần của xã hội, có
quyền và nghĩa vụ tham gia vào các hoạt động chung, góp phần xây dựng đất nước ngày
càng phát triển; là tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau giữa các cá nhân trong
xã hội, mọi người cùng chung mục tiêu, cùng nhau chia sẻ lợi ích và khó khăn, cùng nhau
phấn đấu vì lợi ích chung của cộng đồng; là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích tập thể, mỗi người cần biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, đồng thời cũng
cần được hưởng lợi từ sự phát triển chung của cộng đồng. Ba yếu tố trên có mối liên hệ
mật thiết với nhau. Ý thức làm chủ là nền tảng để hình thành tinh thần tập thể và tư tưởng
“mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Khi mỗi người có ý thức làm chủ, họ sẽ tự giác
tham gia vào các hoạt động chung, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng xã
hội ngày càng tốt đẹp.
Đối với các bộ và Đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phải gạt bỏ những
thái độ sai lầm như: Thỏa mãn với thành tích bước đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh
nghiệm đã có, có ít nhiều tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng, hoài nghi những
sáng kiến bình thường của quần chúng; lười biếng, không tích cực học tập cái mới,...
Chúng ta phải làm đúng lời dạy của Lênin vĩ đại: Giữ gìn sự thống nhất của Đảng như
con ngươi của mắt mình. Phải hết lòng tôn trọng tập thể, phát huy dân chủ nội bộ; tuyệt
đối không được độc đoán cá nhân, tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng
ngoài kỷ luật. Càng có công lao, càng phải khiêm tốn. Chớ vì có ít nhiều công lao mà
sinh bệnh công thần, kèn cựa, địa vị. Phải nhớ rằng: Mọi thành công là do sức phẩn đầu,
hy sinh của toàn Đảng, toàn dân, không phải của một cá nhân anh hùng nào. Sức mạnh 13
vô địch của Đảng là ở tỉnh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chính của cán bộ
và Đảng viên. Cán bộ và Đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và
trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật
sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt "quan cách
mạng" ra lệnh, ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng,
thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động
quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật
thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi
quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn
luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải "chí công vô tư" và có tinh thần "lo
trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Đó là đạo đức của người cộng sản. Trái lại, đối với kẻ
địch, người cộng sản phải luôn luôn tỉnh táo, giữ vững lập trường, quyết không được vì
hoàn cảnh hòa bình mà mất cảnh giác; phải luôn luôn sẵn sàng đập tan mọi âm mưu độc
ác của kẻ địch, bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ lao động hòa bình của nhân
dân. Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong là chủ nghĩa cá nhân.
1.3.2.2. Cần kiệm xây dựng đất nước, hăng hái bảo vệ Tổ quốc
Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo năng suất cao;
lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ý lại, không dựa dẫm
vào người khác. Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của
nhân dân, của đất nước, của bản thân mình "Không xa xỉ, không hoang phí, không bừa
bãi". Cần kiệm bao giờ cũng là hai yếu tố không thể tách rời, Hồ Chủ tịch lý giải: Nước
ta còn nghèo. Muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động.
Phải cố gắng sản xuất bởi lẽ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh
phúc của chúng ta. Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ có những kẻ lười
biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ, Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư
nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau. Ai sợ khó, sợ khổ, muốn “ngồi mát
ăn bát vàng", người đó mới là kém vì không phải là người XHCN. Mỗi thứ của cải chúng
ta làm ra phải tốn bao nhiêu mồ hôi và sức lao động. Chúng ta chỉ có thể xây dựng
CNXH bằng cách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm
thì khác nào gió vào nhà trống. Cho nên phải biết giữ gìn của công. Tham ô, lãng phí tài
sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp, mà ai cũng phải thù 14
ghét, phải trừ bỏ. Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết
lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân ta.
Cán bộ và Đảng viên cần phải nâng cao tinh thần phụ trách, nêu gương “cần kiệm
liêm chính", không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân; phải
chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh là nguồn gốc sinh ra tham ô, lãng phí. Trong mọi công
việc phải tính toán, cân nhắc cẩn thận. "Thì giờ là vàng bạc". Phải kiên quyết chống thói
hội họp lu bù, mất thì giờ, hại sức khỏe mà không kết quả thiết thực. Quá trình xây dựng
đất nước bao giờ cũng đi đôi với bảo vệ tổ quốc, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tổ
quốc xã hội chủ nghĩa cũng là phương châm lãnh đạo của Đảng ta. Có thể thấy bảo vệ Tổ
quốc là một tất yếu khách quan trong sự phát triển lịch sử của đất nước.
1.3.2.3. Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế trong sáng
Xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước, trong bối cảnh đất nước ta thường
xuyên phải đấu tranh chống lại những kẻ xâm lược ỷ cậy về quân sự, kinh tế, thì tinh thần
yêu nước luôn là nhân tố quan trọng kết thành sức mạnh vô địch - đại đoàn kết - để dân
tộc Việt Nam giành chiến thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã phát hiện và
tổng kết sức mạnh đó. Trong tác phẩm “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” Người đã
khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của
ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành
một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi
người dân Việt Nam chính là nền tảng, cơ sở để Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập hợp
lực lượng, tạo thành sức mạnh tổng hợp của một dân tộc. Và từ đó, cho dù đất không
rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quân sự của nước ta không lớn, song nhờ có
tinh thần đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã thoát khỏi ách nô
lệ thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do; tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Khi nước nhà đã giành được độc lập, nhưng hiểm nguy từ nạn "giặc đói, giặc dốt
và giặc ngoại xâm" vẫn luôn đe dọa nền độc lập, tự do mà nhân dân ta đã giành được sau
hơn 80 năm trời nô lệ, Chính vì vậy, Bác đã nhấn mạnh rằng: “ Chúng ta phải làm cho
dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc 15
xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”; đồng thời khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi
người dân, mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội. Trong bức thư gửi cho các cụ phụ lão, Bác
đã viết: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không’’; cho
các em nhỏ: ‘‘Các em phải thương yêu nước ta’ (Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung
thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa); cho một Việt kiều: ‘‘Tôi vẫn nghe
ông là người yêu nước thương nòi, vậy dịp này rất thuận tiện cho ông tỏ lòng trung thành
với Tổ quốc’’ (Tháng 9/1945). Thêm vào đó, Bác còn thể hiện lòng bao dung, vị tha với
những người trót lầm đường, lạc lối: ‘’Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi
nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ họ phải tự nghe…’’ để quy tụ, tập hợp và phát huy sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở của lòng yêu nước chân chính, tiến
hành sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
Ngày nay, đất nước ta vẫn đang trong quá trình đổi mới và hội nhập sâu rộng.
Hơn bao giờ hết, lòng yêu nước, lòng yêu nước, tinh thần quốc tế trong sáng đã gắn liền
với trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Càng khó khăn, thử thách thì truyền thống yêu nước, tinh thần quốc tế trong sáng của mỗi
người dân Việt Nam được hun đúc từ bao đời đã trở thành sức mạnh Việt Nam để luôn
chủ động, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
1.2.3.4. Có phương pháp làm việc khoa học, phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương
Không thể phủ nhận rằng tư tưởng, đạo đức và phong cách, phương pháp làm việc
khoa học theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá cho Đảng và
dân tộc ta, có giá trị định hướng quan trong trong bồi dưỡn và xây dựng phương pháp
làm việc đối với đội ngũ cán bộ hiện nay, đáp ứng nhiệm vụ trong điều kiện mới. Theo
Bác, cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ cần phải có phương pháp làm việc khoa học;
việc lớn hay việc nhỏ đều phải được xem xét, nghiên cứu tỉ mỉ, chính xác, xây dựng
chương trình, nội dung, kế hoạch, biện pháp sát thực và tổ chức hoạt động thực tiễn một
cách khoa học. Người yêu cầu mục đích, kế hoạch trong công việc phải cụ thể, sát công
việc phải rõ, như “người bắn cung phải hướng đích”. Kế hoạch làm việc phải cụ thể, sát
thực, có trọng tâm, trọng điểm, không chung chung, dàn trải và phải có sự phân công 16
trách nhiệm cụ thể. Người nhấn mạnh: “Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân
công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan
trọng”. Những quan điểm trên đã tạo nên những giá trị đặc sắc về phương pháp luận
trong hoạt động thực tiễn, đó là tính mục đích, tính sát thực, khoa học của chương trình,
kế hoạch và thực hành sáng tạo, làm đến nơi đến chốn trong thực hiện các nhiệm vụ.
Theo Người, làm việc khoa học là phải giờ nào, việc ấy, chấp hành đúng giờ giấc, biết
tôn trọng thời giờ của người khác, tránh lối làm việc tùy tiện, “được chăng hay chớ”, “bạ
đâu hay đó". Phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được biểu
hiện ở chỗ: Khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, đều phải tiến hành
tổng kết, rút kinh nghiệm để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, thực hiện các nhiệm vụ được tốt hơn.
Phong cách quần chúng, phong cách dân chủ và phong cách nêu gương trong tư
tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện xuyên suốt mọi hành
động trong cả cuộc đời cách mạng, phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân của vị lãnh
tụ vĩ đại kính yêu của cách mạng và của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng chi phối đạo đức,
tác phong, phong cách; tác phong, phong cách là sự thể hiện, cụ thể hóa tư tưởng, đạo
đức. Sinh thời, Bác Hồ là tấm gương thể hiện sinh động các mặt đó và luôn giáo dục cán
bộ những nội dung đó. Do vậy, cần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tác phong, phong
cách Bác Hồ cùng với học tập và làm theo tư tưởng và đạo đức của Bác. Phong cách
quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn có lòng tin vô tận đối với quần chúng. Người
luôn luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ với quần chúng, coi đó là nguồn sức mạnh tạo
nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ
Chí Minh thể hiện bằng phong cách hiểu sâu, sát gần quần chúng, vì lợi ích của quần
chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, của những người
chiến sĩ cộng sản suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
và giải phóng con người.
Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng
nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và
hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung
dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. 17
Trước hết theo Hồ Chí Minh, mọi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn
trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời tinh thần ấy
cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người. Hồ Chí Minh không bao giờ đặt
mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, mà luôn luôn tranh thủ
bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội, khi cần thiết,
triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt - một hình thức Diên Hồng của thời đại mới - để
xin ý kiến các đại biểu quốc dân. Người yêu cầu lắng nghe ý kiến của đảng viên, của
nhân dân, của những người “không quan trọng”. Muốn thế, người lãnh đạo phải đề cao,
mở rộng dân chủ, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong các cơ quan đại biểu của dân.
Người năng đi xuống cơ sở, để lắng nghe ý kiến của cấp dưới và của quần chúng, chứ
không phải để huấn thị. “Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình,
thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì
nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Do đó, theo Người, phải biết động viên, khuyến
khích “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là phải làm cho cấp dưới
không sợ nói sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật.
Theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc
từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công,
vô tư, nói phải đi đôi với làm. Trước hết cần nêu gương trên ba mối quan hệ đối với
mình, đối với người, đối vối việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu
ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều
dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày; đối với người, luôn giữ
thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ
lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để
việc công lên trên, lên trước việc tư). Thứ hai, muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi
với làm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo, ở
Người đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu
gương đạo đức, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và đời tư, giữa đạo đức vĩ nhân và
đạo đức đời thường. Thứ ba, để giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, Người chủ
trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong
những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con
người mới, cuộc sống mới”. Trong gia đình, cha mẹ có thể là tấm gương cho các con, anh 18
chị là tấm gương đối với các em; trong nhà trường, thầy giáo, cô giáo là tấm gương cho
học trò; trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này
có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hằng ngày, người cán bộ, đảng viên
chẳng những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong
sáng, mà còn phải là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều
thiện, chống lại thói hư, tật xấu.
1.3.3. Phương pháp xây dựng con người
1.3.3.1. Mỗi người tự rèn luyện, tu dưỡng ý thức, kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ chế,
tính khoa học của bộ máy và tạo dựng nền dân chủ.
Trước hết, tự rèn luyện và tu dưỡng ý thức là một quá trình cá nhân mà mỗi người
cần tiếp tục phát triển. Điều này đòi hỏi sự tập trung vào việc nâng cao nhận thức và hiểu
biết về các giá trị cơ bản như tự do, công bằng và đoàn kết xã hội. Bằng cách rèn luyện
và tu dưỡng ý thức, mỗi người có thể nhận thức rõ ràng về quyền và trách nhiệm cá nhân
trong việc xây dựng và bảo vệ nền dân chủ. Đồng thời, ý thức cao cũng giúp mỗi người
nhìn nhận và đối xử với nhau một cách công bằng và đồng lòng, tạo dựng một môi
trường hòa bình và hài hòa.
Kết hợp chặt chẽ với việc rèn luyện ý thức, xây dựng cơ chế và tính khoa học của bộ
máy là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong hệ thống chính trị
và quản lý. Cơ chế và tính khoa học giúp định rõ quy tắc, quy trình và cơ chế kiểm soát
để đảm bảo quyền lợi và tự do của mọi cá nhân trong xã hội. Bằng cách áp dụng cơ chế
và tính khoa học, chúng ta có thể giảm thiểu sự thiên vị, tham nhũng và bất công, đồng
thời tạo ra một môi trường công bằng và đáng tin cậy cho toàn bộ cộng đồng. Việc xây
dựng và duy trì cơ chế này là một quá trình liên tục và đòi hỏi sự tham gia và đóng góp
của tất cả các thành viên trong xã hội.
Tạo dựng nền dân chủ là mục tiêu cuối cùng của quá trình này. Nền dân chủ đòi hỏi
sự tham gia và đóng góp của tất cả các thành viên trong xã hội. Mỗi người cần có quyền
tham gia vào quyết định chung và có giọng nói trong việc xác định chính sách và quyết
định quan trọng. Điều này đòi hỏi sự tôn trọng quan điểm đa dạng, sự công bằng trong
quyết định và sự đảm bảo quyền lợi của tất cả mọi người. Tạo dựng nền dân chủ không
chỉ tạo ra sự tự do và công bằng, mà còn tạo dựng một xã hội ổn định và phát triển bền vững. 19