Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN:
Học phần Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Đề tài 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng của
Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
Giáo viên hướng dẫn:
Ngô Thị Minh Nguyệt
Nhóm thực hiện : 06
Mã lớp học phần : 232_HCMI0111_27
Hà Nội, ngày 13, tháng 3, 2024 DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1 Họ tên Mã sinh viên Nhiệm vụ Nhận xét Lý Nhật Linh 22D150094 Nhóm trưởng, ND 2.3 Tích cực Ngô Diệu Linh 22D130121 ND 1.3, Mở đầu Tích cực Nguyễn Đỗ Phương Linh 22D130123 ND 2.1 Tích cực Nguyễn Thị Diệu Linh 22D130127 Thuyết trình Tích cực Nguyễn Thị Phương Linh
22D130128 ND 2.2, Kết luận Tích cực Trần Thị Thùy Linh 22D130132 PowerPoint Tích cực Vũ Thị Thùy Linh 22D260066 ND 1.1, 1.2 Tích cực Nguyễn Thị Hồng L y 22D130136 Word Tích cực Nguyễn Xuân Mai 22D130140 PowerPoint Tích cực Giang Quang Mạnh 22D130141 Thuyết trình Tích cực 2 MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................5
II. NỘI DUNG:.................................................................................................................7
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người:.....................................................................7
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người:.....................................................7
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người...................................8
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người:....................................9
1.3.1. Ý nghĩa của việc xây dựng con người:...................................................................9
1.3.2. Nội dung xây dựng con người:...............................................................................10
1.3.3. Phương pháp xây dựng con người........................................................................14
2. Sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay:............................................15
2.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay:...................................................................................................................15
2.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn
hiện nay:...................................................................................................................18
2.2.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay. .18
2.2.2. Chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay.20
2.3. Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát
triển trong tình hình mới:.......................................................................................26
2.3.1. Nhiệm vụ:.......................................................................................................................26
2.3.2. Giải pháp:......................................................................................................................30
III. KẾT LUẬN:.............................................................................................................33 3
Tài Liệu Tham Khảo......................................................................................................35 4 I. LỜI MỞ ĐẦU
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn chủ nghĩa Cộng sản thực
hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển
hết khả năng của mình”. Đó chính là mục tiêu mà chủ nghĩa xã hội hướng tới: giải
phóng con người nhằm phát triển mọi tiềm năng, giá trị nhân cách của con người.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm
1991, Đảng ta đã xác định: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là
một xã hội con người được giải phóng, nhân dân lao động làm chủ đất nước; có nền
kinh tế phát triển cao và nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; mọi người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân; công
bằng xã hội và dân chủ được bảo đảm.
Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh và của Đảng ta không phải là
con người trừu tượng mà là những cá nhân, những tập thể, những tầng lớp người cụ
thể. Vì hạnh phúc của mỗi người “dân” của “đồng bào” và của cả dân tộc Việt Nam
là mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay trong
thời kỳ cách mạng giành độc lập cho dân tộc, Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi chỉ có một
sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng xây dựng con người Việt Nam một cách
toàn diện, Người luôn đặt lên hàng đầu mặt tư tưởng, đạo đức, lối sống. Do nhận thức
được tầm quan trọng của vấn đề giáo dục con người, chúng em đã chọn đề tài "Phân
tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn
hiện nay” nhằm làm rõ hơn luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do thời gian và
khả năng còn hạn hẹp nên không tránh khỏi thiếu sót kính mong cô góp ý và bổ sung 5
để bài làm của nhóm em được tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt
tình của cô đã giúp nhóm em hoàn thành bài thảo luận này. 6 II. NỘI DUNG:
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người:
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người:
Theo Hồ Chí Minh, con người là một chỉnh thể, thống nhất về trí lực, tâm lực, thể
lực, đa dạng bởi mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội (quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã,
quan hệ giai cấp, dân tộc...) và các mối quan hệ xã hội (quan hệ chính trị, văn hóa, đạo
đức, tôn giáo...). Trong mỗi con người đều có tính tốt và tính xấu. Người giải thích “chữ
người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bè bạn; nghĩa rộng là đồng bào cả nước;
rộng hơn nữa là cả loài người”. Con người có tính xã hội, là con người xã hội, thành viên
của một cộng đồng xã hội.
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra yếu tố sinh vật của con người. Theo Người, “dân dĩ thực
vi thiên”; “dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Theo
Người, trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phải thực hiện ngay làm
cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành.
Trong thực tiễn, con người có nhiều chiều quan hệ: quan hệ với cộng đồng xã hội
(là một thành viên); quan hệ với một chế độ xã hội (làm chủ hay bị áp bức); quan hệ với
tự nhiên (một bộ phận không tách rời).
Xa lạ với con người trừu tượng, phi nguồn gốc lịch sử, Hồ Chí Minh nhìn nhận
con người lịch sử - cụ thể về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, vị trí, đảng viên,
công dân..., trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Nét đặc sắc trong quan niệm của Hồ Chí Minh về con người là nhìn nhận đặc điểm
con người Việt Nam với những điều kiện lịch sử cụ thể, với những cấu trúc kinh tế, xã
hội cụ thể. Cách tiếp cận này đi đến việc giải quyết mối hệ dân tộc và giai cấp rất sáng
tạo, không chỉ về mặt đường lối cách mạng mà cả về mặt con người. 7
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người.
Con người là mục tiêu của cách mạng. Con người là chiến lược đầu tiên trong tư
tưởng và hành động của Hồ Chí Minh. Mục tiêu này được cụ thể hóa trong ba giai đoạn
cách mạng (giải phóng dân tộc - xây dựng chế độ dân chủ nhân dân - tiến dần lên xã hội
chủ nghĩa) nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Giải phóng dân tộc là xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, giành lại
độc lập cho dân tộc. Con người trong giải phóng dân tộc là cả cộng đồng dân tộc
Việt Nam. Phạm vi thế giới là giải phóng các dân tộc thuộc địa.
Giải phóng xã hội là đưa xã hội phát triển thành một xã hội không có chế
độ người bóc lột người, một xã hội có nền sản xuất phát triển cao và bền vững, văn
hóa tiên tiến, mọi người là chủ và làm chủ xã hội, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, một xã hội văn minh, tiến bộ. Xã hội đó phát triển cao nhất là xã hội cộng
sản, giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Giải phóng giai cấp là xóa bỏ sự áp bức, bóc lột của giai cấp này đối với
giai cấp khác; xóa bỏ sự bất công, bất bình đẳng xã hội; xóa bỏ nền tảng kinh tế -
xã hội đẻ ra sự bóc lột giai cấp; dần dần thủ tiêu sự khác biệt giai cấp, các điều
kiện dẫn đến sự phân chia xã hội thành giai cấp và xác lập một xã hội không có
giai cấp. Con người trong giải phóng xã hội là các giai cấp cần lao, trước hết là
giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Phạm vi thế giới là giải phóng giai cấp
vô sản và nhân dân lao động các nước.
Giải phóng con người là xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch con
người; xóa bỏ các điều kiện xã hội làm tha hóa con người, làm cho mọi người
được hưởng tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo, làm chủ xã
hội, làm chủ tự nhiên và làm chủ bản thân, phát triển toàn diện theo đúng bản chất
tốt đẹp của con người. Con người trong giải phóng con người là cá nhân mỗi con
người. Phạm vi thế giới là giải phóng loài người. 8
Các “giải phóng” đó kết hợp chặt chẽ với nhau, giải phóng dân tộc đã có
một phần giải phóng xã hội và giải phóng con người; đồng thời nối tiếp nhau, giải
phóng dân tộc mở đường cho giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Con người là động lực của cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, con người là vốn quý
nhất, động lực, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Người nhấn
mạnh “mọi việc đều do người làm ra”; “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân” “Ý dân là ý trời”.
“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng. Nhân dân là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử thông
qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất như lao động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã
hội, sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Nói đến nhân dân là nói đến lực lượng, trí tuệ, quyền
hành, lòng tốt, niềm tin, đó chính là gốc, động lực cách mạng.
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người:
1.3.1. Ý nghĩa của việc xây dựng con người:
Xây dựng con người là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa cấp
bách vừa lâu dài, có ý nghĩa chiến lược. Xây dựng con người là một trọng tâm, bộ phận
hợp thành của chiến lược phát triển đất nước, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây
dựng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hồ Chí Minh nêu hai quan điểm nổi bật làm sáng
tỏ sự cần thiết xây dựng con người. “Vì lợi ích trăm năm thì phải “trồng người”. “Trồng
người” là công việc lâu dài, gian khổ, vừa vì lợi ích trước mắt vừa vì lợi ích lâu dài, là
công việc của văn hóa giáo dục.
"Trồng người” phải được tiến hành thường xuyên trong suốt tiến trình đi lên chủ
nghĩa xã hội và phải đạt được những kết quả cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng.
Nhiệm vụ “trồng người” phải được tiến hành song song với nhiệm vụ phát triển lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. "Trồng người” phải được tiến hành bền bỉ,
thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người, với ý nghĩa vừa là quyền lợi vừa là trách 9
nhiệm của cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Công việc “trồng người” là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội kết hợp với tính tích cực,
chủ động của từng người.
Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội
chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa, con người xã
hội chủ nghĩa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không phải chờ cho kinh tế, văn
hóa phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; cũng không phải xây
dựng xong những con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc
xây dựng con người xã hội chủ nghĩa được đặt ra ngay từ đầu và phải được quan tâm
trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Trước hết cần phải có những con người
xã hội chủ nghĩa” cần được hiểu trước hết cần có những con người với những nét tiêu
biểu của xã hội xã hội chủ nghĩa như lý tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong xã hội chủ
nghĩa. Đó là những con người đi trước, làm gương lôi cuốn người khác theo con đường
xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trong bất cứ phong trào cách mạng nào, tiên tiến
là số ít và số đông là trung gian, muốn củng cố và mở rộng phong trào, cần phải nâng cao
hơn nữa trình độ giác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến".
1.3.2. Nội dung xây dựng con người:
Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa "chuyên".
Đó là những con người có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
những con người của chủ nghĩa xã hội, có tư tưởng, tác phong và đạo đức xã hội chủ
nghĩa và năng lực làm chủ. Xây dựng con người toàn diện với những khía cạnh chủ yếu sau:
Có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng “mình vì mọi
người, mọi người vì mình”:
Luận điểm này được Người lý giải như sau: Nhà nước ta ngày nay là của tất
cả những người lao động. Vậy công nhân, nông dân, trí thức cách mạng cần nhận
rõ rằng: Hiện nay nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta, chứ 10
không phải là những người làm thuê cho giai cấp bóc lột như thời cũ nữa. Chúng
ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc
cho mình. Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của tất cả những của cải
vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Bởi vậy mọi người
đều phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.
Người thẳng thừng phê phán: Chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do
vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa
xã hội. Từ đó kết luận hết sức cụ thể về vai trò trách nhiệm của từng cá nhân: Đã
là người chủ Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà. Người
công nhân phải yêu quý máy móc như yêu quý con mình, người nông dân phải yêu
quý trâu bò của hợp tác xã như bản thân của mình. Mọi người phải biết giữ gìn của
công, phải chăm lo việc tập thể như chăm lo việc gia đình. Đã là người chủ thì
phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Mỗi người phải
ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà. Chớ nên “ăn cỗ đi trước, lội nước
đi sau”. Ai cũng phải là một chiến sĩ dũng cảm phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vai trò nêu gương của người cán bộ đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: Cán bộ và đảng viên phải gạt bỏ những thái độ sai lầm như: Thỏa mãn
với thành tích bước đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh nghiệm đã có, có ít nhiều
tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng, hoài nghi những sáng kiến bình
thường của quần chúng; lười biếng, không tích cực học tập cái mới...Chúng ta phải
làm đúng lời dạy của Lênin vĩ đại: Giữ gìn sự thống nhất của Đảng như con ngươi
của mắt mình. Phải hết lòng tôn trọng tập thể, phát huy dân chủ nội bộ; tuyệt đối
không được độc đoán cá nhân, tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình
đứng ngoài kỷ luật. Càng có công lao, càng phải khiêm tốn. Chớ vì có ít nhiều
công lao mà sinh bệnh công thần, kèn cựa, địa vị. Phải nhớ rằng: Mọi thành công
là do sức phấn đấu, hy sinh của toàn Đảng, toàn dân, không phải của một cá nhân
anh hùng nào. Đối với Đảng, đối với nhân dân, chúng ta có một nghĩa vụ vẻ vang
là: Suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tụy của nhân 11
dân. Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức
nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên. Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao
tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ
nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân
dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Phải nắm
vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần
chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến
hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà, ngay
thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi
quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan.
Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư”, và có
tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản.
Trái lại, đối với kẻ địch, người cộng sản phải luôn luôn tỉnh táo, giữ vững lập
trường, quyết không được vì hoàn cảnh hòa bình mà mất cảnh giác; phải luôn luôn
sẵn sàng đập tan mọi âm mưu độc ác của kẻ địch, bảo vệ những thành quả cách
mạng, bảo vệ lao động hòa bình của nhân dân. Muốn đánh thắng kẻ địch bên
ngoài, thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong là chủ nghĩa cá nhân.
Cần kiệm xây dựng đất nước, hăng hái bảo vệ Tổ quốc:
Theo Hồ Chí Minh, dưới chế độ mới - chế độ Dân chủ nhân dân, mọi công
dân phải có tinh thần làm chủ đất nước, phải khắc phục tư tưởng làm thuê, làm
mướn dưới chế độ thuộc địa, nửa phong kiến và phải chống chủ nghĩa cá nhân.
Phải không ngừng phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, nhất là cán bộ, đảng
viên nêu cao tinh thần mình vì mọi người, mọi người vì mình, đề cao trách nhiệm,
khắc phục mọi khó khăn, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, học tập, công
tác và thực hành tiết kiệm, thật sự là người chủ xây dựng đất nước.
Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng gay gắt; sự
tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, lời dạy trên của Hồ Chí Minh 12
càng có ý nghĩa thực tiễn to lớn; bởi, chỉ có đề cao tinh thần tự lực, tự cường, làm
chủ mới có sự sáng tạo và chỉ có sáng tạo mới tạo ra những giá trị mới đáp ứng
cho sự phát triển bền vững và bảo đảm cho thắng lợi trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Lời Bác Hồ dạy, có ý nghĩa quan trọng, thiết thực đối với sự nghiệp xây
dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bảo
đảm cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành,
tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong bất luận mọi
điều kiện, hoàn cảnh phải tuyệt đối trung thành và sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì
mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; ra sức học tập
nâng cao trình độ mọi mặt; tích cực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, bảo
quản, giữ gìn, khai thác và phát huy tốt nhất sức mạnh của vũ khí, trang bị; thực
hành cần, kiệm, liêm, chính; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực, tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thờ ơ, ngại rèn luyện, kém phấn
đấu; nêu cao tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
được giao, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững
mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế trong sáng:
Theo Người, tinh thần yêu nước phải gắn với tinh thần quốc tế trong sáng,
chân chính. Nếu chỉ có yêu nước mà không có tinh thần quốc tế trong sáng thì sẽ
dẫn đến kỳ thị dân tộc, chủng tộc, nước lớn và dân tộc hẹp hòi. Hiện nay, trong
điều kiện “mở cửa” giao lưu hợp tác quốc tế, việc giáo dục tinh thần yêu nước
phải gắn với tinh thần quốc tế trong sáng cho thanh niên càng có ý nghĩa thiết thực
hơn nhằm xây dựng một môi trường quốc tế hợp tác, hòa bình, thịnh vượng. 13
Có phương pháp làm việc khoa học, phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương:
Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự thấm
nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quần chúng là người sáng
tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn có lòng
tin vô tận đối với quần chúng. Người luôn luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ
với quần chúng, coi đó là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp
cách mạng. Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện bằng
phong cách sâu sát quần chúng, vì lợi ích của quần chúng, đi đúng đường lối quần
chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, của những người chiến sĩ cộng sản suốt
đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Phong cách dân chủ: Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt
mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể,
nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và
tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Phong cách nêu gương: Theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết phải
làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi
mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch
chủ nghĩa cá nhân; bồi dưỡng về năng lực trí tuệ, trình độ lý luận chính trị, văn hóa, khoa
học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, sức khỏe.
1.3.3.Phương pháp xây dựng con người
Mỗi người tự rèn luyện, tu dưỡng ý thức, kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ chế,
tính khoa học của bộ máy và tạo dựng nền dân chủ. Việc nêu gương, nhất là người đứng
đầu, có ý nghĩa rất quan trọng. Hồ Chí Minh thường nói đến “tu thân, chính tâm” thì mới 14
có thể “trị quốc, bình thiên hạ” (làm những việc có lợi cho nước, cho dân). Văn hóa
phương Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên
truyền” và “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Hồ Chí Minh thường nhắc lại những điều ấy
trong khi bàn biện pháp xây dựng con người. Người nói rằng “lấy gương người tốt, việc
tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau" là rất cần thiết và bổ ích.
Biện pháp giáo dục có một vị trí quan trọng. Hồ Chí Minh nhắc nhở rằng “Hiền,
dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên". Theo Người, các cháu mẫu
giáo, tiểu học như tờ giấy trắng. Chúng ta vẽ xanh thì xanh, vẽ đỏ thì đỏ. Nói như vậy để
thấy giáo dục rất quan trọng trong việc xây dựng con người.
Chú trọng vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng. Thông qua
các phong trào cách mạng như “Thi đua yêu nước”, “Người tốt việc tốt”. Đặc biệt phải
dựa vào quần chúng theo quan điểm “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta".
2. Sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay:
2.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:
Xây dựng con người có ý nghĩa rất quan trọng quyết định sự thành công của sự
nghiệp cách mạng ở nước ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Năm 2014,
sau khi tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, Hội
nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng đã ban hành Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước” (Nghị quyết số 33), trong đó, đề cao việc phần xây dựng con người phát triển toàn
diện. Trong đó cần chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các
giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và
lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ;
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của con người Việt Nam… 15
Con người luôn là yếu tố trung tâm, trọng điểm trong sự phát triển. Dù là lĩnh vực
hoạt động nào, khía cạnh nào được bàn đến cũng tập trung vào bàn bạc và tìm ra giải
pháp nhằm tạo ra các điều kiện để phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con người.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người;
con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị
truyền thống và giá trị hiện đại”. Trong đó, phát triển toàn diện, bao gồm đồng bộ các
lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh,
lành mạnh; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa
của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột
phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Như vậy có thể hiểu, vấn đề xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải gắn chặt với phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa gắn liền với sự phát triển của con người mới.
Con người Việt Nam đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, với nền kinh tế tri
thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen.
Trong dòng chảy của văn hóa Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới cho thấy, nhận
thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. Tư tưởng, đạo đức
và lối sống - lĩnh vực then chốt của văn hóa đã có những chuyển biến tích cực; hệ thống
chính sách pháp luật về văn hóa tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện cho nhân dân
tham gia tích cực vào hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá; công tác bảo tồn, phát
huy di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm; tổ chức tốt hoạt động giao lưu, hợp tác quốc
tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam ra thế giới. Thực tiễn đã
chứng minh, những lúc đất nước khó khăn thì các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc được
khơi dậy và phát huy mạnh mẽ; lòng yêu nước, tinh thần tương thân, tương ái, sống có
nghĩa, có tình, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam lại càng tỏa sáng; cả dân tộc kết
thành một khối thống nhất về ý chí và hành động. Văn hoá đã có những đóng góp tích
cực, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 16
Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển, lĩnh vực văn hóa còn
bộc lộ một số hạn chế, bất cập: Đã xuất hiện các hiện tượng văn hóa tầm thường, dễ dãi,
mang tính thị trường; các biểu hiện “lệch chuẩn” trong hưởng thụ văn hóa. Môi trường
văn hóa, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm nghề nghiệp, quy tắc ứng xử,
văn minh công cộng chưa được xây dựng theo hướng văn hóa…
Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “So với những thành quả trên lĩnh vực chính trị, kinh
tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành quả trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng;
chưa đủ tầm mức để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa
lành mạnh. Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại”.
Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá: “Văn hoá” chưa được quan tâm tương
xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự
phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hoá trong xây dựng con người chưa được
xác định đúng tầm, còn có chiều hướng coi trọng chức năng giải trí đơn thuần. Thiếu
những tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật lớn phản ánh sinh động tầm vóc công cuộc
đổi mới, có tác dụng tích cực đối với con người. Môi trường văn hoá, xã hội tiếp tục bị ô
nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực. Chênh lệch về hưởng thụ văn hoá giữa
các vùng, miền còn lớn; đời sống văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu,
vùng xa còn nhiều khó khăn... Chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi sự
xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt văn hoá, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội”.
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải thấy hết thuận lợi và khó khăn, nhìn thẳng vào sự
thật, đánh giá đúng sự thật về những ưu điểm và hạn chế để có biện pháp xây dựng con
người, văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Điểm mấu chốt, sống còn hiện nay là củng cố lòng tin của nhân dân. Cùng với quan
tâm phát triển kinh tế, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, đặc biệt phải đặt lên hàng
đầu và xuyên suốt phong cách quần chúng, dân chủ. Suy giảm tăng trưởng kinh tế, sớm
hoặc muộn sẽ khắc phục được, nhưng mất lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ là mất tất cả. 17
2.2.Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay:
2.2.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay:
Vấn đề con người được đề cập đầu tiên tại Đại hội lần thứ IV của Đảng và được đề
cập cụ thể, trực tiếp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, thông qua tại Đại hội VII (năm 1991). Trong Cương lĩnh, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã khẳng định: Xã hội chủ nghĩa là một xã hội con người được giải phóng,
nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển cá
nhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo. Vì vậy, phương hướng, mục tiêu lớn
của chính sách xã hội được đề cập trong Cương lĩnh, Đảng ta chỉ rõ: “Phát huy nhân tố
con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân;
kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh
thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập
thể và cộng đồng xã hội”.
Về xây dựng con người Việt Nam, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương
khóa VIII (7-1998) nêu nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam với những hệ giá trị
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đó là con
người có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân
dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa
xã hội. Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung. Có lối sống lành mạnh, nếp
sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước
của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Lao động chăm chỉ với
lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia
đình, tập thể và xã hội. Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn,
trình độ thẩm mỹ và thể lực. 18
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) khẳng định “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng
thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với
quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa,
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết số 33-
NQ/TW ngày 9-6-2014) khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân
văn, dân chủ và khoa học”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng định hướng: “Phát
triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực
phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây
dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền
thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh,
hạnh phúc, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và
động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.
Trên tinh thần đó, văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định phải: “Chú trọng
hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục
tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách
nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn
vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gắn giáo dục
tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con
người Việt Nam”. Đồng thời: “Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có
hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội…
Từng bước vươn lên khắc phục hạn chế của con người Việt Nam” . 19
Từ việc tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người và phát huy nhân tố con người, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện các quan
điểm qua các kỳ Đại hội Đảng. Như vậy, quan điểm về xây dựng con người mới của
Đảng vừa đảm bảo sự thống nhất giữa tính lý tưởng và thực tiễn, giữa lợi ích của cá nhân
và lợi ích của cộng đồng, giữa nghĩa vụ công dân và trách nhiệm xã hội, đảm bảo sự phát
triển con người toàn diện cả về đức và tài, cả về thể lực, trí lực và tâm lực, có ý chỉ và
bản lĩnh vươn lên trong công việc cá nhân và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Khi xác định quan điểm chỉ đạo văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, Đảng ta đã đặt con người
vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự gắn kết giữa các lĩnh vực này
trên cơ sở đề cao vai trò của con người, vai trò của văn hóa là điều kiện có ý nghĩa quyết
định cho sự thành công của sự nghiệp đổi mới, chấn hưng đất nước.
2.2.2. Chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay:
Chủ trương của Đảng về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay:
Trên cơ sở tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi con người là vốn quý nhất, là mục tiêu, là
động lực của cuộc cách mạng. Quan điểm này được thể hiện thông qua các kỳ đại
hội, đặc biệt tại Đại hội XIII, Đảng đã bổ sung, phát triển nhiều quan điểm mới về
xây dựng, phát triển con người. Những quan điểm này được cụ thể hóa thành các
nhiệm vụ, giải pháp, định hướng cụ thể trong hoạt động thực tiễn và phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, việc xây dựng con người Việt Nam theo quan điểm của Đảng, là
sự chuẩn bị tích cực, chủ động nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, cho tương lai và triển vọng của đất nước trên con đường
phát triển theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hoá, chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế không thể không dựa vào nhân tố con người, vì vậy cần
phải bồi dưỡng, phát triển con người Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng của 20