Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
––––––
Đề tài chính: Tư tưởng hồ chí minh về con người và sự vận
dụng của đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài phụ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng
dân tộc. Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhóm thực hiện : Nhóm 5 Giảng viên hướng dẫn : Ngô Thị Minh Nguyệt; Ngô Thị Huyền Trang Lớp học phần : 232_HCMI0111_10
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN Họ tên Mã SV Nhiệm vụ Đánh giá Điểm Đàm
- Trách nhiệm, ND tìm kiếm
tốt và slide hoàn thiện, đẹp B+
Hương Ly 22D112111 - Tìm ND 1.1,1.2 - Làm powerpoint mắt Huỳnh Thị
- Đề tài phụ tốt, không cần
chỉnh sửa nhiều tuy nhiên đề B Thảo Ly 22D112112 - Tìm ND 2.2
- Tìm ND đề tài phụ tài chính chưa phân tích sâu
- Bài làm chi tiết, đầy đủ, Trần Cẩm đúng hạn. Ly 22D112115 - Tìm ND 2.2 - B+
Có ý thức, chuyên tâm với bài làm Thành
- Thông tin tìm kiếm có chọn lọc, tốt B+
Ngọc Mai 22D112116 - Tìm ND 2.3 - Làm word
- Word làm đẹp, dễ nhìn
- Tích cực tìm thông tin tuy
nhiên bài làm chưa thực sự Nguyễn Lê Minh 22D112118 - Tìm ND 1.3 - tốt B
Tìm ND đề tài phụ - Tinh thần làm việc rất tích cực Nguyễn Thị
- Tìm ND 1.3 và đề - Chăm chỉ, ND tìm kiếm phù My 22D112122 tài phụ - hợp B+ Phản biện
- ND tìm kiếm hay, có phân Hoàng Lê - Tìm ND 2.1, tích Na 22D112123 duyệt ND A -
- Sẵn sàng giúp đỡ, nhận Phản biện nhiệm vụ - Duyệt ND toàn
- Trách nhiệm với bài làm Phạm Kim Ngân 22D112126 bài
- Chủ động chia việc cho A - Thuyết trình thành viên Nguyễn
Phạm Minh 22D112127 - Tìm ND 1.1
- Bài trình sửa tốt, hay C+ Nghĩa Bùi Bích
- Tìm ND 2.3 và đề - Tinh thần sẵn sàng làm việc, tài phụ, duyệt ND trách nhiệm cao A Ngọc 22D112128 - Thuyết trình
- ND tìm kiếm sát với đề, hay Vũ Anh
- ND tìm kiếm có phần lệch, Ngọc 22D112131 - Tìm ND 2.1 - Phản biện
song thái độ hợp tác tốt C+ 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ------
BIÊN BẢN HỌP NHÓM I. THÔNG TIN CHUNG:
Thời gian làm việc: Từ 21 giờ 15 phút đến 22 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2024.
Địa điểm làm việc: Phòng họp Google Meeting.
Mục tiêu: Tìm hiểu và đưa ra các ý kiến đóng góp cho bài thảo luận với đề tài:
- Đề tài chính: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng của Đảng ta
trong giai đoạn hiện nay.
- Đề tài phụ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc. Liên hệ với
thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thành viên tham gia:
• Phạm Kim Ngân (Nhóm trưởng)
• Thành Ngọc Mai (Thư ký) • Trần Cẩm Ly • Hoàng Lê Na • Huỳnh Thị Thảo Ly • Nguyễn Lê Minh • Nguyễn Thị My • Đàm Hương Ly
• Nguyễn Phạm Minh Nghĩa • Bùi Bích Ngọc • Vũ Anh Ngọc
II. NỘI DUNG CUỘC HỌP:
1, Nhóm trưởng đọc lại đề tài thảo luận và cho cả nhóm đóng góp ý tưởng.
2, Cả nhóm đóng góp ý tưởng về đề tài:
3, Sau khi tổng hợp ý tưởng của các thành viên trong nhóm và đưa ra đề cương
sơ lược cho bài thảo luận, cả nhóm thống nhất phân chia công việc như sau: 4 Tên Công việc Đảm Hương Ly • Hoàn thiện n i dung ph ộ ần 1.1. và 1.2. • Làm Powerpoint. Huỳnh Thị Thảo Ly • Hoàn thiện n i dung ph ộ ần 2.2.
• Hoàn thiện nội dung đề tài ph . ụ Trần Cẩm Ly • Hoàn thiệ n n ội dung phần 2.2. Thành Ngọc Mai • Hoàn thiện n i dung ph ộ ần 2.3. • Làm Word. Nguyễn Lê Minh
• Hoàn thiện nội dung ph n 1.3. ầ • Hoàn thiện n i dung ph ộ ần đề tài ph . ụ Nguyễn Thị My
• Hoàn thiện nội dung ph n 1.3. ầ và đề tài phụ. • Phản biện. Hoàng Lê Na
• Hoàn thiện nội dung ph n 2.1. và duy ầ ệt nội dung. • Phản biện. Phạm Kim Ngân
• Duyệt nội dung toàn bài. • Thuyết trình.
Nguyễn Phạm Minh Nghĩa • Hoàn thiện n i dung ph ộ ần 1.1.
• Hoàn thiện nội dung ph n 2.3., ầ
đề tài phụ, duyệt nội Bùi Bích Ngọc dung. • Thuyết trình. Vũ Anh Ngọc
• Hoàn thiện nội dung ph n 2.1. ầ • Phản biện.
4, Nhóm trưởng giao hạn nộp kết quả làm việc của từng cá nhân, yêu cầu hoàn
thành công việc, kết thúc cuộc họp.
Hà Nội, ngày 14 tháng 2 năm 2023 Nhóm trưởng Thư ký Ngân Mai Phạm Kim Ngân Thành Ngọc Mai 5 MỤC LỤC
ĐỀ TÀI CHÍNH: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN
DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
PHẦN MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
PHẦN NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người của Đảng ta trong giai
đoạn hiện nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay. 15
2.2. Quan điểm và chủ trương của Đảng ta về xây dựng con người trong giai
đoạn hiện nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.3. Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát
triển trong tình hình mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
PHẦN KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 28
DANH MỤC THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29 * * *
ĐỀ TÀI PHỤ: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC. LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM
PHẦN MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
PHẦN NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Cách mạng giải phóng dân tộc . . . . . . . . . . . 31
1.1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường Cách
mạng vô sản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
1.2. Cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng
lợi phải do Đảng cộng sản lãnh đạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32
1.3. Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn
dân tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
1.4. Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành
chiến thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
1.5. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo
lực cách mạng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 34
Chương 2. Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35 6
2.1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường Cách
mạng vô sản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
2.2. Cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng
lợi phải do Đảng cộng sản lãnh đạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
2.3. Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn
dân tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
2.4. Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành
chiến thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
2.5. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo
lực cách mạng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
PHẦN KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
DANH MỤC THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39 7
ĐỀ TÀI CHÍNH: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN
DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. PHẦN MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam không chỉ đẹp ở nguồn tài nguyên giàu có mà nơi đây còn
gắn liền với vẻ đẹp của 54 anh em đồng bào sắc tộc. Người dân Việt hiện lên với vẻ đẹp
của lòng yêu nước, vẻ đẹp của trí tuệ thông minh hay còn là ý chí kiên cường không
chịu khuất phục trước khó khăn, gian khổ. Tấm chân dung con người vĩ đại nhất tại
mảnh đất không thể không nhắc đến chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của đất
nước. Bác Hồ đã có nhiều cống hiến và đóng góp quan trọng cho thời kỳ cách mạng giải
phóng dân tộc, cách mạng xây dựng đất nước của nhân dân ta.
Những quan điểm của Người được tóm gọn trong từng trang của lịch sử, in bóng
dấu ấu của một dân tộc Việt. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người đã chỉ rõ đặc
điểm, vai trò của mỗi cá nhân trong từng giai đoạn. Quan niệm ấy định hình hướng xây
dựng và phát triển con người trong suốt những năm tháng chiến trường cho tới tận ngày nay.
Để hiểu rõ hơn về tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng của
Đảng ta trong giai đoạn hiện nay, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” . Bài thảo
luận nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về quan niệm, tư tưởng của Bác đối với con người.
Từ đó, liên hệ với thực tế để hiểu sâu hơn về cách mà Đảng ta đã tiếp nối, phát triển
quan điểm của Người trong quá trình xây dựng đất nước hiện nay. Bài thảo luận sẽ cơ
sở để bộ phận sinh viên tìm hiểu, phục vụ cho mục đích học tập đối với các học phần liên quan. 8 PHẦN NỘI DUNG
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
– Hồ Chí Minh cho rằng con người là một thể thống nhất, hài hòa về trí tuệ, tình
cảm, sức khỏe, phong phú bởi các mối quan hệ cá nhân với xã hội và các mối quan hệ
xã hội. Người nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối quan hệ này trong cuộc sống của
mỗi người. Con người không tồn tại độc lập, mà chúng ta luôn tồn tại trong mạng lưới
liên kết của các mối quan hệ.
Mối quan hệ cá nhân và xã hội: Quan hệ gia đình, dòng tộc, quan hệ giai cấp và
dân tộc định hình tư duy, giá trị và hành vi của con người. Chúng tạo nên nền tảng cho
sự phát triển của cá nhân và xã hội.
Ngoài ra, các mối quan hệ xã hội như quan hệ chính trị, văn hóa và đạo đức
cũng đóng vai trò quan trọng. Chính trị hình thành hệ thống quyền lực và quyết định của
xã hội; trong khi, văn hóa và đạo đức định hình giá trị, thái độ và hành vi của con người.
Để xây dựng một xã hội tốt đẹp cho quốc gia và nhân loại, ta cũng cần không
ngừng phát huy những phẩm chất tốt đẹp trong mỗi cá nhân. Người từng nói rằng “chữ
người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bè bạn; nghĩa rộng là đồng bào cả nước,
rộng hơn nữa là cả loài người”. Trong trường hợp của người Việt Nam, dù có tính tốt
hay tính xấu, dù có là “năm ngón tay dài ngắn khác nhau”, họ đều là con cháu của Lạc
Hồng, một dân tộc có lịch sử lâu đời và văn hóa đặc sắc. Theo đó, nó đều thể hiện tinh
thần đoàn kết, yêu nước và tôn vinh giá trị của mỗi người Việt Nam. Hồ Chí Minh đã
khắc sâu vào tâm hồn của dân tộc bằng những lời nói đầy ý nghĩa này. Cho chúng ta
thấy rằng, bản thân ta nên tự hào về nguồn gốc và đoàn kết của mình, bởi chúng ta đều
là một phần của dòng họ Lạc Hồng, một dân tộc với nền văn hóa đa dạng và lịch sử phong phú.
– Đối với Hồ Chí Minh, con người không chỉ là thực thể sinh học mà còn là người
lao động, là chủ thể sáng tạo lịch sử xã hội. Theo đó, Hồ Chí Minh đã thể hiện nhận thức
sâu sắc về tầm quan trọng của các mối quan hệ trong cuộc sống của con người, và chúng
ta cần duy trì và xây dựng những mối quan hệ này để phát triển bản thân và xã hội.
– Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhu cầu vật chất trong cuộc
sống con người. Người từng nói rằng “dân dĩ thực vi thiên”, tức là con người phải có đủ
thức ăn để duy trì sự sống và phát triển. Người cũng nói rằng “dân chỉ biết rõ giá trị của
tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”, tức là con người chỉ có thể thực hiện
quyền lợi và nghĩa vụ công dân khi có điều kiện kinh tế ổn định. Vì vậy, Hồ Chí Minh 9
luôn coi trọng việc đảm bảo cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành trong mọi
đường lối, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.
– Đặc sắc trong quan niệm HCM về con người là Bác nhìn nhận về những con
người với các đặc điểm cụ thể như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, chức vụ... trong từng
giai đoạn lịch sử, với các cấu trúc kinh tế và xã hội khác nhau.
Hồ Chí Minh xem xét con người trong tính đa dạng: đa dạng trong quan hệ xã
hội (quan hệ dân tộc, giai cấp, tầng lớp, đồng chí, đồng bào…): đa dạng trong tính cách,
khát vọng, phẩm chất, khả năng cũng như năm ngón tay dài, ngắn khác nhau, nhưng đều
hợp nhau lại nơi bàn tay: mấy mươi triệu người Việt Nam, có người thế này, thế khác,
nhưng đều cùng là nòi giống Lạc Hồng: đa dạng trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc…
Người phân loại rõ về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp trong khối thống nhất
cộng đồng dân tộc (Sĩ, Nông, Công, Thương); trong quan hệ quốc tế (bầu bạn năm châu,
các dân tộc bị áp bức, bốn phương vô sản), Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận con
người qua bản chất con người mang tính xã hội (Để sinh tồn, con người phải lao động
sản xuất; con người là sản phẩm của xã hội). Từ đó, có cách nhìn con người thông qua
các quan hệ anh em, họ hàng, bầu bạn; đồng bào, loài người.
Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập: thiện
và ác hay và dở, tốt và xấu, hiền và dữ,… bao gồm cả tính người – mặt xã hội và tính
bản năng – mặt sinh học của con người. Theo Hồ Chí Minh, con người có tốt có xấu,
nhưng “dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình”.
Hồ Chí Minh cũng dùng khái niệm “con người” theo nghĩa rộng trong một số
trường hợp (“phẩm giá con người”, “giải phóng con người”, “người ta”, “con người”,
“ai”…), nhưng đặt trong một bối cảnh cụ thể và một tư duy chung, còn phần lớn. Người
xem xét con người trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp, theo giới tính (thanh
niên, phụ nữ), theo lứa tuổi (phụ lão, nhi đồng), nghề nghiệp (công nhân, nông dân, trí
thức…), trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc (sĩ, nông, công, thương) và quan
hệ quốc tế (bầu bạn năm châu, các dân tộc bị áp bức, bốn phương vô sản). Đó là con
người hiện thực, cụ thể, khách quan.
Nhìn chung, cách tiếp cận về con người của Hồ Chí Minh đã giúp giải quyết
mối quan hệ dân tộc và giai cấp một cách sáng tạo, không chỉ về mặt đường lối cách
mạng mà còn về mặt con người. 10
1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người
1.2.1. Con người là mục tiêu của cách mạng
Theo tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh, con người là mục tiêu chiến lược
đầu tiên của cách mạng. Mục tiêu ấy được cụ thể hóa ba giai đoạn cách mạng (giải phóng
dân tộc – xây dựng chế độ dân chủ nhân dân – tiến dần lên xã hội chủ nghĩa) nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
+ Giải phóng dân tộc là một cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức và chiếm đóng
của chủ nghĩa đế quốc, nhằm lấy lại quyền tự quyết cho dân tộc. Trong bối cảnh cụ thể,
con người giải phóng được xem là những thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Phạm vi thế giới là giải phóng dân tộc thuộc địa. Tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh
về cách mạng giải phóng dân tộc đã xác định đúng đắn về đường lối, hình thức, lực
lượng, bộ phận lãnh đạo và vai trò của cách mạng tới thế giới Tư tưởng này không chỉ
có giá trị lý luận mà còn là một phần quan trọng trong kho tàng tư tưởng Mác – Lênin.
+ Giải phóng xã hội là mục tiêu cao cả của nhân loại, là hướng đi của lịch sử.
Đó là xây dựng một xã hội mới, một xã hội mà không còn sự khai thác và áp bức của
con người đối với con người, mà mọi người đều có quyền bình đẳng và tự do. Hồ Chí
Minh đã vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc để đưa
ra những đường lối đúng đắn đối với cách mạng. Bác cũng nhấn mạnh vai trò của việc
đoàn kết với phong trào cách mạng quốc tế, không để chủ nghĩa tư bản có điều kiện cô
lập phong trào giành độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng đến một xã hội mà mọi công
dân đều là những người sáng tạo và chủ động, đều có cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc,
đều góp phần vào sự văn minh và tiến bộ của xã hội.
+ Giải phóng giai cấp là quá trình loại bỏ mọi hình thức đàn áp, chiếm đoạt của
một giai cấp trên một giai cấp khác. Giải phóng giai cấp đòi hỏi chúng ta phải thay đổi
cơ cấu kinh tế – xã hội, để mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng lợi từ thành quả
lao động. Xóa sổ sự phân biệt giai cấp là mục tiêu cuối cùng của việc giải phóng giai
cấp. Hồ Chí Minh tin rằng, chỉ khi chúng ta loại bỏ hoàn toàn sự phân biệt giai cấp,
chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội thống nhất, không có sự chia rẽ giữa các tầng
lớp xã hội. Như vậy, với tư tưởng này, giải phóng giai cấp không chỉ là việc loại bỏ ách
đàn áp và chiếm đoạt, mà còn là một quá trình xây dựng xã hội mới, nơi mọi người được
tự do và công bằng, và giai cấp được thể hiện và phát triển trong môi trường thuận lợi.
+ Theo Hồ Chí Minh, giải phóng con người là quá trình loại bỏ tình trạng bị áp
bức, bị bóc lột, bị nô lệ hóa con người cùng với các điều kiện xã hội làm mất đi bản chất
con người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến bản chất tốt đẹp của con người, đó là khả năng
sáng tạo, khả năng kiểm soát xã hội và tự nhiên. Giải phóng con người không chỉ là việc 11
loại bỏ áp bức, mà còn là việc khôi phục và phát triển bản chất tốt đẹp đó. Đồng thời,
đó là sự đảm bảo quyền tự do hạnh phúc cho mọi người, tạo điều kiện để con người phát
triển tài năng, khả năng sáng tạo nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo, Người
khuyến khích nhân dân tham gia vào các hoạt động sáng tạo và nghiên cứu. Việc giải
phóng con người là để họ có thể phát huy tối đa khả năng của mình, đồng thời đóng góp
vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.
Để xây dựng một xã hội mới, văn minh và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam,
các cuộc “giải phóng” đã liên kết chặt chẽ với nhau. Giải phóng dân tộc không chỉ là
giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ, mà còn là giải phóng xã hội khỏi bất công và giải
phóng con người khỏi nghèo nàn; giải phóng dân tộc cũng là tiền đề cho giải phóng xã
hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Hồ Chí Minh coi trọng vai trò của con
người trong cách mạng, đặc biệt là những người lao động, nông dân, công nhân, binh sĩ
và thanh niên. Hồ Chí Minh tin tưởng rằng con người là yếu tố then chốt cho thành công
hay thất bại của cách mạng, và cách mạng là lựa chọn duy nhất để con người được giải
phóng và phát triển toàn diện.
1.2.2. Con người là động lực của cách mạng
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người là tài sản quý báu nhất, là động lực
và yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Ông nhấn mạnh rằng “mọi
việc đều do người làm ra”; “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới
không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân”. Ông còn nói “Ý dân là ý trời”,
và rằng “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng, và nhân dân đóng góp vai trò cực lớn đối với sự giải phóng
của đất nước. Nhân dân chính là những con người sáng tạo chân chính trong lịch sử
thông qua các hoạt động thực tiễn cơ bản như lao động sản xuất, đấu tranh chính trị –
xã hội, và sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Không phải mọi nhân dân đều trở thành động
lực mà phải là những người dân được giác ngộ và tổ chức. Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh,
văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền tảng truyền thống lịch sử và văn hóa hàng
ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Con người là động lực của cách mạng khi họ được tổ
chức, lãnh đạo bởi đường lối đúng đắn.
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam là một hệ thống quan
điểm toàn diện và sâu sắc về vai trò của con người, mục đích, nội dung, biện pháp xây
dựng con người; là tài sản tinh thần to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta; là nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam để Đảng đề ra đường lối, chủ trương về xây dựng con người Việt
Nam phát triển toàn diện. 12
1.3.1. Ý nghĩa của việc xây dựng con người
Xây dựng con người là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa cấp
bách vừa lâu dài, có ý nghĩa chiến lược. Xây dựng con người là một trọng tâm, bộ phận
hợp thành của chiến lược phát triển đất nước, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây
dựng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hồ Chí Minh nêu 2 quan điểm nổi bật làm sáng
tỏ sự cần thiết của xây dựng con người.
– “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” là công việc lâu dài,
gian khổ, vừa vì lợi ích trước mắt vừa vì lợi ích lâu dài, là công việc của văn hóa giáo
dục. "Trồng người" phải được tiến hành thường xuyên trong suốt tiến trình đi lên chủ
nghĩa xã hội và phải đạt được những kết quả cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng.
Nhiệm vụ "trồng người" phải được tiến hành song song với nhiệm vụ phát triển lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. “Trồng người” phải được tiến hành
bền bỉ, thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người, với ý nghĩa vừa là quyền lợi vừa
là trách nhiệm của cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Công việc “trồng
người” là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị – xã hội kết hợp với
tính tích cực, chủ động của từng người.
– “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã
hội chủ nghĩa”. Việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa được đặt ra ngay từ đầu và
phải được quan tâm trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Con người xã hội
chủ nghĩa” được hiểu là trước hết cần có những con người với những nét tiêu biểu của
xã hội xã hội chủ nghĩa như lý tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong xã hội chủ nghĩa. Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Trong bất cứ phong trào cách mạng nào, tiên tiến là số ít và số đông
là trung gian, muốn củng cố và mở rộng phong trào, cần phải nâng cao hơn nữa trình độ
giác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến”.
1.3.2. Nội dung xây dựng con người
Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Đó là những con người có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
những con người của chủ nghĩa xã hội, có tư tưởng, tác phong và đạo đức xã hội chủ
nghĩa và năng lực làm chủ. Xây dựng con người toàn diện trên các khía cạnh chủ yếu:
– Có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng “mình vì mọi
người, mọi người vì mình”. Luận điểm này được Người lý giải như sau: Nhà nước ta
ngày nay là của tất cả những người lao động. Vậy công nhân, nông dân, trí thức cách
mạng cần nhận thức rõ ràng: Hiện nay nhân dân lao động ta là những người làm chủ
nước ta, chứ không phải là những người làm thuê cho giai cấp bóc lột như thời cũ nữa.
Chúng ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh 13
phúc cho mình. Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của tất cả những của cải
vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Bởi vậy mọi người đều
phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.
– Cần kiệm xây dựng đất nước, hăng hái bảo vệ Tổ quốc. Bác đưa ra một quan
niệm toàn diện và khoa học về chữ “cần”, trong đó “cần” phải đảm bảo 3 nội dung sau:
“cần” là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai, lao động có kế hoạch, sáng tạo,
trong công việc phải phân công. Bác nói: “Người siêng năng thì mau tiến bộ, Cả nhà
siêng năng thì chắc ấm no, Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh, Cả nước siêng năng
thì nước mạnh giàu”. Bác là tấm gương về sự siêng năng, cần cù, cầu tiến bộ. “Kiệm”
là tiết kiệm, không xa xỉ, hoang phí, bừa bãi. Người còn chỉ rõ, kiệm và cần phải đi đôi
với nhau, nó như hai chân của một con người vậy. Người đã từng phân tích rằng, cần
mà không kiệm thì "làm chừng nào xào chừng ấy", nó như cái thùng không đáy, nước
đổ chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Mặt khác, kiệm mà không
cần thì không tăng thêm, không phát triển và sẽ dẫn tới thoái bộ, thụt lùi.
– Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế trong sáng. Dân tộc Việt Nam
trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã vun bồi tình cảm, tư tưởng yêu
nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống
của nhân dân. Người gắn kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế,
đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột,
đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau”.
Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, mỗi dân tộc đều phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là
chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân
loại tiến bộ và đồng thời tham gia vào nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.
– Có phương pháp làm việc khoa học, phong cách quần chúng, dân chủ, nêu
gương. Phong cách quần chúng, dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự
thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: quần chúng là người sáng
tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Bởi vậy, Hồ Chí Minh luôn chăm
lo, gìn giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng, tin tưởng vào vai trò của quần chúng
và coi quần chúng là cội nguồn chiến thắng của sự nghiệp cách mạng.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét
sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng về năng lực trí tuệ, trình độ lý luận chính trị, văn hóa,
khoa học – kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, sức khỏe. 14
1.3.3. Phương pháp xây dựng con người
– Hồ Chí Minh thường nói đến “tu thân, chính tâm” thì mới có thể “trị quốc, bình
thiên hạ”. Văn hóa phương Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm
bài diễn văn tuyên truyền” và “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Người nói rằng “lấy gương
người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau” là việc rất cần thiết và bổ ích.
– Hồ Chí Minh đề cao vai trò của giáo dục, cho rằng tính cách của mỗi người đều
do giáo dục mà nên. Theo người, các cháu mẫu giáo tiểu học như tờ giấy trắng. Chúng
ta vẽ xanh thì xanh, vẽ đỏ thì đỏ. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”,
rèn “đức” cho tất cả đối tượng. Đối với trẻ em, Bác căn dặn các giáo viên phải: giáo dục
cho các cháu biết thế nào là đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho các
cháu giữ được tính chất của trẻ con. Phải làm sao cho trẻ em có kỷ luật nhưng vẫn vui
vẻ, hoạt bát chứ không phải là khúm núm, đặt đâu ngồi đấy. Bác để lại thông điệp cho
thế hệ trẻ một trọng trách lớn nhưng cũng vinh dự, vẻ vang là: “Non sông Việt Nam có
trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai
với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học
tập của các em”. Muốn đạt được những mục tiêu đó, nội dung giáo dục phải toàn diện,
phù hợp với tính chất của trường học dưới chế độ mới; phù hợp với đặc điểm Việt Nam
trong bối cảnh chung của thế giới. Nội dung đó bao gồm cả văn hóa, chuyên môn nghề
nghiệp, các ngành nghề liên quan trực tiếp tới công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn,
vùng dân tộc thiểu số và miền núi; các lĩnh vực an ninh, quốc phòng liên quan tới sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
– Chú trọng vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng. Thông
qua các phong trào cách mạng như “Thi đua yêu nước”, “Người tốt việc tốt”. Đặc biệt
phải dựa vào quần chúng theo quan điểm “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa
cán bộ và tổ chức của ta”.
2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
2.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay
2.1.1. Đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Con người là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước. Một đất nước muốn
phát triển mạnh mẽ và bền vững cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong quá
trình tồn tại và phát triển, chúng ta đã trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp khác
nhau, mỗi giai đoạn đều mang về những thành tựu giúp cải thiện và nâng cao chất lượng
sống của người dân. Chính con người đã tạo ra văn hóa và văn minh, cải tạo xã hội phát 15
triển và đạt đến trình độ như bây giờ. Chỉ có con người trí tuệ mới là nhân tố quyết định
trong quá trình thực hiện các mục tiêu tiến bộ đổi mới. Với sự phát triển của khoa học
và công nghệ tiên tiến, con người đã tạo ra những sản phẩm mới có hàm lượng trí tuệ
ngày càng cao, nâng cao chất lượng cuộc sống và bổ sung các giá trị văn hóa mới vào
kho tàng văn hóa của nhân loại. Con người có trí thức sẽ thúc đẩy sự phát triển của một
xã hội hiện đại, một xã hội chủ nghĩa có sự phát triển toàn diện về mọi mặt.
Ví dụ: Trong cuộc công nghiệp lần thứ 4 – sự bùng nổ của thời đại công nghệ
đã đặt ra yêu cầu về nguồn nhân lực có trí tuệ, khả năng sáng tạo và phát triển những
thiết bị điện tử đời cao. Trong giai đoạn này, nguồn lao động trí tuệ được tận dụng cao
và xã hội đang dần đào thải lực lượng lao động chân tay qua việc thay thế bằng máy
móc. Theo dự đoán của các chuyên gia, năm 2035 sẽ là kỷ nguyên mới của cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 5, nếu con người không chịu khó trau dồi về tri thức và kỹ
năng chuyên môn sẽ rất dễ bị đào thải.
2.1.2. Do hội nhập quốc tế
Có thể thấy trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng mở rộng các mối
quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới, kể cả những siêu cường quốc tế. Từ đó
mang lại cho đất nước cơ hội để phát triển, mang lại một cuộc sống tốt đẹp cho nhân
dân. Xu hướng hội nhập toàn cầu trong nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội đòi hỏi
người dân cần thích nghi nhanh với sự tăng trưởng của quốc gia. Mỗi cá nhân phải có
khả năng làm chủ bản thân, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng và năng lực chuyên môn
nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại.
Điển hình với bộ phận sinh viên, việc học ngôn ngữ là vô cùng quan trọng và
cần thiết. Chúng ta học ngôn ngữ nước ngoài là để tiếp cận và mở ra cơ hội hợp tác với
những con người tiến bộ của mọi quốc gia trên toàn cầu. Lúc đó, trí tuệ và đạo đức theo
chuẩn giá trị mới sẽ hòa quyện vào nhau để tạo nên nhân cách của con người Việt Nam
có đầy đủ những đặc điểm tiến bộ, vững vàng bước vào nền kinh tế tri thức; vào xã hội
hiện đại. Tri thức bao hàm đầy đủ cả năng lực tư duy, sáng tạo, dự báo, giải quyết vấn
đề, đặc biệt là những kỹ năng ứng xử văn minh, hiện đại. Tri thức ngày càng thể hiện rõ
vị trí là nhân tố hàng đầu để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế, là động lực để thúc đẩy việc
giải quyết những bất bình đẳng xã hội, tạo sự công bằng và ổn định xã hội.
2.1.3. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại mới, khi đất nước đang hội nhập
toàn cầu và tiếp thu các nền văn hóa
– Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một
nhiệm vụ quan trọng. Việc phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong xu thế toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã kéo theo không ít những khó khăn. Nhất là trước 16
sự xuất hiện của không ít luồng tư tưởng ngoại lai và những trào lưu xấu độc. Nhận diện
những vấn đề đang đặt ra, từ đó có giải pháp hữu hiệu để tiếp tục xây dựng, giữ gìn,
chấn hưng và phát triển nền văn hóa dân tộc là việc làm cần thiết, cấp bách trong bối
cảnh hiện nay. Thực tiễn cho thấy trong quá trình toàn cầu hóa, nhất là với lĩnh vực văn
hóa, nếu không có bộ lọc đủ mạnh, thiếu bản lĩnh và tính sáng tạo sẽ nguy cơ dẫn tới
tiếp thu một cách thụ động, vội vã, ồ ạt, từ đó rất dễ dẫn đến tình trạng nguồn lực, sức
mạnh nội sinh trong nước bị những yếu tố ngoại sinh lấn át, chi phối, từ đó làm triệt tiêu
tính đa dạng văn hóa dân tộc, tự đánh mất bản sắc, cội rễ và truyền thống văn hóa của dân tộc mình.
– Xây dựng con người là việc bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức
giữ gìn bản sắc văn hóa cho thế hệ trẻ. Để đủ sức làm chủ vận mệnh đất nước, con người
Việt Nam cần có sự kết hợp hài hòa giữa giá trị đạo đức truyền thống với những phẩm
chất và năng lực thời đại mới. Giá trị đạo đức truyền thống có sức mạnh tiềm tàng, có
tính cốt lõi, ổn định, chỉ đạo hoạt động, củng cố, phát triển ý chí và bản lĩnh dân tộc.
Một dân tộc có bản sắc đậm đà, có các giá trị đạo đức truyền thống sâu đậm sẽ không
bao giờ bị thôn tính, hòa tan hay xóa nhòa.
– “Không ai hiểu biết con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam bằng Hồ Chí Minh
và không ai hiểu biết Bác Hồ bằng con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam…”. Nhận
thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc gìn giữ, kế thừa và phát huy giá trị đạo đức
truyền thống tốt đẹp của dân tộc được kết tinh trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,
ngày 07/11/2006, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 06–CT/TW về học tập và làm theo tư tưởng
và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp đó, ngày 15/05/2016, Bộ Chính trị ban hành
Chỉ thị số 05–CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
2.1.4. Do hiện nay còn có nhiều mặt trái gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, đất nước
– Con người Việt Nam vẫn còn tồn tại số ít những nét tính cách thủ cựu, lạc hậu,
những yếu tố tiêu cực, những khuynh hướng tư tưởng, văn hóa lệch lạc…, đặc điểm này
đang dần trở thành vật cản kìm hãm sự phát triển bền vững của đất nước, làm tăng nguy
cơ tụt hậu và chệch hướng khỏi xã hội chủ nghĩa. Vấn đề hiện nay là phải tạo ra môi
trường văn hóa lành mạnh để khuyến khích, cổ vũ, phát huy mặt tích cực, khắc phục có
hiệu quả mặt hạn chế, tiêu cực trong con người Việt Nam; đồng thời tiếp thu bổ sung
những điểm mà con người Việt Nam còn thiếu để phát triển toàn diện hơn.
– Muốn vậy, chúng ta phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm, tư tưởng của
Đảng về xây dựng và phát triển con người Việt Nam. Quan điểm của Đảng đã được nêu
trong Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI; phải biến nhận thức của Đảng thành nhận thức 17
chung của toàn xã hội; tư tưởng đó phải được thấm sâu đến mọi người, mọi đối tượng.
Các cấp ủy đảng, các ngành, đoàn thể, tổ chức, cộng đồng, gia đình và mỗi cá nhân cần
xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam; đồng thời phải coi đây là một nhiệm vụ trọng
tâm, xuyên suốt. Từ đó, hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, đào tạo và các hoạt
động khác vào việc xây dựng con người phát triển về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực
sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật; làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc
đẩy con người phát triển và tự hoàn thiện nhân cách; làm cho yếu tố con người thực sự
trở thành nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
2.2. Quan điểm và chủ trương của Đảng ta về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay
Trải qua các thời kỳ khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều quan
điểm về việc xây dựng nhân tố con người dựa trên cơ sở là tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm
khơi dậy sức sáng tạo, lòng tự tôn dân tộc và nhân cách cao đẹp của con người Việt
Nam. Quan điểm của Đảng là được thể hiện trong nội dung tại các nghị quyết, văn kiện
quan trọng theo thời gian, một vài nghị quyết được biết đến rộng rãi là:
– Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
– Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa,
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
– Văn kiện Đại hội XIII, quan điểm của Đảng về xây dựng và phát huy giá trị văn
hóa, sức mạnh con người Việt Nam khẳng định: “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa,
sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”.
Đại hội XIII về phát triển con người Việt Nam (2021) đang là quan điểm mới
nhất về xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay.
– Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (16/07/1998): Chủ trương xây dựng con
người Việt Nam với những hệ giá trị chung trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đó là những con người có tinh thần yêu nước, tự cường
dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước
thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Có ý thức tập thể, đoàn kết,
phấn đấu vì lợi ích chung. Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung
thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo
vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có 18
kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.
– Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI: Xây dựng và phát triển văn hóa,
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước khẳng định: “Xây
dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện
– mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
❖ Hiện nay, chủ trương của Đảng về xây dựng phát triển con người được thể hiện
thông qua quan điểm của Đảng tại Đại hội XIII về phát triển con người Việt Nam (25/01 – 02/02/2021):
2.2.1. Về kinh tế – xã hội
Đảng ta chủ trương: “Con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan
trọng bảo đảm sự phát triển bền vững” Nhà nước phải hướng vào nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân. Đảng nhấn mạnh giá trị nội dung cốt lõi
trong bài học “lấy dân làm gốc” Phải luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc
quan điểm “dân là gốc”, phát huy tối đa nguồn lực con người Việt Nam. Quan điểm về
nguồn lực con người, đề cao nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của
chiến lược phát triển là tư tưởng nhất quán của Đảng.
Thực hiện chủ trương trên, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, cần: “Xây dựng con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách
nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”; thực hiện phương châm: “Đào
tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân,
xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ
số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”. Xây dựng, tạo môi trường,
điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc,
niềm tin, khát vọng phát triển, tài năng, phẩm chất của con người Việt Nam là trung
tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.
Chỉ có con người có trí tuệ mới là nhân tố quyết định trong quá trình thực hiện
các mục tiêu tiến bộ đổi mới. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ tiên tiến, con
người đã tạo ra những sản phẩm mới có hàm lượng trí tuệ ngày càng cao, nâng cao chất
lượng cuộc sống và bổ sung các giá trị văn hóa mới vào kho tàng văn hóa của nhân loại.
Con người có trí thức sẽ ngày càng có ý nghĩa quyết định đến quá trình sản xuất tạo ra
những sản phẩm tri thức; thúc đẩy sự phát triển của một xã hội hiện đại. 19
2.2.2. Về giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
Đảng ta xác định đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học, công
nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người – động lực trực tiếp của sự phát triển. 2.2.2.1. Giá trị văn hóa
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con
người Việt Nam. Trong đó, Đại hội nêu bật chủ trương: “Tập trung nghiên cứu, xác định
và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người
gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm
chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường
giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức
trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải
pháp đột phá nhằm ngăn chặn hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu
cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong
truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn
trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của
người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của
con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài
hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”.
2.2.2.2. Chất lượng nguồn nhân lực
Đảng nhấn mạnh vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình
mới với chủ trương: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng
cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.
Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ
thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp;
nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”.
2.2.2.3. Khoa học công nghệ
Khẳng định vai trò của khoa học trong phát triển nguồn lực con người. Đảng
chỉ rõ: “Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung
cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư
tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam và
bảo vệ Tổ quốc”; thực hiện “Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học y học, phát
triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người”. 20
2.2.2.4. Quyền lợi con người
Đảng chỉ ra rằng xây dựng con người cần đi đôi với bảo vệ quyền và lợi ích của
người dân, đặc biệt đề cập đến bảo vệ an ninh con người – bảo đảm và thực thi đầy đủ
các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm
2013. Lần đầu tiên xác định “an ninh con người”, bảo vệ “an ninh con người”, đặt nhân
tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động. Bảo vệ an ninh con
người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã
hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Đại hội lần thứ XIII đề ra
phương hướng: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công
bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư
pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của tổ chức, cá nhân”
Nhân tố con người chỉ được khai thác và phát huy tối đa khi con người thực
sự làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân.
2.3. Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển
trong tình hình mới
2.3.1. Nhiệm vụ
Các nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam được thể hiện đa dạng trong từng
thời kỳ và các cuộc họp của Nhà nước, thông qua nội dung tại các nghị quyết, văn kiện
quan trọng theo thời gian. Nhìn chung, Đảng luôn đề ra nhiệm vụ xây dựng con người
Việt Nam phát triển một cách toàn diện về lòng yêu nước, ý thức tập thể, tri thức đời
sống và tinh thần lao động lành mạnh. Nhiệm vụ về xây dựng con người Việt Nam, đáp
ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới được đề ra cụ thể nhất trong hai nghị quyết sau:
❖ Nghị quyết số 33–NQ/TW, ngày 09/06/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đặt ra những nhiệm vụ sau trong phát
triển con người theo định hướng “Phát triển con người toàn diện.” Các nhiệm vụ đó là:
– Một là, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện “trọng tâm là bồi
dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách”. Đây là
tư tưởng xuyên suốt chăm lo xây dựng con người. Lấy tinh thần yêu nước, lòng tự hào
dân tộc là giá trị cơ bản, cốt lõi đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và ngoài
nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy chuẩn mực đạo đức, lối sống và nhân cách 21