Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:


B GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI 
BÀI THO LUN ĐỀ TÀI:
TƯ TƯỞNG H CHÍ MINH V ĐẠO ĐỨC. LIÊN H VI
VIC HC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG
ĐẠO ĐỨC H CHÍ MINH CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC THƯƠNG MẠI.
Giảng viên hướng dn: Ngô Th Minh Nguyt Nhóm: 2
Mã l
p HP: 251_HCMI0111_41
Hà Ni, Tháng 10/2025 1 STT HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ
ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ Nhóm trưởng, làm đề Tích cực tham gia, hoàn 1
Nguyễn Ý Mỹ Đức cương, tổng hợp word,
thành xuất sắc các nhiệm làm nội dung phần 2.2 vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Làm nội dung phần 3.1,
bài đúng hạn, hoàn thành 2 Vũ Minh Đức làm ppt
tốt các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Làm nội dung phần 2.1,
bài đúng hạn, hoàn thành 3 Vũ Mai Chi làm ppt
xuất sắc các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Làm nội dung phần 3.2,
bài đúng hạn, hoàn thành 4 Phạm Tiến Đạt làm ppt
tốt các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp bài đúng hạn, bài làm Thuyết trình, làm nội 5 Lê Ánh Dương chất lượng, hoàn thành dung phần 1.1
xuất sắc các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Làm nội dung phần 1.3,
bài đúng hạn, hoàn thành 6
Nguyễn Kiều Diễm thuyết trình
tốt các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Làm nội dung phần 2.3, 7 Trần Hải Đăng
bài đúng hạn, tích cực phản biện đưa ra ý kiến, hoàn 2
thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Làm nội dung phần 2.3,
bài đúng hạn, hoàn thành 8
Ngô Khánh Giang phần mở đầu và làm ppt tốt các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Ong Thị Quỳnh Làm nội dung phần 1.2,
bài đúng hạn, hoàn thành 9 Giang làm ppt
tốt các nhiệm vụ được giao Tham gia đầy đủ, nộp Nguyễn Hoàng Làm nội dung phần 2.2,
bài đúng hạn, hoàn thành 10 Dũng phản biện
xuất sắc các nhiệm vụ được giao 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 1)
I. Thời gian và địa điểm:
1. Địa điểm: Google Meet
2. Thời gian: 15h ngày 20 tháng 9 năm 2025
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III.
Nội dung thảo luận:
1. Tìm hiểu, nghiên cứu và tìm ra phương hướng giải quyết đề tài thảo luận, lập đề cương cho đề tài.
2. Thống nhất đề cương đề tài thảo luận.
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên nhiệt tình đóng góp ý kiến để hoàn thành đề cương cho đề tài thảo luận của nhóm. Ngày 20 tháng 9 năm 2025 Nhóm trưởng Nguyễn Ý Mỹ Đức 4
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 2)
I. Thời gian và địa điểm: 1. Địa điểm: GG meet
2. Thời gian: 21h ngày 30 tháng 9 năm 2025
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III. Nội dung thảo luận:
1. Các thành viên thống nhất lại đề tài thảo luận một lần nữa.
2. Nhóm trưởng phân chia công việc
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên nhiệt tình trong quá trình thảo luận và nhận nhiệm vụ mà nhóm trưởng giao. Ngày 30 tháng 9 năm 2025 Nhóm trưởng Nguyễn Ý Mỹ Đức 5
MC LC
PHẦN MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1. Tính cấp thiết của đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2. Mục đích nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
4. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
5. Ý nghĩa nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
PHẦN 2. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH. . . . . . . . . . . . . . . . . 10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC H CHÍ MINH. . . 10
1.1. Cơ sở thực tiễn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.1.1 Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.1.2 Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.2. Cơ sở lý luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.3.
Nhân tố chủ quan hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
1.3.1. Phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
1.3.2.
Thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH. . . . . . . . . . . . . 22
2.1. Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng . . . . . 22
2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng. . . . . 24
2.2.1. Trung với nước, hiếu với dân. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
2.2.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
2.2.3 Thương yêu con người, sống có tình nghĩa. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
2.2.4.
Tinh thần quốc tế trong sáng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
2.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách
mạng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
2.3.1. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
2.3.2 Xây đi đôi với chống . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
2.3.3.
Tu dưỡng đạo đức suốt đời. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
CHƯƠNG 3. LIÊN HỆ VI VIC HC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TM
GƯƠNG ĐẠO ĐỨC H CHÍ MINH CA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HC
THƯƠNG MẠI. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 41
3.1 Thực trạng đạo đức sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay. . . . . . . . 41
3.1.1. Những đạo đức tốt đẹp của sinh viên trường Đại học Thương mại. . . . . . 41 6
3.1.2. Những tồn tại về đạo đức chưa tốt của sinh viên trường Đại học Thương
mại. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 46
3.2. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh đưa ra giải pháp nâng cao đạo đức cho sinh
viên Đại học Thương Mại hiện nay. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 49
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 56 7 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề đạo đức, lối sống của thế hệ trẻ - đặc biệt là
sinh viên - trở nên ngày càng quan trọng và cấp bách. Bên cạnh những thành tựu về tri thức
và khoa học – công nghệ, thực tế cho thấy vẫn tồn tại không ít biểu hiện suy thoái về đạo
đức, lối sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời các giá trị nhân văn truyền thống.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là nền tảng tinh thần, kim chỉ nam cho hành
động của mỗi người Việt Nam, đặc biệt đối với thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của
đất nước. Việc nghiên cứu và học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh giúp sinh viên nhận
thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của bản thân đối với xã hội, từ đó hình thành nhân cách,
lối sống lành mạnh, có lý tưởng và khát vọng cống hiến.
Do đó, nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, liên hệ với việc học
tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Trường Đại học
Thương mại” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
-
Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.
- Phân tích ý nghĩa, giá trị của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với thế hệ trẻ hiện nay.
- Liên hệ, đánh giá thực trạng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
của sinh viên Trường Đại học Thương mại.
- Đề xuất một số giải pháp, biện pháp giúp sinh viên phát huy hơn nữa việc rèn luyện, tu
dưỡng đạo đức theo gương Bác Hồ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
- Phân tích các phẩm chất đạo đức cốt lõi trong tư tưởng của Người như: trung với nước,
hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần nhân ái, vị tha, khiêm tốn, giản dị.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức và hành động của sinh viên Trường Đại học
Thương mại trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong sinh viên. 8
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Nghiên cứu các tài liệu, văn kiện, bài viết của Hồ Chí
Minh và các công trình khoa học liên quan đến tư tưởng đạo đức.
- Phương pháp lịch sử - logic: Xem xét sự hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh trong bối cảnh lịch sử cụ thể.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát, phỏng vấn, phát phiếu hỏi sinh viên Trường
Đại học Thương mại để đánh giá thực trạng học tập và làm theo Bác.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu giữa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và thực
tiễn đạo đức sinh viên hiện nay.
- Phương pháp thống kê - phân tích dữ liệu: Tổng hợp, xử lý các kết quả khảo sát và đưa
ra nhận xét, đánh giá khách quan. 5. Ý nghĩa nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ hơn giá trị bền vững và sức sống lâu dài của tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức trong thời đại mới.
- Về mặt thực tiễn: Giúp sinh viên Trường Đại học Thương mại nâng cao nhận thức, ý thức
tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống theo tấm gương Bác Hồ; đồng thời là tài liệu tham
khảo hữu ích cho các hoạt động giáo dục chính trị – tư tưởng trong nhà trường. 9
PHẦN 2. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH.
1.1. Cơ sở thực tiễn
1.1.1 Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam rơi vào tình cảnh mất nước, trở thành thuộc địa nửa
phong kiến dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Từ năm 1858, khi Pháp nổ súng xâm
lược Đà Nẵng, triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký các hiệp ước đầu hàng, từng bước biến
nước ta thành thuộc địa của Pháp. Dưới chế độ thực dân phong kiến, xã hội Việt Nam diễn
ra nhiều biến động sâu sắc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Về kinh tế, thực dân Pháp duy trì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nhằm phục vụ
cho mục tiêu khai thác thuộc địa. Họ tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa lớn (1897–
1914 và 1919–1929), bóc lột tài nguyên, sức lao động của nhân dân, làm cho đại đa số dân
cư rơi vào cảnh nghèo đói, cơ cực.
Về chính trị, Pháp duy trì chế độ quân chủ phong kiến, thi hành chính sách “chia để
trị”, chia nước ta thành ba kỳ (Bắc – Trung – Nam) với ba chế độ cai trị khác nhau, nhằm
chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.
Về văn hóa – xã hội, chúng áp dụng chính sách ngu dân, đưa các tệ nạn như rượu,
thuốc phiện vào đầu độc nhân dân, đồng thời truyền bá văn hóa nô dịch để duy trì sự thống trị lâu dài.
Trong bối cảnh ấy, các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam nổ ra sôi nổi:
từ phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế đến các phong trào Đông Du, Duy Tân đầu
thế kỷ XX. Tuy nhiên, do thiếu đường lối đúng đắn và giai cấp lãnh đạo đủ năng lực, các
phong trào này đều thất bại. Thực tiễn đó cho thấy tinh thần yêu nước của dân tộc Việt
Nam rất mạnh mẽ, nhưng phương pháp đấu tranh cũ đã lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu lịch sử.
Cùng với sự khai thác thuộc địa, trong lòng xã hội Việt Nam xuất hiện những giai
cấp và tầng lớp mới: giai cấp công nhân, giai cấp tư sản dân tộc, tiểu tư sản thành thị. Đặc
biệt, giai cấp công nhân ra đời sớm đã mang theo những phẩm chất cách mạng tiên tiến,
nhanh chóng trở thành lực lượng xã hội mới, có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Chính trong bối cảnh xã hội đó, Hồ Chí Minh – lúc bấy giờ là Nguyễn Tất Thành – 10
đã sớm nhận thấy nỗi thống khổ của nhân dân và sự bế tắc của các con đường cứu nước
cũ. Thực tiễn ấy hình thành trong Người một nhận thức mới: muốn cứu nước, cứu dân phải
có một con đường đúng đắn, và trước hết, con người làm cách mạng phải có đạo đức trong
sáng, có lý tưởng, có tinh thần hi sinh vì Tổ quốc và nhân dân. Từ đó, Người khẳng định:
“Đạo đức là gốc của người cách mạng.”
Như vậy, thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, với sự áp bức của
thực dân phong kiến, sự thất bại của các phong trào yêu nước và truyền thống đạo đức dân
tộc lâu đời, đã tạo nền tảng thực tế sâu sắc cho sự hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh – đạo đức yêu nước, thương dân, sống giản dị, trong sạch, hết lòng vì dân vì nước.
1.1.2 Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Trên phạm vi thế giới, cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển
từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước đế quốc như
Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Bỉ, Hà Lan… tiến hành chia lại thị trường và thuộc địa,
dẫn đến sự bành trướng xâm lược trên phạm vi toàn cầu. Phần lớn các nước châu Á, châu
Phi và Mỹ Latinh trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của các đế quốc. Điều đó làm nảy
sinh những mâu thuẫn sâu sắc: giữa giai cấp tư sản và vô sản trong lòng các nước tư bản,
giữa các nước đế quốc với nhau, và đặc biệt là giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân.
Bên cạnh đó, phong trào công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là các
cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở châu Âu đòi quyền lợi kinh tế và chính trị. Đỉnh cao
của phong trào là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới trong lịch sử
nhân loại – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của Nhà
nước Xô viết và Quốc tế Cộng sản (1919) đã tạo nên phong trào cách mạng vô sản và
phong trào giải phóng dân tộc sôi nổi trên toàn thế giới.
Thực tiễn thế giới ấy có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến quá trình hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình hoạt động ở nước ngoài, Người đã có cơ hội tiếp xúc
với nhiều học thuyết và tư tưởng tiến bộ của nhân loại. Từ Nho giáo, Người tiếp thu tinh
thần “tu thân”, coi trọng đạo đức cá nhân. Từ Phật giáo, Người học được lòng từ bi, bác ái,
cứu khổ cứu nạn. Từ Thiên Chúa giáo, Người tiếp nhận tình yêu thương con người. Đặc
biệt, qua việc tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải
phóng dân tộc và con người, đồng thời nhận ra rằng đạo đức cách mạng phải gắn liền với
lý tưởng cộng sản, với lợi ích của nhân dân lao động và nhân loại bị áp bức. 11
Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ mang lại cho Hồ Chí Minh niềm tin vào
sức mạnh của quần chúng mà còn giúp Người hiểu rằng, đạo đức của người cách mạng
chính là đạo đức của người phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân và cách mạng lên
trên hết. Người từng khẳng định: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách
mệnh thành công thì phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc”
Như vậy, thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sự ra đời
của chủ nghĩa Mác – Lênin và thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, đã ảnh hưởng
sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Từ những ảnh hưởng đó, Người
phát triển quan điểm đạo đức cách mạng mang tính nhân văn, quốc tế, đề cao con người,
tinh thần đoàn kết, bình đẳng và lòng yêu thương giữa các dân tộc.
1.2. Cơ sở lý luận
a. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc Việt Nam. Đó là động lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại vượt qua mọi
khó khăn trong dựng nước và giữ nước mà phát triển. Chính chủ nghĩa yêu nước là nền
tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước,
và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất vì
độc lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng
tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã
thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Không có gì quý hơn
độc lập tự do - chân lý lớn của thời đại được Hồ Chí Minh khẳng định, đồng thời cũng
chính là một điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh hết
sức chú trọng kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
là yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, dân chủ, nhân ái, khoan dung trong
cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bang; tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo, lạc
quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc Việt Nam.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định
thành công của cách mạng; dân là gốc của nước; nước lấy dân làm gốc; gốc có vững cây 12
mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân; đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc
tế là một nguyên tắc chiến lược quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch sử, trân
trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt đẹp khác của dân tộc.
Đó chính là một cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ
Chí Minh với chủ trương văn hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng; cần giữ gìn cốt
cách văn hóa dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hoá
mới của Việt Nam. Chính Hồ Chí Minh là một biểu tượng cao đẹp của sự tích hợp tinh hoa
văn hóa phương Đông và phương Tây.
b. Tinh hoa văn hóa nhân loại
- Tinh hoa văn hóa phương Đông
Tinh hoa văn hoá, tư tưởng phương Đông kết tinh trong ba học thuyết lớn Nho giáo,
Phật giáo, Lão giáo. Đó là những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Đông, và ở Việt Nam trước đây.
Về Nho giáo, Hồ Chí Minh phân tích: "Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong
học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì
chúng ta nên học. "Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu thái được những
điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy chúng ta như vậy".
Hồ Chí Minh chú ý kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội.
Kế thừa và phát triển quan niệm của Nho giáo về việc xây dựng một xã hội lý tưởng trong
đó công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng để có thể đi đến một
thế giới đại đồng với hòa bình, không có chiến tranh, các dân tộc có quan hệ hữu nghị và
hợp tác. Đặc biệt, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, đổi mới, phát triển tinh thần trọng đạo đức
của Nho giáo trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người; trong công tác xây
dựng Đảng về đạo đức.
Đối với Phật giáo, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu
thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng
của con người và chân lý; khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước của Đạo
Phật. Những quan điểm tích cực đó trong triết lý của Đạo Phật được Hồ Chí Minh vận
dụng sáng tạo để đoàn kết đồng bào theo Đạo Phật, đoàn kết toàn dân vì nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.Trong thư gửi Hội Phật tử năm 1947,
Người viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ 13
nạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh
của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc
dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm
theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa ống nòi ra khỏi cái khổ
ải nô lệ". Hồ Chí Minh chú trọng kế thừa, phát triển những tư tưởng nhân bản, đạo đức tích
cực trong Phật giáo vào việc xây dựng xã hội mới, con người mới Việt Nam hiện nay.
Đối với Lão giáo, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử,
khuyên con người nên sống gắn bó với thiên nhiên, hoà đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải
biết bảo vệ môi trường sống. Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta trồng cây, tổ chức "Tết
trồng cây" để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người. Hồ Chí
Minh chú ý kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi trong Lão
giáo. Người khuyên cán bộ, đảng viên ít lòng tham muốn về vật chất; thực hiện cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư; hành động theo đạo lý với ý nghĩa là hành động đúng với quy
luật tự nhiên, xã hội.
Trong các bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh còn chú ý kế thừa, phát triển nhiều ý tưởng
của các trường phái khác nhau trong các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại khác như Mặc
Tử, Hàn Phi Tử, Quản Tử, v,v...Và, Hồ Chí Minh cũng chú ý tìm hiểu những trào lưu tư
tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ, Trung Quốc như chủ nghĩa Găngđi, chủ nghĩa
Tam dân của Tôn Trung Sơn. Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo các quan điểm về dân
tộc, dân quyền, dân sinh của Tôn Trung Sơn trong cách mạng dân chủ tư sản thành tư tưởng
đấu tranh cho Độc lập - Tự do Hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam theo con
đường cách mạng vô sản. Là nhà mácxít sáng tạo, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển
những tinh hoa trong tư tưởng, văn hóa phương Đông để giải quyết những vấn đề thực tiễn
của cách mạng Việt Nam thời hiện đại.
- Tinh hoa văn hoá phương Tây
Ngay từ khi còn học ở Trường tiểu học Pháp-bản xứ ở thành phố Vinh (1905), Hồ
Chí Minh đã quan tâm tới khẩu hiệu nổi tiếng của Đại Cách mạng Pháp năm 1789: Tự do
- Bình đẳng - Bác ái. Đi sang phương Tây, Người quan tâm tìm hiểu những khẩu hiệu nổi
tiếng đó trong các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Pháp, Mỹ. Người đã kế thừa, phát triển
những quan điểm nhân quyền, dân quyền trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của
Mỹ, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp và đề xuất quan điểm
về quyền mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc của các dân tộc trong thời đại ngày nay. 14
Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh đã sống, hoạt động
thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa nhân loại tại những trung
tâm chính trị kinh tế văn hóa lớn ở các cường quốc trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Nga,
Trung Quốc, v.v. bằng chính ngôn ngữ của các nước đó. Người trực tiếp nghiên cứu tư
tưởng nhân văn, dân chủ và nhà nước pháp quyền của các nhà khai sáng phương Tây như
Vonte, Rutxô, Môngtétxkiơ, tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, Trung Quốc;
v.v..; thích đọc sách văn học của Shakespeare bằng tiếng Anh, Lỗ Tấn bằng tiếng Trung
Hoa, Hugo, Zola bằng tiếng Pháp; hai nhà văn Anatole France và Léon Tolstoi “có thể nói
là những người đỡ đầu văn học” cho Hồ Chí Minh.
c. Chủ nghĩa Mác-Lênin
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và thời đại mới cũng như chủ nghĩa Mác -
Lênin là cơ sở lý luận quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
khiến Người vượt hẳn lên phía trước so với những người yêu nước cùng thời. Ngay từ cuối
nhưng năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ
nghĩa Lênin”. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã
giải quyết được cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và người lãnh đạo cách mạng ở
Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin
là thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động cách mạng. Trên cơ sở
lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã triệt
để kế thừa, đổi mới, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam,
tinh hoa văn hóa nhân loại kết hợp với thực tiễn cách mạng trong nước và thế giới hình
thành lên một hệ thống các quan điểm cơ bản, toàn diện về cách mạng Việt Nam. Chủ
nghĩa Mác - Lênin tiền đề lý luận quan trọng nhất, có vai trò quyết định trong việc hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản với tầm
vóc trí tuệ lớn như Lênin mong muốn: "Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi
biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.
Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản trên cơ sở hiểu biết sâu sắc kho tàng tri thức
của nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Về việc đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Học
thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm 15
là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.
Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những ưu điểm chung đó sao? Họ
đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội". Nếu hôm nay họ còn
sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau
rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy".
Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng -
mà không phải chỉ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin chúng tôi giành được
những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin".
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những
đã vận dụng sáng tạo, mà còn bổ sung, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin
trong thời đại mới. Trong các vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; chủ nghĩa
xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; các vấn đề xây dựng Đảng, Nhà nước,
văn hóa, con người, đạo đức, v.v. Hồ Chí Minh đều có những luận điểm bổ sung, phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước nhảy vọt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
1.3. Nhân tố chủ quan hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Sự hình thành và phát triển của một tư tưởng vĩ đại không chỉ là sản phẩm thuần túy của
bối cảnh lịch sử khách quan, mà còn là kết tinh của những nhân tố chủ quan phi thường
thuộc về chính bản thân nhà tư tưởng. Đối với Hồ Chí Minh, những phẩm chất cá nhân kiệt
xuất, trí tuệ thiên tài, và đặc biệt là quá trình hoạt động, tổng kết thực tiễn không mệt mỏi
chính là những yếu tố cốt lõi, quyết định bản chất cách mạng, khoa học và sáng tạo trong
hệ thống tư tưởng của Người.
1.3.1. Phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là hiện thân của một nền đạo đức trong sáng, kết tinh những giá trị cao quý
nhất của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Những phẩm chất này được hun đúc từ
truyền thống gia đình, quê hương và được tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng gian khổ.
- Lý tưởng cao cả và hoài bão cháy bỏng cứu dân, cứu nước: Đây là phẩm chất bao
trùm, là ngọn lửa thôi thúc mãnh liệt chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến cảng 16
Nhà Rồng vào ngày 5/6/1911, bắt đầu một hành trình vĩ đại. Hoài bão ấy không phải là
một ý niệm trừu tượng, mà xuất phát từ lòng yêu thương vô hạn đối với đồng bào đang
quằn quại trong cảnh lầm than. Bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX là một bức tranh tang
tóc, các phong trào yêu nước theo những lối mòn cũ đều lần lượt thất bại, đẩy dân tộc vào
cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Tình yêu thương của Bác không chỉ dừng lại ở sự
đồng cảm mà hóa thành hành động quyết liệt. Khi chứng kiến nạn đói khủng khiếp năm
1945 khiến hơn 2 triệu người dân chết thảm, Người đã vô cùng đau xót và hạ quyết tâm
phải giành lại độc lập bằng mọi giá. Tấm lòng đó được Người gói gọn trong câu nói bất hủ
vào đầu năm 1946: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước
ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành."
- Ý chí mãnh liệt, tư duy độc lập, sáng tạo và niềm tin vào dân tộc: Hồ Chí Minh sở
hữu một ý chí sắt đá và một tầm nhìn vượt thời gian. Người không đi theo lối mòn của các
bậc tiền bối, những con đường dù sục sôi nhiệt huyết nhưng đã tỏ ra bế tắc trước lịch sử.
Người khâm phục tinh thần yêu nước của cụ Phan Bội Châu nhưng không tán thành con
đường "hướng Đông", sang Nhật Bản cầu viện, vì cho rằng đó chỉ là "đuổi hổ cửa trước,
rước beo cửa sau". Người cũng không đi theo con đường cải lương, dựa vào Pháp để cải
cách "khai dân trí" của cụ Phan Châu Trinh, vì nhận thấy đó chỉ là ảo tưởng, không khác
nào "xin giặc rủ lòng thương". Người trân trọng sự anh dũng của cụ Hoàng Hoa Thám,
nhưng thấy rằng cuộc khởi nghĩa ấy vẫn mang nặng cốt cách phong kiến, chưa thể tập hợp
được sức mạnh toàn dân tộc. Trước những thất bại đó, Hồ Chí Minh đã có một quyết định
táo bạo, mới mẻ nhưng vô cùng đúng đắn: sang phương Tây, đến tận "hang cọp" để tìm
hiểu bản chất của kẻ thù và học hỏi văn minh thế giới. Suốt 30 năm bôn ba, Người đã làm
đủ mọi nghề, tự học nhiều ngoại ngữ, không ngừng tích lũy tri thức và kinh nghiệm. Phẩm
chất này thể hiện rõ nhất trong việc Người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. Khi
Quốc tế Cộng sản vẫn còn quan điểm xem cách mạng thuộc địa là "phụ thuộc", Người đã
sớm đưa ra luận điểm mang tính đột phá về vai trò chủ động và khả năng thắng lợi trước
của cách mạng giải phóng dân tộc. Niềm tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng của dân tộc
chính là nền tảng cho quan điểm sáng tạo đó. Người tin rằng, một khi nhân dân được giác
ngộ và đoàn kết lại, họ sẽ tạo nên một sức mạnh vô địch có thể "dời non lấp biển".
- Sự kế thừa và phát triển các giá trị đạo đức truyền thống: Đây là một trong những
điểm đặc sắc nhất trong nhân cách Hồ Chí Minh. Người không đoạn tuyệt với quá khứ mà 17
chắt lọc những tinh hoa, nâng tầm các giá trị cũ trong bối cảnh thời đại mới.
+ Với "Trung, Hiếu": Người đã thực hiện một cuộc cách mạng trong nội hàm của hai
khái niệm này. "Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời
đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng
bào." "Trung" được giải phóng khỏi sự trói buộc vào một cá nhân, một triều đại để trở
thành lòng trung thành tuyệt đối với lợi ích của Tổ quốc. "Hiếu" được mở rộng từ phạm vi
gia đình thành tình yêu thương, trách nhiệm với toàn thể nhân dân.
+ Với "Cần, kiệm, liêm, chính": Người đã thổi vào đó một tinh thần mới, mang tính cách
mạng và khoa học. Cần phải gắn với kế hoạch, sáng tạo để có năng suất. Kiệm là tiết kiệm
của công, của dân, chống lãng phí, chứ không phải bủn xỉn. Liêm, Chính là sự trong sạch
của người cán bộ cách mạng cầm quyền. Và đỉnh cao là Chí công vô tư, đặt lợi ích chung
lên trên hết. Tấm gương về đôi dép cao su, bộ quần áo kaki giản dị, bữa ăn đạm bạc của
Người chính là bài học sống động nhất về một lối sống thanh cao, giản dị mà vĩ đại.
1.3.2. Thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sản phẩm của tư duy kinh viện, mà được hình thành,
kiểm nghiệm và phát triển thông qua chính thực tiễn đấu tranh cách mạng phong phú và
vô cùng gian khổ của Người.
- Giai đoạn khảo sát, tìm tòi con đường cứu nước (1911 - 1920): Trong gần một
thập kỷ, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều châu lục, làm đủ mọi nghề từ phụ bếp trên
tàu, cào tuyết ở Anh đến thợ ảnh ở Pháp. Người không chỉ lao động để sống mà chủ
động hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động, để khảo sát, để nghiên
cứu. Bằng trải nghiệm thực tế, Người đã rút ra một kết luận quan trọng: dù màu da
khác nhau, nhưng ở đâu người lao động cũng bị áp bức, bóc lột và có chung một kẻ
thù là chủ nghĩa đế quốc. Giai đoạn này kết thúc bằng một bước ngoặt quyết định vào
tháng 7/1920, khi Người đọc được "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I. Lênin. Tác phẩm đã giải đáp trọn vẹn những câu
hỏi lớn mà Người đang trăn trở, khẳng định con đường giải phóng duy nhất đúng đắn
là con đường cách mạng vô sản. Sự kiện này đánh dấu sự chuyển biến từ một nhà yêu
nước thành một người cộng sản.
- Giai đoạn đấu tranh và truyền bá tư tưởng cách mạng (1921 - 1930): Sau khi
tìm thấy chân lý, Người bắt tay ngay vào việc truyền bá chân lý đó cho cách mạng Việt
Nam. Tại Pháp, Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, ra báo Le Paria 18
(Người Cùng khổ) để vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân và thức tỉnh các dân tộc
bị áp bức. Năm 1924, Người đến Liên Xô, tham dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản,
kiên quyết bảo vệ quan điểm về vai trò và vị trí của cách mạng ở các nước thuộc địa.
Đặc biệt, trong những năm 1925-1927 tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã sáng
lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở các lớp huấn luyện chính trị, trực tiếp
đào tạo hàng trăm cán bộ cốt cán cho cách mạng. Tác phẩm Đường Kách mệnh (1927)
ra đời trong giai đoạn này, trình bày một cách hệ thống và giản dị những luận điểm cơ
bản về con đường cách mạng Việt Nam. Đỉnh cao của giai đoạn này là sự kiện Người
chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
vào ngày 3/2/1930, chấm dứt hoàn toàn cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước.
- Giai đoạn lãnh đạo, tổ chức và hiện thực hóa tư tưởng (1930 - 1969): Đây là giai
đoạn tư tưởng Hồ Chí Minh được tôi luyện trong thử thách và tỏa sáng rực rỡ khi trở
thành kim chỉ nam cho toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Quá trình này không
chỉ là sự áp dụng lý luận, mà là một nghệ thuật lãnh đạo thiên tài, biến tư tưởng thành sức mạnh vật chất.
+ Vượt qua thử thách, kiên định con đường (1930 - 1941): Đây là thập kỷ đầy
giông bão. Sau khi Đảng ra đời, do ảnh hưởng của khuynh hướng "tả" cực đoan
trong Quốc tế Cộng sản, Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Người khởi thảo đã bị
phê phán là "hữu khuynh", "dân tộc chủ nghĩa". Người bị hiểu lầm, thậm chí bị
nghi kỵ, phải trải qua những năm tháng bị giam cầm ở Hồng Kông và gần như
không được giao nhiệm vụ. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất,
bản lĩnh và niềm tin sắt đá vào con đường đã chọn của Người càng được khẳng
định. Người kiên trì bảo vệ luận điểm đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết,
trước hết, tin tưởng vào sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một quan
điểm tỏ ra vượt trước so với thời đại.
+ Trực tiếp lãnh đạo, chớp thời cơ vàng (1941 - 1945): Ngày 28/1/1941, sau 30
năm xa Tổ quốc, Người trở về Pác Bó (Cao Bằng), một sự kiện có ý nghĩa lịch sử
trọng đại. Việc trở về trực tiếp chỉ đạo đã tạo ra một bước ngoặt cho phong trào
cách mạng. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) do Người chủ trì, đường lối
giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất,
thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết toàn dân đã chính thức được thông qua.
Đây là sự thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh sau một thời gian dài bị thử thách. 19
Từ đó, Người đã dày công xây dựng căn cứ địa, phát triển lực lượng chính trị và
vũ trang. Bằng sự nhạy bén phi thường, Người đã dự báo chính xác và chớp lấy
thời cơ ngàn năm có một khi Nhật đầu hàng Đồng minh, phát động Tổng khởi
nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và
sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là sự hiện thực hóa rực rỡ và là
minh chứng hùng hồn nhất cho tính đúng đắn, sáng tạo trong tư tưởng của Người.
+ Lãnh đạo kháng chiến (1945 - 1969): Đây là giai đoạn tư duy chiến lược và
nghệ thuật lãnh đạo của Hồ Chí Minh được thể hiện ở đỉnh cao. Trong thế "ngàn
cân treo sợi tóc" sau 1945, Người đã vận dụng thiên tài phương châm "dĩ bất biến,
ứng vạn biến". Cái "bất biến" là nền độc lập dân tộc, còn "vạn biến" là những sách
lược mềm dẻo, khôn khéo: khi thì tạm hòa với quân Tưởng để tập trung đánh Pháp
ở miền Nam, khi thì ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 với Pháp để đẩy 20 vạn quân
Tưởng về nước, tranh thủ thời gian hòa bình quý báu để chuẩn bị lực lượng. Người
là linh hồn của hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đề ra đường lối chiến tranh nhân
dân "toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh" và khơi dậy ý chí "Không
có gì quý hơn độc lập, tự do", biến nó thành sức mạnh vật chất để đánh thắng
những đế quốc hùng mạnh nhất.
- Tổng kết thực tiễn để phục vụ chiến lược đào tạo nhân tài: Một trong những
đóng góp vĩ đại nhất của Hồ Chí Minh là sự nghiệp xây dựng con người mới. Người
nhận thức sâu sắc rằng cách mạng muốn thành công phải có con người cách mạng, và
con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Toàn bộ quá trình hoạt
động thực tiễn của Người đều hướng tới việc đúc kết kinh nghiệm để phục vụ cho mục
tiêu "trồng người" lâu dài. Ngay từ các lớp huấn luyện ở Quảng Châu, Người đã chú
trọng đào tạo nên một thế hệ cán bộ vừa có đạo đức, vừa có năng lực. Sau khi giành
độc lập, giữa muôn vàn khó khăn của đất nước, Người đã coi "diệt giặc dốt" là nhiệm
vụ cấp bách ngang với "diệt giặc đói" và "diệt giặc ngoại xâm", phát động phong trào
"Bình dân học vụ" sôi nổi. Người khẳng định "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Chiến lược này không chỉ dừng lại ở việc
nâng cao dân trí đại chúng, mà còn là việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân
tài. Người luôn coi "hiền tài là nguyên khí của quốc gia", bằng uy tín và tấm lòng chân
thành, Người đã quy tụ được một đội ngũ trí thức yêu nước tài năng bậc nhất như Trần
Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Lương Định Của... về phục vụ Tổ quốc. Người đã khéo léo 20