Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
------------ BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và vận dụng hiện nay Bộ môn:
Tư tưởng Hồ Chí Minh Nhóm thực hiện: 02 Lớp học phần: 2158HCMI0111
Giảng viên hướng dẫn:
Ngô Thị Huyền Trang HÀ NỘI - 2021 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................2
I. Tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế................................................................................2
1. Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế...............................................................................2
2. Lực lượng đoàn kết quốc tế và hình thức tổ chức.......................................................4
3. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế......................................................................................7
II. VẬN DỤNG................................................................................................................10 1.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay..10
2. Giải pháp tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong giai
đoạn hiện nay................................................................................................................19
KẾT LUẬN......................................................................................................................21 2 MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, là một chiến
sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người không chỉ là hiện thân
của đại đoàn kết dân tộc, mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết quốc tế cao đẹp
trong thời đại ngày nay. Từ những bài nói, bài viết, thư gửi, thông điệp, cử chỉ, hành
động, … và đến cả Di chúc của Người là lời nhắn nhủ chân tình và vô cùng sâu sắc về
tinh thần đoàn kết và ủng hộ quốc tế làm cho kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
Bài tiểu luận này thảo luận về vấn đề: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc
tế và vận dụng trong thời đại ngày nay" trình bày một cách tổng quan nhất, khái quát
nhất về tính chất đoàn kết quốc tế cũng như vai trò của nó trong tư tưởng, lý luận về xây
dựng đất nước. Hơn thế, tư tưởng đoàn kết quốc tế ấy còn có giá trị trường tồn đối với
quá trình phát triển của dân tộc ta và của toàn nhân loại. Đó là tư tưởng xuyên suốt và
nhất quán trong tư duy lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở
thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
I. Tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế
1. Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế
a. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế để tập hợp lực lượng bên ngoài,
tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp cho các
mạng Việt Nam. Đây là một trong những nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết quốc tế và cũng là một trong những bài học quan trọng nhất, mang tính thời
sự sâu sắc nhất của cách mạng Việt Nam.
Sức mạnh dân tộc là sự tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần , song trước nhất
là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường của dân tộc, sức mạnh của
tinh thần đoàn kết; ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do... Sức mạnh đó 3
đã giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách, khó khăn trong dựng nước và giữ nước.
Sức mạnh thời đại là sức mạnh phong trào cách mạng thế giới, đó còn là sức mạnh
của chủ nghĩa Mác - Lênin được xác lập bởi thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga
năm 1917. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhờ chú ý tổng kết thực tiễn dưới ánh
sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từng bước phát hiện ra sức mạnh vĩ đại tiềm
ẩn của các phong trào cách mạng thế giới mà Việt Nam cần tranh thủ. Các phong trào đó
nếu được liên kết, tập hợp trong một khối đoàn kết quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh to lớn.
Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng
thế giới ngay từ khi tìm thấy con đường cứu nước, Người cho rằng, cách mạng Việt Nam
chỉ có thể thành công khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới.
Thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; đại đoàn kết dân tộc là
cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế. Cùng với quá trình phát triển thắng lợi của
cách mạng Việt Nam trong quan hệ với quốc tế, tư tưởng đoàn kết với phong trào cách
mạng thế giới đã được Hồ Chí Minh phát triển ngày càng đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn. b.
Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện
thắng lợi mục tiêu cách mạng của thời đại
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền với
chủ nghĩa quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế; thực hiện
đoàn kết quốc tế không vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung
của nhân loại tiến bộ trong công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
phản động quốc tế vì các mục tiêu cách mạng của thời đại.
Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động chính trị là thời đại đã chấm dứt thời
kỳ tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra các quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng cho
các dân tộc, làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của cả loài người.
Ngay sau khi nắm được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạt động
không mệt mỏi để phá thế đơn độc của cách mạng Việt Nam, gắn cách mạng Việt Nam
với cách mạng thế giới. Trong suốt quá trình đó, Người không chỉ phát huy triệt để sức
mạnh chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc trong đấu tranh giành độc lập, tự do cho 4
dân tộc mình mà còn kiên trì đấu tranh không mệt mỏi để củng cố và tăng cường đoàn kết
giữa các lực lượng cách mạng thế giới đấu tranh cho mục tiêu chung, hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh vì
mục tiêu chung, các đảng cộng sản trên thế giới vì kiên trì chống lại mọi khuynh hướng
sai lầm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sô vanh... những khuynh
hướng làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất các lực lượng cách mạng thế giới. Nói
cách khác, các đảng cộng sản trên thế giới phải tiến hành có hiệu quả việc giáo dục chủ
nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh, thắng
lợi của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhờ kết hợp giải phóng dân tộc với
giải phóng giai cấp, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đã được bổ sung nguồn
lực mới. Nhờ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng
tình, ủng hộ của quốc tế, huy động được sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại,
làm cho sức mạnh dân tộc được nhân lên gấp bội, chiến thắng được những kẻ thù có sức
mạnh to lớn hơn mình về nhiều mặt.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt
chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nhằm góp phần cùng nhân dân thế
giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của dân tộc và thời đại. Bởi lẽ, nhân dân
Việt Nam không chỉ chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước mình mà còn vì độc lập, tự
do của các nước khác, không chỉ bảo vệ lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còn vì
những mục tiêu cao cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
2. Lực lượng đoàn kết quốc tế và hình thức tổ chức
a. Các lực lượng cần đoàn kết
Các lực lượng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh, lực lượng đó bao gồm: Phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào
hòa bình, dân chủ thế giới, trước hết là phong trào chống chiến tranh của nhân dân các
nước đang xâm lược Việt Nam. 5
Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế: Đây
là lực lượng nòng cốt của
đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh cho rằng, sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản quốc tế là một
đảm bảo vững chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản.
Đây cũng là một lực lượng ủng hộ mạnh mẽ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
Chủ trương đoàn kết giai cấp vô sản các nước, đoàn kết giữa các đảng cộng sản
trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ tính tất yếu vai trò của giai cấp công nhân trong
thời đại ngày nay. Người cho rằng "chủ nghĩa tư bản là một lực lượng phản động quốc tế,
là kẻ thù chung của nhân dân lao động toàn thế giới”. Trong hoàn cảnh như vậy chỉ có sức
mạnh đoàn kết, nhất trí, đồng tình và ủng hộ lẫn nhau của lao động toàn thế giới mới có
thể chống lại âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc thực dân. Dù lịch sử có thay đổi,
song sự đồng tình, ủng hộ, sự chi viện về vật chất các nước xã hội chủ nghĩa, của các lực
lượng cộng sản và công nhân cho cách mạng và nhân dân Việt Nam theo tinh thần quốc tế
vô sản là không thể phủ nhận.
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc: Hồ
Chí Minh đã phát hiện sớm âm mưu
chia rẽ dân tộc các nước đế quốc, tạo sự biệt lập, đối kháng và thù ghét dân tộc, chủng
tộc, ... nhằm làm suy yếu phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
Do đó Người đã chú ý tới những biện pháp nhằm "làm cho các dân tộc thuộc địa, vốn từ
trước tới nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết để đặt cơ sở cho một liên
minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách
mạng vô sản". Hơn nữa để tăng cường đoàn kết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng
vô sản chính quốc như hai cái cánh của cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh còn đề nghị
Quốc tế cộng sản, bằng mọi cách phải "làm cho quân đội tiên phong của lao động thuộc
địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác
thật sự sau này; chỉ có sự hợp tác này mới đảm bảo cho giai cấp công nhân quốc tế giành
thắng lợi cuối cùng". Người nói, đứng trước chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của giai cấp vô
sản chính quốc và của nhân dân các nước thuộc địa là thống nhất.
Các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tự do và công
: Hồ Chí Minh tìm mọi cách để thực hiện đoàn kết. Trong xu thế thời đại mới, sự thức
tỉnh dân tộc gắn liền với sự thức tỉnh giai cấp, Hồ Chí Minh đã gắn cuộc đấu tranh vì độc 6
lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp vì
Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh
thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Bên cạnh ngoại giao nhà nước, Hồ Chí Minh đẩy mạnh ngoại giao nhân dân. cho
đại diện các tổ chức của nhân dân Việt Nam tiếp xúc, hợp tác với các tổ chức chính trị -
xã hội, văn hóa của nhân dân thế giới, của nhân dân Á - Phi..., xây dựng các quan hệ hữu
nghị, vì đoàn kết với các lực lượng tiến bộ thế giới.
Gắn kết cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc với mục tiêu hòa bình, tự do và công lý, Hồ
Chí Minh đã khơi gợi lương tri loài người tiến bộ tạo nên tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ của
các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và từng con người trên hành tinh.
b. Hình thức tổ chức
Đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề sách lược, một
thủ đoạn chính trị nhất thời mà là vấn đề có tính nguyên tắc, một đòi hỏi khách quan của
cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Ngay từ năm 1924 Hồ Chí Minh đã đưa ra quan
điểm về thành lập "Mặt Trận thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa'' chống chủ
nghĩa đế quốc, đồng thời kiến nghị Quốc tế Cộng sản cần có giải pháp cụ thể để đến Đại
hội VI (1928), quan điểm này trở thành sự thật.
Đối với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc
biệt. Cả ba dân tộc đều là láng giềng gần gũi của nhau, có nhiều điểm tương đồng về lịch
sử, văn hoá và cùng chung một kẻ thù là thực dân Pháp. Năm 1941, để khơi dậy sức mạnh
và quyền tự quyết của mỗi dân tộc, theo đúng quan điểm của Hồ Chí Minh về tập hợp lực
lượng cách mạng, Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam
Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh); giúp Lào và Campuchia thành lập mặt
trận Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh đã
chỉ đạo việc hình thành Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau
cùng chiến đấu, cùng thắng lợi.
Đồng thời, Hồ Chí Minh chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác
nhiều mặt với Trung Quốc -nước láng giềng có quan hệ lịch sử văn hoá lâu đời với Việt
Nam; thực hiện đoàn kết với các dân tộc châu Á và châu Phi đấu tranh giành độc lập. Với 7
các dân tộc châu Á, Người chỉ rõ, các dân tộc châu Á có độc lập thì nền hoà bình thế giới
mới thực hiện. Vận mệnh dân tộc châu Á có quan hệ mật thiết với vận mệnh dân tộc Việt
Nam. Do vậy, từ những năm 20 của thế kỷ XX, cùng với việc sáng lập Hội Liên hiệp
thuộc địa tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức
tại Trung Quốc. Đây là hình thức sơ khai của mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức
theo xu hướng vô sản, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc. Với việc tham gia sáng lập các tổ chức này, Hồ Chí Minh đã góp phần đặt cơ sở
cho sự ra đời của Mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam
Những năm đấu tranh giành độc lập, Hồ Chí Minh tìm mọi cách xây dựng các
quan hệ với Mặt trận dân chủ và lực lượng Đồng minh chống phát xít nhằm tạo thế dựa
cho cách mạng Việt Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bằng
hoạt động ngoại giao không mệt mỏi, Hồ Chí Minh đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh
em, của bạn bè quốc tế và nhân loại tiến bộ, trong đó có cả nhân dân Pháp trong kháng
chiến chống thực dân Pháp và nhân dân Mỹ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, hình
thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.
Như vậy, tư tưởng đại đoàn kết vì thắng lợi cách mạng của Hồ Chí Minh đã định
hướng cho việc hình thành bốn tầng mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận
đoàn kết Việt - Miên - Lào; Mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam; Mặt trận
nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược. Đây thực sự là sự phát
triển rực rỡ nhất và thắng lợi to lớn nhất của tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.
3. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế
a. Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình
Muốn thực hiện được đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc và các lực lượng phản động quốc tế, phải tìm ra được những điểm tương đồng về
mục tiêu và lợi ích giữa các dân tộc, các lực lượng tiến bộ và phong trào cách mạng thế
giới. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra sự tương đồng này nhờ đặt cách mạng Việt
Nam trong bối cảnh chung của thời đại, kết hợp lợi ích của cách mạng Việt Nam với trào 8
lưu cách mạng thế giới và nhận thức về nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp cách
mạng chung của nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương cao ngọn
cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đoàn kết thống nhất trên nền
tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Là một chiến sĩ
cách mạng quốc tế kiên định, Hồ Chí Minh đã suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp củng cố
khối đoàn kết, thống nhất trong cách mạng thế giới, trước hết là phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế, lực lượng tiên phong của cách mạng thế giới đấu tranh chống chủ
nghĩa đế quốc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập, tự do
và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh không chỉ suốt đời đấu tranh cho độc
lập, tự do của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho độc lập, tự do cho các dân tộc khác.
Trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, Hồ Chí Minh thực hiện nhất
quán quan điểm có tính nguyên tắc: Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả các dân tộc-quốc gia trên thế
giới, đồng thời mong muốn các nước trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt
Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó.Những quan điểm trên được Người thể chế hóa sau
khi Việt Nam giành được độc lập. Tháng 9 năm 1947, trả lời nhà báo Mỹ S. Êli Mây Si,
Hồ Chí Minh tuyên bố: Chính sách đối ngoại của nước Việt Nam là “làm bạn với tất cả
mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai".
Thời đại Hồ Chí Minh sống là thời đại của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
diễn ra mạnh mẽ trên hầu khắp các châu lục của thế giới. Trong tiến trình đó, Người
không chỉ là nhà tổ chức, người cổ vũ mà còn là người ủng hộ nhiệt thành cuộc đấu tranh
của các dân tộc vì các quyền dân tộc cơ bản của họ. Nêu cao tư tưởng độc lập và quyền
bình đẳng giữa các dân tộc, Hồ Chí Minh trở thành người khởi xướng, người cầm cờ và là
hiện thân của những khát vọng của nhân dân thế giới trong việc khẳng định cốt cách dân
tộc, đồng thời thúc đẩy sự đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới vì thắng lợi
của cách mạng mỗi nước. 9
Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ hòa
bình, chống chiến tranh xâm lược. Tư tưởng đó bắt nguồn từ truyền thống hòa hiếu của
dân tộc Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và những giá trị nhân văn
nhân loại. Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ hòa bình,
đấu tranh cho hòa bình, một nền hòa bình thật sự cho tất cả các dân tộc -
“hòa bình trong độc lập, tự do” Nền hòa bình đó không phải là một nền hòa bình trừu
tượng, mà là “một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ",
chống chiến tranh xâm lược vì các quyền dân tộc cơ bản của các quốc gia. Trong suốt hai
cuộc kháng chiến, quan điểm hòa bình trong công lý, lòng thiết tha hòa bình trong sự tôn
trọng độc lập và thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã làm rung
động trái tim nhân loại. Nó có tác dụng cảm hoá, lôi kéo các lực lượng tiến bộ thế giới
đứng về phía nhân dân Việt Nam đòi chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Trên thực
tế, đã hình thành một mặt trận nhân dân thế giới, có cả nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ,
đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược, góp phần kết thúc thắng lợi hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
b. Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ
Đoàn kết quốc tế là để tranh thủ đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng
quốc tế nhằm tăng thêm nội lực, tạo sự thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Chính vì
vậy, Hồ Chí Minh luôn nêu cao khẩu hiệu “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”,
“Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Trong kháng chiến
chống Pháp, Bác chỉ rõ “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác
giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh
phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảng phải có đường
lối độc lập, tự chủ và đúng đắn. Người xác định “Các Đảng dù lớn dù nhỏ đều độc lập và
bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ nhau”. Trong kháng chiến chống thực dân
Pháp, với đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,
cách mạng giành thắng lợi. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, với đường lối độc lập,
tự chủ, kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế, Đảng ta đã tranh thủ được 10
sự ủng hộ của phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam, nhận được sự giúp đỡ
to lớn từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã đánh thắng cuộc chiến
tranh xâm lược của Mỹ. II. VẬN DỤNG
1. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay
a. Sự cần thiết của đoàn kết quốc tế
Hiện nay, tình hình chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội thế giới diễn biến nhanh
chóng, phức tạp và khó lường; các nước lớn gia tăng cạnh tranh chiến lược, căng thẳng,
xung đột leo thang tại nhiều khu vực; thách thức an ninh phi truyền thống, như dịch bệnh
COVID-19, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, khủng bố, tội phạm có tổ chức… tiếp
tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát hơn trong một “thế giới phẳng”, song hoạt động
ngoại giao của Việt Nam với các nước vẫn được triển khai mạnh mẽ, khẳng định vai trò
không thể thiếu của quan hệ quốc tế đối với vận mệnh đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết, phát huy sự ủng hộ quốc tế là cơ sở quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam
hoạch định chủ trương, đường lối đối ngoại và giải quyết các vấn đề quốc tế.
Năm 2020 là năm cuối cùng trong triển khai kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai
đoạn 2016-2020 vừa khép lại. Nhìn lại 5 năm qua, tình hình thế giới và khu vực có những
biến chuyển nhanh chóng, những cú sốc với tác động về quy mô, mức độ nghiêm trọng
nhất trong hàng chục năm, thậm chí trong thế kỷ gần đây. Cạnh tranh nước lớn gia tăng
mạnh cả về quy mô và mức độ, tác động tới môi trường an ninh-phát triển của nhiều quốc
gia. Đại dịch COVID-19 đã tác động đa diện, đa khủng hoảng tới đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội toàn cầu. Nhu cầu hợp tác đa phương cao hơn bao giờ hết nhưng các thể chế đa
phương như WTO, WHO đứng trước nhiều thách thức, có thể là ở mức độ gay gắt nhất
trong 75 năm qua. Kinh tế thế giới trượt khỏi đà phục hồi và rơi vào suy thoái.
Việt Nam đã quản trị và thúc đẩy một cách hiệu quả, thực chất mạng lưới quan hệ
đối ngoại, đáng chú ý là quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, khu vực. Việt
Nam duy trì và thúc đẩy được đà quan hệ tích cực đồng thời với các nước láng giềng Lào,
Campuchia, Trung Quốc, các nước ASEAN, các nước lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn
Độ, Nga, Pháp. Đối ngoại-quốc phòng-an ninh đã tạo thành thế chân kiềng vững chắc để 11
canh giữ và bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Việt Nam và Campuchia
đã ký và phê chuẩn 2 văn kiện pháp lý công nhận 84% thành quả phân giới cắm mốc. Việt
Nam đã kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền ở Biển Đông,
đồng thời thúc đẩy các biện pháp căn cơ, lâu dài để xử lý vấn đề trên tinh thần thượng tôn
pháp luật và hòa bình, nhấn mạnh vai trò của Công ước Luật Biển năm 1982. Quan hệ với
một loạt đối tác đã được nâng cấp, bao gồm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với
Australia (2018), New Zealand (2020) và thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với Myanmar
và Canada (2017), Hungary (2018), Brunei và Hà Lan (2019). Tính tới nay, Việt Nam có
quan hệ đối tác chiến lược với 17 quốc gia và quan hệ đối tác toàn diện với 13 quốc gia.
Trong khi môi trường an ninh-phát triển của thế giới ngày càng phức tạp và khó
lường, việc quản trị và thúc đẩy hiệu quả quan hệ với các đối tác quan trọng đã giúp củng
cố môi trường hòa bình, ổn định, và tranh thủ nguồn lực cho sự phát triển của đất nước.
Riêng trong năm 2020, trong bối cảnh dịch COVID-19, Việt Nam đã đổi mới, tích cực
triển khai phương thức đối ngoại trực tuyến với 34 cuộc điện đàm, trao đổi song phương ở
cấp cao, nhiều hoạt động kỷ niệm, họp liên chính phủ và ký thỏa thuận quốc tế.
Việt Nam đã đạt được những thành tựu về tăng trưởng và ổn định kinh tế mà kể cả những
quốc gia phát triển chưa chắc đã đạt được, trong đó có sự đóng góp ấn tượng của kinh tế đối ngoại.
Hội nhập kinh tế quốc tế trên thực tế đã đạt được những đột phá, tạo xung lực mới
cho đà phát triển, góp phần đưa đất nước vượt lên các khó khăn và bất định của kinh tế
toàn cầu. Việt Nam ký kết các phê chuẩn các Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA, có hiệu lực từ
tháng 8/2020) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA) với Liên minh châu Âu, ký Hiệp
định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).
Đặc biệt, các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA không chỉ mở ra không gian
xuất khẩu, cơ hội thu hút đầu tư mà còn giúp đổi mới thể chế kinh tế, nâng cao năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế. Năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam theo
xếp hạng của WEF đã tăng từ hạng 77 lên 67, là mức thăng hạng mạnh mẽ nhất trong số
141 nền kinh tế. Trong những giai đoạn khó khăn của dịch COVID-19, các ngành, các cấp
đã phối hợp chặt chẽ, cấp bách và quyết liệt để tiến hành chiến dịch bảo hộ công dân với 12
quy mô lớn nhất từ trước tới nay với hơn 280 chuyến bay và đưa gần 80.000 công dân về nước.
Việt Nam đã thể hiện tâm thế chủ động, tự tin hơn trong tham gia các cơ chế đa
phương, sẵn sàng đảm nhận các trọng trách đa phương quan trọng. Có nhận xét cho rằng
năng lực đối ngoại đa phương đã đưa Việt Nam trở thành một trong những thành viên có
vai trò dẫn dắt tại các cơ chế ở khu vực châu Á-Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong
tương lai. Việc chủ trì rất thành công Năm APEC Việt Nam 2017, đặc biệt là Tuần lễ Cấp
cao APEC đã tạo ra nhận thức mới, niềm tin mới hòa cùng niềm tự hào và khát vọng vươn lên của dân tộc.
Năm 2018, Chỉ thị 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại
đa phương đến năm 2030 là bước chuyển tư duy, đặt đối ngoại đa phương ở vị trí quan
trọng, xứng tầm trong tổng thể các nhiệm vụ đối ngoại. Các hướng đi mới, sáng tạo trong
hợp tác tiểu vùng đã được thúc đẩy với các Hội nghị cấp cao GMS6, CLV10 và đặc biệt
là Hội nghị WEF về ASEAN với tư cách là Hội nghị thành công nhất trong 27 năm tổ
chức. Năm 2019, Việt Nam thu hút sự chú ý của cả thế giới với vai trò Chủ nhà của Hội
nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều lần 2 và đã được bầu là Ủy viên không thường trực của Hội
đồng Bảo an (HĐBA) Liên Hợp Quốc (LHQ) với số phiếu cao kỷ lục. Chuyên gia cao cấp
Murray Hiebert tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (Mỹ) cho rằng các hội
nghị cấp cao như Thượng đỉnh Mỹ-Triều giúp tăng uy tín quốc tế của Việt Nam.
Kể từ khi chính thức tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
(GGHB LHQ) vào năm 2014 đến nay, Việt Nam đã triển khai lực lượng tham gia theo hai
hình thức chính là cá nhân và đơn vị. Với hình thức cá nhân, đã có 55 sỹ quan của Việt
Nam được cử đến các Phái bộ của Liên hợp quốc ở Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan
với các vị trí: Quan sát viên quân sự, Sĩ quan liên lạc, Sĩ quan tham mưu, Sĩ quan hậu cần
và các vị trí khác theo nhu cầu của Liên hợp quốc.
Năm 2020, Việt Nam đã thúc đẩy HĐBA lần đầu tiên thông qua Tuyên bố Chủ
tịch về tuân thủ Hiến chương LHQ, tổ chức cuộc đối thoại giữa LHQ và ASEAN, thúc
đẩy thành công Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ lấy ngày 27/12 hằng năm là Ngày
quốc tế phòng chống dịch bệnh, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ. Trên
cương vị Chủ tịch ASEAN 2020, vai trò điều phối, dẫn dắt của Việt Nam đã được thể 13
hiện rõ nét. Vượt qua các khó khăn chưa có tiền lệ, Việt Nam đã thúc đẩy ASEAN đạt
được đồng thuận trên những vấn đề lớn liên quan tới an ninh, phát triển và vị thế của khu
vực. Lần đầu tiên, Hội nghị Cấp cao trực tuyến trong lịch sử 53 năm của ASEAN đã được
tổ chức rất thành công, với số lượng văn kiện đồ sộ nhất từ trước tới nay b.
Lực lượng đoàn kết và hình thức tổ chức
Theo Chủ tịch nước, chúng ta đã mở rộng quan hệ đối ngoại chưa từng có cả về bề
rộng lẫn chiều sâu. Thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, từ
vỏn vẹn 11 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1954 đến nay, Việt Nam đã có
quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia trên thế giới, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược,
toàn diện với 30 nước; có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh
thổ, đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia chủ chốt trên
thế giới, trong đó có 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Nổi bật là mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 3 quốc gia Trung Quốc,
Nga, Ấn Độ; đối tác chiến lược với 17 quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ,...;
đối tác toàn diện với 13 quốc gia Nam Phi, Brazil, Chile,...
Ngoài ra, Việt Nam còn tham gia các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc,
ASEAN, APEC, WTO, ... và có nhiều đóng góp quan trọng. Năm 2010, 2020 giữ chức
chủ tịch ASEAN, Tổ chức thành công diễn đàn kinh tế thế giới; năm 2019 Việt Nam là
chủ nhà Thượng đỉnh Mỹ - Triều; năm 2020, trở thành ủy viên không thường trực của
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc,...
Việt Nam gia nhập liên hợp quốc năm 1977, vị thế và vai trò của Việt Nam tại
LHQ ngày càng được nâng cao. Việt Nam cũng đã chủ động và tích cực phối hợp với các
nước Không Liên kết và đang phát triển để đấu tranh và bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của
Hiến chương LHQ như nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, không can thiệp công việc
nội bộ các nước, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực... đồng thời và bảo vệ lợi ích
của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Liên Hợp Quốc đã viện trợ Việt Nam
rất nhiều từ năm 1977 - nay: 1977- 1985 là 500 triệu USD, 1986 - 1996 là 630 triệu USD,
2006 - 2011 là 400 triệu USD. Và LHQ hỗ trợ Việt Nam về các hạng mục phát triển xã 14
hội, tập trung trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, dân số
và kế hoạch hóa gia đình, phát triển kinh tế, ...
Ngày 28/7/1995, Việt Nam gia nhập ASEAN, và trong suốt 26 năm kể từ khi gia
nhập Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ trong hội nhập khu vực và quốc tế. Việt
Nam từng bước khẳng định là một phần không thể tách rời của ASEAN và khu vực Đông
Nam Á, gắn sự phát triển đất nước với ASEAN và mong muốn gánh vác công việc chung
với ASEAN. Việt Nam đã giữ chức chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2010 ,2020 và
có đóng góp quan trọng như mở rộng EAS hay thành lập cơ chế ADMM cộng. Trong
tương lai, Việt Nam vẫn không ngừng đóng góp vì một mục tiêu chung: “một Cộng đồng
hòa bình, ổn định và tự cường với năng lực được nâng cao để ứng phó hiệu quả với các thách thức”.
Ngày 14/11/1998, Việt Nam được kết nạp vào diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương (APEC). Là thành viên APEC, Việt Nam có vai trò, tiếng nói ngang
hàng với nhiều trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới trong việc xây dựng, định hình các luật
lệ, quy tắc về kinh tế, thương mại khu vực. Với hai lần đăng cai tổ chức APEC, Việt Nam
đã tổ chức thành công và để lại nhiều dấu ấn riêng biệt. Trong năm 2020, Việt Nam đã
tích cực tham gia, đóng góp tại gần 100 cuộc họp, hội nghị của APEC được tổ chức (cả
hình thức trực tiếp và trực tuyến), nhất là tham dự 9 hội nghị, đối thoại cấp Bộ trưởng.
Việt Nam đồng thời chủ động, tích cực tham gia và đóng góp xây dựng nhiều văn bản
định hướng hợp tác quan trọng của APEC như: Tầm nhìn APEC sau 2020 (đây là một
trong những đề xuất quan trọng của Việt Nam, Việt Nam cũng đảm nhiệm vai trò Phó
Chủ tịch Nhóm xây dựng Tầm nhìn APEC), Tầm nhìn năng lượng APEC sau 2020,
Chương trình cải cách cơ cấu APEC giai đoạn 2021-2025.
Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, từ đó nền kinh tế Việt Nam
ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế trở thành
động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ
tăng trưởng cao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam.Tính đến tháng 10/2019, Việt Nam 15
đã thu hút 30.136 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 358,53 tỷ USD. Nhiều tập đoàn
kinh tế hàng đầu thế giới đã chọn Việt Nam làm “điểm đến”, như: Intel, Microsoft,
Samsung, LG, Nokia, Cannon, Mitsubishi, Toyota, Honda…Việc gia nhập WTO đã nâng
cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện triển khai có hiệu quả đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa. Trong bối cảnh tình hình thế giới
diễn biến phức tạp với những mối quan hệ đan xen về lợi ích, việc giải quyết hàng loạt
thách thức đặt ra chính là chìa khóa để Việt Nam tạo đà, tiếp tục đưa con tàu kinh tế vươn ra biển lớn.
Quan hệ ngoại giao Liên minh châu Âu (EU)-Việt Nam. Phạm vi hợp tác song
phương trải rộng khắp các lĩnh vực, từ các vấn đề chính trị, các thách thức mang tính toàn
cầu tới kinh tế, thương mại đầu tư và phát triển. EU qua đó đã đóng góp tích cực vào quá
trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Việt Nam và
EU hiện có mối quan hệ rất sâu rộng, tiêu biểu là: Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện
Việt Nam - EU (PCA), có hiệu lực từ năm 2016, với các cơ chế hợp tác thực chất trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, phát triển bền vững, an ninh-quốc phòng,
pháp quyền-quản trị; Hiệp định Thương mại tự
do (EVFTA) có hiệu lực từ ngày
01/8/2020 và sắp tới là Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA)
Ngay từ những ngày đầu lập nước, việc phát triển quan hệ với Liên Xô luôn là một
trọng tâm hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam dân chủ. Liên
bang Nga là đối tác truyền thống, đối tác chiến lược toàn diện và luôn là ưu tiên cao trong
chính sách đối ngoại của Việt Nam. Hơn thế nữa, quan hệ Việt Nam - Nga ngày càng phát
triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, văn hóa
- xã hội, khoa học - công nghệ,...Từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao (ngày 30-1-
1950), Việt Nam và Liên Xô đã triển khai quan hệ song phương, trước hết bằng việc ký
kết một số hiệp định, hiệp nghị, hiệp ước hợp tác trên các lĩnh vực.
Hoa Kỳ – Việt Nam có mối quan hệ hợp tác ngày càng tích cực và toàn diện, và đã
phát triển thành quan hệ đối tác vững chắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh và 16
giao lưu giữa nhân dân hai nước. Quan hệ ngoại giao giữa Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trở nên sâu sắc và đa dạng hơn trong những năm
đã bình thường hóa chính trị. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối
thoại về nhân quyền và an ninh khu vực. Hai nước ký kết Hiệp định Thương mại song phương vào tháng
7 năm 2000, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001. Tháng 11,
2007, Hoa Kỳ chấp thuận Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam.
Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là mối quan hệ anh em tốt, láng giềng hữu nghị,
quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều
trong kháng chiến, tuy vẫn còn xảy ra mâu thuẫn như chiến tranh biên giới 1979, chủ
quyền biển đảo của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thì Trung Quốc vẫn là
đối tác chính trị, thương mại quan trọng của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực. Mối quan
hệ này được khẳng định lại trong cuộc điện đàm giữa Thủ tướng Chính Phủ hai nước
ngày 04/06/2021, sẵn sàng đưa quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc phát
triển đi vào chiều sâu, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đề nghị hợp tác
kinh tế, thương mại và đầu tư
Từ đó ta có thể thấy quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã được mở rộng hơn nhiều
so với ngày trước. Chúng ta đã nâng cao hiệu quả và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối
tác quốc tế, mở rộng thêm quan hệ với nhiều đối tác quốc tế, nâng số lượng đối tác chiến
lược và đối tác toàn diện lên con số 30, gồm tất cả các nước là Ủy viên thường trực Hội
đồng Bảo an Liên hiệp quốc, phần lớn các nước thành viên các nhóm chính trị, kinh tế lớn
trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng. Điểm lớn nữa là chúng ta đã tranh thủ tốt
hội nhập quốc tế cho phát triển kinh tế xã hội, thể hiện từ chủ trương quan hệ chính trị,
hội nhập quốc tế. Đối ngoại gồm 3 trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, ngoại
giao Nhân dân. Đây là 3 lực lượng phát huy tác dụng trong quá trình kháng chiến để nâng
cao vị thế của đất nước, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, kể cả tinh thần và vật chất cũng
như trong quá trình đổi mới thời gian qua. 17 c.
Nguyên tắc đoàn kết quốc tế
Các nguyên tắc đoàn kết quốc tế áp dụng trong hiện nay vẫn luôn đúng. Việt Nam
đã và đang áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế. Những thành công của đối
ngoại Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm Đổi mới, là thực tiễn chứng minh rõ ràng và
đầy đủ nhất về tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ của con người vĩ đại Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, hợp tác quốc tế luôn là nguyên tắc, chiến lược, có vai trò, vị trí, ý nghĩa
quan trọng trong quan điểm, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam đã và đang
triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là
bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Sau chiến thắng năm 1975, sau gần 10 năm rơi vào tình thế khó khăn trên trường quốc tế,
tới năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một giai đoạn
phát triển mới, một thời kỳ “Đổi mới” toàn diện, tạo nên thế và lực mới cho dân tộc.
Từ quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô, với Lào và Campuchia, với các nước
khác trong Hội đồng tương trợ kinh tế… đến nay, Việt Nam đã xác lập mối quan hệ
thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, là đối tác chiến lược và
đối tác toàn diện với gần 30 quốc gia, trong đó có tất cả các nước lớn và 5 nước Ủy viên
thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, là đối tác toàn diện với tất cả các nước trong
cộng đồng ASEAN; lần đầu tiên được bầu vào Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên
hợp quốc (UNCITRAL); lần thứ hai được bầu, trở thành Ủy viên không thường trực Hội
đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 và tới 2020, là Chủ tịch luân phiên của
ASEAN. Là thành viên của WTO, của nhiều thể chế đa phương, đến nay, Việt Nam đã
tham gia và đang đàm phán ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do FTA với 59 đối tác trên toàn thế giới.
Việt Nam ngày càng chủ động, sáng tạo hơn trong triển khai hợp tác quốc tế, hội
nhập quốc tế, góp phần phục vụ tốt lợi ích quốc gia, dân tộc. Tính đến nay, Việt Nam
được 71 nước công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường và hiện trong top đầu của
ASEAN về mức độ hội nhập và độ mở của nền kinh tế. Mối quan hệ với các đối tác kinh
tế khiến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tương đương 200% GDP. 18
Cùng với kinh tế, hợp tác, hội nhập quốc tế đã góp phần không nhỏ trong ổn định
chính trị, an ninh trong nước, góp phần đan xen lợi ích với các đối tác, qua đó, tạo cục
diện thuận lợi để Việt Nam giữ nước từ xa. Tính đến nay, sau 5 năm bắt đầu tham gia hoạt
động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, Việt Nam đã cử 90 sĩ quan tham gia sứ mệnh
quốc tế cao cả này. Có thể xem đây là sự thể hiện mức độ tham gia ngày càng sâu hơn,
đóng góp ngày càng tích cực hơn của Việt Nam với tư cách là thành viên có trách nhiệm
của cộng đồng quốc tế.
Thứ hai, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, hoạt động đối ngoại
của Việt Nam tập trung vào các đối tác ưu tiên, chủ chốt, các nước lớn, các nước láng
giềng, khu vực và các đối tác quan trọng khác.
Quan hệ giữa Việt Nam với Lào, Campuchia và các nước ASEAN tiếp tục có
những bước tiến mới, quan trọng. Những nỗ lực lớn của Việt Nam trong xây dựng mối
quan hệ hợp tác quốc tế, nhất là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng nhiều. Kết quả năm
2018, Việt Nam xuất khẩu đạt 243,5 tỷ USD và xuất siêu 6,8 tỷ USD một phần quan
trọng nhờ quan hệ tốt với các đối tác lớn.
Thứ ba, đoàn kết, hợp tác quốc tế, với Hồ Chí Minh, gắn với nguyên tắc bất di bất
dịch và mục tiêu quan trọng là góp phần đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ;
hợp tác tìm giải pháp ổn định, lâu dài, cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế
và tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau .Đây là một đóng góp lớn của đối ngoại Việt Nam thời gian qua.
Nguy cơ lớn nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam hiện
nay, là vấn đề Biển Đông. Tình hình Biển Đông trong vòng hơn 10 năm qua diễn biến
ngày càng phức tạp, không chỉ là vấn đề tranh chấp chủ quyền, mà còn là tâm điểm cạnh
tranh chiến lược giữa các nước lớn. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế,
Việt Nam đã, đang và luôn sẵn sàng giải quyết những tranh chấp, bất đồng trên Biển
Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đồng thời coi trọng việc giữ
gìn mối quan hệ hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng. Nhờ lập trường chính
nghĩa, nhờ những bằng chứng pháp lý và căn cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt
Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm, ủng hộ của
cộng đồng quốc tế. 19
=> Nhận xét: Từ năm 2020 - 2021, tình hình dịch bệnh Covit 19 hoành hành trên toàn thế
giới, đảo lộn cuộc sống của 7 tỷ người, khiến thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế,
y tế khủng khiếp. Việt Nam cũng chịu không ít những khó khăn về kinh tế, y tế thì tinh
thần đoàn kết quốc tế lại được thể hiện rõ ràng. Việt Nam cũng đã phát huy tinh thần
đoàn kết và hợp tác quốc tế, hỗ trợ khẩu trang, vật tư y tế, tài chính cho 51 quốc gia và tổ
chức quốc tế ứng phó với đại dịch COVID-19. Bên cạnh đó, các bộ, ngành, địa phương,
tổ chức hữu nghị của Việt Nam đều tích cực tham gia hỗ trợ các quốc gia, đối tác gặp khó
khăn. Ta cũng tranh thủ được sự hỗ trợ về tài chính và trang thiết bị y tế từ nhiều quốc gia
và tổ chức quốc tế phục vụ kiểm soát dịch bệnh trong nước. Mô hình chống dịch hiệu quả,
cùng với tinh thần trách nhiệm và nghĩa cử cao đẹp của Việt Nam trong hợp tác quốc tế
chống dịch đã được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Việt Nam cũng nhận được hỗ trợ từ
nhiều nước trên thế giới như Mỹ với 6 triệu liều, Đức 2,5 triệu, Nhật Bản 3 triệu liều,
Trung Quốc 5,7 triệu liều, ...
2. Giải pháp tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay a.
Đối với Đảng, Nhà nước
Nhận thức đúng đắn việc vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh là quá trình có chọn lọc và sáng tạo. Chúng ta cần
chọn lọc những nội dung phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay để thực hành, áp dụng.
Mỗi thời điểm lại có một yêu cầu, thực tiễn khác nhau; cần phải dựa trên thực tiễn từng
giai đoạn để thực hành một cách sáng tạo trên cơ sử các nguyên tắc được Chủ tịch Hồ Chí
Minh nêu ra. Có như vậy mới mang lại hiệu quả thiết thực, tránh rơi vào vận dụng hình
thức, rập khuôn, kém hiệu quả.
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế mang những
giá trị vô cùng to lớn và sâu sắc nhưng không phải là bất biến. Do vậy các quan điểm cần
được bổ sung các yếu tố phù hợp với sự vận động và phát triển của thực tiễn. Có như vậy
tư tưởng Hồ Chí Minh mới có sức sống mạnh mẽ, là tiền đề cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. 20