Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ BÁO CÁO THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ VÀ
VẬN DỤNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Thị Thúy Nhóm thực hiện : 5
Số lượng thành viên : 10 Mã lớp học phần : 232_HCMI0111_25 Hà Nội, T3/2024 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH................................4
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh.........4
1.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế......6
1.2.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế....................................6
1.2.2. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế............................................................11
II. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC
TẾ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ.............................................13
2.1. Thực trạng quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam......................13
2.1.1. Hội nhập kinh tế quốc tế...................................................................14
2.1.2. Hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh...................15
2.1.3. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa- xã hội, giáo dục, khoa học
- công nghệ và các lĩnh vực khác..................................................................17
2.2. Những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế của
Việt Nam.........................................................................................................19
2.2.1. Cơ hội...............................................................................................19
2.2.2. Thách thức........................................................................................20
2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế. . .22
2.3.1. Vận dụng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh.....22
2.3.2. Vận dụng trong lĩnh vực văn hóa- xã hội, giáo dục, khoa học - công
nghệ và các lĩnh vực khác.............................................................................33
2.4. Thành tựu đạt được..............................................................................37
2.5. Đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết trong thời kỳ hội nhập
quốc tế.............................................................................................................42
2.5.1. Thuận lợi trong việc áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.......................42
2.5.2. Hạn chế của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc
tế trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay.....................................................45
2.5.3. Giải pháp..........................................................................................46
PHẦN KẾT LUẬN............................................................................................50
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................51 2 PHẦN MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh (1890-1969), một nhà lãnh đạo vĩ đại của Việt Nam, đã đặt
nền móng cho các nguyên tắc của đoàn kết quốc tế và nhìn nhận rằng hội nhập
quốc tế đóng vai trò quan trọng trong xây dựng một thế giới công bằng, hòa bình
và phát triển. Trong bối cảnh thời kỳ hội nhập ngày nay, ý tưởng của Tưởng Hồ
Chí Minh về đoàn kết quốc tế vẫn mang ý nghĩa sâu sắc và có thể được vận
dụng trong việc thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của các quốc gia.
Hội nhập quốc tế đã tạo ra một liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các quốc
gia, không chỉ trong khu vực mà còn trên toàn cầu. Qua việc mở rộng quan hệ
kinh tế, chính trị và văn hóa, hội nhập đã tạo điều kiện cho sự trao đổi thông tin,
kỹ thuật, và nguồn lực giữa các quốc gia. Điều này đặt ra cơ hội lớn để áp dụng
tư tưởng của Tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và khai thác tiềm năng
của hội nhập để thúc đẩy sự phát triển bền vững và chia sẻ lợi ích chung.
Trong bài thảo luận này, Nhóm 5 sẽ bàn luận về “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đoàn kết quốc tế và vận dụng trong thời kỳ hội nhập” và trình bày một cách tổng
quan nhất, khái quát nhất về tính chất đoàn kết quốc tế cũng như vai trò của nó
trong tư tưởng, lý luận về xây dựng đất nước. Hơn thế, tư tưởng đoàn kết quốc
tế ấy còn có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta và của
toàn nhân loại. Đó là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và
trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược cách
mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc 3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
I.1. Cơ sở hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, đồng thời là nhà quốc tế chủ
nghĩa cao đẹp, hiện thân của tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh
thời đại. Cuộc hành trình tìm đường cứu nước qua khắp các nước đã tạo cho
Người một cách nhìn mới về thế giới, về mối liên hệ giữa Việt Nam và thế giới.
Người đã vượt qua tầm nhìn hạn hẹp của các nhà yêu nước tiền bối để
hướng ra bên ngoài gắn kết sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc với
công cuộc cách mạng của toàn thể các dân tộc đang bị áp bức.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế được hình thành và phát triển
trên nền tảng truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết của dân tộc; trên cơ sở
thấm nhuần chủ nghĩa Mác- Leenin và đường lối của Quốc tế Cộng sản; từ thực
tiễn hoạt động cách mạng sôi nổi của Người gắn liền với thời kì trưởng thành
của Đảng và cách mạng Việt Nam, với tiến trình cách mạng thế giới.
a) Truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã đắp
bồi nên nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nên cốt cách của con
người Việt Nam, một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết. Giá trị hàng đầu của văn hóa Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước, tinh
thần đoàn kết, cố kết cộng đồng.
Tinh thần đoàn kết, tường ái của dân tộc: Hồ Chí Minh đã kế thưà sức mạnh
đoàn kết dân tộc để hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất
khuất vì độc lập, tự do của Tổ quốc nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn
vẹn lãnh thổ của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong lãnh đạo nhân dân Việt
Nam xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng kế thừa, phát
triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là yêu nước gắn 4
liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, dân chủ, nhân ái, khoan dung trong cộng
đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bang, tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo,
lạc quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc Việt Nam.
b) Thấm nhuần chủ nghĩa Mac-Lênin và đường lối của quốc tế cộng sản
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là minh chứng hùng
hồn cho tính đúng đắn của tư tưởng đoàn kết trong học thuyết Mac - Lênin.
Cách mạng Nga chỉ ra rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân,
nhân dân là người làm nên lịch sử. Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải đi
từ chiến lược “giai cấp vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” tới chiến lược “giai
cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Đoàn kết
trong học thuyết Mác - Lênin lấy giai cấp công nhân và nông dân làm nền tảng,
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế. Lênin là tấm gương sáng chói
về thực hành đoàn kết, đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế. hiện thân cho tình
anh em bốn bể. Có thể nói những quan điểm đoàn kết trong học thuyết Mác -
Lênin là cơ sở tư tưởng lý luận quan trọng nhất, bởi nó không chỉ trang bị thế
giới quan, phương pháp luận, mà còn chỉ ra những phương hướng rõ ràng trong
quá trình thực hiện đoàn kết.
c) Thực tiễn hoạt động cách mạng sôi nổi của Người gắn liền với thời kì
trưởng thành của Đảng và cách mạng Việt Nam, với tiến trình cách mạng thế giới.
Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã phân tích nguyên nhân thất bại
của các cuộc đấu tranh trong nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Dưới ngọn
cờ Cần Vương và các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân
tộc Việt Nam chưa thật sự có đường lối đúng đắn, có tổ chức chặt chẽ, có đoàn
kết rộng rãi. Hồ Chí Minh rút ra rằng đã làm cách mạng, dù là cách mạng tư sản
như cách mạng Mỹ 1776, cách mạng tư sản Pháp 1789 hay vô sản, thì điều chủ
chốt là “dân chúng công nông là gốc cách mạng. Cách mạng thì có tổ chức rất
vững bền mới thành công. Đàn bà trẻ con cũng giúp làm việc cách mạng được
nhiều. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”. 5
Phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa trên thế giới chưa giành được
thắng lợi không phải vì thiếu lòng yêu nước, căm thù bọn xâm lược, mà thiếu
lực lượng lãnh đạo, thiếu tổ chức, chưa biết đoàn kết phạm vi trong nước và trên
thế giới. Vì vậy, muốn giành được thắng lợi như cách mạng Nga năm 1917 thì
phải dân chúng công nông làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải
hy sinh, phải thống nhất.
I.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
I.2.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
I.2.1.1. Sự cần thiết của đoàn kết quốc tế
a) Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cách mạng
Thực hiện đoàn kết quốc tế là tập hợp các lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự
đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các bạn bè quốc tế, kết hợp cùng với sức mạnh
dân tộc và sức mạnh của các phong trào cách mạng tạo thành sức mạnh to lớn
cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng một nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí
Minh về đoàn kết quốc tế và cũng là một trong những bài học quan trọng nhất
mang tính thời sâu sắc nhất cho cách mạng Việt Nam.
Sức mạnh dân tộc là sự tổng hợp của yếu tố vật chất và tinh thần, đặc biệt là
sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc; sức mạnh
của tinh thần đoàn kết; của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất vì độc lập, tự do.
Chính nhờ sức mạnh này, dân tộc Việt Nam đã vượt qua mọi thách thức, khó
khăn trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Sức mạnh thời đại là sức mạnh của các cuộc phong trào cách mạng thế giới,
là sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin được xác lập bởi thắng lợi của Cách
mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhờ
sự chú ý tổng kết thực tiễn dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh
đã từng bước phát hiện ra sức mạnh ẩn dưới phong trào cách mạng thế giới mà 6
Việt Nam có thể tranh thủ. Nếu như các phong trào đó được liên kết, được tập
hợp trong một khối đoàn kết quốc tế chắc chắn sẽ tạo nên một sức mạnh to lớn.
Người cho rằng, thực hiện đoàn kết dân tộc phải gắn liền chặt chẽ với đoàn
kết quốc tế; đại đoàn kết dân tộc chính là cơ sở cho việc thực hiện đại đoàn kết
quốc tế. Và điều này đã được Hồ Chí Minh sớm xác định ngay khi tìm thấy con
đường cứu nước. Cùng với quá trình phát triển thắng lợi của cách mạng Việt
Nam trong quan hệ với quốc tế, tư tưởng đoàn kết với phong trào cách mạng thế
giới ngày càng được rõ ràng, đầy đủ và cụ thể hơn.
b) Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực
hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền
với chủ nghĩa quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết
quốc tế; thực hiện đoàn kết quốc tế không vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước
mà còn vì sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vì các mục tiêu cách mạng của thời đại.
Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động chính trị là thời đại đã chấm
dứt thời kỳ tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra các quan hệ quốc tế ngày
càng sâu rộng cho các dân tộc, làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không thể
tách rời vận mệnh chung của cả loài người.
Ngay sau khi nắm được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạt
động không mệt mỏi để phá thế đơn độc của cách mạng Việt Nam, gắn cách
mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Trong suốt quá trình đó, Người không
chỉ phát huy triệt để sức mạnh chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc trong
đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc mình mà còn kiên trì đấu tranh không
mệt mỏi để củng cố và tăng cường đoàn kết giữa các lực lượng cách mạng thế
giới đấu tranh cho mục tiêu chung, hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 7
Theo Hồ Chí Minh, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh
vì mục tiêu chung, các đảng cộng sản trên thế giới phải kiên trì chống lại mọi
khuynh hướng sai lầm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa
sôvanh… – những khuynh hướng làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất
các lực lượng cách mạng thế giới. Nói cách khác, các đảng cộng sản trên thế
giới phải tiến hành có hiệu quả việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết
hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh,
thắng lợi của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhờ kết hợp giải
phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt
Nam đã được bổ sung nguồn lực mới. Nhờ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã
hội, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, huy động
được sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại, làm cho sức mạnh dân tộc
được nhân lên gấp bội, chiến thắng được những kẻ thù có sức mạnh to lớn hơn mình về nhiều mặt.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế, kết hợp
chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nhằm góp phần
cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của dân tộc
và thời đại. Bởi lẽ, nhân dân Việt Nam không chỉ chiến đấu vì độc lập, tự do của
đất nước mình mà còn vì độc lập, tự do của các nước khác, không chỉ bảo vệ lợi
ích sống còn của dân tộc mình mà còn vì những mục tiêu cao cả của thời đại là
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
I.2.1.2. Lực lượng trong đoàn kết quốc tế
Các lực lượng đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm:
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc và phong trào hòa bình, dân chủ thế giới, trước hết là phong trào chống chiến
tranh của nhân dân các nước đang xâm lược Việt Nam.
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế 8
Hồ Chí Minh cho rằng sự đoàn kết giữa giai cấp công nhân quốc tế là sự
đảm bảo vững chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Chủ trương đoàn kết
giai cấp công nhân quốc tế, đoàn kết giữa các đảng cộng sản xuất phát từ tính tất
yếu về vai trò của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay. Hồ Chí Minh cho
rằng, chủ nghĩa tư bản là một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của
nhân dân lao động toàn thế giới. Trong hoàn cảnh đó, chỉ có sức mạnh của sự
đoàn kết, nhất trí, sự đồng tình và ủng hộ lẫn nhau của lao động toàn thế giới
theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em” mới có thể chống lại được
những âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc thực dân.
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
Chính vì Hồ Chí Minh đã thấy rõ âm mưu chia rẽ dân tộc của các nước đế
quốc. Người đã lưu ý Quốc tế Cộng sản về những biện pháp nhằm “làm cho các
dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và
đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông tương lai, khối liên
minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”. Để tăng cường
đoàn kết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản chính quốc, Người còn
đề nghị bằng mọi cách phải “làm cho đội quân tiên phong của lao động thuộc
địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự
hợp tác thật sự sau này; chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công
nhân quốc tế giành thắng lợi cuối cùng”.
Các lực lượng tiến bộ
Đối với những người yêu chuộng hoà bình, dân chủ, tự do và công lý, Hồ
Chí Minh cũng tìm mọi cách để thực hiện đoàn kết. Trong xu thế mới của thời
đại, sự thức tỉnh dân tộc gắn liền với sự thức tỉnh giai cấp, Hồ Chí Minh đã gắn
cuộc đấu tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công
lý và bình đẳng để tập hợp và tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. 9
Như vậy, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Chính vì đã biết kết hợp
phong trào các mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân
và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai
cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang”.
I.2.1.3. Hình thức tổ chức đoàn kết quốc tế
Đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề sách
lược, một thủ đoạn chính trị nhất thời mà là vấn đề có tính nguyên tắc, một đòi
hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam. Từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã đưa ra
quan điểm về thành lập “Mặt trận thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc
địa” chống chủ nghĩa đế quốc, đồng thời kiến nghị Quốc tế Cộng sản cần có giải
pháp cụ thể để quan điểm này trở thành sự thật.
Đối với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh dành sự quan
tâm đặc biệt. Cả ba dân tộc đều là láng giềng gần gũi của nhau, có nhiều điểm
tương đồng về lịch sử, văn hoá và cùng chung một kẻ thù là thực dân Pháp. Năm
1941, để khơi dậy sức mạnh và quyền tự quyết của mỗi dân tộc, theo đúng quan
điểm của Hồ Chí Minh về tập hợp lực lượng cách mạng, Đảng quyết định thành
lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh); giúp Lào và
Campuchia thành lập mặt trận yêu nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc hình thành Mặt trận nhân
dân ba nước Đông Dương.
Với các dân tộc châu Á, Người chỉ rõ, các dân tộc châu Á có độc lập thì nền
hoà bình thế giới mới thực hiện. Vận mệnh dân tộc châu Á có quan hệ mật thiết
với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Do vậy, từ những năm 20 của thế kỷ XX, cùng
với việc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tham gia
sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức tại Trung Quốc. Đây là hình thức
sơ khai của mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức theo xu hướng vô sản, lần
đầu tiên xuất hiện trong lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Với
việc tham gia sáng lập các tổ chức này, Hồ Chí Minh đã góp phần đặt cơ sở cho
sự ra đời của Mặt trận nhân dân Á – Phi đoàn kết với Việt Nam. 10
Những năm đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh tìm mọi cách xây
dựng các quan hệ với mặt trận dân chủ và lực lượng đồng minh chống phátxít,
nhằm tạo thế và lực cho cách mạng Việt Nam. Trong kháng chiến chống thực
dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, bằng hoạt động ngoại giao không mệt mỏi, Hồ
Chí Minh đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tranh thủ được
sự đồng tình, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của bạn bè quốc tế và nhân
loại tiến bộ, trong đó có cả
nhân dân yêu chuộng hoà bình Pháp trong kháng chiến chống Pháp và cả
nhân dân yêu chuộng hoà bình Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ, hình thành Mặt
trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.
Như vậy, tư tưởng đoàn kết vì thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã định
hướng cho việc hình thành bốn tầng mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt
trận đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia; Mặt trận nhân dân Á – Phi đoàn kết
với Việt Nam; Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc
xâm lược. Đây thực sự là sự phát triển rực rỡ nhất và thắng lợi to lớn nhất của tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết.
I.2.2. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế
I.2.2.1. Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích; có lý, có tình
Muốn thực hiện được đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động quốc tế, phải tìm ra được những điểm
tương đồng về mục tiêu và lợi ích giữa các dân tộc, các lực lượng tiến bộ và
phong trào cách mạng thế giới. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra sự
tương đồng này nhờ đặt cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của thời đại,
kết hợp lợi ích của cách mạng Việt Nam với trào lưu cách mạng thế giới và nhận
thức về nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng chung của nhân
dân tiến bộ trên thế giới.
Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đoàn kết 11
thống nhất trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản,
có lý, có tình. Là một chiến sĩ cách mạng quốc tế kiên định, Hồ Chí Minh đã
suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong cách
mạng thế giới, trước hết là phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lực lượng
tiên phong của cách mạng thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập,
tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh không chỉ suốt đời đấu
tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho độc lập, tự do
cho các dân tộc khác. Trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới,
Hồ Chí Minh thực hiện nhất quán quan điểm có tính nguyên tắc: Dân tộc Việt
Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự
quyết của tất cả các dân tộc-quốc gia trên thế giới, đồng thời mong muốn các
nước trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó.
Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn
cờ hòa bình, chống chiến tranh xâm lược. Tư tưởng đó bắt nguồn từ truyền
thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản
và những giá trị nhân văn nhân loại. Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh
luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, đấu tranh cho hòa bình, một nền hòa bình
thật sự cho tất cả các dân tộc – “hòa bình trong độc lập, tự do”.
I.2.2.2. Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ
Đoàn kết quốc tế là để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các lực
lượng quốc tế nhằm tăng thêm nội lực, tạo sức mạnh thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ cách mạng đã đặt để đoàn kết tốt phải có nội lực tốt. Nội lực là nhân tố
quyết định, còn nguồn lực ngoại sinh chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua
nguồn lực nội sinh. Chính vì vậy, trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh luôn
nêu cao khẩu hiệu: “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “Muốn người
ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Trong đấu tranh giành 12
chính quyền, Người chủ trương “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Trong
kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chỉ rõ “Một dân tộc không tự lực cánh
sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
Trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh: phải có thực lực, thực lực là cái
chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn…
Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảng phải có
đường lối độc lập, tự chủ và đúng đắn. Trả lời một phóng viên nước ngoài,
Người nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng
tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”. Trong quan hệ giữa các Đảng thuộc
phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, Người xác định: “Các Đảng dù lớn dù
nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”.
II. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC
TẾ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ II.1.
Thực trạng quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trong một thế giới hiện đại, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế và một quá
trình tất yếu và khách quan, đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình
thành liên kết tạo dựng thị trường chung, mở rộng mối quan hệ hợp tác để cùng
phát triển. Đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế.
Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp
tác quốc tế. Hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác đều
vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Các quốc gia tham gia quá trình này cơ bản vì lợi ích
cho đất nước, vì sự phồn vinh của dân tộc mình. Mặc khác, các quốc gia thực
hiện hội nhập quốc tế cũng góp phần thúc đẩy thế giới tiến nhanh trên con
đường văn minh, thịnh vượng.
Việt Nam đã trải qua 13 kỳ đại hội Đảng, mỗi đại hội đều mang một dấu ấn
riêng biệt với những chính sách mới đóng góp vào công cuộc phát triển đất
nước. Đặc biệt, từ Đại hội IX, trong văn kiện của Đảng đã đề cập đến “quốc tế
hóa” xác định mục tiêu đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng của 13
Việt Nam với khu vực cũng như trên thế giới. Từ Đại hội IX của Đảng đến nay,
quan điểm về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” dần phát triển thành nhận
thức về “toàn cầu hóa kinh tế”. Đảng và Nhà nước ta đưa ra các chủ trương thúc
đẩy quá trình hội nhập nhanh chóng, tích cực, đẩy mạnh quan hệ hội nhập quốc
tế trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, … Tuy nhiên, hội nhập
kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực
khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế
II.1.1. Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế đã xuất hiện rất sớm, từ thời La Mã cổ đại đã mở
rộng mạng lưới giao thương, thúc đẩy trao đổi hàng hóa với nhau. Tới thời kỳ
trung đại và hiện đại ngày nay, hội nhập kinh tế ngày càng được thể hiện rõ nét
thông qua hình thành “con đường tơ lụa” kéo dài từ Trung Quốc qua vùng Địa
Trung Hải đến tận châu Âu với chiều hơn hơn 6400 km. Sự hình thành và phát
triển “con đường tơ lụa” được coi là sự phát triển to lớn của nền thương mại thế giới.
Tuy nhiên, Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế muộn hơn so
với nhiều nước, bắt đầu đánh dấu sự hội nhập quốc tế bằng sự kiện gia nhập
ASEAN vào năm 1995, Việt Nam đã chính thức mở cửa hội nhập và bắt đầu
tham gia các FTA. Ban đầu mới chỉ tham gia FTA với tư cách là thành viên khối
ASEAN ở góc độ bị động. Sau này, khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng
với khu vực và thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ tăng trưởng
cao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam. Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ
ngoại giao chính thức với 175 quốc gia, có quan hệ thương mại với hơn 200
nước và vùng lãnh thổ; thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia,
quan hệ đối tác chiến lược theo lĩnh vực với 2 nước và quan hệ đối tác chiến
lược toàn diện với 11 nước khác; đã ký kết trên 90 hiệp định thương mại song
phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống 14
đánh thuế hai lần với các đối tác quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam được thể hiện qua nhiều phương thức khác nhau và chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố như biến động lớn về kinh tế với các cuộc khủng hoảng toàn cầu,
đại dịch COVID-19, tình hình thế giới diễn ra nhiều biến động như bất ổn chính
trị, xung đột vũ trang ...
Nhờ quá trình toàn cầu hóa cũng như hội nhập kinh tế quốc tế, đến nay Việt
Nam hiện đang tham gia 8 Hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương
(FTA); đã chủ động tham gia và đưa ra nhiều đề xuất nhằm thúc đẩy đàm phán
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế khu
vực toàn diện (RCEP); đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTAs) với
Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc, Liên minh hải quan gồm Nga, Belarus,
Kazakhstan, ... Trong đó, nổi bật như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), giúp xóa bỏ thuế xuất nhập khẩu 97-100%
khi Hiệp định này có hiệu lực kéo dài trong vòng 5-10 năm. Hiệp định mang lại
nhiều lợi ích đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam nhờ tự do hóa thương mại và
tăng cường khả năng tiếp cận thị trường. Bên cạnh đó, còn có Hiệp định thương
mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) - EVFTA. Trong hiệp
định này, Việt Nam và EU cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu, giúp Việt Nam có cơ
hội tiến vào thị trường khó tính như Châu Âu, mở rộng cơ hội kinh doanh.
Việc tham gia ký kết và đàm phán, tham gia các FTA có tác động tích cực
tới phát triển kinh tế, giúp xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường đầy đủ
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh
nghiệp và sản phẩm, phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết lao động, tạo
công ăn việc làm, nâng cao tiền lương và thu nhập. Đến nay, gần 50 quốc gia đã
chính thức công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Đây là một
sự công nhận, cũng như đánh giá cao cho quá trình nỗ lực của Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
II.1.2. Hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh
Hội nhập trong lĩnh vực chính trị 15
Ý tưởng về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực chính trị đã xuất hiện từ rất sớm,
nhưng đến giai đoạn gần đây thì mới trở nên phổ biến hơn và trở thành xu thế
chung được phát triển trong tương lai trên thế giới. Hình thức hội nhập trong
lĩnh vực này không được sâu như hội nhập kinh tế, chỉ ở mức độ và phạm vi
nhất định. Năm 1995, khi Việt Nam gia nhập ASEAN - đây là một tổ chức chính
trị khu vực tại Đông Nam Á đã đánh dấu nền móng trong hội nhập quốc tế về
mặt chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, hội nhập chính trị trong ASEAN vẫn
còn nhiều sự khác biệt, đa dạng, còn nhiều hạn chế giữa các quốc gia, các quốc
gia vẫn có những chính sách riêng biệt khác với sự hội nhập chính trị của các
nước trong liên minh châu Âu (EU) có nhiều sự thống nhất cao, chính sách chung.
Từ khi tham gia ASEAN, Việt Nam không ngừng nỗ lực xây dựng cộng
đồng bền vững với các nước khác trong khối. Đối với lĩnh vực chính trị - an
ninh, Việt Nam tiên phong triển khai các trọng tâm, ưu tiên hướng tới mục tiêu
hình thành Cộng đồng ASEAN. Đối với các vấn đề quốc tế, khu vực ảnh hưởng
đến hòa bình, an ninh và ổn định, đặc biệt là vấn đề Biển Đông, nước ta đã thể
hiện tinh thần xây dựng, cân bằng, hài hòa, góp phần củng cố đoàn kết, thống
nhất ASEAN và nhận lại nhiều sự đánh giá cao.
Bên cạnh đó, Việt Nam không ngừng đề xuất trong các diễn đàn như ARF,
ADMM+ của ASEAN góp phần tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin, nâng
cao khả năng ứng phó với những thách thức về an ninh trong khu vực cũng như
trên quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định an ninh khu vực
Hội nhập trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh
Thế giới hiện nay vẫn luôn không ngừng mở rộng ngoại giao vừa để phát
triển kinh tế vừa để nâng cao an ninh đất nước, Việt Nam không ngoại lệ cũng
nâng cấp quốc phòng - an ninh bằng cách ngoại giao với nhiều nước, nhiều tổ
chức khu vực và quốc tế, trong đó ưu tiên các đối tác quan trong như Trung
Quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, các nước láng giềng trong ASEAN... Đến
nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng chính thức với trên 80 nước; 16
quan hệ về an ninh với trên 160 cơ quan thực thi pháp luật của các quốc gia và
một số vùng lãnh thổ, thiết lập quan hệ nhiều mặt với cơ quan thực thi pháp luật
của các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tham gia hoạt động
trong 52 tổ chức, diễn đàn hợp tác quốc tế đa phương, đàm phán, ký kết trên 150
văn bản hợp tác quốc tế về bảo vệ an ninh, trật tự và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Hợp tác quốc phòng - an ninh đa phương của Việt Nam chính thức được
khởi động kể từ khi gia nhập Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF, năm
1994) và ASEAN (năm 1995). Tuy nhiên, sự hô •i nhâ •p này mới chỉ dừng ở cấp
chuyên viên là chính. Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam với tiềm lực và vị thế
mới đã xây dựng các cơ chế hợp tác và tham gia sâu nhiều diễn đàn, hội nghị,
hội thảo ở cấp khu vực, để nâng cao vị thế, bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ vững an
ninh, quốc phòng, học tập và trao đổi kinh nghiệm. Điển hình là sự tham gia của
Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, như ARF, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị
Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), ADMM+ ... và việc chính
thức tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Bằng việc tham gia có hiệu quả vào các diễn đàn quốc phòng - an ninh khu
vực và thế giới đã góp phần nâng cao sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa nước
ta với các nước khác, đem lại khả năng hợp tác bền vững.
Ngày nay, mặc dù xu thế hợp tác, hội nhập là cơ bản, chủ đạo trong quan hệ
quốc tế, nhưng cũng không có nghĩa là không tồn tại các nguy cơ bị xâm lược,
đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia. Thực tế trong thời gian qua của
Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới đã chứng minh điều này. Do đó, hội
nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh sẽ tăng cường sức mạnh của Việt Nam
trong lĩnh vực này. Điều đó, trước hết nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đảm bảo
môi trường hòa bình, ổn định trong nước để phát triển; sau đó, nhằm có đủ năng
lực, điều kiện là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc
tế trong việc bảo vệ hoà bình, duy trì ổn định theo các quy định của Hiến
chương Liên hợp quốc và pháp luật quốc tế. 17
II.1.3. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa- xã hội, giáo dục, khoa học -
công nghệ và các lĩnh vực khác
Đây là lĩnh vực lớn bao quát nhiều mặt của đời sống xã hội, xét ở khía cạnh
hội nhập quốc tế của lĩnh vực này, nó bao gồm: hội nhập quốc tế về văn hóa-xã
hội, hội nhập quốc tế về giáo dục, hội nhập quốc tế về khoa học - công nghệ và
hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực khác.
Lĩnh vực văn hóa- xã hội
Hội nhập quốc tế về văn hoá, xã hội có nhiều vấn đề cần lưu tâm. Trước hết,
trong lĩnh vực văn hoá, Việt Nam mở cửa, trao đổi văn hóa, chia sẻ các giá trị
văn hóa, tinh thần với các quốc gia khác. Mục đích của hội nhập quốc tế về văn
hoá là tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu
nền văn hóa của dân tộc, quốc gia mình. Hội nhập quốc tế về văn hoá – xã hội
có thể thông qua việc tham gia các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa. Nhờ
đó Việt Nam cũng có thể chủ động tích cực tham gia các hoạt động, giao lưu
văn hoá, nghệ thuật, thể thao với hình thức song phương, khu vực và thế giới.
Bên cạnh đó, mặt thứ hai liên quan đến các vấn đề về xã hội như: Lao động,
việc làm, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe cho người dân, cộng đồng, bảo
trợ xã hội, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo đảm bình
đẳng giới và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực xã hội, Việt Nam hợp tác với quốc
tế để phát triển, giải quyết tốt. Hội nhập quốc tế giúp Việt Nam nâng cao chất
lượng trong việc thực hiện các vấn đề về xã hội. Lĩnh vực giáo dục
Hội nhập quốc tế về giáo dục là hiện đại hoá, quốc tế hoá nền giáo dục của
quốc gia mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Giáo dục – đào
tạo ở Việt Nam hiện nay là vấn đề tương đối bức xúc, yêu cầu cấp thiết phải cải
cách cơ bản, tìm hướng đi mới để nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ngang
tầm quốc tế. Một trong những hướng đi của cải cách giáo dục – đào tạo là hội
nhập quốc tế sâu sắc về vấn đề này. Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế về giáo 18
dục và đào tạo theo hướng hiện đại, nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc
trong giáo dục con người Việt Nam với những đặc trưng riêng. Do đó, trong hội
nhập quốc tế về giáo dục – đào tạo phải tìm kênh tiếp cận thích hợp, lựa chọn
lĩnh vực mũi nhọn, đột phá, đồng thời kiểm tra, đánh giá theo chuẩn mực quốc
tế và xây dựng cơ sở vật chất liên quan đến giáo dục, đào tạo theo tiêu chuẩn tốt của quốc tế.
Lĩnh vực khoa học – công nghệ
Hội nhập quốc tế làm cho lĩnh vực khoa học - công nghệ trong nước có xu
hướng tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới, thông qua đó phát triển trình độ
nghiên cứu, sử dụng thành tự khoa học – công nghệ ở trong nước, rút ngắn
khoảng cách công nghệ của Việt Nam so với các quốc gia phát triển. Hội nhập
quốc tế về khoa học - công nghệ có thể thông qua phương thức phát triển quan
hệ hợp tác khoa học và công nghệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế và vùng
lãnh thổ ở các hình thức khác nhau, trong đó có việc ký kết, thực hiện điều ước
quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ kể cả bao gồm các đối tượng như
các quốc gia, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Các lĩnh vực khác
Ngoài các lĩnh vực trên, hội nhập quốc tế toàn diện bao gồm cả hội nhập ở
các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, như: Lao động, y tế, thể thao, v.v… tạo
nên một quá trình tổng thể, thống nhất trong sự mở cửa, hợp tác sâu với quốc tế
nhằm tiếp thu những thành tựu, giá trị tốt đẹp trong quá trình phát triển của nhân
loại trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam. II.2.
Những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam II.2.1. Cơ hội
Hiện nay mặc dù tình hình trong nước, khu vực và thế giới đã có nhiều thay
đổi, đang diễn biến phức tạp, khó lường nhưng trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc, Việt Nam không những phát huy cơ hội, thuận lợi, phát triển kinh tế - xã 19
hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà còn tạo ra khả năng
bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị - xã hội, giữ vững môi trường
hòa bình, phát triển nhanh và bền vững. Việc thực hiện có hiệu quả các hiệp
định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới sẽ tạo ra cơ hội mở rộng, đa dạng hóa
thị trường với mức ưu đãi cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mạng lưới
sản xuất toàn cầu; góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đồng bộ và toàn diện,
khơi dậy tiềm năng của đất nước và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, cải
thiện đời sống nhân dân, nâng cao trình độ phát triển, giảm dần tỷ trọng gia công
lắp ráp của nền kinh tế. Nước ta cũng có cơ hội tham gia chủ động và sâu hơn
vào quá trình định hình và cải cách các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và
quốc tế có lợi cho ta và có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc
gia - dân tộc, lợi ích của các tổ chức, cá nhân; bảo đảm độc lập, tự chủ, củng cố
và duy trì môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Doanh
nghiệp Việt Nam có cơ hội để phát triển mạnh hơn, sáng tạo hơn và có sức cạnh
tranh hơn. Người tiêu dùng có thêm cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ chất
lượng cao, giá cả cạnh tranh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường. II.2.2. Thách thức
Việc tự do hóa thương mại, đầu tư một số thị trường, lĩnh vực còn chưa sát
hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế. Có sự chậm trễ trong việc xây dựng
hàng rào kỹ thuật cần thiết cũng như hệ thống quản lý thị trường đủ năng lực và
hiệu quả để bảo vệ thị trường trong nước, duy trì môi trường cạnh tranh lành
mạnh, bình đẳng, ngăn chặn gian lận thương mại, hàng giả, hàng lậu và hàng
độc hại gây tác động đến môi trường sản xuất, kinh doanh và sức khỏe cộng đồng.
Sau gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu nhất định về hội nhập nhưng vẫn giữ vững được tự chủ; tổng lực của
đất nước có tăng lên; thể chế cũng đã khá lên. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế của
Việt Nam vẫn còn một số hạn chế nhất định 20