













Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH ————————— ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM. LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY.
Học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh Mã lớp HP: 232_HCMI0111_06
Giảng viên: Vũ Thị Thu Hà Nhóm: 8 HÀ NỘI, 2024 MỤC LỤC
I.NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM LÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA
HỒ CHÍ MINH.................................................................................................................................2
1. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước ở Việt Nam......................................................................2
2. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – những nét khái quát về sự ra đời và trưởng
thành dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh..................................................................................3
II.NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM..........................................................................................................................4
1.Nhà nước dân chủ.....................................................................................................................4
1.1 Bản chất giai cấp của Nhà nước dân chủ..............................................................................4
1.2 Nhà nước của nhân dân........................................................................................................5
1.3 Nhà nước do nhân dân..........................................................................................................6
1.4 Nhà nước vì dân...................................................................................................................6
2.Nhà nước pháp quyền...............................................................................................................7
2.1 Xây dựng nhà nước hợp pháp, hợp kiến...............................................................................7
2.2 Nhà nước thượng tôn pháp luật............................................................................................8
2.3 Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa........................................................................................8
3. Nhà nước trong sạch, vững mạnh...........................................................................................9
3.1 Kiểm soát quyền lực nhà nước.............................................................................................9
3.2 Phòng chống tiêu cực nhà nước..........................................................................................10
III. LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY.........................11
BIÊN BẢN HỌP NHÓM...............................................................................................................16
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ................................................................................................17
I.NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM LÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA HỒ CHÍ MINH
1. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước ở Việt Nam (TIMELINE)
-Ban đầu, Hồ Chí Minh được ảnh hưởng bởi các tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa và cộng sản từ
những năm 1920. Người đã trở thành một thành viên của Đảng Cộng sản Đông Dương và sau đó
Đảng Cộng sản Việt Nam. Người tin rằng chính sách và lợi ích của người lao động nông dân và
công nhân phải được đặt lên hàng đầu. 1
-Trước về Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sống và làm việc trong các nước khác, như Pháp, Nga và
Trung Quốc. Người đã học hỏi và tìm hiểu về các mô hình chính trị khác nhau, bao gồm chủ nghĩa
dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
-Sau nhiều năm chiến đấu cho độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra quyết
định lựa chọn chế độ chính trị cho Việt Nam trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Người đã
tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trở thành Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam
-Hồ Chí Minh tin rằng chế độ chính trị cần phải dựa trên nguyên tắc dân chủ và sự tham gia của
nhân dân. Người đã đề xuất một hệ thống chính trị mà trong đó quyền lực thuộc về nhân dân, và các
quyết định quan trọng được đưa ra dựa trên ý kiến và đồng thuận của đại đa số người dân.
-Tuy nhiên, sau Cách mạng tháng Tám, Việt Nam đã trải qua nhiều biến động và chiến tranh. Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức và điều chỉnh chiến lược
chính trị của mình. Đến cuối đời, Người đã đưa ra lựa chọn xây dựng chế độ nhà nước xã hội chủ
nghĩa, trong đó đảng lãnh đạo và nhân dân có vai trò quan trọng.
-Tóm lại, quá trình lựa chọn kiểu nhà nước Việt Nam của Hồ Chí Minh đã phụ thuộc vào các tư
tưởng và kinh nghiệm của Người trong suốt cuộc đời và sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Người đã lựa chọn một hệ thống chính trị dựa trên nguyên tắc dân chủ và sự tham gia của nhân dân,
và sau đó điều chỉnh chiến lược theo tình hình thực tế và thách thức mà Việt Nam đối mặt.
2. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – những nét khái quát về sự ra đời và trưởng thành
dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh
-Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chủ
tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh, đứng đầu và là linh hồn của nhà nước đó.
-Sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh công bố danh sách Chính
phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nội các quốc gia thống nhất do Hồ Chí Minh làm Chủ
tịch, đồng thời kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao.
-Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam ngày càng được củng cố và hoàn thiện về
các mặt: lập pháp, hành pháp và tư pháp, thật sự là công cụ quyền lực của nhân dân, đại diện cho ý
chí, lợi ích và nguyện vọng của toàn dân tộc. Trong xây dựng và lãnh đạo nhà nước, Hồ Chí Minh
đã tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có phân công, phân
nhiệm rõ ràng nhằm thực hiện mục tiêu dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Căn
cứ vào các nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ, Người đã chỉ đạo tổ chức bộ máy nhà nước gọn,
nhẹ, thích hợp, đủ năng lực và trí tuệ quản lý đất nước. 2
-Hồ Chí Minh luôn luôn căn dặn cán bộ chính quyền, đoàn thể phải tin ở dân, vì khả năng của dân là
to lớn, là vô tận. Trong toàn bộ hoạt động của mình với cương vị là người đứng đầu Nhà nước, Hồ
Chí Minh luôn luôn khẳng định tư tưởng nước lấy dân làm gốc, lợi ích của nhân dân là trước hết và
trên hết, nhiệm vụ của chính quyền và đoàn thể là phụng sự nhân dân.
-Qua thực tiễn lãnh đạo, quản lý, Hồ Chí Minh nhìn thấy rất rõ những căn bệnh phát sinh làm hủy
hoại và biến dạng Nhà nước. Người kiên quyết chống lại, cảnh báo nhiều nguy cơ, đề xuất các giải
pháp thiết thực, trừng trị nghiêm khắc các cán bộ thoái hóa, biến chất, đảm bảo cho Nhà nước ta
thật sự trong sạch, vững mạnh.
-Trong 24 năm đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng các thiết chế, thể chế và cơ
chế dân chủ, khơi nguồn truyền thống dân chủ ở Việt Nam. Đặc biệt, Người đã để lại một tấm
gương sáng về đạo đức liêm khiết, trong sạch, hết lòng phục vụ nhân dân, vì dân, vì nước và một
phong cách lãnh đạo đặc sắc - phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh.
II.NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1.Nhà nước dân chủ
1.1 Bản chất giai cấp của Nhà nước dân chủ
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam được xem là dân chủ nhưng không hoàn toàn là
"Nhà nước toàn dân" mà là Nhà nước phi giai cấp ,mang bản chất giai cấp công nhân. Điều này thể
hiện qua một số phương diện.
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vị trí cầm quyền và giai cấp công nhân lãnh đạo, theo Hiến
pháp 1959: “Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân,dưa trện nền tảng liên minh công
nông,do giai cấp công nhân lãnh đạo” . Đảng lãnh đạo bằng cách thể chế hóa Nhà nước, hoạt động
trong bộ máy nhà nước và công tác kiểm tra.
Hai là, bản chất giai cấp của Nhà nước Việt Nam thể hiện ở tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong
sự phát triển của đất nước và việc giành lấy chính quyền,lập nên nhà nước cốt là để giai cấp công
nhân và nhân dân lao động có thể có một tổ chức mạnh mẽ nhằm thực hiện mục tiêu trên.
Ba là, bản chất của giai cấp công nhân của Nhà nước thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh chú trọng ở cả mặt dân chủ trong hoạt động
của tất cả các cơ quan nhà nước. Người nhấn mạnh điều này bởi vì chỉ khi thực hiện nghiêm chỉnh
những nguyên tắc này thì quyền lực mới thực sự thuộc về nhân dân.
Ngoài ra,trong Nhà nước Việt Nam,bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và
tính dân tộc. Trong tư tưởng của Người,sự thống nhất giữa bản chất giai cấp của Nhà nước với tính
nhân dân và tính dân tộc được thể hiện ra như sau:
Một là, Nhà nước Việt Nam ra đời sau những cuộc đấu tranh và hy sinh của nhiều thế hệ người Việt
Nam, hết sức gian khổ, từ thế kỷ XIX khi đất nước bị ngoại xâm. Đảng Cộng sản Việt Nam, trở 3
thành lực lượng lãnh đạo cách mạng, đã kết hợp sức mạnh toàn dân tộc để chiến thắng ngoại xâm,
giành lại độc lập và tự do, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - đầu tiên ở Đông Nam
châu Á, thuộc về nhân dân.
Hai là, Nhà nước Việt Nam từ khi ra đời đã kiên trì và nhất quán với mục tiêu vì quyền lợi của nhân
dân và dân tộc, do Hồ Chí Minh khẳng định rằng quyền lợi cơ bản của giai cấp công nhân là thống
nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Nhà nước mới đại diện, bảo vệ và đấu tranh
cho lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Ba là, Nhà nước mới ở Việt Nam đã đảm đương nhiệm vụ của toàn dân tộc bằng cách tổ chức cuộc
kháng chiến để bảo vệ độc lập và tự do, xây dựng một Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân
chủ và giàu mạnh, đồng thời đóng góp tích cực vào sự phát triển tiến bộ của thế giới. Đây là con
đường mà Hồ Chí Minh và Đảng đã xác định, là nhiệm vụ của Nhà nước.
1.2 Nhà nước của nhân dân
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Nhà nước của nhân dân là tổ chức mà toàn bộ quyền lực trong
cả Nhà nước và xã hội đều nằm trong tay nhân dân. Người đã khẳng định: "Trong Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân." Nhà nước của
dân tức là "dân là chủ". Nguyên lý "dân là chủ" xác định rằng vị thế chủ thể tối cao của mọi quyền lực là nhân dân.
Trong hệ thống Nhà nước dân chủ, nhân dân thực hiện quyền lực thông qua hai hình thức: dân chủ
trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Dân chủ trực tiếp là khi nhân dân trực tiếp quyết định vấn đề liên
quan đến số phận của quốc gia, dân tộc và quyền lợi của nhân dân. Hồ Chí Minh luôn đặt mức cao
về hình thức dân chủ trực tiếp, vì đây là hình thức dân chủ tối ưu nhất, và Người tạo mọi điều kiện
thuận lợi để thực hành dân chủ trực tiếp.
Cùng với dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp hay dân chủ đại diện là hình thức được sử dụng rộng
rãi để thực thi quyền lực của nhân dân. Hình thức này bao gồm việc nhân dân thực thi quyền lực
thông qua các đại diện mà họ lựa chọn, bầu cử và thiết lập quyền lực. Theo quan điểm của Hồ Chí
Minh về dân chủ gián tiếp:
Quyền lực nhà nước được xem như "thừa ủy quyền" của nhân dân, với nhà nước không có
quyền lực riêng. Quyền lực của nhà nước phụ thuộc vào sự ủy thác của nhân dân, và cơ
quan quyền lực nhà nước cùng với cán bộ của mình được coi là "công bộc" của nhân dân,
tức là "gánh vác công việc chung cho dân, chứ không phải để áp đặt lên dân". Hồ Chí Minh
đặt ra quan hệ rõ ràng giữa nhân dân và cán bộ nhà nước, với nhân dân là chủ thể nắm giữ
quyền lực. Người nhấn mạnh: "Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên
này uỷ viên khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm
quan cách mạng"; "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ
máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công
làm đày tớ cho dân". Hồ Chí Minh mạnh mẽ phê phán cán bộ nhà nước có thái độ thoái
hóa, biến chất từ việc là công bộc của dân trở thành "quan cách mạng", đứng trên nhân dân,
coi thường nhân dân, và "quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân".
Nhân dân có quyền kiểm soát, phê bình nhà nước, và có quyền bãi miễn những đại biểu mà
họ đã lựa chọn, bầu ra, cũng như giải tán những cơ quan quyền lực mà họ đã thiết lập. Điều
này là quan điểm rõ ràng và kiên quyết của Hồ Chí Minh nhằm đảm bảo rằng mọi quyền 4
lực, trong đó có quyền lực nhà nước, luôn nằm trong tay của nhân dân. Người nhấn mạnh
rằng một nhà nước thực sự thuộc về dân, "mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và
phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân";
trong nhà nước đó, "nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng
nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân",
thậm chí, "nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ". 1.3 Nhà nước do nhân dân
Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, nhà nước được nhân dân lập nên sau chiến thắng của cách mạng
toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc "cử ra" và "tổ chức nên" nhà nước
dựa trên cơ sở pháp lý của một chế độ dân chủ và theo các quy trình dân chủ, bao gồm quyền bầu
cử, quyết định và các quy trình khác.
Khái niệm "nhà nước do nhân dân" còn được hiểu là "dân làm chủ". Hồ Chí Minh đã rõ ràng khẳng
định: "Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ". Nếu "dân là chủ" định vị
vị thế của nhân dân đối với quyền lực nhà nước, thì "dân làm chủ" nhấn mạnh quyền lợi và nghĩa vụ
của nhân dân với tư cách là chủ thể. Hồ Chí Minh nói rõ: "Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải
có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân". Nhân dân làm chủ phải tuân
theo pháp luật, giữ đúng trật tự lao động, đóng góp nộp thuế đúng kỳ để xây dựng lợi ích chung, và
tích cực tham gia công việc cộng đồng.
Trong hệ thống nhà nước do nhân dân làm chủ, cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện
đầy đủ quyền lợi mà Hiến pháp và pháp luật quy định, đồng thời hưởng đủ quyền lợi và thực hiện
trách nhiệm làm chủ của mình. Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cán bộ và đảng viên phải tôn trọng
quyền làm chủ của nhân dân.
Nhà nước do nhân dân cũng cần chú trọng vào việc giáo dục nhân dân và đồng thời khuyến khích
nhân dân tự giác, phấn đấu để có đủ năng lực thực hiện quyền dân chủ của mình. Hồ Chí Minh đã
nói: "Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà. Muốn làm chủ tốt, phải có năng lực làm
chủ". Quan điểm này không chỉ tuyên bố quyền làm chủ của nhân dân, mà còn khuyến khích chuẩn
bị và động viên nhân dân để họ có khả năng làm chủ tốt, phản ánh tư tưởng dân chủ triệt để của Hồ
Chí Minh về nhà nước do nhân dân. 1.4 Nhà nước vì dân
Nhà nước vì dân là tổ chức phục vụ lợi ích và ý nguyện của nhân dân, không có đặc quyền hay đặc
lợi, hoạt động trong sự trong sạch và kiệm liêm chính. Hồ Chí Minh, với tư cách là Chủ tịch, khẳng
định rằng các cơ quan và cán bộ nhà nước phải hết sức phục vụ cho nhân dân. Người nói: "Công
việc của Chính phủ phải hướng tới mục đích duy nhất là tạo tự do và hạnh phúc cho mọi người. Do
đó, Chính phủ nhân dân phải luôn đặt quyền lợi của dân lên hàng đầu. Mọi công việc có lợi cho dân
thì thực hiện, còn có hại cho dân thì tránh". Theo Hồ Chí Minh, đo lường một Nhà nước vì dân là
được lòng dân, và cán bộ Nhà nước cần phải "làm sao để được lòng, tin tưởng, mến mộ và yêu quý nhân dân".
Hồ Chí Minh đặt ra một tiêu chí rõ ràng cho cán bộ Nhà nước vì dân: phải yêu dân và đặt quyền lợi
của dân lên hàng đầu, phải mang tinh thần chí công vô tư. Trong môi trường Nhà nước vì dân, cán
bộ không chỉ là đày tớ, mà còn là người lãnh đạo nhân dân. Người đề cao sự trung thành, tận tuỵ,
kiệm liêm chính, chí công vô tư, sự lo lắng trước ý kiến của nhân dân và sự hân hoan sau khi phục vụ xong. 5
Đối với cán bộ vừa là đày tớ vừa là người lãnh đạo, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng đây có vẻ như là
mâu thuẫn, nhưng thực tế đó là những phẩm chất cần có ở cán bộ vì dân. Họ phải trung thành và tận
tuỵ như là đày tớ, đồng thời cũng phải có trí tuệ hơn, sáng suốt, gần gũi với nhân dân, và biết trọng
dụng hiền tài. Điều này là để đảm bảo rằng họ có đủ đức và tài, vừa hiền lành và vừa thông minh.
Điều này cần thiết để "chẳng những làm những việc trực tiếp có lợi cho dân, mà còn có thể làm
những việc có vẻ như là hại đến dân, nhưng thực tế lại vì lợi ích toàn cục, vì lợi ích lâu dài của nhân dân". 2.Nhà nước pháp quyền
2.1 Xây dựng nhà nước hợp pháp, hợp hiến
Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc thiết lập cơ sở pháp lý cho Nhà nước Việt Nam mới, nhận thức sự
quan trọng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống chính trị - xã hội. Điều này đã được thể hiện
trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam, mà Hồ Chí Minh đại diện nhóm Việt Nam yêu nước tại
Pháp đã gửi đến Hội nghị Vécxây (Pháp) năm 1919. Trong đó, họ đề xuất cải cách nền pháp lý ở
Đông Dương, đảm bảo quyền lợi của người bản xứ như người Âu châu, loại bỏ toà án đặc biệt sử
dụng để khủng bố và áp bức nhân dân.
Khi trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh tiếp tục quan tâm đến việc tổ
chức và vận hành Nhà nước theo pháp luật, tạo nền tảng cho tinh thần pháp quyền và điều chỉnh
mọi quan hệ và hoạt động trong xã hội. Ngay sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, Người đã đề
xuất tổ chức cuộc TỔNG TUYỂN CỬ sớm để lập Quốc hội, từ đó hình thành Chính phủ và các tổ
chức hợp hiến, thể hiện quyền lực tối cao của nhân dân.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, với chế độ phổ thông đầu phiếu, là sự kiện quan trọng khi tất
cả mọi người dân từ mọi tầng lớp, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc hay đảng phái, đều
tham gia bỏ phiếu chọn đại biểu tham gia Quốc hội. Điều này là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc
Việt Nam cũng như ở Đông Nam châu Á.
Ngày 2-3-1946, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà họp phiên đầu tiên và lập tổ
chức, bộ máy cùng với các chức vụ chính thức của Nhà nước. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch
Chính phủ liên hiệp đầu tiên, đánh dấu sự hình thành Chính phủ có đầy đủ tư cách pháp lý để giải
quyết hiệu quả các vấn đề nội và ngoại vi.
2.2 Nhà nước thượng tôn pháp luật
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, quản lý Nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy và nhiều
biện pháp khác nhau, nhưng yếu tố quan trọng nhất là quản lý bằng Hiến pháp và pháp luật nói
chung. Người luôn coi trọng việc xây dựng hệ thống luật pháp dân chủ, hiện đại. Trong vai trò Chủ
tịch nước, Người đã tham gia lãnh đạo soạn thảo Hiến pháp (năm 1946 và 1959), ký lệnh công bố
16 đạo luật và 613 sắc lệnh, trong đó có 243 sắc lệnh về tổ chức Nhà nước và pháp luật.
Hồ Chí Minh cũng chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống và đảm bảo thi hành pháp luật, có cơ chế
giám sát việc thực hiện. Người nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao trình độ hiểu biết và năng
lực sử dụng luật của người dân, giáo dục ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Người tin rằng
pháp luật là công cụ quyền lực của nhân dân, và người dân cần biết sử dụng quyền dân chủ của mình.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh công tác giáo dục pháp luật cho mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, là quan
trọng để xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Người cũng khuyến khích nhân dân phê bình và giám 6
sát công việc của Nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tính nghiêm minh của pháp luật. Người tự mình
làm gương mẫu, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, khẳng định rằng đây là thói quen tự
nhiên và lối ứng xử của mình.
2.3 Nhà nước pháp quyền nhân nghĩa
"Pháp quyền nhân nghĩa" đồng nghĩa với việc Nhà nước phải tôn trọng và đảm bảo thực hiện đầy
đủ các quyền con người, hướng tới việc chăm sóc lợi ích của mọi người. Hồ Chí Minh, tiếp cận
quyền con người một cách toàn diện và sáng tạo, không chỉ nhấn mạnh quyền tự nhiên của con
người mà còn bao gồm quyền chính trị - dân sự, quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Người đặt tâm
huyết vào việc bảo vệ quyền của công dân nói chung và cũng quan tâm đến quyền của các nhóm
như phụ nữ, trẻ em, và người dân tộc thiểu số.
Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc đấu tranh cho quyền con người, với
mục tiêu giải phóng con người, đảm bảo cuộc sống hạnh phúc và tự do xứng đáng với phẩm giá con
người. Nhà nước Việt Nam, ngay từ khi thành lập, luôn kiên quyết đấu tranh cho quyền con người.
Hiến pháp của đất nước ghi chép một cách toàn diện về quyền con người, làm nền tảng pháp lý để
bảo vệ và thực thi các quyền này một cách triệt để.
Trong pháp quyền nhân nghĩa, pháp luật không chỉ mang tính nhân văn mà còn khuyến khích sự
thiện chí. Ngay từ khi thành lập thì Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên
bố hủy bỏ mọi luật pháp hà khắc của chính quyền thực dân phản động. Tính nhân văn của hệ thống
luật pháp thể hiện ở việc bảo vệ đầy đủ quyền con người và đồng thời giữ cho quy trình tư pháp
công bằng, khách quan. Hệ thống luật cũng thể hiện tính nghiêm túc, nhưng không tàn bạo, thậm
chí đối với những kẻ phản bội Tổ quốc, Người Hồ Chí Minh tuyên bố rằng sẽ thực thi luật pháp tuỳ
thuộc vào thái độ của họ mà không có sự tàn sát.
Cụ thể, hệ thống luật pháp này được thiết kế với tính khuyến khích và nhằm bảo vệ cái đúng, cái
tốt, với mục đích giáo dục, tạo ra sự nhận thức và thức tỉnh trong con người. Hồ Chí Minh tin rằng
việc xây dựng và thi hành pháp luật phải phản ánh đạo đức xã hội và các giá trị đạo đức phải thấm
sâu vào mọi quy định của pháp luật. Điều này nói cách khác, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền
nhân nghĩa phải là pháp luật vì con người.
3. Nhà nước trong sạch, vững mạnh
3.1 Kiểm soát quyền lực nhà nước
Để duy trì bản chất của Nhà nước, đảm bảo hiệu quả hoạt động, và ngăn chặn thoái hóa cũng như
biến chất trong đội ngũ cán bộ Nhà nước, Hồ Chí Minh đặt một sự chú ý đặc biệt vào vấn đề kiểm
soát quyền lực nhà nước.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, việc kiểm soát quyền lực nhà nước là hết sức cần thiết. Các cơ
quan và cán bộ Nhà nước, bất kể số lượng, đều giữ quyền lực trong tay mà nhân dân đã ủy thác.
Tuy nhiên, một khi nắm giữ quyền lực, có khả năng lạm dụng nó, theo lời Người: "dân ghét các
Người chủ tịch, các Người Ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền. Những Người này
không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay
lạm dụng." Do đó, để đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân, kiểm soát quyền lực nhà nước là không thể thiếu. 7
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc kiểm soát
quyền lực nhà nước. Đảng, là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có trách
nhiệm và quyền lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Người nói rõ: "Công việc của Đảng và Nhà nước
ngày càng nhiều. Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành
nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng." Để đạt được điều này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh
sự quan trọng của công tác kiểm tra, vì kiểm tra không chỉ thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ
mà còn tạo ra môi trường để họ làm gương mẫu tốt cho nhân dân.
Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước không chỉ dựa vào cách tổ chức bộ máy Nhà nước và phân
công trách nhiệm giữa các cơ quan thực thi quyền lực mà còn được Hồ Chí Minh nhấn mạnh. Hiến
pháp năm 1946 do Hồ Chí Minh soạn thảo rõ các hình thức kiểm soát bên trong Nhà nước, như
kiểm soát của Nghị viện nhân dân đối với Chính phủ.
Nhân dân, là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, nên có quyền kiểm soát nó. Hồ Chí Minh đặc
biệt nhấn mạnh: "Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng
giúp mới được." Đảng cầm quyền cần chú ý đến vai trò kiểm soát quyền lực của nhân dân và tập
trung vào việc phát huy ảnh hưởng tích cực của mình trong quá trình này.
3.2 Phòng chống tiêu cực nhà nước
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nước Việt Nam, Hồ Chí Minh nhấn mạnh các vấn đề tiêu
cực như đặc quyền, đặc lợi, tham ô, lãng phí, và bệnh quan liêu. Người cảnh báo về nguy cơ lạm
dụng quyền lực, lợi dụng chức quyền và nhấn mạnh quan trọng của việc kiểm soát quyền lực nhà nước.
Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan liêu là "giặc nội xâm" và đề cao tầm quan trọng của pháp
luật và kỷ luật. Người thậm chí ký các sắc lệnh và lệnh trừng phạt nghiêm minh, từ tù khổ sai đến tử
hình, để đối phó với những hành vi tham ô và lãng phí.
Lãng phí được Người coi là một căn bệnh, và Người tự làm gương trong việc chống lại lãng phí,
quý trọng từng đồng xu và bát gạo đến từ nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh chống lãng phí là biện
pháp tiết kiệm và quốc sách của mọi quốc gia.
Bệnh quan liêu cũng được Người lên án, đặc biệt tại cấp trung ương, tỉnh, huyện và cơ sở. Hồ Chí
Minh đề cập đến vấn đề quan liêu làm mất đoàn kết và kêu gọi loại bỏ bệnh quan liêu để ngăn chặn tham ô và lãng phí.
Cuối cùng, Hồ Chí Minh đề xuất một hệ thống biện pháp phòng chống tiêu cực, bao gồm nâng cao
trình độ dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi, thực hiện pháp luật nghiêm minh, giáo dục và cảm
hóa, và tận dụng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước. Người cũng nhấn mạnh vai trò lãnh đạo cấp
cao trong việc nêu gương và thúc đẩy đạo đức cách mạng trong bộ máy Nhà nước.
III. LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
Trên phương diện nhận thức lý luận, trải qua các kỳ đại hội, quan điểm của Đảng về xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN được bổ sung, phát triển, thể hiện ở các khía cạnh: đặc
trưng, bản chất, quan điểm chỉ đạo, tầm nhìn, định hướng, các yêu cầu cụ thể về xây dựng, hoàn 8
thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Đại hội XIII nêu bật tiến bộ về nhận thức lý luận:
“...Khẳng định bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới phương thức vận hành của Nhà nước theo hướng
hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; hoàn thiện mô hình tổ
chức của Nhà nước, phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, coi trọng
kiểm soát quyền lực nhà nước; giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, quan hệ
giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân”(1).
Về hiệu quả trong thực tiễn, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam đạt nhiều tiến bộ,
thể hiện trên nhiều phương diện: Tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu
lực, hiệu quả hơn; hệ thống pháp luật đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu.
Các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN được củng cố.
Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn, việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là thực sự
cần thiết, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác
định, mô hình xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng dựa trên tám đặc trưng, trong đó, xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một đặc trưng cơ bản. Đến
Hiến pháp năm 2013, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng được thể chế hóa rõ ràng
và đầy đủ tại Điều 2: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đề ra những định hướng, quan điểm, giải pháp đột phá cho tiến trình
xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ
thống chính trị. Đồng thời, Đảng ta nêu rõ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN
phải tiến hành đồng bộ, gắn với đổi mới hệ thống chính trị và đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội; xác
định 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, trong đó có định hướng xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, về “Tiếp
tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”
(Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã phân tích tình hình công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hơn 35 năm đổi mới và đã đạt những thành tựu 9
quan trọng, cụ thể: 1) Nhận thức, lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng
thống nhất, đầy đủ và sâu sắc hơn; hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện một bước cơ bản. Cơ chế
phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực; 2) Việc tổ chức và hoạt động của
Quốc hội có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng cao. Hoạt động của Chính phủ chủ động, tích
cực, tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô, tháo gỡ rào cản, kiến tạo phát triển. Tổ chức bộ
máy của tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục
được kiện toàn, chất lượng được nâng lên; 3) Quyền con người, quyền công dân theo Hiến định tiếp
tục được cụ thể hóa bằng pháp luật và thực hiện tốt hơn trên thực tế; 4) Mô hình nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng đã chỉ rõ, tổ chức bộ máy nhà
nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; quyền lực nhà nước
chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ.
Trong thời gian tới, để phát huy những giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân, cần tiếp tục thực hiện chất lượng, hiệu quả một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, cùng với những nội dung tư tưởng khác, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và
quán triệt những giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, để những giá trị
tư tưởng của Người ngày càng thấm sâu vào nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, công chức,
viên chức và các tầng lớp nhân dân; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tạo sự thống nhất nhận thức
về 8 đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện
có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị
số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm của
hệ thống chính trị. Củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Thực sự
thấm nhuần lời dạy của Bác: “không được rời xa dân chúng. Thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng
đắn, hiệu quả cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại
diện. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(13). Phát huy hơn nữa vai trò của
nhân dân trong thực hành dân chủ và xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu lực, hiệu quả. 10
Thứ ba, tiếp tục thể chế hóa, kịp thời, đầy đủ hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định
của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong xây dựng, hoàn
thiện pháp luật, cần không ngừng quán triệt sâu sắc luận điểm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức
làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(14).
Thứ tư, xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống
nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi để tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội,
lấy lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức doanh nghiệp làm trung tâm. Tiếp tục đẩy
mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;
tổ chức bộ máy, công vụ, công chức, hành chính điện tử và chuyển đổi số.
Thứ năm, nghiêm túc trong thực hiện đúng và đầy đủ những định hướng lớn của Đảng về xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tiếp
tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; nghiên cứu, làm rõ hơn nhiệm
vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước; đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa
phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bước đột phá trong tư duy
về xây dựng nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta, dựa trên nền tảng kế thừa, vận dụng sáng
tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước và pháp luật đã, đang và sẽ tiếp tục soi sáng quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Giảng viên: Vũ Thị Thu Hà Lớp HP: 232_HCMI0111_06 Nhóm: 8 I. Thời gian và địa điểm 1. Địa điểm: Google Meet
2. Thời gian: 22h ngày 8 tháng 1 năm 2024 II.
Số thành viên tham gia: 8/10 III. Nội dung thảo luận:
1. Tìm hiểu, nghiên cứu và tìm ra phương hướng giải quyết đề tài thảo luận, lập đề cương cho đề tài.
2. Nhóm trưởng phân chia công việc. IV.
Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên nhiệt tình trong quá trình thảo luận và nhận nhiệm vụ mà nhóm trưởng giao. Nhóm trưởng Mai Đức Tuấn 12
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ STT Họ và tên Nhiệm vụ Tự đánh Nhóm giá đánh giá 1 Đỗ Hương Trang Nội dung 2 Nguyễn Quang Trường Nội dung 3 Mai Đức Tuấn Nhóm trưởng, word 4 Bùi Quốc Việt PowerPoint 5 Phạm Tiến Việt Nội dung 6 Hoàng Thị Hà Vy Nội dung 7 Thái Đỗ Hà Vy Phản biện 8 Hà Thị Hải Yến Phản biện 9 Nguyễn Bảo Yến Thuyết trình 10 Nguyễn Ngọc Hải Yến Word 13