Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ---------- BÀI THẢO LUẬN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA.
VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY.
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Ngô Thị Huyền Trang Nhóm thực hiện : 4 Lớp học phần : 242_HCMI0111_05 Hà Nội - 2025 DANH SÁCH THÀNH VIÊN Lớp HP: 242_HCMI0111_05 Nhóm: 4
Nhóm trưởng: Hoàng Văn Thái ĐIỂM STT HỌ VÀ TÊN MÃ SV SV KÝ THẢO TÊN LUẬN 1 Vũ Diễm Quỳnh 23D180084 2 Đinh Thị Phương Thành 23D180039 3 Hoàng Văn Thái 22D210204 4 Ân Hiền Minh Thư 23D180087 5 Nguyễn Thanh Thư 21D105134 6 Phạm Ngọc Trâm 23D180137 7 Phạm Bích Vân 23D270045 8 Nguyễn Thanh Xuân 23D270091 9 Nguyễn Thị Xuân 23D270046 1
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ STT HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ ĐÁNH GIÁ Ý THỨC 1 Vũ Diễm Quỳnh Thuyết trình, mục 1.1 đề tài chính 2
Đinh Thị Phương Thành Mục 1.2 + 2.1 đề tài chính 3Hoàng Văn Thái (Nhóm trưởng) Mục 2.3 đề tài chính 4 Ân Hiền Minh Thư Mục 2.2 đề tài chính 5 Nguyễn Thanh Thư Mục 2.2 đề tài chính 6 Phạm Ngọc Trâm Slide 7 Phạm Bích Vân Chương 2 đề tài phụ 8Nguyễn Thanh Xuân
Mở đầu, kết luận, word, (Thư ký) mục 1.3 đề tài chính 9 Nguyễn Thị Xuân Chương 1 đề tài phụ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 2
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 1 Nhóm: 4
Lớp HP: 242_HCM0111_05
I. Thời gian - Địa điểm
Thời gian: 20h – 21h (22/4/2025) Địa điểm: Google Meet
II. Thành phần tham dự:
Các thành viên trong nhóm (9/9 thành viên tham gia)
III. Mục tiêu cuộc họp
Giới thiệu làm quen với thành viên, thảo luận trình bày ý kiến cá nhân về đề tài thảo
luận và mọi người cùng nhau xây dựng đề cương dàn bài.
IV. Nội dung cuộc họp
1. Nhóm trưởng giới thiệu về đề tài thảo luận: Trình bày tên đề tài và phạm vi nghiên
cứu; Định hướng đến kết quả mong muốn đạt được; Nhóm trưởng đưa ra các cách
để xây dựng đề cương.
2. Các thành viên trong nhóm đưa ra ý kiến cá nhân: Mỗi thành viên lần lượt đưa ra
các quan điểm đã tìm hiểu được rồi thống nhất đề cương chi tiết
V. Tổng kết: Các thành viên tham gia đúng thời gian quy định, tích cực tham gia thảo luận đề tài.
Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2025 Thư ký Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
(Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thanh Xuân Hoàng Văn Thái 3
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 2 Nhóm: 4
Lớp HP: 242_HCM0111_05
I. Thời gian - Địa điểm
Thời gian: 20h – 21h (25/04/2025) Địa điểm: Google Meet
II. Thành phần tham dự: Các thành viên trong nhóm (9/9 thành viên tham gia)
III. Mục tiêu cuộc họp
Phân chia nhiệm vụ cho các thành viên
IV. Nội dung cuộc họp
-Nhóm trưởng trình bày ý tưởng tổng quát về nội dung bài thảo luận và giới thiệu
các phương pháp và hướng tiếp cận để thực hiện bài thảo luận
-Nhóm trưởng thống nhất ý kiến, phân chia công việc cho các thành viên và quy
định thời gian hoàn thành công việc rõ ràng.
-Thư ký ghi lại biên bản họp nhóm.
V. Tổng kết: Các thành viên tham gia đúng thời gian quy định, tích cực tham gia thảo luận đề tài.
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2025 Thư ký Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
(Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thanh Xuân Hoàng Văn Thái 4 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................7
NỘI DUNG.......................................................................................................................8
A. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA. VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG
VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY......8
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA........8
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa và quan hệ giữa văn hóa với các
lĩnh vực khác..............................................................................................................8
1.1.1. Hồ Chí Minh quan niệm về văn hóa............................................................8
1.1.2. Quan hệ giữa văn hóa với chính trị..............................................................9
1.1.3. Quan hệ giữa văn hóa với kinh tế..............................................................10
1.1.4. Quan hệ giữa văn hóa với xã hội...............................................................11
1.1.5. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại.....................12
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa.....................................13
1.2.1. Văn hoá là mục tiêu, động lực của sự nghiệp cách mạng..........................13
1.2.2. Văn hóa là một mặt trận.............................................................................14
1.2.3. Văn hoá phục vụ quần chúng nhân dân.....................................................15
1.3. Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới................................16
Chương 2. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG VĂN HÓA
HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY.......................18
2.1. Khái quát chung về văn hóa học đường..........................................................18
2.1.1. Khái niệm về văn hóa học đường...............................................................18
2.1.2. Vai trò của văn hóa học đường..................................................................19
2.1.3. Nội dung của văn hóa học đường..............................................................20
2.1.4. Nguyên tắc của văn hóa học đường...........................................................21
2.2. Đánh giá thực trạng văn hóa học đường tại trường Đại học Thương mại
hiện nay.....................................................................................................................23
2.2.1. Ưu điểm ....................................................................................................23
2.2.2. Hạn chế......................................................................................................24
2.2.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên.................................................25
2.3. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng văn hóa học đường tại
Trường Đại học Thương mại..................................................................................27 5
B. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ XÂY DỰNG CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM. VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY.................................................................................................31
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.............................31
1.1 . Tư tưởng Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội.................................................31
1.1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội....................................31
1.1.2. Tiến lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan.................................31
1.1.3. Một số đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa...........................................31
1.2 . Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam..............32
1.2.1. Mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam......................................................32
1.2.2. Động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...............................................32
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam32
1.3.1. Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ.................................32
1.3.2. Một số nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ..........33
Chương 2. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI
MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...................................................................................33
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội soi đường cho đổi mới.............34
2.2. Thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội
trong đổi mới và đánh giá hiệu quả........................................................................34
KẾT LUẬN.....................................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................37 6 LỜI MỞ ĐẦU
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển bền vững của đất nước. Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
văn hóa giữ một vị trí đặc biệt, có mối quan hệ hữu cơ với các lĩnh vực như chính trị,
kinh tế và đời sống xã hội. Người đã định nghĩa văn hóa một cách sâu sắc: “ Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu
đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Không chỉ phản ánh trình độ phát triển của xã hội,
văn hóa còn trực tiếp tham gia vào tiến trình cách mạng, hỗ trợ cho sự phát triển của
chính trị và kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Chính
vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, nhấn mạnh vai
trò định hướng, dẫn dắt của văn hóa đối với sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa để xây
dựng môi trường giáo dục văn hóa trong các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường đại học,
trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trường Đại học Thương mại, với vai trò là một trong
những cơ sở đào tạo hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, cần chú trọng xây dựng
văn hóa học đường nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực không chỉ giỏi chuyên môn
mà còn có đạo đức, nhân cách và bản lĩnh văn hóa.
Trên cơ sở đó, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa. Vận dụng vào xây dựng văn hóa học đường ở Trường Đại học Thương
mại hiện nay" nhằm góp phần làm rõ giá trị tư tưởng của Người và vận dụng sáng tạo
trong thực tiễn giáo dục hiện đại. 7 NỘI DUNG
A. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA. VẬN DỤNG VÀO XÂY
DỰNG VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa và quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực khác
1.1.1. Hồ Chí Minh quan niệm về văn hóa
Hồ Chí Minh có một cách tiếp cận toàn diện và sâu sắc về văn hóa, coi văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển của con người và đất
nước. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa không chỉ giới hạn ở các lĩnh vực nghệ thuật, văn học,
mà còn bao gồm cả tư tưởng, đạo đức, lối sống, và cách ứng xử của con người trong xã
hội. Bác nhấn mạnh rằng: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng
với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”
Quan niệm này cho thấy văn hóa là một khái niệm rộng, bao quát các khía cạnh vật
chất và tinh thần của đời sống xã hội. Hồ Chí Minh xác định văn hóa phải phục vụ con
người, phục vụ cách mạng và có vai trò nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng
con người mới xã hội chủ nghĩa. Văn hóa, theo Hồ Chí Minh phải mang tính nhân văn,
hướng tới việc làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn, sống có đạo đức, lý tưởng và trách nhiệm với cộng đồng.
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh rằng văn hóa phải gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cách
mạng, phải “hóa” vào quần chúng, nghĩa là phải dễ hiểu, gần gũi và đáp ứng nhu cầu của
nhân dân. Bác từng nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến
sĩ trên mặt trận ấy.”
Điều này thể hiện vai trò của văn hóa như một vũ khí tư tưởng, góp phần xây dựng
và bảo vệ đất nước. Văn hóa phải có tính dân tộc, khoa học và đại chúng, đồng thời phải
chống lại các biểu hiện văn hóa lai căng, phản động hoặc xa rời thực tiễn. 8
1.1.2. Quan hệ giữa văn hóa với chính trị
Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa và chính trị có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn
nhau. Văn hóa là công cụ phục vụ mục tiêu chính trị, đồng thời chính trị tạo điều kiện để
văn hóa phát triển. Người coi văn hóa là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước. Văn hóa góp phần nâng cao nhận thức chính trị của quần
chúng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và củng cố niềm tin vào con đường mà Đảng và
Nhà nước đã lựa chọn. Người cho rằng "văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động
khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị"
Cụ thể, văn hóa đóng vai trò:
Một là, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị. Các sản phẩm văn hóa như văn
học, nghệ thuật, báo chí được Hồ Chí Minh sử dụng để tuyên truyền các giá trị cách
mạng, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh
rằng văn hóa phải “gây phong trào” để quần chúng hiểu rõ mục tiêu chính trị của cách mạng.
Hai là, xây dựng con người mới. Văn hóa giúp định hình tư tưởng, đạo đức và lối
sống của con người, từ đó tạo ra những công dân có ý thức chính trị cao, sẵn sàng cống
hiến cho đất nước. Chính trị trong Hồ Chí Minh không chỉ định hướng cho giai cấp vô
sản mà còn định hướng cho cả dân tộc và phù hợp với những giá trị bền lâu và tiên tiến
của nhân loại. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ tư tưởng của giai
cấp vô sản, mà còn hàm chứa tinh hoa tư tưởng, văn hóa của dân tộc và nhân loại. Nó có
khả năng làm chuyển động cả cộng đồng dân tộc đa dạng, làm nên những thay đổi vĩ đại.
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh do đồng thuận với nhân loại tiến bộ nên được sự ủng hộ,
đồng tình quốc tế rộng rãi, đồng thời có tác động tích cực đẩy nhanh dòng chảy của văn
minh, tiến bộ nhân loại.
Ba là, đấu tranh chống phản động. Văn hóa là vũ khí sắc bén để chống lại các tư
tưởng phản động, tuyên truyền sai lệch, góp phần bảo vệ chế độ chính trị. Hồ Chí Minh
xem văn hóa, đặc biệt là văn học và nghệ thuật, là "mặt trận" trong cuộc đấu tranh cách
mạng, với nghệ sĩ là chiến sĩ và tác phẩm là "vũ khí sắc bén" chống lại lực lượng phản
động. Văn hóa không chỉ là yếu tố thụ động mà là lực lượng tích cực trong cách mạng,
dùng để chống lại tư tưởng phản động và bảo vệ chế độ chính trị. Nó tham gia vào cuộc 9
đấu tranh chống thực dân, phong kiến và chống lại "kẻ thù nội xâm" như tham nhũng,
chủ nghĩa cá nhân trong xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Sự nhất quán hai thành tố văn hóa - chính trị bắt nguồn từ bản chất văn hóa và chính
trị chân chính. Mọi nền tảng chính trị chân chính đều lấy việc phục vụ con người, giải
phóng con người làm mục đích tối cao. Hoạt động văn hóa, giá trị cao nhất của văn hóa
cũng xoay quanh những lĩnh vực thuộc bản chất người, kết tinh những giá trị tinh hoa
trong quá trình phát triển của dân tộc và thời đại. Cả hai yếu tố chính trị và văn hóa đều
đã được chuẩn bị, tích lũy từ cuộc đời hoạt động cách mạng đầy phong phú, sôi nổi của
Người và đều đạt đến độ sâu sắc, hoàn thiện.
1.1.3. Quan hệ giữa văn hóa với kinh tế
Hồ Chí Minh nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và kinh tế. Người
cho rằng văn hóa không thể phát triển nếu không có nền tảng kinh tế vững chắc, nhưng
kinh tế cũng cần văn hóa để định hướng và nâng cao chất lượng phát triển. Theo Hồ Chí
Minh, văn hóa và kinh tế phải song hành, hỗ trợ lẫn nhau để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Một là, văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế. Văn hóa, đặc biệt là văn hóa lao động,
kỷ luật, và sáng tạo, góp phần nâng cao năng suất lao động, cải thiện hiệu quả kinh tế.
Người cho rằng văn hóa không chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là yếu tố quyết định sự
phát triển bền vững của kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của việc giáo dục ý thức lao động, tinh thần trách nhiệm
và sáng tạo trong nhân dân để phát triển kinh tế.
Hai là, kinh tế là nền tảng cho văn hóa. Hồ Chí Minh cho rằng chỉ khi đời sống vật
chất của nhân dân được đảm bảo thì văn hóa mới có điều kiện phát triển. Một nền kinh tế
phát triển tạo điều kiện vật chất giúp cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho các
hoạt động văn hóa như xây dựng trường học, thư viện, nhà văn hóa, và các chương trình
nghệ thuật. Ngoài ra, còn hỗ trợ giáo dục và đào tạo, với sự phát triển kinh tế cung cấp
nguồn lực để đầu tư vào giáo dục, nâng cao dân trí, và phát triển nguồn nhân lực, từ đó
thúc đẩy văn hóa phát triển.
Ba là, chống văn hóa tiêu cực trong kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, văn
hóa đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các hệ lụy tiêu cực như tham nhũng,
quan liêu, và chủ nghĩa cá nhân, đảm bảo rằng kinh tế phát triển theo hướng tiến bộ và 10 nhân văn. Người
phê phán các biểu hiện văn hóa tiêu cực như tham nhũng, lãng phí, và
lối sống hưởng thụ, coi đó là trở ngại cho sự phát triển kinh tế lành mạnh.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa và kinh tế có mối quan hệ biện chứng, trong
đó kinh tế cung cấp cơ sở vật chất cho văn hóa, còn văn hóa là động lực tinh thần thúc
đẩy phát triển kinh tế. Quan điểm này không chỉ có giá trị lý luận mà còn là kim chỉ nam
cho sự phát triển bền vững của Việt Nam, đảm bảo rằng kinh tế phát triển đi đôi với sự
tiến bộ văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân.
1.1.4. Quan hệ giữa văn hóa với xã hội
Văn hóa và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó văn hóa là linh hồn, là bản chất
của xã hội, còn xã hội là môi trường để văn hóa hình thành và phát triển. Hồ Chí Minh
khẳng định văn hóa phải phục vụ xã hội, góp phần xây dựng một cộng đồng đoàn kết, nhân ái và tiến bộ.
Cụ thể, văn hóa đóng vai trò:
Một là, xây dựng con người và cộng đồng. Văn hóa định hình nhân cách, đạo đức,
và lối sống của con người, từ đó xây dựng một xã hội văn minh, đoàn kết. Hồ Chí Minh
nhấn mạnh rằng “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người”, trong đó văn hóa là công cụ để “trồng người”. Văn hóa, theo Hồ Chí Minh,
là "hồn cốt" của dân tộc, giúp xây dựng con người mới với các phẩm chất như nhân,
nghĩa, trí, tín, dũng, liêm, trung, hiếu. Nó cung cấp nền tảng tinh thần, định hướng đạo
đức, và giáo dục toàn diện về trí tuệ, thể chất, và thẩm mỹ, đặc biệt thông qua giáo dục và
các hoạt động văn hóa. Ngoài ra, văn hóa còn thúc đẩy sự đoàn kết trong cộng đồng,
phục vụ quần chúng, và chống lại các tư tưởng sai lệch. Nó là công cụ để xây dựng xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, đồng thời bảo vệ di sản văn hóa như bảo tàng, di tích, và
các giá trị phi vật thể được UNESCO công nhận. Trong thời kỳ hiện đại, văn hóa là động
lực phát triển bền vững, đi đôi với kinh tế và chính trị, nhằm xây dựng con người và cộng
đồng phát triển toàn diện, với các giá trị như lòng yêu nước, đoàn kết, và trách nhiệm xã hội.
Hai là, thúc đẩy công bằng xã hội. Văn hóa giúp nâng cao dân trí, xóa bỏ các hủ tục
lạc hậu, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Văn hóa giúp đảm
bảo phát triển kinh tế không chỉ mang lại lợi ích vật chất mà còn nâng cao đời sống tinh
thần, đặc biệt qua chính sách hỗ trợ vùng khó khăn, dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.
Điều này thúc đẩy bình đẳng xã hội. 11
Ngược lại, xã hội tạo điều kiện để văn hóa phát triển. Một xã hội ổn định, tiến bộ sẽ
là môi trường thuận lợi để các giá trị văn hóa được bảo tồn và phát huy. Hồ Chí Minh
nhấn mạnh rằng văn hóa phải gắn bó với đời sống của nhân dân, phản ánh những nhu cầu
và nguyện vọng của xã hội.
1.1.5. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại
Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời
tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa nhân loại. Bác cho rằng bản sắc văn hóa dân tộc
là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam, là nền tảng để đất nước phát triển bền
vững. Tuy nhiên, trong bối cảnh giao lưu quốc tế, việc tiếp thu văn hóa nước ngoài là cần
thiết để làm giàu thêm văn hóa dân tộc.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm các giá trị truyền
thống tốt đẹp như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân ái, cần cù, sáng tạo, và các
phong tục, tập quán mang đậm nét Việt Nam. Người cũng kêu gọi nhân dân phải bảo vệ
và phát huy những giá trị này, tránh để bị mai một trước sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai.
Một là, bảo vệ ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật dân tộc. Hồ Chí Minh đề cao vai trò
của tiếng Việt, các tác phẩm văn học, và các loại hình nghệ thuật dân gian như ca dao, tục
ngữ, hát chèo, quan họ… Hồ Chí Minh khuyến khích việc sử dụng tiếng Việt trong giáo
dục và đời sống để giữ gìn bản sắc dân tộc.
Hai là, chống văn hóa lai căng, phản động. Bác phê phán các biểu hiện văn hóa
ngoại lai không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam, đồng thời kêu gọi loại bỏ các
hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan, cưới hỏi xa xỉ.
Hồ Chí Minh cũng chủ trương tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa nhân loại để
làm giàu cho văn hóa dân tộc. Người nhấn mạnh rằng: “Cần phải biết tiếp thu những cái
hay, cái đẹp của văn hóa nước ngoài, nhưng phải có chọn lọc, không rập khuôn, không lai căng.”
Đầu tiên, học hỏi khoa học, kỹ thuật và tư tưởng tiến bộ. Hồ Chí Minh khuyến khích
việc học hỏi các thành tựu khoa học, kỹ thuật, và các tư tưởng tiến bộ từ các nước phát
triển để phục vụ công cuộc xây dựng đất nước.
Thứ hai, tôn trọng sự đa dạng văn hóa. Người đề cao tinh thần đoàn kết quốc tế, tôn
trọng các giá trị văn hóa của các dân tộc khác, đồng thời chia sẻ văn hóa Việt Nam với thế giới. 12
Thứ ba, chọn lọc để phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng
việc tiếp thu văn hóa nước ngoài phải phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, và nhu cầu
của Việt Nam, tránh sao chép máy móc.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống quan điểm toàn diện,
nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong việc xây dựng con người và xã hội mới. Hồ Chí
Minh đề cao sự kết hợp hài hòa giữa giữ gìn bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa nhân
loại, đồng thời khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với chính trị, kinh tế, và
xã hội. Những quan niệm này không chỉ có giá trị trong thời đại cách mạng mà còn là
kim chỉ nam cho sự phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hiện nay.
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa
1.2.1. Văn hoá là mục tiêu, động lực của sự nghiệp cách mạng
Văn hóa là mục tiêu. Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Như vây, cùng với chính tri,
kinh tế, xà hội, văn hóa nằm trong mục tiêu chung của toàn bộ tiến trình cách mạng. Theo
quan điểm Hồ Chí Minh, văn hóa là mục tiêu – nhìn một cách tổng quát:
- Là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Đây là
những giá trị cốt lõi của một xã hội văn minh, nơi con người được sống trong hòa bình,
hạnh phúc và phát triển toàn diện.
- Là khát vọng của nhân dân về các giá trị chân, thiện, mỹ: Xây dựng một xã hội tốt đẹp,
nơi con người được sống trong môi trường lành mạnh, đề cao đạo đức và hướng đến những giá trị cao đẹp.
- Một xã hội dân chủ - dân là chủ và dân làm chủ - công bằng, văn minh: Nơi mọi người
đều được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, ai cũng được học hành, ai cũng có cơm ăn áo mặc.
- Một xã hội mà đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân luôn luôn được quan tâm và
không ngừng nâng cao, con người có điều kiện phát triển toàn diện.
Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở cho một xã hội phát triển bền vững với ba trụ cột là bền
vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Chúng ta có thể nhận thức ở những mức độ khác
nhau trong di sản Hồ Chí Minh về các mục tiêu của Chương trình nghị sự XXI, một phần
quan trọng của chiến lược phát triển bền vững. 13
Minh chứng: Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã ký Quyết định số 2214/QĐ-TT phê
duyệt Chương trình thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa” giai đoạn 2021-2026 với mục tiêu chung có chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, thiết
thực; tạo chuyển biến tích cực trong xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện
và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự
trở thành sức mạnh nội sinh, động lực khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân
tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, bảo đảm sự phát triển
bền vững, hội nhập quốc tế và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.2. Văn hóa là một mặt trận
Văn hóa là một trong bốn nội dung chính của đời sống kinh tế - xã hội, quan trọng
ngang các vấn đề kinh tế , chính trị và xã hội. Nói mặt trận văn hóa là nói đến một lĩnh
vực hoạt động có tính độc lập, có mối quan hệ mật thiết với các lĩnh vực khác, đồng thời
phản ánh tính chất cam go, quyết liết của hoạt động văn hóa. Mặt trận văn hóa là cuộc
đấu tranh cách mạng trên lĩnh vưc văn hóa – tư tưởng.
Nội dung mặt trận văn hóa phong phú, đấu tranh trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức,
lối sống.. của các hoạt động văn nghệ, báo chí, công tác lý luận, đặc biệt là định hướng
giá trị chân, thiên, mỹ của văn hóa nghê thuật.
Mặt trận văn hóa là cuộc chiến đấu trên lĩnh vực văn hóa, vì vậy anh chị em văn
nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy, cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có
nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Đề làm tròn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật phải có lập trường tư tưởng vững vàng;
ngòi bút là vũ khi sắc bén trong sự nghiệp "phò chính trừ tà- Phải bám sát cuộc sống thực
tiễn, đi sâu vào quần chúng, để phê bình nghiêm khắc những thói xấu như tham ô, lười
biếng, lãng phí, quan liêu, và ca tụng chân thật những người có nhiều chủ trương, đường
lối đúng đắn, phù hợp về phát triển văn hóa qua các thời kỳ, đã phát huy được những giá
trị tốt đẹp của con người Việt Nam, tính ưu việt của văn hóa xã hội chủ nghĩa được thể
hiện, góp phần vào những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã xác định mục đích của cuộc cách mạng là giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người gắn với xây dựng một nền văn
hóa của dân tộc. Cách mạng giải phóng dân tộc làm hồi sinh các giá trị văn hóa, thúc đẩy
văn hóa dân tộc phát triển. Đó là văn hóa yêu nước, một nền văn hóa tiển bộ và giàu giá 14
trị nhân văn, văn hóa vì con người. Sự ghiệp giải phóng dân tộc gắn liền với sư nghiệp
xây dựng và phát triển văn hóa.
Bước đột phá trong quan điểm của Đảng về lĩnh vực văn hóa gắn liền với Đại hội VI
(1986) - Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới. Đảng đã khẳng đinh vị trí quan trọng của văn
hóa trong việc xây dựng nhân cách, xây dựng lối sống cho con người. Yếu tố tinh thần
của văn hóa một lần nữa được nhấn mạnh, hạt nhân của văn hóa tinh thần chính là rèn
luyên đạo đức cách mạng. Đảng đã cụ thể hóa quan điểm ấy bằng hàng loạt Nghị quyết
và chỉ thị mang tính định hướng cho quá trình phát huy hơn nữa vai trò của văn hóa đối
với sự phát triển đất nước.
Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII diễn ra từ ngày
6/7 đến 16/7/1998, Đảng đã đưa ra Nghị quyết xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết ra đời trở thành văn bản mang tính
pháp lý, việc thể chế hóa Nghị quyết tạo điều kiện thuận lợi cho văn hóa phát triển sâu
rộng, hiệu quả trên các mặt của đời sống xã hội, đóng góp vai trò nhiều hơn nữa cho sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ổn định. Văn hóa trở thành nhân tố quyết định để
nâng cao chất lượng cuộc sống, để xây dựng đất nước theo mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Hay nói cách khác, văn hóa trở thành nhân tố không thể thiếu trong
mục tiêu phát triển đất nước bền vững, toàn diện.
Trong Đại hội X, lần đầu tiên, vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội
thành một mục tiêu riêng, "độc lập" với giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ.
1.2.3. Văn hoá phục vụ quần chúng nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng văn
hóa của Người cũng vì nhân dân, phục vụ nhân dân. Theo Người, mọi hoạt động văn hóa
phải trở về với cuộc sống thực tại của quần chúng, phản ánh được tư tưởng và khát vọng của quần chúng.
Văn hóa phục vụ quần chúng nhân dân là phải miêu tả cho hay, cho thật, cho hùng
hồn; phải trả lời được các câu hỏi: Viết cho ai? Mục đich viết? Lấy tài liệu đâu mà viết?
Cách viết như thế nào? Viết phải thiết thực, tránh cái lối viết rau muống mà ham dùng
chữ. Nói cũng vậy. Nói ít, nhưng nói cho thầm thía, nói cho chắc chắn, thì quần chúng
thích hơn. Tóm lại “tử trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”. Trên cơ sở đó để
định hướng giá trị cho quần chúng. 15
Chiến sĩ văn hóa phải hiểu và đánh giá đúng quần chúng. Quần chúng là những
người sáng tác rất hay. Họ cung cấp cho những nhà hoạt động văn hóa những tư liệu quý.
Và chính họ là những người thẩm định khách quan, trung thực, chính xác các sản phẩm
văn nghệ. Nhân dân phải là những người được hưởng thụ các giá trị văn hóa.
Để văn hóa thực sự phục vụ quần chúng nhân dân, ngoài việc đi vào quần chúng cổ
động, biểu dương sự nghiệp cách mạng của Nhân dân, anh chị em văn hóa và trí thức còn
phải đánh giá, nhìn nhận đúng Nhân dân.
Theo Người, quần chúng là những người không phải chỉ sáng tạo ra của cải vật chất
cho xã hội mà còn là những người sáng tác nữa. Tục ngữ, vè, ca dao... là “những hòn
ngọc quý”, vừa rất hay, lại rất ngắn chứ không “trường thiên đại hải”, dây cà ra dây muống.
Quần chúng còn là đối tượng phản ánh. Người khẳng định: “Chỉ có nhân dân mới
nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn
quên điều đó - nhân dân cũng sẽ quên anh ta”.
Quần chúng còn là những người kiểm nghiệm sản phẩm. Vì vậy, viết xong đọc đi,
sửa lại bốn, năm lần chưa đủ, mà “phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh đọc lại.
Chỗ nào ngúc ngoắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải sửa lại”. Cuối cùng phải
thấy rằng, đồng bào đang chờ đợi và phải được hưởng thụ các sản phẩm văn hóa.
Minh chứng cụ thể: Ngày 7-10-1945, trong buổi khai mạc Phòng triển lãm văn hoá,
Người nói đại ý: các hoạ sĩ của ta đã cố gắng tìm mọi con đường đi. Nhưng tiếc rằng
không muốn đi ở dưới đất mà cứ muốn vụt lên trời: chất mơ mộng nhiều quá, mà cái chất
thật của sự sinh hoạt rất ít. Thật là một thế giới tiên. Người trần lên tiên có lẽ cũng thích
thật. Nhưng nhìn mãi cái đẹp không thay đổi rồi cũng nhàm chán, nhạt nhẽo và mới biết
rằng: muốn tìm thấy sự thay đổi, sự ham mê thật, phải trở về với cuộc sinh hoạt thực tại của con người”.
Khi bàn làm sách “Người tốt việc tốt” (6-1968), Hồ Chí Minh đưa cho mọi người
xem một tờ báo có hình vẽ ba cô gái du kích Hà Nội, Huế, Sài Gòn và nói: Nếu các chú
không tin, các chú thử đem hỏi mấy cháu gái đó xem. Các cháu sẽ nói: các chú vẽ ai, chứ
các cháu cầm súng đánh giặc, không bao giờ lại ăn mặc như thế. Người kết luận “nghệ
thuật phải gần với cuộc sống, người vẽ không thể tùy ý muốn tưởng tượng ra thế nào
cũng được, rồi quần chúng phê bình lại bảo người ta dốt”.
1.3. Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới 16
Tựa như viên ngọc quý được rèn giũa qua bao thăng trầm lịch sử, quan điểm của Hồ
Chí Minh về việc xây dựng một nền văn hóa mới đã trở thành kim chỉ nam cho sự phát
triển bền vững của dân tộc. Xuyên suốt các thời kỳ lịch sử, tư tưởng văn hóa của Người
luôn thể hiện sự kết tinh giữa truyền thống văn hóa dân tộc và tinh thần thời đại, mang
tính dự báo sâu sắc và có giá trị chỉ đạo thực tiễn lâu dài.
a) Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Ngay từ buổi đầu hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức sâu sắc vai
trò của văn hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước. Trong Chánh
cương vắn tắt (1930) của Đảng do Người khởi thảo, vấn đề xã hội được đặt lên hàng đầu,
trong đó nhấn mạnh đến việc thực hiện “nam nữ bình quyền” và “phổ cập giáo dục theo
hướng công - nông hóa”. Đặc biệt, vào tháng 8/1943 cùng với việc đưa ra quan niệm về ý
nghĩa của văn hóa, Hồ Chí Minh quan tâm đến việc xây dựng nền văn hóa dân tộc với
năm nội dung: về xây dựng tâm lý là tinh thần độc lập tự cường; về xây dựng luân lý là
tinh thần hy sinh vì cộng đồng và làm lợi cho quần chúng; về xây dựng xã hội là chú
trọng đến các hoạt động gắn liền với phúc lợi nhân dân; về xây dựng chính trị là thực
hiện dân quyền và xây dựng dân chủ; và về xây dựng kinh tế là phát triển nền kinh tế tự
lực và bền vững. Những nội dung này không chỉ tạo thành một hệ thống tư tưởng toàn
diện mà còn đặt nền móng lý luận cho công cuộc giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước về sau.
b) Trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Khi cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, Hồ Chí Minh khẳng
định lại quan điểm của Đảng từ năm 1943 trong “Đề cương văn hóa Việt Nam” về
phương châm xây dựng nền văn hóa mới. Đó là một nền văn hóa có tính chất dân tộc,
khoa học, đại chúng. Đây là phương châm xuyên suốt trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.
Tính dân tộc trong văn hóa mới đòi hỏi phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
Việt Nam, kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết và các giá trị tinh thần tốt
đẹp của dân tộc.Người nhấn mạnh: “Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, coi đó là
biểu tượng văn hóa và bản sắc dân tộc.
Tính khoa học trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh thể hiện ở việc văn hóa cần dựa
trên tri thức hiện đại, phản ánh các giá trị tiến bộ của thời đại, đồng thời gắn với chủ 17
nghĩa duy vật biện chứng, góp phần nâng cao dân trí, bài trừ mê tín, hủ tục lạc hậu, và
khơi dậy tinh thần sáng tạo trong nhân dân.
Tính đại chúng được thể hiện ở chỗ văn hóa phải phục vụ đông đảo quần chúng, dễ
hiểu, dễ tiếp cận và phản ánh trung thực đời sống thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng: “Văn
hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, thể hiện
quan điểm về việc đưa văn hóa đến gần với đời sống, phục vụ cách mạng và phục vụ nhân dân.
c) Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong thời kỳ nhân dân miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chủ
trương xây dựng nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Theo
quan điểm của Người, nền văn hóa mới trong giai đoạn này cần kết hợp chặt chẽ giữa nội
dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc. Nội dung xã hội chủ nghĩa đòi hỏi văn hóa
phải phục vụ nhiệm vụ chính trị trung tâm của đất nước, cụ thể là góp phần vào xây dựng
con người mới, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy chủ nghĩa yêu nước
và tinh thần trách nhiệm xã hội. Đồng thời, hình thức dân tộc được thể hiện qua việc bảo
tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, từ phương pháp sáng tạo đến cách thức
tiếp cận quần chúng. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa chỉ có thể phát huy hiệu quả cách
mạng khi nó vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thấm nhuần tinh thần cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam, đó là
một nền văn hóa toàn diện, giữ gìn được cốt cách văn hóa dân tộc, bảo đảm tính khoa
học, tiến bộ và nhân văn. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới
không chỉ mang giá trị định hướng cho công cuộc cách mạng dân tộc, mà còn có thể được
vận dụng linh hoạt vào việc xây dựng môi trường văn hóa học đường hiện nay – nơi cần
đảm bảo tính dân tộc, khoa học và đại chúng trong đào tạo thế hệ trẻ. C hương 2
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG VĂN HÓA HỌC
ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY
2.1. Khái quát chung về văn hóa học đường
2.1.1. Khái niệm về văn hóa học đường 18
Thuật ngữ “văn hóa học đường” đã xuất hiện trong những năm 1990 tại một số nước
trên như Anh, Mỹ, Úc, ...và dần trở nên phổ biến trên thế giới với ý nghĩa tổng quát: Văn
hóa học đường là những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của đời sống xã hội loài người
đã tích lũy trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục và quá trình hình thành nhân cách.
Văn hóa học đường chính là một môi trường rất quan trọng để giáo dục và rèn luyện
nhân cách cho thế hệ trẻ, những mầm non của đất nước trong tương lai để họ trở thành
những người sống có hoài bão, lý tưởng tốt đẹp. Chính vì thế, vấn đề xây dựng văn hóa
học đường phải được coi trọng. Nếu như môi trường học đường thiếu văn hóa thì sẽ
không thể đảm bảo được chức năng truyền tải giá trị kiến thức cần thiết cho thế hệ trẻ.
Môi trường giáo dục sẽ đào tạo ra những thế hệ có tri thức để phục vụ cho sự phát
triển của xã hội. Thế hệ trẻ trong tương lai chúng là trụ cột của nước nhà. Một môi trường
giáo dục lành mạnh sẽ là điều kiện cần thiết để tạo ra những công dân có tài năng và đạo
đức tốt. Trường học chính là một nơi hoàn hảo để luyện tài, rèn đức, trang bị kiến thức
cho thế hệ trẻ. Khi được dạy dỗ và học tập trong môi trường này, các bạn trẻ sẽ hiểu được
trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân đối với gia đình, thầy cô, bạn bè, những mối quan hệ khác và cả xã hội.
2.1.2. Vai trò của văn hóa học đường
Văn hóa học đường là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, hành vi và mối quan hệ
được hình thành và duy trì trong môi trường giáo dục, có tác động sâu sắc đến quá trình
hình thành nhân cách, phát triển trí tuệ và định hướng hành vi của học sinh, sinh viên.
Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay, vai trò của văn hóa học
đường càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Thứ nhất, văn hóa học đường đóng vai trò định hướng giá trị cho học sinh, sinh
viên. Thông qua các quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức và truyền thống tốt đẹp trong
nhà trường, học sinh được giáo dục về lòng trung thực, tinh thần trách nhiệm, sự tôn
trọng và tinh thần hợp tác. Đây là những nền tảng quan trọng để hình thành nhân cách và
phát triển phẩm chất công dân trong thời đại mới.
Thứ hai, văn hóa học đường góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành
mạnh và thân thiện. Một môi trường học đường tích cực không chỉ giúp học sinh cảm
thấy an tâm, tự tin khi tham gia các hoạt động học tập và rèn luyện, mà còn hạn chế được 19