Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Viện Quản Trị Kinh Doanh ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀO VIỆC
XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ
BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY GIẢNG VIÊN HƯỚNG :HOÀNG THỊ DẪN THUÝ NHÓM THỰC HIỆN : 05 LỚP HỌC PHẦN : 251_HCMI0111_02 Hà Nội, 2025 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá 4
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá 4
1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa văn hoá và các lĩnh vực khác 5
Chương 2: Thực trạng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay 8
2.1. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 8
2.1.1. Nền văn hoá tiên tiến 8
2.1.2. Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay 10
2.2. Ý nghĩa xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc 12
2.2.1. Đối với các quốc gia khác 13
2.2.2. Đối với Việt Nam 14
2.3. Thực trạng nền văn hóa Việt Nam hiện nay 15 2.3.1. Thành tựu 15 2.3.2. Hạn chế 19
Chương 3: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa vào việc xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay 23
3.1. Phương hướng trong công cuộc xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá
trình toàn cầu hoá và hội nhập văn hóa hiện nay 23
3.2. Vận dụng kiến thức trong công cuộc tiếp tục xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc ở nước ta 25 LỜI KẾT LUẬN 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn giữ một vai trò vô cùng quan
trọng trong đời sống tinh thần và trong sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Văn hóa
không chỉ phản ánh bản sắc, tâm hồn, cốt cách của con người Việt Nam mà còn là sức
mạnh nội sinh to lớn góp phần tạo nên sự bền vững của quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí
Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc – đã để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng đồ sộ,
trong đó tư tưởng về văn hóa được coi là một trong những trụ cột cơ bản, thể hiện tầm
nhìn sâu sắc và chiến lược của Người đối với sự nghiệp cách mạng. Với Hồ Chí Minh,
văn hóa không chỉ là lĩnh vực riêng biệt của đời sống xã hội, mà còn gắn bó mật thiết
với chính trị, kinh tế, xã hội, là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và cũng là động lực của
công cuộc phát triển đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện,
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và chịu nhiều tác động từ xu thế toàn cầu hóa.
Điều đó mang đến cả cơ hội và thách thức cho việc xây dựng một nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn hóa Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, thể hiện bản lĩnh sáng tạo và khả năng hội nhập của dân tộc. Tuy nhiên,
chúng ta cũng đang đối diện với nhiều khó khăn, như sự xâm nhập của các sản phẩm
văn hóa ngoại lai, sự phai nhạt trong nhận thức về bản sắc dân tộc, hay sự thương mại
hóa trong đời sống văn hóa. Trước thực trạng ấy, việc nghiên cứu và vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang tính thực
tiễn sâu sắc, giúp định hướng cho công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Bài thảo luận này tập trung phân tích ba nội dung chính. Thứ nhất, tìm hiểu quan
niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa, những luận điểm cốt lõi thể hiện trong di sản tư
tưởng của Người. Thứ hai, đánh giá thực trạng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay, chỉ ra những thành tựu nổi bật cũng như những hạn
chế còn tồn tại. Thứ ba, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh vào công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Qua đó, bài tiểu luận mong muốn góp
phần khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đồng thời 3
nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong việc gìn giữ
và phát huy nền văn hóa dân tộc. 4
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá
Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm nhấn mạnh ý nghĩa của văn hóa. Cụ thể, Người cho rằng:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”
Các cách tiếp cận về văn hóa của Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh có bốn cách tiếp cận chủ yếu về văn hóa:
1) Tiếp cận theo nghĩa rộng: Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt của con người.
2) Tiếp cận theo nghĩa hẹp: Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng.
3) Tiếp cận theo nghĩa hẹp hơn: Văn hóa gắn với giáo dục, xóa nạn mù chữ, biết
đọc, biết viết (thường xuất hiện trong các bài nói với đồng bào miền núi).
4) Tiếp cận theo "phương thức sử dụng công cụ sinh hoạt".
Quan niệm về văn hóa theo nghĩa rộng của Hồ Chí Minh được hình thành trong
một hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt. Vào tháng 8 năm 1943, khi đang bị giam trong nhà
tù của Tưởng Giới Thạch, giữa lúc đất nước đang tập trung cho nhiệm vụ giải phóng
dân tộc và tổ chức UNESCO còn chưa được thành lập, Hồ Chí Minh đã đưa ra một
định nghĩa sâu sắc và toàn diện về văn hóa. Theo Người, văn hóa là toàn bộ những
sáng tạo và phát minh mà loài người sản sinh ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và
phát triển, bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần như ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, các công cụ sinh hoạt và phương thức sử
dụng chúng. Đây là quan niệm duy nhất của Hồ Chí Minh tiếp cận văn hóa theo nghĩa 5
rộng, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư tưởng nhân văn sâu sắc, xem văn hóa như một
yếu tố sống còn của đời sống con người và dân tộc.
Tuy nhiên, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đất nước bước vào giai đoạn
xây dựng chính quyền cách mạng và kiến thiết xã hội mới, Hồ Chí Minh chuyển sang
tiếp cận văn hóa chủ yếu theo nghĩa hẹp hơn. Trong các bài viết và phát biểu giai đoạn
này, văn hóa thường được đề cập như một bộ phận của kiến trúc thượng tầng – tức
toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Cách tiếp cận này gắn liền với vai trò thực tiễn
của văn hóa trong công cuộc giáo dục nhân dân, xây dựng con người mới và phục vụ
cho sự phát triển của đất nước. Sự chuyển đổi này không làm thay đổi bản chất tư
tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa, mà phản ánh sự linh hoạt, phù hợp với yêu cầu
của từng giai đoạn cách mạng. Dù dưới hình thức nào, văn hóa trong tư tưởng của Hồ
Chí Minh luôn là nền tảng tinh thần vững chắc, là động lực để phát triển con người và xã hội Việt Nam.
Tóm lại, khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh mang tính toàn diện, bao trùm cả vật
chất và tinh thần, phản ánh mọi sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển.
1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa văn hoá và các lĩnh vực khác
Hồ Chí Minh có cái nhìn toàn diện, biện chứng về vai trò của văn hóa trong đời
sống xã hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực chính trị, kinh tế và
xã hội. Theo Người, văn hóa không tồn tại tách biệt mà luôn gắn bó mật thiết với các
lĩnh vực khác, cùng tác động và thúc đẩy lẫn nhau trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước.
Trước hết, giữa văn hóa và chính trị có mối quan hệ gắn bó hai chiều. Hồ Chí Minh
xác định rằng trong đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội là bốn yếu tố cơ bản,
quan trọng ngang nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam thời kỳ thuộc địa, nhiệm
vụ giải phóng dân tộc – tức giải phóng về mặt chính trị – được đặt lên hàng đầu. Chính
trị có vai trò mở đường cho văn hóa phát triển, bởi không thể có một nền văn hóa chân
chính khi đất nước chưa có độc lập, tự do. Tuy vậy, văn hóa không thể đứng ngoài
chính trị mà cần trực tiếp tham gia vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Người khẳng 6
định: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà
phải ở trong kinh tế và chính trị” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị
Quốc gia Sự thật, 2011, tr. 511). Đồng thời, mọi hoạt động chính trị cũng phải thấm
đẫm yếu tố văn hóa, thể hiện ở phương pháp, phong cách và cách ứng xử với quần chúng.
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa văn hóa và
kinh tế. Trong tư tưởng của Người, kinh tế là cơ sở hạ tầng, văn hóa thuộc kiến trúc
thượng tầng, vì vậy “có thực mới vực được đạo” – kinh tế cần đi trước để tạo điều kiện
cho văn hóa phát triển. Người lý giải: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát
triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? [...] Vì thế
kinh tế phải đi trước” (Toàn tập, tập 12, tr. 516). Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không coi
văn hóa là yếu tố thụ động, chỉ phụ thuộc vào kinh tế. Trái lại, văn hóa đóng vai trò
tích cực trong việc nâng cao dân trí, thúc đẩy năng suất lao động, từ đó góp phần phát
triển kinh tế. Người khẳng định: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho
chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ” (Toàn tập, tập 7,
tr. 409). Vì thế, giữa văn hóa và kinh tế tồn tại mối quan hệ tương hỗ, bổ sung lẫn nhau
và cùng hướng đến sự phát triển bền vững của đất nước.
Văn hóa và xã hội cũng có mối quan hệ mật thiết. Hồ Chí Minh cho rằng xã hội
như thế nào thì văn hóa sẽ như thế ấy. Trong một xã hội nô lệ, văn hóa dân tộc cũng bị
kìm hãm, bóp nghẹt, không thể phát triển. Vì vậy, để xây dựng nền văn hóa mới, trước
hết cần giải phóng xã hội, giành lại quyền làm chủ cho nhân dân. Khi xã hội được cải
tạo theo hướng dân chủ, công bằng, văn hóa mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
Ngược lại, chính văn hóa cũng là công cụ quan trọng để cải tạo xã hội, hình thành con
người mới, đạo đức mới, lối sống mới.
Một điểm đặc sắc trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Người luôn nhấn
mạnh rằng bản sắc dân tộc là linh hồn của đất nước, là thành quả của quá trình dựng
nước và giữ nước qua hàng ngàn năm lịch sử, thể hiện ở truyền thống yêu nước, tinh
thần tự lực tự cường, phong tục tập quán, ngôn ngữ, tín ngưỡng dân gian... Bên cạnh
đó, Người cũng khuyến khích học hỏi, tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến của nhân 7
loại một cách có chọn lọc, để làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc. Hồ Chí Minh từng
nói: “Chúng ta phải biết quý trọng cổ điển, vì từ cổ điển có nhiều dòng suối tiến bộ
chảy ra” (Toàn tập, tập 12, tr. 422). Tư tưởng này vừa thể hiện lòng tự hào dân tộc sâu
sắc, vừa thể hiện tầm nhìn quốc tế, hiện đại, phù hợp với xu thế hội nhập ngày nay.
Từ những phân tích trên có thể thấy, Hồ Chí Minh đã đặt văn hóa vào vị trí trung
tâm trong chiến lược phát triển đất nước, xem văn hóa là động lực và là mục tiêu của
cách mạng. Các mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa thế
giới trong tư tưởng của Người đều hướng đến mục tiêu giải phóng con người, xây
dựng một xã hội dân chủ, văn minh, tiến bộ, đậm đà bản sắc dân tộc. 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ
BẢN SẮC DÂN TỘC HIỆN NAY
2.1. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
2.1.1. Nền văn hoá tiên tiến
Ở Việt Nam, xây dựng nền văn hóa tiên tiến luôn được xác định là mục tiêu trọng
yếu trong sự nghiệp phát triển đất nước, gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã
hội bền vững. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều khẳng định rằng văn hóa không
thể đứng ngoài quá trình đổi mới, mà phải được đầu tư “ngang hàng” với các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, xã hội để trở thành nguồn lực và động lực cho sự phát triển giàu
mạnh, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ:
“Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển
đất nước và bảo vệ Tổ quốc.”
Nền văn hóa tiên tiến của Việt Nam được hiểu là nền văn hóa vừa kế thừa, phát huy
những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn
hóa nhân loại, gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của thời đại. Nền văn hóa ấy được
định hướng bởi lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi
hoạt động xây dựng và phát triển. Mục tiêu cao nhất của nền văn hóa tiên tiến phục vụ
con người, vì sự phát triển tự do, toàn diện và hạnh phúc của nhân dân.
Tính tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà còn ở hình thức biểu đạt
và phương tiện truyền tải. Đó là sự phản ánh các giá trị chân – thiện – mỹ, tinh thần
yêu nước, ý chí tiến bộ, dân chủ, công bằng và văn minh. Văn hóa tiên tiến còn gắn
liền với sự phát triển của khoa học – công nghệ, giáo dục, truyền thông và hội nhập
quốc tế, bảo đảm cho nền văn hóa Việt Nam vừa kế thừa truyền thống, vừa hòa nhập
vào dòng chảy chung của thời đại. Đồng thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa
tiên tiến của Việt Nam còn thể hiện ở khả năng tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa
nhân loại, đồng thời chống lại những biểu hiện lạc hậu, phản văn hóa. Nền văn hóa đó
không chỉ phục vụ cho sự phát triển tinh thần, đạo đức và lối sống của con người Việt 9
Nam, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng thúc đẩy công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, tư tưởng về nền văn hóa tiên tiến đã được
cụ thể hóa trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết
Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, cũng như Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 đã xác định rõ mục tiêu
xây dựng văn hóa thành sức mạnh nội sinh của phát triển đất nước. Việt Nam đã và
đang chú trọng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch sáng tạo, đồng thời
đẩy mạnh số hóa và phổ biến di sản trên các nền tảng trực tuyến. Sự kiện nhiều di sản
văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam tiếp tục được UNESCO công nhận, cùng
với sự gia tăng đóng góp của các ngành công nghiệp sáng tạo và kinh tế số vào GDP,
đã minh chứng cho sự phát triển mang tính tiên tiến của văn hóa nước ta. Tuy nhiên,
quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức, điển hình như mâu thuẫn giữa phát triển du
lịch – đô thị hóa với bảo tồn di sản, hay vấn đề quản lý bản quyền, chất lượng nội dung trên môi trường số.
Bên cạnh đó, chúng ta cần ghi nhớ tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh: Bảo vệ bản sắc
văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là hai mặt của một quá trình, hai
mặt đó luôn luôn kết hợp chặt chẽ với nhau, bất cứ một sự lệch lạc nào cũng đưa đến
những tổn hại cho việc xây dựng nền văn hóa mới. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên tắc
cơ bản: “Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm, cũ mà xấu thì phải bỏ, mới mà hay
thì phải làm; mới mà dở, hoặc không phù hợp với con người Việt Nam thì không tiếp
nhận”. Trên cơ sở đó, việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống, vun trồng
những giá trị nội sinh của dân tộc, tạo cơ sở vững chắc để tiếp thu tinh hoa văn hóa của
nhân loại và thời đại ngày nay đang là yêu cầu khách quan trọng quá trình xây dựng
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi Đảng, Nhà
nước, các đoàn thể nhân dân phải tiếp tục quan tâm sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh để
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Để văn hóa thực sự tiên tiến, Đảng và Nhà nước cần kiên trì giữ vững bản sắc dân
tộc, đồng thời nâng cao tri thức và bản lĩnh văn hóa cho nhân dân, giúp họ biết phân
biệt cái hay, cái đẹp với cái xấu, cái phản văn hóa; phát huy những giá trị truyền thống 10
tốt đẹp, tiếp nhận những yếu tố mới phù hợp và kiên quyết loại bỏ những yếu tố lạc hậu, phản tiến bộ
Từ định hướng đó, có thể khẳng định rằng nền văn hóa tiên tiến của Việt Nam là
nền văn hóa hiện đại, nhân văn và hội nhập, biết tiếp thu tinh hoa nhân loại, ứng dụng
khoa học – công nghệ để phát triển, đồng thời định hướng xã hội theo những giá trị
tiến bộ và bền vững. Đây chính là nền tảng tinh thần vững chắc, là nguồn lực nội sinh
và động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
2.1.2. Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay
Trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa không chỉ là đời sống
tinh thần mà còn là nền tảng sức mạnh cho sự tồn tại và phát triển của một dân tộc.
Trước hết, Người khẳng định: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,
tôn giáo, văn học, nghệ thuật... Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa." Xuất phát từ nhận thức sâu sắc đó, Người chủ trương xây dựng một nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến mà cốt lõi phải là một nền văn hóa "đậm đà bản sắc dân tộc".
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền văn hóa đậm đà bản sắc
dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã cụ thể hóa quan điểm này bằng một hệ thống
chính sách toàn diện. Có thể thấy, chủ trương này được thể hiện xuyên suốt trong các
văn kiện, nghị quyết của Đảng, tiêu biểu là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về
"Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" và
được kế thừa, phát triển trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI. Cụ thể, các chính
sách hiện nay tập trung vào ba trụ cột chính: bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; sáng
tạo các giá trị văn hóa mới; và chủ động hội nhập quốc tế.
Về chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, Nhà nước đã có những
bước đi cụ thể và bài bản. Cụ thể, hệ thống pháp luật được hoàn thiện với Luật Di sản
Văn hóa (sửa đổi 2009, 2013) và hàng loạt các nghị định hướng dẫn thi hành, tạo hành
lang pháp lý vững chắc. Điển hình cho thành tựu của chính sách này là việc Việt Nam
đã có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, 15 di sản văn hóa phi vật
thể được ghi danh, cùng với 3 di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới. Bên 11
cạnh đó, Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Văn hóa đã được triển khai với nguồn
ngân sách lớn để trùng tu, tôn tạo các di tích quốc gia đặc biệt như Hoàng thành Thăng
Long, Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Huế, Thánh địa Mỹ Sơn. Hơn thế nữa,
chính sách bảo tồn gắn với phát triển kinh tế được thực hiện thông qua việc phát triển
du lịch di sản, biến các di sản thành nguồn lực phát triển bền vững, như mô hình du
lịch cộng đồng gắn với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hay du lịch di
sản tại Quần thể Danh thắng Tràng An.
Về sáng tạo các giá trị văn hóa mới, chính sách khuyến khích sự sáng tạo trên nền
tảng bản sắc dân tộc đang phát huy hiệu quả, Nhà nước chủ trương lấy bản sắc dân tộc
làm nền tảng cho mọi sáng tạo. Một mặt, các loại hình nghệ thuật truyền thống được
đầu tư đổi mới thông qua các đề án cụ thể như Đề án "Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ
thuật Tuồng, Chèo, Cải lương" với các chương trình truyền dạy, tài trợ dàn dựng vở
mới. Mặt khác, trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại, thông qua các cuộc vận động
sáng tác, giải thưởng văn học nghệ thuật, nhiều tác phẩm đã kết hợp thành công yếu tố
hiện đại với chất liệu dân tộc. Chẳng hạn, trong âm nhạc, có sự xuất hiện của dòng
nhạc dân gian đương đại, kết hợp âm hưởng dân ca với nhạc điện tử; trong thiết kế
thời trang, các bộ sưu tập ứng dụng họa tiết từ trống đồng Đông Sơn, hoa văn trên
trang phục các dân tộc thiểu số đã khẳng định được dấu ấn. Đặc biệt, chính sách xã hội
hóa trong lĩnh vực văn hóa đã thu hút được nguồn lực to lớn từ các doanh nghiệp tư
nhân tham gia vào các dự án sáng tạo văn hóa có giá trị.
Về chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam tích cực thực hiện tư tưởng "tiếp thu có
chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại" của Hồ Chí Minh, và chủ trương “hòa nhập
nhưng không hòa tan. Cụ thể, chúng ta đã ký kết và thực hiện hơn 20 hiệp định văn
hóa song phương và đa phương, tạo khuôn khổ cho giao lưu, hợp tác. Thực tế cho
thấy, thông qua các "Tuần lễ Văn hóa Việt Nam" ở nước ngoài, các năm du lịch quốc
gia được tổ chức tại các thị trường trọng điểm, hình ảnh và văn hóa Việt Nam đã được
quảng bá hiệu quả. Đồng thời, việc đăng cai tổ chức thành công các sự kiện văn hóa -
thể thao tầm cỡ như SEA Games 31, ASIAD 18, Liên hoan Phim quốc tế, các lễ hội
ẩm thực... không chỉ khẳng định vị thế mà còn là cơ hội để giới thiệu tinh hoa văn hóa
Việt với bạn bè quốc tế. Hơn nữa, chính sách khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn
hóa (như phim ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử) đang bước đầu mang lại những tín hiệu 12
tích cực, góp phần đưa văn hóa Việt vươn ra thế giới một cách chủ động. Nhờ vậy, bản
sắc văn hóa Việt Nam không bị hòa tan mà ngược lại, còn được tôn vinh và lan tỏa mạnh mẽ hơn.
Đồng thời, một phương diện quan trọng không kém trong việc xây dựng nền văn
hóa đậm đà bản sắc chính là việc chú trọng xây dựng giá trị văn hóa và chuẩn mực con
người Việt Nam. Thực tế cho thấy, bên cạnh các di sản vật thể, những giá trị tinh thần
như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, đức tính cần cù, sáng tạo mới là
cốt lõi tạo nên sức mạnh nội sinh. Do đó, các phong trào như "Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa" hay việc đề cao văn hóa gia đình - với các giá trị "ấm no, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc" - được đẩy mạnh, trở thành nền tảng để gìn giữ và trao
truyền bản sắc qua các thế hệ.
Bên cạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước, việc phát huy vai trò chủ thể của cộng
đồng các dân tộc là yếu tố then chốt đem lại sức sống cho văn hóa. Cụ thể, việc tôn
trọng và tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc thiểu số giữ gìn tiếng nói, chữ viết,
trang phục và lễ hội truyền thống đã góp phần tạo nên bức tranh văn hóa Việt Nam đa
dạng và phong phú. Hơn nữa, các sáng kiến từ cộng đồng như việc thành lập các câu
lạc bộ đờn ca tài tử, các nhóm bảo tồn nghề thủ công truyền thống, hay các hội quán
văn hóa đã chứng minh sức sáng tạo và ý thức tự thân bảo vệ di sản của nhân dân.
Tuy nhiên, ta cũng cần thẳng thắn thừa nhận rằng, quá trình này đang đối mặt với
không ít thách thức. Một mặt, toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang
đến nguy cơ về sự lai căng, mai một các giá trị truyền thống và sự xói mòn đạo đức xã
hội trong một bộ phận giới trẻ. Mặt khác, áp lực của kinh tế thị trường đôi khi dẫn đến
việc "thương mại hóa" văn hóa quá mức, làm biến dạng các di sản. Chính vì vậy, việc
kiên định với các chính sách bảo vệ bản sắc, đồng thời nâng cao năng lực thích ứng và
sàng lọc của mỗi cá nhân trước các luồng văn hóa mới càng trở nên cấp thiết.
Tóm lại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc là một quá trình
toàn diện, kết hợp hài hòa giữa kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và định hướng của Nhà
nước, sự sáng tạo không ngừng cũng như ý thức trách nhiệm của toàn dân. Trên cơ sở
đó, bản sắc văn hóa dân tộc thực sự trở thành sức mạnh và nguồn lực bền vững, giúp
đất nước phát triển ổn định, vững mạnh trong bối cảnh hội nhập quốc tế đầy biến động. 13
2.2. Ý nghĩa xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, xây dựng nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc có ý nghĩa to lớn đối với mọi quốc gia.
2.2.1. Đối với các quốc gia khác
Trước hết, văn hoá chính là “căn cước tinh thần” của mỗi dân tộc, giúp phân biệt
quốc gia này với quốc gia khác. Nếu chỉ chạy theo hiện đại hoá mà lãng quên cội
nguồn, các giá trị truyền thống sẽ mai một, khiến bản sắc bị phai nhạt và quốc gia mất
đi chỗ dựa tinh thần. Ngược lại, khi xây dựng nền văn hoá vừa tiên tiến vừa đậm đà
bản sắc, các dân tộc có thể bảo vệ được hồn cốt, giữ được bản lĩnh riêng, đồng thời
khẳng định vị trí độc lập trong cộng đồng quốc tế. Đây không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn
truyền thống mà còn là sự khẳng định giá trị lâu bền của một dân tộc trong quá trình phát triển.
Bên cạnh đó, văn hoá không chỉ là giá trị tinh thần mà còn là nguồn lực to lớn thúc
đẩy phát triển kinh tế – xã hội và chính trị. Một nền văn hoá tiên tiến tạo môi trường
thuận lợi để con người phát triển toàn diện, khuyến khích tinh thần sáng tạo và trách
nhiệm xã hội. Khi được phát huy đúng mức, văn hoá trở thành “sức mạnh mềm”, gia
tăng khả năng cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo, du lịch và các
ngành kinh tế gắn liền với tri thức. Văn hoá còn định hướng hành vi, chuẩn mực xã
hội, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường sự ổn định chính trị và củng cố khối
đoàn kết dân tộc – những yếu tố cốt lõi cho phát triển bền vững.
Hơn thế nữa, bản sắc văn hoá vững chắc chính là nền tảng để các quốc gia tự tin
trong quá trình hội nhập. Hội nhập quốc tế đồng nghĩa với sự giao thoa văn hoá, và
chỉ khi có bản lĩnh văn hoá đủ mạnh, các dân tộc mới có khả năng tiếp nhận tinh hoa
nhân loại một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện và giá trị riêng của mình. Điều này
giúp quốc gia vừa mở rộng cơ hội hợp tác, vừa tránh được nguy cơ lệ thuộc hay đánh
mất bản sắc. Văn hoá ở đây đóng vai trò như “bộ lọc” bảo vệ lợi ích dân tộc trong giao
lưu và hợp tác quốc tế, đồng thời là sức mạnh để khẳng định vị thế và bản lĩnh dân tộc trên trường toàn cầu.
Cuối cùng, văn hoá còn là chiếc cầu nối giúp các dân tộc đến gần nhau hơn. Một
nền văn hoá tiên tiến và giàu bản sắc không chỉ làm nên sức hút của mỗi quốc gia mà 14
còn tạo ra kênh giao lưu, hợp tác hiệu quả, góp phần củng cố quan hệ hoà bình, hữu
nghị và phát triển chung. Thông qua giao lưu văn hoá, các quốc gia tăng cường sự hiểu
biết lẫn nhau, xóa bỏ định kiến, từ đó mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng trong nhiều lĩnh
vực khác như kinh tế, khoa học, giáo dục hay ngoại giao. Đây chính là vai trò đặc biệt
của văn hoá – vừa bảo vệ bản sắc dân tộc, vừa gắn kết cộng đồng quốc tế vì sự phát triển toàn diện. 2.2.2. Đối với Việt Nam
Trước hết, việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có ý nghĩa
như một điểm tựa tinh thần vững chắc cho toàn thể nhân dân. Trong suốt chiều dài lịch
sử, văn hoá đã trở thành sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua bao cuộc chiến
tranh, thiên tai và thử thách khắc nghiệt. Ngày nay, trong bối cảnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, bản sắc văn hoá tiếp tục là nguồn lực tinh thần quan
trọng để củng cố lòng yêu nước, bồi dưỡng niềm tự hào dân tộc và tăng cường sức
mạnh đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ hai, văn hoá tiên tiến và đậm đà bản sắc không chỉ góp phần giữ gìn truyền
thống mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Nền văn hoá
ấy nuôi dưỡng những giá trị nhân văn, lối sống lành mạnh, tinh thần nhân ái và ý thức
trách nhiệm xã hội. Điều này giúp hình thành lớp công dân mới vừa có tri thức, bản
lĩnh, vừa có đạo đức, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Thứ ba, xây dựng nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc còn là động lực cho phát
triển kinh tế – xã hội. Văn hoá trở thành “nguồn lực nội sinh”, góp phần thúc đẩy du
lịch, công nghiệp sáng tạo, sản phẩm thủ công truyền thống và các ngành dịch vụ gắn
với giá trị văn hoá. Đây chính là cơ sở để Việt Nam tạo dựng thương hiệu quốc gia,
nâng cao vị thế và sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hoá.
Thứ tư, nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc còn có ý nghĩa quan trọng trong việc
định hướng phát triển đất nước. Các giá trị văn hoá như dân chủ, nhân nghĩa, tinh thần
cộng đồng và ý chí tự cường giúp định hình đường lối phát triển bền vững, tránh nguy
cơ chạy theo tăng trưởng đơn thuần mà xem nhẹ con người. Văn hoá ở đây trở thành
nền tảng để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – đúng như mục tiêu mà
Đảng và nhân dân ta hướng tới. 15
Cuối cùng, trong quá trình hội nhập quốc tế, một nền văn hoá đậm đà bản sắc sẽ
giúp Việt Nam hội nhập mà không hoà tan. Nhờ có bản lĩnh văn hoá vững vàng, đất
nước ta có thể tiếp thu tinh hoa nhân loại một cách chọn lọc, đồng thời giữ vững
những giá trị đặc sắc của dân tộc. Đây chính là chìa khoá để Việt Nam vừa khẳng định
vị thế độc lập, vừa mở rộng hợp tác quốc tế, góp phần xây dựng hình ảnh một đất nước
năng động, thân thiện và giàu bản sắc.
2.3. Thực trạng nền văn hóa Việt Nam hiện nay 2.3.1. Thành tựu
Kế thừa và phát triển sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đặc biệt là quan
điểm xây dựng một nền văn hóa "soi đường cho quốc dân đi", Đảng và Nhà nước Việt
Nam đã không ngừng nỗ lực để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong hơn 35 năm đổi mới, đặc biệt sau khi có
Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (2014), sự nghiệp xây dựng
văn hóa đã đạt được những thành tựu nổi bật, toàn diện trên nhiều lĩnh vực.
2.3.1.1. Thành tựu trong xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam
Phát triển nhận thức về vai trò nền tảng của văn hóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh về
"Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi" ngày càng thấm sâu vào nhận thức của toàn
xã hội. Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
phát triển. Vai trò của văn hóa đã được khẳng định ở tầm chiến lược quốc gia, thể hiện
trong nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng như Nghị quyết Trung ương 5 (khóa
VIII), Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI), và Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021.
Đây là cơ sở chính trị – pháp lý quan trọng giúp công tác văn hóa đi vào chiều sâu và
có định hướng rõ ràng.
Xây dựng hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam: Quá trình xây dựng hệ giá trị
quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam đạt được nhiều kết quả
quan trọng. Các giá trị truyền thống tốt đẹp như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn
kết, cần cù, sáng tạo được phát huy mạnh mẽ, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị
mới của thời đại như dân chủ, bình đẳng, pháp quyền, hội nhập. Hình ảnh con người
Việt Nam thời kỳ mới được khẳng định: vừa đậm đà bản sắc truyền thống, vừa hiện
đại, năng động, sáng tạo và sẵn sàng hội nhập quốc tế. 16
Biểu hiện cụ thể trong đời sống xã hội: Trong đại dịch COVID-19, tinh thần "chống
dịch như chống giặc" với phương châm "không để ai bị bỏ lại phía sau" đã thể hiện
sinh động các giá trị nhân văn, đoàn kết, tương thân tương ái. Đồng thời, đời sống văn
hóa – tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao nhờ hệ thống thiết chế văn hóa
được đầu tư từ trung ương đến địa phương, các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
diễn ra sôi nổi. Sự phát triển của công nghệ thông tin và internet giúp người dân dễ
dàng tiếp cận tri thức, thông tin và sản phẩm văn hóa trong và ngoài nước.
2.3.1.2. Thành tựu trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc
Tính đến năm 2023, Việt Nam đã có: -
8 Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới được UNESCO công nhận -
15 Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại -
9 Di sản Tư liệu Thế giới -
3 Khu dự trữ sinh quyển thế giới
Nhiều di sản quan trọng như Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca quan họ Bắc Ninh,
Ca trù, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ… đã được UNESCO vinh danh, góp phần
khẳng định bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm: Nhà nước ưu tiên ngân sách đáng kể cho việc
trùng tu, tôn tạo di tích quốc gia đặc biệt. Các dự án lớn như Hoàng thành Thăng
Long, Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Huế, Thánh địa Mỹ Sơn được triển khai bài bản, khoa học.
Phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại: Không gian văn hóa cồng chiêng
Tây Nguyên, Dân ca quan họ, Hát xoan… không chỉ được bảo tồn mà còn đi vào đời
sống thông qua biểu diễn, giảng dạy trong nhà trường. Các lễ hội truyền thống, nghệ
thuật dân gian, ngôn ngữ và văn học dân tộc cũng được phục hồi, lan tỏa mạnh mẽ, trở
thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần cộng đồng.
2.3.1.3. Thành tựu trong sáng tạo văn học, nghệ thuật
- Văn học phản ánh sâu sắc hiện thực đời sống: Các tác phẩm văn học đã có sự
chuyển biến tích cực trong cách tiếp cận và phản ánh hiện thực. Nhiều tác phẩm 17
đã đề cập đến những vấn đề nóng bỏng của xã hội, những biến đổi trong tâm lý,
lối sống con người Việt Nam thời kỳ hội nhập.
- Nghệ thuật biểu diễn có bước phát triển mới: Sân khấu truyền thống được quan
tâm bảo tồn với nhiều vở diễn chất lượng. Âm nhạc đương đại Việt Nam có sự
phát triển đa dạng, nhiều nghệ sĩ trẻ đã khẳng định được tài năng và phong cách
riêng. Điện ảnh Việt Nam có những bước tiến vượt bậc với nhiều tác phẩm đạt giải quốc tế uy tín.
- Mỹ thuật, nhiếp ảnh và nghệ thuật đương đại: Các loại hình mỹ thuật, nhiếp ảnh
có nhiều đổi mới về ngôn ngữ biểu đạt. Triển lãm mỹ thuật với các chủ đề về
đất nước, con người Việt Nam được tổ chức thường xuyên, thu hút đông đảo công chúng.
2.3.1.4. Thành tựu trong xây dựng môi trường văn hóa
Xây dựng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Tính đến năm 2022: -
88,5% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa -
72,8% thôn, làng, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa -
92,5% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa
Xây dựng văn hóa trong các lĩnh vực chuyên biệt: Văn hóa học đường được chú
trọng với việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục văn hóa, đạo đức, lối sống.
Văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa giao thông đều có sự cải thiện rõ rệt.
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển văn hóa: Sự ứng dụng công nghệ số trong
phát triển văn hóa ngày càng được chú trọng. Việc số hóa di sản, phổ biến tác phẩm
nghệ thuật trên nền tảng trực tuyến và tận dụng mạng xã hội để lan tỏa các giá trị văn
hóa truyền thống đã mở ra một không gian văn hóa mới, giúp công chúng dễ dàng tiếp
cận và trải nghiệm, vừa giúp bảo tồn di sản, vừa phù hợp với nhu cầu tiếp nhận hiện đại của thế hệ trẻ.
2.3.1.5. Thành tựu trong hội nhập và giao lưu văn hóa quốc tế
- Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại: Việt Nam đã chủ động, tích
cực hội nhập quốc tế về văn hóa. Nhiều hình thức nghệ thuật, thể loại âm nhạc, 18
trào lưu văn học mới của thế giới được giới thiệu, tiếp thu phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc.
- Quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam: Thông qua các chương trình
giao lưu văn hóa, tuần lễ văn hóa, năm văn hóa ở nước ngoài, hình ảnh một Việt
Nam năng động, sáng tạo, giàu bản sắc được giới thiệu rộng rãi. Ẩm thực Việt
Nam ngày càng được ưa chuộng trên thế giới.
- Thu hút nguồn lực cho phát triển văn hóa: Các dự án hợp tác quốc tế về văn hóa
được đẩy mạnh, thu hút nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ nước
ngoài. Nhiều tổ chức quốc tế đã hỗ trợ Việt Nam trong việc bảo tồn di sản văn hóa.
2.3.1.6. Thành tựu trong phát triển công nghiệp văn hóa
- Xây dựng và hoàn thiện thể chế: Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp
văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được triển khai đồng bộ. Các ngành công
nghiệp văn hóa trọng điểm từng bước hình thành và phát triển.
- Đóng góp vào phát triển kinh tế: Các ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp
ngày càng lớn vào GDP của đất nước, tạo ra nhiều việc làm, thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.Các ngành công nghiệp sáng tạo như
game online, thiết kế đồ họa, sản xuất nội dung số, phim ảnh trực tuyến (OTT)
ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào kinh tế số của đất nước.
Những thành tựu đạt được trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc thời gian qua là rất đáng ghi nhận. Các thành tựu này đã khẳng định
tính đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, phù hợp với
tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần được khắc
phục để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh
quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước.
2.3.1.7. Thành tựu trong lĩnh vực tư tưởng, lối sống và đạo đức, chúng ta luôn đi theo
con đường chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc củng cố nền tảng tư
tưởng, xây dựng lối sống và đạo đức con người dựa trên Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. 19
- Kiên định nền tảng tư tưởng: Luôn xác định Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động, là nền tảng tinh thần
của xã hội, góp phần định hướng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
- Thúc đẩy học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Việc triển khai
các phong trào học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
được thực hiện sâu rộng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành
động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
- Xây dựng lối sống văn hóa, đạo đức mới: Các giá trị đạo đức truyền thống tốt
đẹp của dân tộc như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết... được củng cố và
phát huy, đồng thời tiếp thu các giá trị đạo đức hiện đại phù hợp với yêu cầu hội
nhập. Lối sống "mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người" và tinh thần
"thương thân tương ái" được đề cao, thể hiện rõ nét qua các phong trào từ thiện,
nhân đạo, và sự đoàn kết trong các thách thức (như phòng chống dịch bệnh COVID-19).
- Phát huy vai trò của văn hóa trong đời sống tinh thần: Văn hóa được xác định là
nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển, góp phần xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng tới chân – thiện – mỹ. 2.3.2. Hạn chế
Hiện nay, nền văn hoá Việt Nam bên cạnh những thành tựu to lớn vẫn còn tồn tại
nhiều hạn chế về mặt nhận thức và tư tưởng. Một bộ phận nhân dân, thậm chí cả cán
bộ, đảng viên chưa thực sự hiểu đúng, hiểu đủ về mục tiêu, bản chất và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội, dẫn đến sự hoài nghi, dao động về lý tưởng. Tình trạng này chịu
ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa cũng như sự so sánh với
những mô hình phát triển khác trên thế giới. Song song với đó, nạn tham nhũng, tiêu
cực, suy thoái đạo đức và lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã
gây ra những tác động tiêu cực, làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà
nước. Đây cũng là nguyên nhân khiến các giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống đứng
trước nguy cơ phai nhạt, sự đồng thuận xã hội bị suy giảm. Tuy nhiên, cần khẳng định
rằng đây chỉ là những hạn chế trong quá trình phát triển, không phải là bản chất của 20