TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 6
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
MÃ LHP: 232_HCMI0111_23
GVGD: VŨ THỊ THU HÀ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN
NAY.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................3
PHẦN 1: NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.................................................................................3
1.1. Nhà nước dân chủ Nhânn Việt Nam sự lựa chọn đúng đắn của Hồ
Chí Minh...........................................................................................................3
1.1.1. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước ở Việt Nam........................................3
1.1.2. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa những nét khái quát về sự ra
đời và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh...................................5
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước Việt Nam..........................................7
1.2.1. Nhà nước dân chủ...................................................................................7
1.2.2. Nhà nước pháp quyền.............................................................................9
1.2.3. Nhà nước trong sạch, vững mạnh..........................................................16
PHẦN 2. LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY18
2.1. Thực trạng................................................................................................18
2.1.1. Thành tựu..............................................................................................18
2.1.2. Hạn chế.................................................................................................20
2.2. Nguyên nhân............................................................................................21
2.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả về quá trình rèn luyện đạo đức của
thế hệ sinh viên/cán bộ… hiện nay.................................................................24
PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................................26
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Từ lâu nhiều nhà lãnh đạo của Đảng ta đã khẳng định chủ tịch Hồ Chí Minh
"nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận kiệt xuất”. Tư tưởng và đạo đức cao cả của người mãi
mãi soi sáng nâng cao tâm hồn của chúng ta. tưởng Hồ Chí Minh một hệ
thống các quan điểm toàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam là kết quả của sự vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa n hoá nhân loại. tưởng Hồ Chí Minh phản ánh những vấn
đề thuộc quy luật tính quy luật của cách mạng nước ta, đã được thực tiễn thắng
lợi của cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và xác nhận. tưởng Hồ Chí Minh không
chỉ giá trị dân tộc còn ý nghĩa thời đại, góp phần vào việc giải quyết những
vấn đề đặt ra cho thế kỷ hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng đối với
quá trình xây dựng Đảng nhà nước đặc biêt tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý
luận xây dựng hoàn thiện Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Ngày
nay, tưởng đó vẫn tiếp tục rọi sáng con đường xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước
2
PHẦN NỘI DUNG
PHẦN 1: NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1.1. Nhà nước dân chủ Nhân dân ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của
Hồ Chí Minh
1.1.1. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước ở Việt Nam
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề bản của mọi cuộc
cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước. Quá trình hoạt động cách mạng của
Hồ Chí Minh gắn liền với những nhận thức, tìm kiếm, lựa chọn một hình thức,
chế độ nhà nước thích hợp, thúc đẩy dân tộc Việt Nam phát triển theo đúng quỹ
đạo tiến bộ hội. Ngay tuổi trưởng thành, trên quê hương mình, Hồ Chí
Minh đã thấy rõ bộ mặt phản nhân tính của nhà nước thực dân phong kiến. Đó là
hình thức nhà nước xấu xa, tồi tệ nhất nhân loại từng biết đến, nhưng lại
một sản phẩm tất yếu của hệ thống bản chủ nghĩa thế giới. Toàn bộ bản chất
thật sự của nhà nước đó được Hồ Chí Minh bóc trần, lên án gay gắt trong nhiều
tác phẩm, bài nói, bài viết, trước hết là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.
Từ đó, Hồ Chí Minh đặt vấn đề về sự cần thiết phải lật đổ nhà nước thối nát đó,
nhưng bằng cách nào, con đường nào, lấy để thay thế thì Người chưa
sẵn một câu trả lời.
Xuất phát từ nhu cầu giải phóng dân tộc, trên nền tảng chủ nghĩa yêu
nước, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận chủ nghĩa Mác Lênin, luận cách mạng
tiên tiến nhất của thời đại. Được soi sáng bởi phương pháp luận biện chứng mác
xít, thông qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã phát hiện vị trí lịch sử của
các chế độ nhà nước đang vận hành, trên sở phân tích, so sánh đặt chúng
trong dòng chảy liền mạch của tiến bộ lịch sử. Trong quá trình khảo cứu, Hồ Chí
Minh chú ý tìm hiểu hai loại hình nhà nước hiện thời: Nhà ớc dân chủ sản
những đại diện tiêu biểu Mỹ, Pháp nhà nước hội chủ nghĩa ra đời từ
Cách mạng Tháng Mười 1917.
Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, nhà nước sản Mỹ hay Pháp,
mặc dầu đã xác lập được một hệ thống giá trị theo các chuẩn mực dân chủ
nhân đạo, nhưng về thực chất vẫn công cụ thống tr của một số người, lợi
3
ích của thiểu số; đại bộ phận dân chúng vẫn bị bóc lột, dịch cả chính quốc
lẫn các nước thuộc địa. Tính chất phiến diện nửa vời, không triệt để của nhà
nước dân chủ sản, ngay trong bản chất của đã bộc lộ những đối kháng
không thể điều hòa chắc chắn sẽ nguyên nhân làm bùng nổ các cuộc cách
mạng hội trong tương lai. Cái gọi “thiên đường của dân chủ, tự do”,
tưởng bình đẳng, bác ái chỉ còn những ngôn từ sáo rỗng, không nội dung
hội xác thực. vậy, mục đích giải phóng phát triển của hội Việt Nam
không thể lựa chọn đi theo kiểu nhà nước đó. Những nhận xét khảo
nghiệm của Hồ Chí Minh về nhà nước sản mang tính cách mạng, khoa học,
có ý nghĩa phương pháp luận to lớn và ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị.
Đối lập với nhà nước sản nhà nước Viết còn non trẻ, nhưng đã
bộc lộ sức sống những ưu thế nổi trội của mình, hướng vào phục vụ quần
chúng công - nông - binh, thật sự lợi ích của họ. Đây chính loại hình nhà
nước của chế độ hội mới cách mạng Việt Nam phải đi theo. Như vậy,
bằng những khảo nghiệm thực tiễn, với duy chính trị nhạy cảm, sắc sảo, vào
những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường
Cách mạng Tháng Mười, kiểu nhà nước theo học thuyết Mác - Lênin. Câu hỏi
về con đường xóa bỏ nhà nước thực dân phong kiến lấy gì để thay thế đã tìm
được lời giải xác đáng. Để lựa chọn kiểu nhà nước theo xu thế vận động của lịch
sử, Hồ Chí Minh dựa trên hai cơ sở chính. Đó tính chất nhân dânkhả năng
của nhà nước trong việc bảo đảm cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, thỏa mãn
các “nhu cầu trần thế” của nhân dân con người. Hồ Chí Minh, việc lựa
chọn kiểu nhà nước gắn chặt chẽ với mục tiêu giải phóng con người phát
triển xã hội.
Tính chất sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh việc vận dụng kinh
nghiệm viết để kiến tạo, xây dựng nhà nước kiểu mới Việt Nam. Về mục
đích, nguyên tắc, Người trung thành với “mô hình Xôviết”, nhưng lại bước
đi, cách làm độc lập, không giáo điều, rập khuôn. thể nói, Hồ Chí Minh chỉ
lĩnh hội cái “tinh thần Viết” để định hình “mô nh Nhà nước Việt Nam”.
Chính thế, năm 1941, khi về nước, trong quá trình xây dựng căn cứ địa cách
mạng, Hồ Chí Minh không chủ trương xây dựng các Xôviết đã từng xuất hiện
trong phong trào Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) thành lập Ủy ban Việt
4
minh, Ủy ban giải phóng Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh, liên tỉnh. Giữa
năm 1945, khu giải phóng Việt Bắc đã hình thành chính quyền hoàn chỉnh.
Đồng bào toàn khu được hít thở không khí tự do, ttổ chức đời sống của mình,
từ sản xuất, đánh giặc, quản lý mọi mặt đời sống xã hội đến bảo vệ chính quyền.
Bằng công tác thực tiễn chu đáo, thiết thực, các ủy ban nhân dân, chính quyền
kiểu mới cắm rễ trong lòng quần chúng, tạo nên uy tín sức mạnh. Chính phủ
lâm thời (Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam) do Đại hội quốc dân Tân Trào
bầu ra (16-8-1945) Nhà nước hình thành theo quy định của Hiến pháp 1946
đều tiếp tục truyền thống này, thực sự là một nhà nước dân chủ nhân dân.
1.1.2. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa những nét khái quát về sự ra
đời và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đưa đến sự ra đời của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Chủ tịch đồ Chí Minh là người khai sinh, đứng đầu và là
linh hồn của nhà nước đó.
Sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử ngày 2-9-1945, Hồ Chí
Minh công bố danh sách Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nội
các quốc gia thống nhất do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng thời kiêm Bộ
trưởng Bộ ngoại giao.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng
hòa ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó
nhiệm vụ thứ ba “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ
phổ thông đầu phiếu” làm cho Nhà nước ta trở thành nhà nước dân chủ, hợp
hiến. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, ngay từ những ngày đầu tiên, chính
quyền mới đã hướng vào giải quyết thỏa mãn các nhu cầu tối cần thiết của
nhân dân.
Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã
được tổ chức thắng lợi vào ngày 6-1-1946, trong điều kiện cả nước đang chuẩn
bị kháng chiến. Quốc hội khóa I 333 đại biểu, sau bổ sung 70 đại biểu gồm
20 đại biểu thuộc Việt Nam cách mạng đồng minh hội 50 đại biểu của Việt
Nam quốc dân đảng. Đánh giá về Quốc hội khóa I, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Trong cuộc Toàn quốc đại biểu đại hội này, các đảng phái đều đại biểu
đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ đồng bào dân tộc
5
thiểu số cũng đều đại biểu. thế cho nên, các đại biểu trong Quốc hội này
không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân
Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã
kết lại thành một khối”.
Quốc hội cử ra Chính phủ chính thức của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, gồm 22 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao. Đây Chính phủ kháng chiến kiến quốc. Để củng cố chính
quyền quản đất nước, Hồ Chí Minh ý thức rất tầm quan trọng của Hiến
pháp. Ngày 20-9-1945, Hồ Chí Minh đã Sắc lệnh số 34 thành lập Ban dự
thảo Hiến pháp gồm 7 thành viên, do Người làm Trưởng ban. Dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Hồ Chí Minh, đến tháng 10-1946, bản Dự thảo hiến pháp đã hoàn
thành. Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong phiên họp ngày
9-11-1946, đã chính thức thông qua bản dự thảo Hiến pháp. Đó bản Hiến
pháp đầu tiên của nước ta. Sau này, vào cuối những năm 50, cũng chính Hồ Chí
Minh lãnh đạo chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp 1959, làm sở pháp cho
đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam ngày càng được
củng cố hoàn thiện về các mặt: lập pháp, hành pháp pháp, thật sự
công cụ quyền lực của nhân dân, đại diện cho ý chí, lợi ích nguyện vọng của
toàn dân tộc. Trong xây dựng lãnh đạo nhà nước, Hồ Chí Minh đã tuân thủ
các nguyên tắc bản, bảo đảm quyền lực nhà nước thống nhất, phân
công, phân nhiệm ràng nhằm thực hiện mục tiêu dân tộc độc lập, dân quyền
tự do, dân sinh hạnh phúc. Căn cứ vào các nhiệm vụ cách mạng trong từng thời
kỳ, Người đã chỉ đạo tổ chức bộ máy nhà nước gọn, nhẹ, thích hợp, đủ năng lực
và trí tuệ quản lý đất nước.
Hồ Chí Minh luôn luôn căn dặn cán bộ chính quyền, đoàn thể phải tin
dân, khả năng của dân to lớn, tận. Trong toàn bộ hoạt động của mình
vớiơng vị người đứng đầu Nhàớc, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định
tưởng nước lấy dân làm gốc, lợi ích của nhân dân trước hết trên hết,
nhiệm vụ của chính quyền và đoàn thể là phụng sự nhân dân.
Qua thực tiễn lãnh đạo, quản lý, Hồ Chí Minh nhìn thấy rất những căn
bệnh phát sinh làm hủy hoại biến dạng Nhà nước. Người kiên quyết chống
6
lại, cảnh báo nhiều nguy cơ, đề xuất các giải pháp thiết thực, trừng trị nghiêm
khắc các cán bộ thoái hóa, biến chất, đảm bảo cho Nhà nước ta thật sự trong
sạch, vững mạnh.
Trong 24 năm đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng
các thiết chế, thể chế và cơ chế dân chủ, khơi nguồn truyền thống dân chủ ở Việt
Nam. Đặc biệt, Người đã để lại một tấm gương sáng về đạo đức liêm khiết,
trong sạch, hết lòng phục vụ nhân dân, dân, nước một phong cách lãnh
đạo đặc sắc - phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước Việt Nam
1.2.1. Nhà nước dân chủ
1.2.1.1. Bản chất giai cấp của Nhà nước
Nhà nước đâu bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất
định. Nhà nước Việt Nam mới Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo
quan điểm của Hồ Chí Minh, một nhà nước mang bản chất giai cấp công
nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam thể hiện trên 3
phương diện:
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vị trí và vai trò cầm quyền.
Bản chất giai cấp của Nhà nước Việt Nam thể hiện tính định ớng
hội chủ nghĩa trong sự phát triển đất nước.
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước thể hiện nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong tưởng của Người về Nhà nước mới Việt Nam, bản chất giai
cấp công nhân của Nhà nước thống nhất với tính nhân dân tính dân tộc, thể
hiện cụ thể như sau:
Nhà nước Việt Nam ra đời kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ
của rất nhiều thế hệ người Việt Nam, của toàn thể dân tộc.
Nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời đã xác định luôn kiên trì,
nhất quán mục tiêu quyền lợi của nhân dân, lẩy quyền lợi của dân tộc
làm nền tảng.
7
Nhà nước mới Việt Nam đã đảm đương nhiệm vụ toàn thể dân tộc
giao phó: bảo vệ độc lập, tự do và xây dựng đất nước.
1.2.1.2. Nhà nước của nhân dân
Nhà nước của dân tức "dân là chủ". Nguyên "dân chủ" khẳng định
địa vị chủ thể tối cao của mọi quyền lực nhân dân. Trong nhà nước dân chủ,
nhân dân thực thi quyền lực thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp dân
chủ gián tiếp.
Dân chủ trực tiếp: hình thức dân chủ trong đó nhân dân trực tiếp quyết
định mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc quyền
lợi của dân chúng.
Dân chủ gián tiếp: nh thức dân chủ được sử dụng rộng rãi nhằm thực
thi quyền lực của nhân dân.
Quyền lực nhà nước là "thừa ủy quyền" của nhân dân.
Nhân dân quyền kiểm soát, phê bình nhà nước, quyền bãi miễn
những đại biểu mà họ đã lựa chọn, bầu ra và có quyền giải tán những thiết
chế quyền lực mà họ đã lập nên.
Luật pháp dân chủ và là công cụ quyền lực của nhân dân.
1.2.1.3. Nhà nước do nhân dân
- Nhà nước do nhân dân lập nên sau thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn
dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nhà nước do nhân dân làm chủ
Nhân dân có quyền lợi làm chủ và có nghĩa vụ của người làm chủ
oNgười khẳng định rõ: “Nước ta nước dân chủ, nghĩanhà nước
do nhân dân làm chủ” Xác định vị thế của nhân dân với quyền
lực nhà nước và nhấn mạnh quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân với
tư cách là người chủ
oQuan điểm Hồ Chí Minh “Nhân dân quyền lợi làm chủ, thì phải
nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công
dân” Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm,
nghĩa vụ.
8
Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để nhân dân được thực hiện những
quyền Hiến pháp pháp luật đã quy định, hưởng dụng đầy đủ quyền
lợi và làm tròn nghĩa vụ làm chủ của mình.
- Nhà nước cần coi trọng việc giáo dục nhân dân, đồng thời nhân dân cũng phải
tự giác phấn đấu để có đủ năng lực thực hiện quyền dân chủ của mình
Không chỉ tuyên bố quyền làm chủ của nhân dân, cũng không chỉ đưa nhân
dân tham gia công việc nhà nước, mà còn chuẩn bị và động viên nhân dân chuẩn
bị tốt năng lực làm chủ, quan điểm đó thể hiện tưởng dân chủ triệt để của Hồ
Chí Minh
1.2.1.4. Nhà nước vì nhân dân
- Nhà nước phục vụ lợi ích nguyện vọng của nhân dân, không đặc quyền
đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính.
- Người nói: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào mục đích duy
nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao
giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việclợi cho dân thì làm.
Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.
- Thước đo một Nhà nước vì dân là phải được lòng dân
“làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu”
“muốn được dân yêu, muốn được lòng dân. trước hết phải yêu dân, phải
đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”
- Trong Nhà nước dân, cán bộ vừa đày tớ, nhưng đồng thời phải vừa
người lãnh đạo của nhân dân
đầy tớ thì phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công
tư, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ.
người lãnh đạo thì phải trí tuệ hơn người, minh mẫn, sáng suốt,
nhìn xa trông rộng, gần gũi Nhân dân, trọng dụng người tài.
Như vậy, để làm người thay mặt nhân dân phải gồm đủ cả đức tài, phải
vừa hiền lại vừa minh.
9
1.2.2. Nhà nước pháp quyền
1.2.2.1. Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Xây dựng một Nhà nước hợp pháp, hợp hiến
Nhà nước hiệu lực pháp mạnh mẽ trước hết một nhà nước hợp
hiến.
vậy sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ
lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào với thế
giới khai sinh nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính phủ lâm thời địa
vị hợp pháp, tổng tuyển cử bầu ra quốc hội rồi từ đó lập chính phủ các
quan nhà nước mới.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một trong sáu nhiệm vụ cấp
bách của Chính phủ là: “Chúng ta phải một bản Hiến pháp dân chủ. Tôi đề
nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ
thông đầu phiếu”.
Sau đó Người bắt tay xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức Tổng tuyển cử
với chế độ phổ thông đầu phiếu bầu Quốc Hội, thành lập uỷ ban dự thảo Hiến
pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 2/3/1946, Quốc hôi họp phiên đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh
được Quốc hội nhất trí bầu làm chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Đây là
chính phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, đầy đủ tư cách hiệu lực
trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại.
Hoạt động quản nhà nước bằng Hiến pháp, pháp luật chú trọng đưa
pháp luật vào cuộc sống
Nhà nước dân chủ Việt Nam không thể thiếu pháp luật. Pháp luật làđỡ
cho dân chủ. Mọi quyền dân chủ của người dân đều được thể chế hóa bằng Hiến
pháp pháp luật; ngược lại hệ thống pháp luật phải đảm bảo cho quyền tự do,
dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng một nền pháp chế
hội chủ nghĩa bảo đảm được việc thực hiện quyền lực của nhân dân.
10
+ Từ năm 1919, Người khẳng định vai t của pháp luật là: “Trăm điều phải
thần linh pháp quyền”
+ người sáng lập nước Nhà nước dân chủ mới Việt Nam, Hồ Chí Minh
cũng là người có công lớn trong việc lập hiến và lập pháp.
Hồ Chí Minh hết sức chăm lo đưa pháp luật vao đời sống, tạo ra chế
bảo đảm cho pháp luật được thi hành, cũng như chế kiểm tra, giám sát việc
thi hành pháp luật trong các cơ quan nhà nước và trong nhân dân.
+ Để tuyên truyền, đưa pháp luật vào cuộc sống, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc
nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị sự
giác ngộ của nhân dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào công việc nhà
nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.
Hồ Chí Minh luôn luôn nêu gương trong việc khuyến khích người dân
phê bình, giám sát công việc của Chính phủ, Người yêu cầu các cán bộ phải
“làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của
mình, dám nói, dám làm”. Lúc dân biết và dám phê bình cán bộ, người lãnh đạo,
lúc đó dân đã biết nắm quyền dân chủ, tức là đã đến mức dân chủ hóa khá cao.
Hồ Chí Minh luôn luôn nêu gương trong việc khuyến khích nhân dân phê
bình, giám sát công việc của chính phủ, đồng thời nhắc nhở cán bộ các ngành,
các cấp phải gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, trước hết các cán bộ
thuộc ngành pháp. Người viết: “Các bạn những người phụ trách thi hành
pháp luật. lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí
công, vô tư cho nhân dân noi theo.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh mẽ, Bác Hồ cho rằng,
phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ viên chức
nhà nước trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành
chính nhất phải đạo đức cần kiệm liêm chính chí công tư, một tiêu
chuẩn bản của người cầm cân công lý.Yêu cầu của đội ngũ cán bộ phải
đức tài trong đó đức gốc, đội ngũ này phải được tổ chức hợp hiệu
quả. Cụ thể là:
11
(1) Tuyệt đối trung thành với cách mạng.
(2) Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.
(3) Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
(4) Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám
chịu trách nhiệm, nhất những tình huống khó khăn, “thắng không kiêu, bại
không nản”.
5) Phải thường xuyên tự phê bình phê bình, luôn ý thức hành động
sự lớn mạnh, trong sạch của nhà nước.
Trong việc dùng cán bộ Hồ Chí Minh lưu ý rằng: cần phải tẩy sạch óc
phái. Người đã ký sắc lệnh số 76, ban hành quy chế công chức, chú trọng chế đọ
thi tuyển để bổ nhiệm vào các ngạch, bậc hành chính. Điều này thể hiện tầm
nhìn xa, tính chính quy, hiện đại, tinh thần công bằng, dân chủ của Hồ Chí Minh
trong việc xây dụng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Để đảm bảo công bằng dân chủ trong tuyển dụng cán bộ nhà nước,
Người sắc lệnh ban hành Quy chế công chức. Công chức theo chế độ chức
nghiệp, vậy phải qua thi tuyển công chức để bổ nhiệm vào ngạch, bậc hành
chính. Nội dung thi tuyển khá toàn diện bao gồm 6 môn thi: chính trị, kinh tế,
pháp luật, địa lý, lịch sử và ngoại ngữ. Điều này thể hiện tầm nhìn xa, tính chính
quy hiện đại, tinh thần công bằng dân chủ của tưởng Hồ Chí Minh trong
việc xây dựng nền móng cho pháp quyền Việt Nam.
Xuất phát từ nhận thức chỉ có trí tuệ và lòng dân mới có thể làm cho chính
quyền trở nên mạnh mẽ sáng suốt, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải “thân
dân”, gần dân, trọng dân, không được lên mặt “quan cách mạng” với nhân dân,
lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.
1.2.2.2. Nhà nước thượng tôn pháp luật
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
thừa phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại.
12
Học tập và làm theo tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chúng
ta học được nhiều điều trong một hội pháp quyền, nhưng trước hết cần học
tập tinh thần, phong cách thượng tôn pháp luật của Người. nếu mỗi người
trong chúng ta đều thượng tôn pháp luật thì trật tự hội được đảm bảo, cuộc
sống sẽ tươi đẹp và góp phần tạo nên diện mạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
tưởng thượng tôn pháp luật của Hồ Chí Minh thể hiện trong quan
niệm về vai trò của pháp luật trong hội các quyền tự do, dân chủ của công
dân. Khi vạch trần chế độ cai trị khắc, phi pháp quyền của Chính phủ Pháp
các nước thuộc địa, Người chỉ rõ: «Ở Đông Dương hai thứ công lý. Một thứ
cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như
Pháp. Người An Nam thì không hội đồng bồi thẩm, cũng không luật
người An Nam. Thường người ta xử án tuyên án theo giấy tờ, vắng mặt bị
cáo. Nếu vụ kiện cáo giữa người An Nam với người Pháp thì lúc nào người
Pháp cũng cả, mặc tên này ăn cướp hay giết người». Khi sống làm
việc tại Pháp, năm 1919 Người đại diện cho nhóm người Việt Nam yêu nước
gửi tới Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của nhân dân An Nam. Trong số các yêu
sách đó, đáng chú ý yêu sách thứ bảy: Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế
độ ra các đạo luật. Điều đó cho thấy, Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc
quản hội bằng pháp luật tinh thần thượng tôn pháp luật còn rất trú
trọng đến việc thực thi quyền của con người. Trong lời mở đầu của bản Tuyên
ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: Tất cả mọi người đều sinh ra quyền bình đẳng. Tạo hóa
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy,
quyền được sống, quyền tự do quyền mưu cầu hạnh phúc. Đồng thời, để tăng
thêm tính giá trị của lời khẳng định này, Người đã trích dẫn nội dung được ghi
nhận trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm
1971: Người ta sinh ra tự do bình đẳng về quyền lợi; phải luôn luôn được
tự do bình đẳng về quyền lợi. Đó những lẽ phải không ai chối cãi được.
Bản Tuyên ngôn chỉ vỏn vẹn 49 câu với 1.010 chữ nhưng lại chứa đựng những
13
nội dung cùng to lớn, mang ý nghĩa sâu sắc. Bên cạnh sứ mệnh đưa dân tộc
Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa
hội, Bản Tuyên ngôn còn giá trtinh thần cách mạng nhân văn cao cả.
tưởng về quyền con người không chỉ dừng lại quyền sống, quyền bình đẳng,
quyền do mưu cầu hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bàn tới khía
cạnh quyền con người phải được pháp luật bảo vệ. Bác dùng cụm từ « Tất cả
mọi người… » một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, cụm từ đó thể hiện quan
điểm rõ ràng là quyền con người không phân biệt giới tính, tôn giáo hay dân tộc.
Bên cạnh đó, tưởng thượng tôn pháp luật của Hồ Chí Minh còn thể
hiện trong quan điểm về nhà nước dân chủ một nhà nước hợp hiến, hợp pháp
quản lý hội theo pháp luật. Nội dung tưởng này được đề cập các tác
phẩm của Người từ đầu thế kỷ XX Nghị Quyết Hội nghị Trung ương Đảng
lần thứ VII (11/1940) về việc ban bố một bản Hiến pháp dân chủ. Do đó, ngay
sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, một trong 6 nhiệm vụ bản của
Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòaChủ tịch Hồ Chí Minh nêu
ra là tổ chức tổng tuyển cử xây dựng Hiến pháp dân chủ. Bốn tháng sau đó,
ngày 6 tháng giêng năm 1946, nước ta tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
chọn người tài, đức để gánh vác việc nước trong Quốc hội. Ngày 9/11/1946,
Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của ớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa (Hiến pháp năm 1946 Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn
thảo). Ngay trong Lời nói đầu của bản Hiến pháp này đã nêu lên ba nguyên tắc
bản: a) Đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp,
tôn giáo; b) Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; c) Thực hiện chính quyền mạnh
mẽ sáng suốt của nhân dân. Ba nguyên tắc này thể hiện rất yêu cầu dân
chủ tinh thần pháp quyền trong chế độ nhà nước đặc biệt không người
bóc lột người.
Năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào công cuộc
xây dựng chủ nghĩa hội, miền Nam tiến hành đấu tranh thống nhất đất nước.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu về một bản hiến pháp mới. Do đó, tại kỳ họp thứ 6,
Quốc hội khóa I (29/12/1956) đã quyết định thành lập Ban sửa đổi hiến pháp do
14
Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Đến ngày 1/4/1959, bản Dự thảo Hiến
pháp được công bố cho toàn dân thảo luận. Ngày 18/12/1959, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thuyết trình trước Quốc hội về bản Dự thảo Hiến pháp trên tinh thần
tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân ngày 31/12/1959, Hiến pháp đã được
Quốc hội thông qua. Điều 6, Hiến pháp năm 1959 nêu rõ: Tất cả các nhân viên
quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo
Hiến pháp pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Với tinh thần tối
thượng của Hiến pháp như vậy, tất cả cán bộ, nhân dân đều có nghĩa vụ tuân thủ
pháp luật, không một ai được đặt mình trên pháp luật hay ngoài pháp luật, mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật. Đây cũng chính sự đảm bảo cao nhất về
mặt pháp luật của một nhà nước hợp pháp thể hiện trong tưởng lập hiến của
Hồ Chí Minh. Thông qua đó, quyền của công dân được bảo vệ chủ quyền
quốc gia được đảm bảo.
Không chỉ coi trọng việc ban hành pháp luật, Hồ Chí Minh còn chăm lo
đến việc tuyên truyền pháp luật nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo điều kiện
cho pháp luật được thi hành trong các quan nhà nước nhân dân. Tại Hội
nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân gia đình ngày 10/10/1959,
Người nêu rõ: công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong còn
phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt. Như vậy, trong
tưởng Hồ Chí Minh, không chỉ đề cao tinh thần pháp luật, vai trò của pháp luật
trong quản hội, còn coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật để
người quản lý bằng pháp luật và thực thi pháp luật thực hiện cho đúng.
Do đó, học tập tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ
học tập tinh thần coi trọng pháp luật trong cuộc sống làm việc, còn học
tập Người cách dân vận để đưa pháp luật thực hành hiệu quả trong cuộc sống.
1.2.2.3. Pháp quyền nhân nghĩa
- Pháp quyền nhân nghĩa tức là Nhà nước phải tôn trọng, bảo đảm thực hiện đầy
đủ các quyền con người, chăm lo đến lợi ích của mọi người
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo nên tưởng pháp quyền nhân nghĩa làm
nền
15
tảng cho xây dựng và thực thi pháp luật dựa trên đạo lý, vì lợi ích của đất nước,
của nhân dân.
- Trong pháp quyền nhân nghĩa, pháp luật tính nhân văn, khuyến thiện. Tính
nhân văn thể hiện việc ghi nhận đầy đủ bảo vệ quyền con người, tuyệt đối
chống đối xử với con người một cách man. Đặc biệt, hệ thống pháp luật
tính khuyến thiện, bảo vệ cái đúng cái tốt, lấy giáo dục, cảm hóa, thức tỉnh con
người làm căn bản.
1.2.3. Nhà nước trong sạch, vững mạnh
1.2.3.1. Kiểm soát quyền lực nhà nước
Kiểm soát quyền lực nhà nước là tất yếu.
Hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước:
Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam: việc
kiểm soát phải có hệ thống, người đi kiểm soát phải uy tín.
Kiểm soát quyền lực nhà nước dựa trên cách thức tổ chức bộ máy nhà
nước việc phân công, phân nhiệm giữa các quan thực thi quyền lực
nhà nước.
Nhân dân kiểm soát quyền lực Nhà nước.
1.2.3.2. Phòng chống tiêu cực trong nhà nước
a. Những tiêu cực cần đề phòng, khắc phục
- Đặc quyền, đặc lợi
- Tham ô, lãng phí, quan liêu
- Tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo
b. Nguyên nhân
- Chủ quan: bắt nguồn từ căn “bệnh mẹ” chủ nghĩa nhân, từ sự thiếu tu
dưỡng, rèn luyện của bản thân cán bộ.
- Khách quan: do công tác cán bộ của Đảng Nhà nước chưa tốt; do cách tổ
chức, vận hành trong Đảng, trong Nhà nước, sự phối hợp giữa Đảng Nhà
nước chưa thực sự khoa học, hiệu quả; do trình độ phát triển còn thấp của đời
16
sống hội; do tàn của những chính sách phản động của chế độ thực dân,
phong kiến…
c. Biện pháp
- Nâng cao trình độ dân chủ trong hội, thực hành dân chủ rộng rãi, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
- Pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh.
- Cần coi trọng giáo dục, lấy giáo dục, cảm hóa làm chủ yếu.
- Cán bộ phải đi trước làm gương, cán bộ giữ chức vụ càng cao, trách nhiệm nêu
gương càng lớn.
- Phải phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước vào cuộc chiến chống lại tiêu
cực trong con người, trong xã hội và trong bộ máy Nhà nước.
17
PHẦN 2. LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.1. Thực trạng
2.1.1. Thành tựu
Một số nội dung vận dụng tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân,
vì dân vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
2.1.1.1. Thực hiện nguyên tắc: quyền lực nhà nước thống nhất, sự phân công
phối hợp giữa các quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp; có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước
Nguyên tắc này trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp
quyền hội chủ nghĩa Việt Nam; một trong những biện pháp quan trọng phòng
tránh sự lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước ta; nêu
cao tinh thần trách nhiệm xác định được trách nhiệm của các quan nhà nước,
góp phầnng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước; đảm bảo chủ quyền luôn
luôn thống nhất thuộc về nhân dân.
2.1.1.2. Cải cách tư pháp, đảm bảo cho Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tòa án độc lập chỉ tuân theo pháp luật một trong những đặc trưng cơ bản,
yêu cầu, đòi hỏi không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt
Nam. Do vậy, để đạt được đó chúng ta cần tiếp tục thực hiện tốt những nội dung
sau đây:
Thứ nhất, về mặt tổ chức, hệ thống Tòa án ở nước ta cần được thiết kết, tổ chức
theo cấp xét xử, nhằm giảm bớt lãng phí về tài chính, nhân sự, sở vật chất, tạo
thuận lợi trong tổ chức xét xử, quan trọng hơn cả đảm bảo sự độc lập của Tòa án
với chính quyền địa phương.
Thứ hai, quyền pháp phải được tổ chức hoạt động theo một thủ tục pháp
lý cụ thể, có khả năng bảo đảm cho việc đạt được kết quả pháp lý công bằng trong việc
xét xử và giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Thứ ba, các thẩm phán phải phải được bổ nhiệm suốt đời, hoặc chí ít lâu dài
hơn so với hiện nay.
18
Thứ tư, chế độ lương của thẩm phán phải được bảo đảm đủ nuôi họ gia đình
một cách đàng hoàng, có như vậy họ mới vững tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Thứ năm, đề cao trách nhiệm, trình độ chuyên môn phẩm chất đạo đức của
người thẩm phán.
2.1.1.3. Xây dựng chất đạo đức của người cán bộ trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Những yêu cầu, đòi hỏi về phẩm chất đạo đức của người cán bộ trong điều kiện
hiện nay đó là:
Một là, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc chủ nghĩahội, phấn đấu thực hiện kết quả đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước.
Hai là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công tư, không tham nhũng và kiên quyết
đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật, không cơ hội, gắn bó mật thiết
với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
Ba là, có trình độ hiểu biết về luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực sức khỏe
để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
2.1.1.4. Tổng kết:
Những nội dung vận dụng bản như: thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong
tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước; cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng
một nền hành chính trong sạch, vững mạnh; cải cách pháp, xây dựng một nền
pháp độc lập, công tâm, khách quan chỉ tuân theo pháp luật; xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức vừa hồng, vừa chuyên; về mối quan hệ giữa pháp luật đạo đức trong
quản nhà nước hội; về thực hiện dân chủ trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền hiện nay. Đó những nội dung bản, quan trọng chúng ta đã
đang thực hiện trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay.
19

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 6
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
MÃ LHP: 232_HCMI0111_23 GVGD: VŨ THỊ THU HÀ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY. MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................3
PHẦN 1: NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.................................................................................3
1.1. Nhà nước dân chủ Nhân dân ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của Hồ
Chí Minh...........................................................................................................3
1.1.1. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước ở Việt Nam........................................3
1.1.2. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – những nét khái quát về sự ra
đời và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh...................................5
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước Việt Nam..........................................7
1.2.1. Nhà nước dân chủ...................................................................................7
1.2.2. Nhà nước pháp quyền.............................................................................9
1.2.3. Nhà nước trong sạch, vững mạnh..........................................................16
PHẦN 2. LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY18
2.1. Thực trạng................................................................................................18
2.1.1. Thành tựu..............................................................................................18
2.1.2. Hạn chế.................................................................................................20
2.2. Nguyên nhân............................................................................................21
2.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả về quá trình rèn luyện đạo đức của
thế hệ sinh viên/cán bộ… hiện nay.................................................................24
PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................................26 1 PHẦN MỞ ĐẦU
Từ lâu nhiều nhà lãnh đạo của Đảng ta đã khẳng định chủ tịch Hồ Chí Minh là
"nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận kiệt xuất”. Tư tưởng và đạo đức cao cả của người mãi
mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn của chúng ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh những vấn
đề thuộc quy luật và có tính quy luật của cách mạng nước ta, đã được thực tiễn thắng
lợi của cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và xác nhận. Tư tưởng Hồ Chí Minh không
chỉ có giá trị dân tộc mà còn có ý nghĩa thời đại, góp phần vào việc giải quyết những
vấn đề đặt ra cho thế kỷ hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng đối với
quá trình xây dựng Đảng và nhà nước đặc biêt là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý
luận xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Ngày
nay, tư tưởng đó vẫn tiếp tục rọi sáng con đường xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 2 PHẦN NỘI DUNG
PHẦN 1: NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1.1. Nhà nước dân chủ Nhân dân ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh
1.1.1. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước ở Việt Nam
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề cơ bản của mọi cuộc
cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước. Quá trình hoạt động cách mạng của
Hồ Chí Minh gắn liền với những nhận thức, tìm kiếm, lựa chọn một hình thức,
chế độ nhà nước thích hợp, thúc đẩy dân tộc Việt Nam phát triển theo đúng quỹ
đạo tiến bộ xã hội. Ngay ở tuổi trưởng thành, trên quê hương mình, Hồ Chí
Minh đã thấy rõ bộ mặt phản nhân tính của nhà nước thực dân phong kiến. Đó là
hình thức nhà nước xấu xa, tồi tệ nhất mà nhân loại từng biết đến, nhưng lại là
một sản phẩm tất yếu của hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới. Toàn bộ bản chất
thật sự của nhà nước đó được Hồ Chí Minh bóc trần, lên án gay gắt trong nhiều
tác phẩm, bài nói, bài viết, trước hết là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.
Từ đó, Hồ Chí Minh đặt vấn đề về sự cần thiết phải lật đổ nhà nước thối nát đó,
nhưng bằng cách nào, con đường nào, lấy gì để thay thế nó thì Người chưa có sẵn một câu trả lời.
Xuất phát từ nhu cầu giải phóng dân tộc, trên nền tảng chủ nghĩa yêu
nước, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, là lý luận cách mạng
tiên tiến nhất của thời đại. Được soi sáng bởi phương pháp luận biện chứng mác
xít, thông qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã phát hiện vị trí lịch sử của
các chế độ nhà nước đang vận hành, trên cơ sở phân tích, so sánh và đặt chúng
trong dòng chảy liền mạch của tiến bộ lịch sử. Trong quá trình khảo cứu, Hồ Chí
Minh chú ý tìm hiểu hai loại hình nhà nước hiện thời: Nhà nước dân chủ tư sản
mà những đại diện tiêu biểu là Mỹ, Pháp và nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời từ
Cách mạng Tháng Mười 1917.
Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, nhà nước tư sản dù ở Mỹ hay ở Pháp,
mặc dầu đã xác lập được một hệ thống giá trị theo các chuẩn mực dân chủ và
nhân đạo, nhưng về thực chất vẫn là công cụ thống trị của một số người, vì lợi 3
ích của thiểu số; đại bộ phận dân chúng vẫn bị bóc lột, nô dịch cả ở chính quốc
lẫn ở các nước thuộc địa. Tính chất phiến diện nửa vời, không triệt để của nhà
nước dân chủ tư sản, ngay trong bản chất của nó đã bộc lộ những đối kháng
không thể điều hòa và chắc chắn sẽ là nguyên nhân làm bùng nổ các cuộc cách
mạng xã hội trong tương lai. Cái gọi là “thiên đường của dân chủ, tự do”, lý
tưởng bình đẳng, bác ái chỉ còn là những ngôn từ sáo rỗng, không có nội dung
xã hội xác thực. Vì vậy, mục đích giải phóng và phát triển của xã hội Việt Nam
không thể lựa chọn và đi theo kiểu nhà nước đó. Những nhận xét và khảo
nghiệm của Hồ Chí Minh về nhà nước tư sản mang tính cách mạng, khoa học,
có ý nghĩa phương pháp luận to lớn và ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị.
Đối lập với nhà nước tư sản là nhà nước Xô Viết còn non trẻ, nhưng đã
bộc lộ sức sống và những ưu thế nổi trội của mình, hướng vào phục vụ quần
chúng công - nông - binh, thật sự vì lợi ích của họ. Đây chính là loại hình nhà
nước của chế độ xã hội mới mà cách mạng Việt Nam phải đi theo. Như vậy,
bằng những khảo nghiệm thực tiễn, với tư duy chính trị nhạy cảm, sắc sảo, vào
những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường
Cách mạng Tháng Mười, kiểu nhà nước theo học thuyết Mác - Lênin. Câu hỏi
về con đường xóa bỏ nhà nước thực dân phong kiến và lấy gì để thay thế đã tìm
được lời giải xác đáng. Để lựa chọn kiểu nhà nước theo xu thế vận động của lịch
sử, Hồ Chí Minh dựa trên hai cơ sở chính. Đó là tính chất nhân dân và khả năng
của nhà nước trong việc bảo đảm cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, thỏa mãn
các “nhu cầu trần thế” của nhân dân và con người. Ở Hồ Chí Minh, việc lựa
chọn kiểu nhà nước gắn bó chặt chẽ với mục tiêu giải phóng con người và phát triển xã hội.
Tính chất sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh là việc vận dụng kinh
nghiệm Xô viết để kiến tạo, xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Về mục
đích, nguyên tắc, Người trung thành với “mô hình Xôviết”, nhưng lại có bước
đi, cách làm độc lập, không giáo điều, rập khuôn. Có thể nói, Hồ Chí Minh chỉ
lĩnh hội cái “tinh thần Xô Viết” để định hình “mô hình Nhà nước Việt Nam”.
Chính vì thế, năm 1941, khi về nước, trong quá trình xây dựng căn cứ địa cách
mạng, Hồ Chí Minh không chủ trương xây dựng các Xôviết đã từng xuất hiện
trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) mà thành lập Ủy ban Việt 4
minh, Ủy ban giải phóng và Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh, liên tỉnh. Giữa
năm 1945, khu giải phóng Việt Bắc đã hình thành chính quyền hoàn chỉnh.
Đồng bào toàn khu được hít thở không khí tự do, tự tổ chức đời sống của mình,
từ sản xuất, đánh giặc, quản lý mọi mặt đời sống xã hội đến bảo vệ chính quyền.
Bằng công tác thực tiễn chu đáo, thiết thực, các ủy ban nhân dân, chính quyền
kiểu mới cắm rễ trong lòng quần chúng, tạo nên uy tín và sức mạnh. Chính phủ
lâm thời (Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam) do Đại hội quốc dân Tân Trào
bầu ra (16-8-1945) và Nhà nước hình thành theo quy định của Hiến pháp 1946
đều tiếp tục truyền thống này, thực sự là một nhà nước dân chủ nhân dân.
1.1.2. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – những nét khái quát về sự ra
đời và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đưa đến sự ra đời của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Chủ tịch đồ Chí Minh là người khai sinh, đứng đầu và là
linh hồn của nhà nước đó.
Sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử ngày 2-9-1945, Hồ Chí
Minh công bố danh sách Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nội
các quốc gia thống nhất do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng thời kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng
hòa ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó
nhiệm vụ thứ ba là “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ
phổ thông đầu phiếu” làm cho Nhà nước ta trở thành nhà nước dân chủ, hợp
hiến. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, ngay từ những ngày đầu tiên, chính
quyền mới đã hướng vào giải quyết và thỏa mãn các nhu cầu tối cần thiết của nhân dân.
Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã
được tổ chức thắng lợi vào ngày 6-1-1946, trong điều kiện cả nước đang chuẩn
bị kháng chiến. Quốc hội khóa I có 333 đại biểu, sau bổ sung 70 đại biểu gồm
20 đại biểu thuộc Việt Nam cách mạng đồng minh hội và 50 đại biểu của Việt
Nam quốc dân đảng. Đánh giá về Quốc hội khóa I, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Trong cuộc Toàn quốc đại biểu đại hội này, các đảng phái đều có đại biểu mà
đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ và đồng bào dân tộc 5
thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế cho nên, các đại biểu trong Quốc hội này
không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân
Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã
kết lại thành một khối”.
Quốc hội cử ra Chính phủ chính thức của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, gồm 22 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao. Đây là Chính phủ kháng chiến và kiến quốc. Để củng cố chính
quyền và quản lý đất nước, Hồ Chí Minh ý thức rất rõ tầm quan trọng của Hiến
pháp. Ngày 20-9-1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34 thành lập Ban dự
thảo Hiến pháp gồm 7 thành viên, do Người làm Trưởng ban. Dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Hồ Chí Minh, đến tháng 10-1946, bản Dự thảo hiến pháp đã hoàn
thành. Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong phiên họp ngày
9-11-1946, đã chính thức thông qua bản dự thảo Hiến pháp. Đó là bản Hiến
pháp đầu tiên của nước ta. Sau này, vào cuối những năm 50, cũng chính Hồ Chí
Minh lãnh đạo và chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp 1959, làm cơ sở pháp lý cho
đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam ngày càng được
củng cố và hoàn thiện về các mặt: lập pháp, hành pháp và tư pháp, thật sự là
công cụ quyền lực của nhân dân, đại diện cho ý chí, lợi ích và nguyện vọng của
toàn dân tộc. Trong xây dựng và lãnh đạo nhà nước, Hồ Chí Minh đã tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có phân
công, phân nhiệm rõ ràng nhằm thực hiện mục tiêu dân tộc độc lập, dân quyền
tự do, dân sinh hạnh phúc. Căn cứ vào các nhiệm vụ cách mạng trong từng thời
kỳ, Người đã chỉ đạo tổ chức bộ máy nhà nước gọn, nhẹ, thích hợp, đủ năng lực
và trí tuệ quản lý đất nước.
Hồ Chí Minh luôn luôn căn dặn cán bộ chính quyền, đoàn thể phải tin ở
dân, vì khả năng của dân là to lớn, là vô tận. Trong toàn bộ hoạt động của mình
với cương vị là người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định
tư tưởng nước lấy dân làm gốc, lợi ích của nhân dân là trước hết và trên hết,
nhiệm vụ của chính quyền và đoàn thể là phụng sự nhân dân.
Qua thực tiễn lãnh đạo, quản lý, Hồ Chí Minh nhìn thấy rất rõ những căn
bệnh phát sinh làm hủy hoại và biến dạng Nhà nước. Người kiên quyết chống 6
lại, cảnh báo nhiều nguy cơ, đề xuất các giải pháp thiết thực, trừng trị nghiêm
khắc các cán bộ thoái hóa, biến chất, đảm bảo cho Nhà nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh.
Trong 24 năm đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng
các thiết chế, thể chế và cơ chế dân chủ, khơi nguồn truyền thống dân chủ ở Việt
Nam. Đặc biệt, Người đã để lại một tấm gương sáng về đạo đức liêm khiết,
trong sạch, hết lòng phục vụ nhân dân, vì dân, vì nước và một phong cách lãnh
đạo đặc sắc - phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước Việt Nam
1.2.1. Nhà nước dân chủ
1.2.1.1. Bản chất giai cấp của Nhà nước
Nhà nước ở đâu và bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất
định. Nhà nước Việt Nam mới – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo
quan điểm của Hồ Chí Minh, là một nhà nước mang bản chất giai cấp công
nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam thể hiện trên 3 phương diện:
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vị trí và vai trò cầm quyền.
Bản chất giai cấp của Nhà nước Việt Nam thể hiện ở tính định hướng xã
hội chủ nghĩa trong sự phát triển đất nước.
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước thể hiện ở nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong tư tưởng của Người về Nhà nước mới ở Việt Nam, bản chất giai
cấp công nhân của Nhà nước thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc, thể hiện cụ thể như sau:
Nhà nước Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ
của rất nhiều thế hệ người Việt Nam, của toàn thể dân tộc.
Nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời đã xác định rõ và luôn kiên trì,
nhất quán mục tiêu vì quyền lợi của nhân dân, lẩy quyền lợi của dân tộc làm nền tảng. 7
Nhà nước mới ở Việt Nam đã đảm đương nhiệm vụ mà toàn thể dân tộc
giao phó: bảo vệ độc lập, tự do và xây dựng đất nước.
1.2.1.2. Nhà nước của nhân dân
Nhà nước của dân tức là "dân là chủ". Nguyên lý "dân là chủ" khẳng định
địa vị chủ thể tối cao của mọi quyền lực là nhân dân. Trong nhà nước dân chủ,
nhân dân thực thi quyền lực thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp.
Dân chủ trực tiếp: là hình thức dân chủ trong đó nhân dân trực tiếp quyết
định mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc và quyền lợi của dân chúng.
Dân chủ gián tiếp: là hình thức dân chủ được sử dụng rộng rãi nhằm thực
thi quyền lực của nhân dân.
Quyền lực nhà nước là "thừa ủy quyền" của nhân dân.
Nhân dân có quyền kiểm soát, phê bình nhà nước, có quyền bãi miễn
những đại biểu mà họ đã lựa chọn, bầu ra và có quyền giải tán những thiết
chế quyền lực mà họ đã lập nên.
Luật pháp dân chủ và là công cụ quyền lực của nhân dân.
1.2.1.3. Nhà nước do nhân dân
- Nhà nước do nhân dân lập nên sau thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn
dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nhà nước do nhân dân làm chủ
Nhân dân có quyền lợi làm chủ và có nghĩa vụ của người làm chủ
oNgười khẳng định rõ: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhà nước
do nhân dân làm chủ” → Xác định vị thế của nhân dân với quyền
lực nhà nước và nhấn mạnh quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân với tư cách là người chủ
oQuan điểm Hồ Chí Minh “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải
có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công
dân” → Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ. 8
Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để nhân dân được thực hiện những
quyền mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định, hưởng dụng đầy đủ quyền
lợi và làm tròn nghĩa vụ làm chủ của mình.
- Nhà nước cần coi trọng việc giáo dục nhân dân, đồng thời nhân dân cũng phải
tự giác phấn đấu để có đủ năng lực thực hiện quyền dân chủ của mình
⇒ Không chỉ tuyên bố quyền làm chủ của nhân dân, cũng không chỉ đưa nhân
dân tham gia công việc nhà nước, mà còn chuẩn bị và động viên nhân dân chuẩn
bị tốt năng lực làm chủ, quan điểm đó thể hiện tư tưởng dân chủ triệt để của Hồ Chí Minh
1.2.1.4. Nhà nước vì nhân dân
- Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền
đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính.
- Người nói: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào mục đích duy
nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao
giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm.
Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.
- Thước đo một Nhà nước vì dân là phải được lòng dân
“làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu”
“muốn được dân yêu, muốn được lòng dân. trước hết phải yêu dân, phải
đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”
- Trong Nhà nước vì dân, cán bộ vừa là đày tớ, nhưng đồng thời phải vừa là
người lãnh đạo của nhân dân
Là đầy tớ thì phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công vô
tư, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ.
Là người lãnh đạo thì phải có trí tuệ hơn người, minh mẫn, sáng suốt,
nhìn xa trông rộng, gần gũi Nhân dân, trọng dụng người tài.
⇒ Như vậy, để làm người thay mặt nhân dân phải gồm đủ cả đức và tài, phải vừa hiền lại vừa minh. 9
1.2.2. Nhà nước pháp quyền
1.2.2.1. Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Xây dựng một Nhà nước hợp pháp, hợp hiến
Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết là một nhà nước hợp hiến.
Vì vậy sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ
lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế
giới khai sinh nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính phủ lâm thời có địa
vị hợp pháp, tổng tuyển cử bầu ra quốc hội rồi từ đó lập chính phủ và các cơ quan nhà nước mới.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một trong sáu nhiệm vụ cấp
bách của Chính phủ là: “Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ. Tôi đề
nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.
Sau đó Người bắt tay xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức Tổng tuyển cử
với chế độ phổ thông đầu phiếu bầu Quốc Hội, thành lập uỷ ban dự thảo Hiến
pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 2/3/1946, Quốc hôi họp phiên đầu tiên và Chủ tịch Hồ Chí Minh
được Quốc hội nhất trí bầu làm chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Đây là
chính phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực
trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại.
Hoạt động quản lý nhà nước bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa
pháp luật vào cuộc sống
Nhà nước dân chủ Việt Nam không thể thiếu pháp luật. Pháp luật là bà đỡ
cho dân chủ. Mọi quyền dân chủ của người dân đều được thể chế hóa bằng Hiến
pháp và pháp luật; ngược lại hệ thống pháp luật phải đảm bảo cho quyền tự do,
dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng một nền pháp chế xã
hội chủ nghĩa bảo đảm được việc thực hiện quyền lực của nhân dân. 10
+ Từ năm 1919, Người khẳng định vai trò của pháp luật là: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”
+ Là người sáng lập nước Nhà nước dân chủ mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh
cũng là người có công lớn trong việc lập hiến và lập pháp.
Hồ Chí Minh hết sức chăm lo đưa pháp luật vao đời sống, tạo ra cơ chế
bảo đảm cho pháp luật được thi hành, cũng như cơ chế kiểm tra, giám sát việc
thi hành pháp luật trong các cơ quan nhà nước và trong nhân dân.
+ Để tuyên truyền, đưa pháp luật vào cuộc sống, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc
nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và sự
giác ngộ của nhân dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào công việc nhà
nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.
Hồ Chí Minh luôn luôn nêu gương trong việc khuyến khích người dân
phê bình, giám sát công việc của Chính phủ, Người yêu cầu các cán bộ phải
“làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của
mình, dám nói, dám làm”. Lúc dân biết và dám phê bình cán bộ, người lãnh đạo,
lúc đó dân đã biết nắm quyền dân chủ, tức là đã đến mức dân chủ hóa khá cao.
Hồ Chí Minh luôn luôn nêu gương trong việc khuyến khích nhân dân phê
bình, giám sát công việc của chính phủ, đồng thời nhắc nhở cán bộ các ngành,
các cấp phải gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, trước hết là các cán bộ
thuộc ngành tư pháp. Người viết: “Các bạn là những người phụ trách thi hành
pháp luật. lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí
công, vô tư cho nhân dân noi theo.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh mẽ, Bác Hồ cho rằng,
phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ viên chức
nhà nước có trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành
chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính chí công vô tư, một tiêu
chuẩn cơ bản của người cầm cân công lý.Yêu cầu của đội ngũ cán bộ phải có
đức và tài trong đó đức là gốc, đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý và có hiệu quả. Cụ thể là: 11
(1) Tuyệt đối trung thành với cách mạng.
(2) Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.
(3) Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
(4) Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám
chịu trách nhiệm, nhất là những tình huống khó khăn, “thắng không kiêu, bại không nản”.
5) Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn có ý thức và hành động vì
sự lớn mạnh, trong sạch của nhà nước.
Trong việc dùng cán bộ Hồ Chí Minh lưu ý rằng: cần phải tẩy sạch óc bè
phái. Người đã ký sắc lệnh số 76, ban hành quy chế công chức, chú trọng chế đọ
thi tuyển để bổ nhiệm vào các ngạch, bậc hành chính. Điều này thể hiện tầm
nhìn xa, tính chính quy, hiện đại, tinh thần công bằng, dân chủ của Hồ Chí Minh
trong việc xây dụng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Để đảm bảo công bằng và dân chủ trong tuyển dụng cán bộ nhà nước,
Người ký sắc lệnh ban hành Quy chế công chức. Công chức theo chế độ chức
nghiệp, vì vậy phải qua thi tuyển công chức để bổ nhiệm vào ngạch, bậc hành
chính. Nội dung thi tuyển khá toàn diện bao gồm 6 môn thi: chính trị, kinh tế,
pháp luật, địa lý, lịch sử và ngoại ngữ. Điều này thể hiện tầm nhìn xa, tính chính
quy hiện đại, tinh thần công bằng dân chủ … của tư tưởng Hồ Chí Minh trong
việc xây dựng nền móng cho pháp quyền Việt Nam.
Xuất phát từ nhận thức chỉ có trí tuệ và lòng dân mới có thể làm cho chính
quyền trở nên mạnh mẽ và sáng suốt, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải “thân
dân”, gần dân, trọng dân, không được lên mặt “quan cách mạng” với nhân dân,
lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.
1.2.2.2. Nhà nước thượng tôn pháp luật
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. 12
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chúng
ta học được nhiều điều trong một xã hội pháp quyền, nhưng trước hết cần học
tập tinh thần, phong cách thượng tôn pháp luật của Người. Vì nếu mỗi người
trong chúng ta đều thượng tôn pháp luật thì trật tự xã hội được đảm bảo, cuộc
sống sẽ tươi đẹp và góp phần tạo nên diện mạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng thượng tôn pháp luật của Hồ Chí Minh thể hiện trong quan
niệm về vai trò của pháp luật trong xã hội và các quyền tự do, dân chủ của công
dân. Khi vạch trần chế độ cai trị hà khắc, phi pháp quyền của Chính phủ Pháp ở
các nước thuộc địa, Người chỉ rõ: «Ở Đông Dương có hai thứ công lý. Một thứ
cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như ở
Pháp. Người An Nam thì không có hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư
người An Nam. Thường người ta xử án và tuyên án theo giấy tờ, vắng mặt bị
cáo. Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam với người Pháp thì lúc nào người
Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ăn cướp hay giết người». Khi sống và làm
việc tại Pháp, năm 1919 Người đại diện cho nhóm người Việt Nam yêu nước
gửi tới Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của nhân dân An Nam. Trong số các yêu
sách đó, đáng chú ý là yêu sách thứ bảy: Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế
độ ra các đạo luật. Điều đó cho thấy, Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc
quản lý xã hội bằng pháp luật và tinh thần thượng tôn pháp luật mà còn rất trú
trọng đến việc thực thi quyền của con người. Trong lời mở đầu của bản Tuyên
ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đồng thời, để tăng
thêm tính giá trị của lời khẳng định này, Người đã trích dẫn nội dung được ghi
nhận trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm
1971: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được
tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Bản Tuyên ngôn chỉ vỏn vẹn 49 câu với 1.010 chữ nhưng lại chứa đựng những 13
nội dung vô cùng to lớn, mang ý nghĩa sâu sắc. Bên cạnh sứ mệnh đưa dân tộc
Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã
hội, Bản Tuyên ngôn còn có giá trị tinh thần cách mạng và nhân văn cao cả. Tư
tưởng về quyền con người không chỉ dừng lại ở quyền sống, quyền bình đẳng,
quyền tư do và mưu cầu hạnh phúc, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bàn tới khía
cạnh quyền con người phải được pháp luật bảo vệ. Bác dùng cụm từ « Tất cả
mọi người… » có một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, vì cụm từ đó thể hiện quan
điểm rõ ràng là quyền con người không phân biệt giới tính, tôn giáo hay dân tộc.
Bên cạnh đó, tư tưởng thượng tôn pháp luật của Hồ Chí Minh còn thể
hiện trong quan điểm về nhà nước dân chủ là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp
và quản lý xã hội theo pháp luật. Nội dung tư tưởng này được đề cập ở các tác
phẩm của Người từ đầu thế kỷ XX và Nghị Quyết Hội nghị Trung ương Đảng
lần thứ VII (11/1940) về việc ban bố một bản Hiến pháp dân chủ. Do đó, ngay
sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, một trong 6 nhiệm vụ cơ bản của
Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
ra là tổ chức tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp dân chủ. Bốn tháng sau đó,
ngày 6 tháng giêng năm 1946, nước ta tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
chọn người tài, đức để gánh vác việc nước trong Quốc hội. Ngày 9/11/1946,
Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa (Hiến pháp năm 1946 mà Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn
thảo). Ngay trong Lời nói đầu của bản Hiến pháp này đã nêu lên ba nguyên tắc
cơ bản: a) Đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp,
tôn giáo; b) Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; c) Thực hiện chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân. Ba nguyên tắc này thể hiện rất rõ yêu cầu dân
chủ và tinh thần pháp quyền trong chế độ nhà nước và đặc biệt không có người bóc lột người.
Năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiến hành đấu tranh thống nhất đất nước.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu về một bản hiến pháp mới. Do đó, tại kỳ họp thứ 6,
Quốc hội khóa I (29/12/1956) đã quyết định thành lập Ban sửa đổi hiến pháp do 14
Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Đến ngày 1/4/1959, bản Dự thảo Hiến
pháp được công bố cho toàn dân thảo luận. Ngày 18/12/1959, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thuyết trình trước Quốc hội về bản Dự thảo Hiến pháp trên tinh thần
tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân và ngày 31/12/1959, Hiến pháp đã được
Quốc hội thông qua. Điều 6, Hiến pháp năm 1959 nêu rõ: Tất cả các nhân viên
cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo
Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Với tinh thần tối
thượng của Hiến pháp như vậy, tất cả cán bộ, nhân dân đều có nghĩa vụ tuân thủ
pháp luật, không một ai được đặt mình trên pháp luật hay ngoài pháp luật, mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật. Đây cũng chính là sự đảm bảo cao nhất về
mặt pháp luật của một nhà nước hợp pháp thể hiện trong tư tưởng lập hiến của
Hồ Chí Minh. Thông qua đó, quyền của công dân được bảo vệ và chủ quyền
quốc gia được đảm bảo.
Không chỉ coi trọng việc ban hành pháp luật, Hồ Chí Minh còn chăm lo
đến việc tuyên truyền pháp luật nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo điều kiện
cho pháp luật được thi hành trong các cơ quan nhà nước và nhân dân. Tại Hội
nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình ngày 10/10/1959,
Người nêu rõ: công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong mà còn
phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt. Như vậy, trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, không chỉ đề cao tinh thần pháp luật, vai trò của pháp luật
trong quản lý xã hội, mà còn coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật để
người quản lý bằng pháp luật và thực thi pháp luật thực hiện cho đúng.
Do đó, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ
học tập tinh thần coi trọng pháp luật trong cuộc sống và làm việc, mà còn học
tập Người cách dân vận để đưa pháp luật thực hành hiệu quả trong cuộc sống.
1.2.2.3. Pháp quyền nhân nghĩa
- Pháp quyền nhân nghĩa tức là Nhà nước phải tôn trọng, bảo đảm thực hiện đầy
đủ các quyền con người, chăm lo đến lợi ích của mọi người
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo nên tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa làm nền 15
tảng cho xây dựng và thực thi pháp luật dựa trên đạo lý, vì lợi ích của đất nước, của nhân dân.
- Trong pháp quyền nhân nghĩa, pháp luật có tính nhân văn, khuyến thiện. Tính
nhân văn thể hiện ở việc ghi nhận đầy đủ và bảo vệ quyền con người, tuyệt đối
chống đối xử với con người một cách dã man. Đặc biệt, hệ thống pháp luật có
tính khuyến thiện, bảo vệ cái đúng cái tốt, lấy giáo dục, cảm hóa, thức tỉnh con người làm căn bản.
1.2.3. Nhà nước trong sạch, vững mạnh
1.2.3.1. Kiểm soát quyền lực nhà nước
Kiểm soát quyền lực nhà nước là tất yếu.
Hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước:
Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam: việc
kiểm soát phải có hệ thống, người đi kiểm soát phải uy tín.
Kiểm soát quyền lực nhà nước dựa trên cách thức tổ chức bộ máy nhà
nước và việc phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước.
Nhân dân kiểm soát quyền lực Nhà nước.
1.2.3.2. Phòng chống tiêu cực trong nhà nước
a. Những tiêu cực cần đề phòng, khắc phục - Đặc quyền, đặc lợi
- Tham ô, lãng phí, quan liêu
- Tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo b. Nguyên nhân
- Chủ quan: bắt nguồn từ căn “bệnh mẹ” là chủ nghĩa cá nhân, từ sự thiếu tu
dưỡng, rèn luyện của bản thân cán bộ.
- Khách quan: do công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước chưa tốt; do cách tổ
chức, vận hành trong Đảng, trong Nhà nước, sự phối hợp giữa Đảng và Nhà
nước chưa thực sự khoa học, hiệu quả; do trình độ phát triển còn thấp của đời 16
sống xã hội; do tàn dư của những chính sách phản động của chế độ thực dân, phong kiến… c. Biện pháp
- Nâng cao trình độ dân chủ trong xã hội, thực hành dân chủ rộng rãi, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
- Pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh.
- Cần coi trọng giáo dục, lấy giáo dục, cảm hóa làm chủ yếu.
- Cán bộ phải đi trước làm gương, cán bộ giữ chức vụ càng cao, trách nhiệm nêu gương càng lớn.
- Phải phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước vào cuộc chiến chống lại tiêu
cực trong con người, trong xã hội và trong bộ máy Nhà nước. 17
PHẦN 2. LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng
2.1.1. Thành tựu
Một số nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân,
vì dân vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
2.1.1.1. Thực hiện nguyên tắc: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp; có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước
Nguyên tắc này trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là một trong những biện pháp quan trọng phòng
tránh sự lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước ta; nêu
cao tinh thần trách nhiệm và xác định được rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước,
góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước; đảm bảo chủ quyền luôn
luôn thống nhất thuộc về nhân dân.
2.1.1.2. Cải cách tư pháp, đảm bảo cho Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những đặc trưng cơ bản,
là yêu cầu, đòi hỏi không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Do vậy, để đạt được đó chúng ta cần và tiếp tục thực hiện tốt những nội dung sau đây:
Thứ nhất, về mặt tổ chức, hệ thống Tòa án ở nước ta cần được thiết kết, tổ chức
theo cấp xét xử, nhằm giảm bớt lãng phí về tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất, tạo
thuận lợi trong tổ chức xét xử, và quan trọng hơn cả là đảm bảo sự độc lập của Tòa án
với chính quyền địa phương.
Thứ hai, quyền tư pháp phải được tổ chức và hoạt động theo một thủ tục pháp
lý cụ thể, có khả năng bảo đảm cho việc đạt được kết quả pháp lý công bằng trong việc
xét xử và giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Thứ ba, các thẩm phán phải phải được bổ nhiệm suốt đời, hoặc chí ít là lâu dài hơn so với hiện nay. 18
Thứ tư, chế độ lương của thẩm phán phải được bảo đảm đủ nuôi họ và gia đình
một cách đàng hoàng, có như vậy họ mới vững tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Thứ năm, đề cao trách nhiệm, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người thẩm phán.
2.1.1.3. Xây dựng chất đạo đức của người cán bộ trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Những yêu cầu, đòi hỏi về phẩm chất đạo đức của người cán bộ trong điều kiện hiện nay đó là:
Một là, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước.
Hai là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết
đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật, không cơ hội, gắn bó mật thiết
với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
Ba là, có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe
để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. 2.1.1.4. Tổng kết:
Những nội dung vận dụng cơ bản như: thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong
tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước; cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng
một nền hành chính trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, xây dựng một nền tư
pháp độc lập, công tâm, khách quan và chỉ tuân theo pháp luật; xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức vừa hồng, vừa chuyên; về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong
quản lý nhà nước và xã hội; về thực hiện dân chủ trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền hiện nay. Đó là những nội dung cơ bản, quan trọng mà chúng ta đã và
đang thực hiện trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. 19