Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN
MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN HỒ CHÍ MINH
TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Giảng viên : Nguyễn Thị Lan Phương
Lớp học phần : 251_HCMIO111_40 Nhóm : 1 Hà Nội, 2025
DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ 1 Nguyễn Ngọc An 23D210048
Nội dung mục 2 chương II 2 Nguyễn Ngọc Hà An 23D210095
Nội dung mục 3,4 chương II
Nội dung mục 3 chương II Nguyễn Thái An 3 23D210142 Tổng hợp word (Nhóm trưởng) Làm slide 4 Đỗ Bùi Minh Anh 23D210143
Nội dung mục 1,2 chương II
Nội dung chương I, mục 4 5 Đỗ Việt Anh 23D210002 chương II 6 Lương Đức Anh 23D210190 Làm slide
Nội dung mục 1 chương II 7 Ngô Thị Mai Anh 23D210144 Thuyết trình 8 Nguyễn Thị Vân Anh 23D210145
Nội dung mục 5 chương II 9 Vũ Quang Anh 23D210051 Thuyết trình 10 Trần Thị Ngọc Ánh 23D210147
Nội dung mục 5 chương II
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 1
1. Thời gian: 21h00 ngày 6/9/2025
2. Hình thức họp: Trực tuyến qua Google meet
3. Sự tham gia: Các thành viên tham gia đủ (10/10 thành viên)
4. Nội dung cuộc họp:
- Nhóm cùng thảo luận và thống nhất đề cương chi tiết, xác định các nội dung chính cần triển khai.
- Tiến hành phân công nhiệm vụ.
+ Nội dung chính: Thái An, Hà An, Ngọc An, Minh Anh, Mai Anh, Đức Anh, Việt Anh,
Quang Anh, Vân Anh, Ngọc Ánh.
+ Soạn văn bản Word: Thái An
+ Thiết kế Slide: Đức Anh, Thái An
+ Thuyết trình: Mai Anh, Quang Anh Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên) An Nguyễn Thái An
MC LC
LI M ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. MỘT S VẤN ĐỀ LÝ THUYT ............................................................. 2
1. Khái niệm Tư tưởng H Chí Minh ........................................................................... 2
2. Các nhân t ảnh hưởng đến s hình thành Tư tưởng H Chí Minh .................... 3
2.1. Cơ sở thc tin ..................................................................................................... 3
2.2. Cơ sở lý lun ......................................................................................................... 4
2.3. Các nhân t ch quan H Chí Minh .................................................................. 6
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA NHÂN T CH QUAN H CHÍ MINH TRONG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRI
ỂN TƯ TƯỞNG H CHÍ MINH ....... 8
1. Thi k trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng tìm
đường cứu nước mi ...................................................................................................... 8
2. Thi k 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, gii phóng dân tc Vit
Nam theo con đường cách mng vô sn ..................................................................... 10
3. Thi k 1920 - 1930: Hình thành nhng nội dung cơ bản tư tưởng v cách mng
Vi
t Nam........................................................................................................................ 15
4. Thi k 1930 - 1941: Vượt qua th thách, gi vững đường lối, phương pháp
cách mng Việt Nam đúng đắn, sáng to ................................................................... 17
5. Thi k 1941 - 1969: Tư tưởng H Chí Minh tiếp tc phát triển, soi đường cho
s
nghip cách mng của Đảng và nhân dân ta ........................................................ 19
KT LUN ...................................................................................................................... 23
TÀI LIU THAM KHO ............................................................................................... 24
LI M ĐẦU
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người
tìm ra con đường cứu nước đúng đắn mà còn là người sáng lập nên một hệ thống tư tưởng
mang tầm vóc thời đại, đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không hình thành
một cách ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự kết hợp biện chứng giữa nhân tố khách quan
của hoàn cảnh lịch sử và nhân tố chủ quan từ chính con người Hồ Chí Minh. Trong đó,
những nhân tố chủ quan gồm các phẩm chất đạo đức, năng lực tư duy, bản lĩnh chính trị,
tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường… đã giữ vai trò quan trọng, giúp Người tiếp thu,
chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam.
Xuất phát từ ý nghĩa đó, nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Vai trò của nhân tố chủ
quan Hồ Chí Minh trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh” với
mong muốn làm rõ quá trình rèn luyện, tích lũy và phát triển tư tưởng của Người; đồng
thời khẳng định rằng chính nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh với cốt lõi là trí tuệ, đạo đức và
khát vọng vì dân, vì nước, đã tạo nên một Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã soi sáng con đường
giải phóng dân tộc Việt Nam và để lại di sản tư tưởng vô giá cho các thế hệ mai sau. 1
CHƯƠNG 1. MỘT S VẤN ĐỀ LÝ THUYT
1. Khái niệm Tư tưởng H Chí Minh
Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ
những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) đánh dấu một cột mốc quan
trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đã khẳng định: Đảng
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động. Văn kiện của Đại hội định nghĩa: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong
thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc".
Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc và đạt được những kết quả quan trọng.
Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết phục để Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng (1/2011) xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội
hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm
toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. kết quả của sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi
soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi!".
Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:
Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh: Đó
là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam;tư tưởng Hồ Chí
Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của
Đảng và dân tộc Việt Nam. 2
Hai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí minh: Chủ nghĩa Mác-
Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là
tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta giành thắng lợi.
2. Các nhân t ảnh hưởng đến s hình thành Tư tưởng H Chí Minh
2.1. Cơ sở thc tin
a) Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Năm 1858, Pháp xâm lược Việt Nam, triều đình Nguyễn đầu hàng, trở thành tay sai.
Từ đó đến cuối thế kỷ XIX, nhiều phong trào khởi nghĩa bùng nổ khắp ba miền (Trương
Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám...), song đều thất bại, cho thấy tư tưởng phong
kiến lỗi thời. Sau khi bình định, Pháp khai thác thuộc địa, biến Việt Nam thành “thuộc địa
nửa phong kiến”, duy trì kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đồng thời hình thành giai cấp mới:
công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Mâu thuẫn dân tộc với thực dân Pháp ngày càng gay gắt.
Đầu thế kỷ XX, xuất hiện các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư
sản (Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, chống sưu thuế...) nhưng đều thất bại do
tư sản non yếu, thiếu đường lối đúng đắn. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước trở
nên sâu sắc. Trong bối cảnh đó, giai cấp công nhân phát triển, kiên cường đấu tranh chống
áp bức, tạo điều kiện để chủ nghĩa Mác – Lênin truyền bá vào Việt Nam. Hồ Chí Minh
truyền bá học thuyết này, chuẩn bị về lý luận, tư tưởng, tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản
Việt Nam, chấm dứt khủng hoảng đường lối. Từ đây, Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng
Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng CNXH, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh toàn diện.
b) Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX – đầu XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc, áp bức
các dân tộc thuộc địa, làm gay gắt mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa đế quốc và thuộc
địa. Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, mở ra thời đại quá độ từ tư bản lên xã
hội chủ nghĩa, chỉ ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức. Quốc tế Cộng sản
(1919) ra đời, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, thúc đẩy phong trào cộng sản và giải 3
phóng dân tộc. Những biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước.
2.2. Cơ sở lý lun
a) Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt của dân tộc Việt Nam, là động lực giúp dân tộc
tồn tại, phát triển và cũng là nền tảng tư tưởng thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu
nước, để rồi tìm thấy con đường giải phóng trong chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh kế
thừa và phát triển tinh thần đấu tranh bất khuất vì độc lập, tự do, thể hiện rõ trong Tuyên
ngôn Độc lập và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người coi con người là
vốn quý nhất, dân là gốc của nước, nhấn mạnh đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc
tế. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn với yêu dân, đoàn kết, nhân ái,
khoan dung, cần cù, dũng cảm, sáng tạo. Người cũng trân trọng truyền thống văn hóa dân
tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại để xây dựng nền văn hóa mới. Hồ Chí Minh trở
thành biểu tượng tiêu biểu của sự kết tinh tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây.
b) Tinh hoa văn hóa nhân loại
- Tính hoa văn hóa phương Đông:
Tinh hoa văn hóa, tư tưởng phương Đông kết tinh trong ba học thuyết lớn Nho giáo,
Phật giáo, Lão giáo. Đó là những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Đông và ở Việt Nam trước đây.
Về Nho giáo, Hồ Chí Minh kế thừa mặt tích cực như nhân trị, đức trị, trọng đạo đức,
xây dựng xã hội công bằng, bác ái, nhân nghĩa; phát triển vào tu dưỡng đạo đức cá nhân,
xây dựng Đảng về đạo đức.
Đối với Phật giáo, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu
thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng
của con người và chân lý; khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước của đạo
Phật. Những quan điểm tích cực đó trong triết lý của đạo Phật được Hồ Chí Minh vận dụng
sáng tạo để đoàn kết đồng bào theo đạo Phật, đoàn kết toàn dân vì nước Việt Nam hòa
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. 4
Đối với Lão giáo (hoặc Đạo giáo), Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng
của Lão Tử, khuyên con người nên sống gắn bó với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên,
hơn nữa phải biết bảo vệ môi trường sống. Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta trồng cây, tổ
chức "Tết trồng cây" để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người.
Hồ Chí Minh chú ý kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi trong Lão giáo.
Hồ Chí Minh còn kế thừa, phát triển nhiều ý tưởng của các trường phái khác nhau
trong các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại như Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Quản Tử, v.v.. Đồng
thời, Hồ Chí Minh cũng chú ý tìm hiểu những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở
Ấn Độ, Trung Quốc như chủ nghĩa Găngđi, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Hồ
Chí Minh đã phát triển sáng tạo các quan điểm về dân tộc, dân quyền, dân sinh của Tôn
Trung Sơn trong cách mạng dân chủ tư sản thành tư tưởng đấu tranh cho Độc lập - Tự do
- Hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản. Là nhà
Mácxít sáng tạo, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những tinh hoa trong tư tưởng, văn hóa phương Đ
ông để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng V iệt Nam thời hiện đại.
- Tinh hoa văn hóa phương Tây:
Ngay từ khi còn học ở Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh (năm 1905),
Hồ Chí Minh đã quan tâm tới khẩu hiệu nổi tiếng của Đại Cách mạng Pháp năm 1789: Tự
do - Bình đẳng - Bác ái. Đi sang phương Tây, Người quan tâm tìm hiểu những khẩu hiệu
nổi tiếng đó trong các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Pháp, Mỹ. Người đã kế thừa, phát
triển những quan điểm nhân quyền, dân quyền trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776
của Mỹ, bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Pháp và đề xuất quan
điểm về quyền mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc của các dân tộc.
Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh đã sống, hoạt động
thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa nhân loại tại những trung
tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn ở các cường quốc trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Nga,
Trung Quốc, v.v bằng chính ngôn ngữ của các nước đó. Người trực tiếp nghiên cứu tư
tưởng nhân văn, dân chủ và nhà nước pháp quyền của các nhà khai sáng phương Tây như 5
Vonte, Rútxô, Môngtétxkiơ, tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, v.v.; thích
đọc sách văn học của William Shakespeare bằng tiếng Anh, Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Hoa,
Hugo, Zola bằng tiếng Pháp; hai nhà văn Anatole France và Léon Tolstoi "có thể nói là
những người đỡ đầu văn học" cho Hồ Chí Minh.
c) Chủ nghĩa Mác - Lênin
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và chủ nghĩa Mác – Lênin đã mở ra bước
ngoặt quyết định trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp Người vượt lên những sĩ phu yêu nước
cùng thời. Ngay từ cuối thập niên 1920, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa chân chính
nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Với thế giới quan và phương
pháp luận Mác – Lênin, Người giải quyết thành công khủng hoảng đường lối cứu nước,
kết hợp tinh hoa dân tộc và nhân loại để hình thành hệ thống tư tưởng toàn diện về cách
mạng Việt Nam. Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh trở thành một nhà cách
mạng cộng sản có tầm vóc trí tuệ lớn. Người trân trọng giá trị tốt đẹp của Khổng Tử, Giêsu,
Mác, Tôn Dật Tiên… và coi mình là “học trò nhỏ” của họ, vì tất cả đều chung khát vọng
mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Hồ Chí Minh khẳng định thắng lợi cách mạng Việt Nam
có được “trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác – Lênin”.
Không chỉ vận dụng sáng tạo, Người còn phát triển, làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin
trong các vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH, Đảng, Nhà
nước, văn hóa, con người và đạo đức.
2.3. Các nhân t ch quan H Chí Minh
a) Phẩm chất Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh có lý tưởng cao cả cứu dân, cứu nước, dám ra đi tìm đường cứu nước
với hai bàn tay trắng. Người từng làm nhiều nghề, biết nhiều ngoại ngữ, tự học hỏi, kết hợp
tri thức Đông – Tây để vận dụng vào cách mạng. Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, sáng tạo,
biết vận dụng quy luật cách mạng thế giới vào hoàn cảnh Việt Nam, đề ra đường lối đúng
đắn và tổ chức thực hiện thành công. Với tầm nhìn chiến lược, năng lực tổng kết thực tiễn
và dự báo chính xác, Người đã đưa cách mạng Việt Nam hòa vào dòng chảy cách mạng
thế giới. Suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định
thành công của cách mạng Việt Nam và có đóng góp to lớn cho nhân loại. 6
b) Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận
Hồ Chí Minh có vốn sống và thực tiễn cách mạng phong phú, từng học tập, hoạt
động ở gần 30 nước. Người hiểu sâu sắc bản chất và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc, thực
dân cũng như tình cảnh các dân tộc thuộc địa qua trải nghiệm trực tiếp. Hồ Chí Minh am
hiểu phong trào giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH, xây dựng Đảng Cộng sản qua nghiên
cứu lý luận và thực tiễn quốc tế. Là nhà tổ chức vĩ đại, Người hiện thực hóa tư tưởng cách
mạng, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam, đồng thời sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất, Quân đội nhân dân và Nhà nước
kiểu mới ở Việt Nam. Chính vốn sống, phẩm chất và hoạt động thực tiễn đa dạng đã hình
thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh. 7
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA NHÂN T CH QUAN H CHÍ MINH TRONG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIN TƯ TƯỞNG H CHÍ MINH
1. Thi k trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng tìm đường
cứu nước mi
Trước năm 1911, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa là một khối lý luận hoàn chỉnh nhưng
có thể thấy nhân tố chủ quan của Người đã bộc lộ thành những nét hành động và nhận thức
rất cụ thể. Những nét ấy vừa là nguồn gốc vừa là động lực thúc đẩy quá trình hình thành tư
tưởng sau này. Sinh ra cuối thế kỷ XIX, trong bối cảnh đất nước chìm trong ách thống trị
thực dân và những phong trào yêu nước lần lượt nổ ra rồi thất bại, cậu bé Nguyễn Tất
Thành sớm nuôi dưỡng trong mình một tình cảm dân tộc thiết tha. Quê hương Nghệ An -
nơi truyền thống hiếu học và ý chí đấu tranh luôn hòa quyện đã gieo vào tâm hồn Người
nỗi day dứt trước cảnh lầm than, đồng thời hun đúc tình yêu thương nhân dân sâu nặng.
Trong gia đình, thân phụ (Cụ Nguyễn Sinh Sắc) là một nhà Nho chính trực, từng từ quan
để giữ trọn khí tiết, thân mẫu (Cụ Hoàng Thị Lan) là người phụ nữ nhân hậu, giàu đức hy
sinh, cùng với những người anh chị luôn sống kiên cường vì nghĩa lớn, tất cả đã trở thành
những tấm gương sống động. Nhưng quan trọng hơn ở Nguyễn Tất Thành những tác động
ấy không dừng lại ở sự tiếp nhận thụ động chúng được chuyển hóa thành lòng tự trọng, ý
thức trách nhiệm và khát vọng dấn thân. Chính trong môi trường ấy, nhân tố chủ quan về
tình yêu nước, lòng thương dân và sự nhạy cảm với nỗi đau thời cuộc đã sớm hình thành
và trở thành hạt nhân bền vững trong nhân cách Người. Từ đó hun đúc nên một Hồ Chí
Minh có tư duy sâu sắc, tình yêu nước nồng nàn và chí hướng cách mạnh mẽ cộng thêm
việc thực trạng xã hội thực dân Pháp đô hộ, chứng kiến cảnh dân nghèo lầm than, bóc lột
và áp bức, điều này kích thích trong Người thương đồng bào và quyết tâm nghiên cứu nước hơn bao giờ hết.
Những năm thiếu thời ở Huế, nơi tiếp xúc với giá trị văn hóa dân Nho giáo và chứng
kiến cảnh triều đình phong kiến đang dần suy tàn. Nguyễn Tất Thành không chỉ học chữ
nghĩa mà còn quan sát và lặng lẽ phán đoán về vận mệnh dân tộc. Thấy được cảnh quan lại
hèn nhát, vua quan bạc nhược trong khi nhân dân liên tiếp vùng dậy trong phong trào Cần
Vương nhưng rồi thất bại, Người sớm hình thành tư duy phê phán và khả năng suy nghĩ 8
độc lập. Đó là lúc nhân tố chủ quan về bản lĩnh và trí tuệ bắt đầu lộ diện, người thanh niên
ấy không chấp nhận rập khuôn theo con đường dựa vào triều đình đã lỗi thời, mà âm thầm
tìm kiếm một hướng đi khác. Chính bối cảnh ấy rèn cho Nguyễn Tất Thành phẩm chất tự
chủ, dám khác biệt, một phẩm chất sẽ theo suốt hành trình tìm đường cứu nước.
Đầu thế kỷ XX, khi phong trào Đông Du rộ lên dưới sự dẫn dắt của Phan Bội Châu,
cùng với phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, nhiều thanh niên say mê theo đuổi,
nhưng Nguyễn Tất Thành lại tỏ rõ thái độ thận trọng. Người nhìn thấy trong Đông Du sự
phụ thuộc vào ngoại bang, còn trong Duy Tân sự cải lương nửa vời. Ở đây, nhân tố chủ
quan biểu hiện ở năng lực so sánh, phân tích và phê phán sắc bén, Người biết trân trọng
lòng yêu nước song không cho phép mình đi theo những con đường chưa triệt để. Tư duy
sáng tạo và khát vọng tìm ra con đường đúng đắn được hình thành trong chính sự va đập
với những hạn chế của thời đại.
Đến khi rời Huế vào Sài Gòn, Người được tiếp xúc với không gian đô thị sôi động,
học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, tiếp cận báo chí, sách vở và tư tưởng dân chủ tư sản phương
Tây, Nguyễn Tất Thành lại một lần nữa cho thấy bản lĩnh khác biệt. Nhiều thanh niên đắm
chìm trong hào quang của “tự do, bình đẳng, bác ái”, nhưng Người không dừng ở chỗ say
mê mà chủ động học hỏi, phân tích và giữ thái độ tỉnh táo. Người nhận ra rằng phương Tây
có tiến bộ nhưng không thể là cứu cánh duy nhất cho dân tộc Việt Nam. Nhân tố chủ quan
ở đây thể hiện qua trí tuệ nhạy bén, tinh thần hiếu học bền bỉ và khả năng tiếp thu có chọn
lọc, biết gạn lọc tinh hoa mà không hòa tan bản sắc dân tộc. Chính sức mạnh nội tâm này
đã khiến Người không chỉ dừng lại ở việc đồng cảm hay phê phán mà dần hình thành bản
lĩnh riêng, củng cố lập trường dân tộc của mình hướng đến một hành trình lớn lao hơn.
Tất cả những trải nghiệm từ ký ức tuổi thơ gắn với nỗi đau dân tộc đến sự quan sát
thấu suốt ở Huế, thái độ phê phán trước các phong trào cứu nước và sự chọn lọc tỉnh táo
trước ảnh hưởng phương Tây ở Sài Gòn đã làm thành một quá trình liên tục nuôi dưỡng và
bộc lộ nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh. Đó là quá trình tích lũy chất liệu nội tâm, nơi lòng
yêu nước, tư duy độc lập, tinh thần hiếu học và ý chí sáng tạo được rèn luyện, thử thách và
ngày một vững chắc. Chính vì vậy, năm 1911 Người quyết định ra đi tìm đường cứu nước,
đó không phải là hành động bột phát của một chàng trai trẻ, mà là kết quả tất yếu của một 9
nhân tố chủ quan đã chín muồi, sẵn sàng biến khát vọng thành hành động, mở đầu cho hành
trình tìm con đường cách mạng giải phóng dân tộc.
Có thể thấy trong toàn bộ giai đoạn trước những năm 1911, vai trò của nhân tố chủ
quan Hồ Chí Minh chính là cầu nối và bộ lọc tư tưởng, biến ảnh hưởng khách quan từ gia
đình, quê hương, xã hội và thời đại thành nội lực tinh thần và trí tuệ riêng. Nhờ nhân tố chủ
quan, Người không bị hòa tan vào một phong trào hay tư tưởng nhất thời, mà từng bước
rèn luyện phẩm chất yêu nước, hiếu học, tư duy độc lập và óc phê phán sáng tạo. Nói cách
khác, nhân tố chủ quan giữ vai trò quyết định trong việc “chưng cất” những tác động khách
quan thành động lực nội tâm, tạo nền móng tư tưởng cho bước chuyển lớn lao sau này.
2. Thi k 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, gii phóng dân tc Vit Nam
theo con đường cách mng vô sn
Giai đoạn 1911 – 1920 là một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định trong tiến trình phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Người ra đi tìm đường
cứu nước với khát vọng giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, phong kiến. Trong suốt 10
năm bôn ba khắp năm châu, Hồ Chí Minh vừa lao động kiếm sống, vừa quan sát, học hỏi,
khảo nghiệm các học thuyết và mô hình cách mạng khác nhau. Người đã tham gia phong
trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước, trực tiếp tiếp xúc với thực
tiễn áp bức thuộc địa cũng như tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp vô sản. Đặc biệt,
sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và việc Hồ Chí Minh tiếp nhận Luận cương
của Lênin (1920) đã tạo bước chuyển biến căn bản trong tư duy, đưa Người từ chủ nghĩa
yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính trong giai đoạn này, những phẩm chất, tài
năng và bản lĩnh cách mạng của Hồ Chí Minh được bộc lộ rõ rệt, trở thành những nhân tố
chủ quan quan trọng để hình thành nên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.
Giai đoạn 1911–1917, nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh giữ vai trò quan trọng
trong việc hình thành tư tưởng cứu nước theo con đường cách mạng vô sản, kết hợp với
bối cảnh lịch sử, đã đưa Người từ một thanh niên yêu nước trở thành một chiến sĩ cách
mạng quốc tế. Người có lý tưởng cao cả, hoài bão lớn lao cứu dân, cứu nước, giải phóng
đồng bào khỏi ách nô lệ. Lý tưởng ấy không phải chung chung, mà được thể hiện bằng
quyết định lịch sử năm 1911: Người ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng. Hành 10
động ấy cho thấy ý chí, nghị lực phi thường, dám rời bỏ quê hương, vượt qua muôn vàn
gian khổ để tìm con đường mới cho dân tộc. Thời gian này Hồ Chí Minh làm nhiều nghề
để sinh sống, đồng thời học hỏi không ngừng, rèn luyện nghị lực và bản lĩnh cách mạng.
Đây là minh chứng rõ ràng cho phẩm chất kiên định, không lùi bước trước khó khăn.
Ở Hồ Chí Minh còn có những phẩm chất, tài năng như lĩnh tư duy độc lập, tự chủ,
sáng tạo và giàu tính phê phán, chính vì thế mà Người không chấp nhận rập khuôn theo
các con đường cứu nước thất bại trước đó. Khi chứng kiến sự bất lực của các phong trào
Đông Du hay cải cách ôn hòa, Người nhận ra rằng các con đường ấy không giải quyết tận
gốc vấn đề dân tộc. Nhờ tư duy phê phán, Hồ Chí Minh dám khẳng định: muốn giải phóng
dân tộc phải tìm con đường mới, phải học hỏi từ phong trào công nhân và những tư tưởng
tiến bộ của thời đại. Điều này lý giải vì sao Người đã quyết định đi sang phương Tây, thay
vì đi theo lối cũ sang Nhật Bản hay Trung Quốc. Tư duy độc lập, giàu tính phê phán này
là yếu tố cốt lõi mở ra sự khác biệt của Hồ Chí Minh so với các bậc tiền bối, giúp Người
xác định đúng bản chất, thủ đoạn, tội ác của chủ nghĩa thực dân và tình cảnh nhân dân các nước thuộc địa.
Ngay trong những năm bôn ba khắp năm châu, Hồ Chí Minh không chỉ quan sát
tình cảnh nhân dân thuộc địa mà còn so sánh, phân tích sự khác nhau giữa các nước tư bản,
thực dân và các dân tộc bị áp bức. Từ đó Người rút ra một tầm nhìn vượt khỏi biên giới
quốc gia: cách mạng Việt Nam phải gắn liền với cách mạng thế giới, dân tộc muốn độc lập
thì phải gắn bó với phong trào công nhân quốc tế. Đây là sự khởi đầu cho tư duy chiến lược
xuyên suốt cuộc đời cách mạng của Người: giải phóng dân tộc không thể tách rời khỏi giải
phóng giai cấp và sự nghiệp cách mạng vô sản.
Và nhân cách đặc biệt ở Hồ Chí Minh đó chính là tinh thần tận trung với nước, tận
hiếu với dân, một phẩm chất xuyên suốt cả cuộc đời cách mạng của Người. Ngay từ thuở
niên thiếu, Người đã xác định rõ mục tiêu duy nhất và cao cả: tìm con đường cứu nước,
giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ. Đến những năm bôn ba ở phương Tây, dù phải tự lao
động để kiếm sống trong điều kiện khắc nghiệt, Hồ Chí Minh vẫn không ngừng dấn thân
vào hoạt động chính trị: viết báo, gửi kiến nghị, tham gia biểu tình và các phong trào đấu
tranh của công nhân, nhân dân lao động. Từng việc làm ấy đều chứng tỏ Người không bao 11
giờ quên trách nhiệm với đồng bào, luôn biến tình yêu nước nồng nàn thành những hành
động cụ thể, thiết thực, kiên trì, qua đó nuôi dưỡng và phát triển hoài bão giải phóng dân tộc.
Một nhân tố khác không thể bỏ qua là tài năng hoạt động, khả năng tổng kết thực
tiễn và phát triển lý luận. Từ 1911 đến 1917, Hồ Chí Minh không chỉ đi nhiều nước mà còn
trực tiếp quan sát đời sống, tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân ở Pháp, Anh,
Mỹ, và nhiều nơi khác. Người ghi chép, học hỏi, rồi rút ra kết luận: nhân dân lao động trên
khắp thế giới đều bị áp bức, và kẻ thù chung của họ là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đây là
bước tổng kết thực tiễn đầu tiên, hình thành những nhận định khoa học về bản chất của kẻ
thù và mối liên hệ giữa cách mạng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình hoạt động cụ thể, Hồ Chí Minh sớm thể hiện năng lực lý luận sắc
bén qua việc viết báo và tham gia các diễn đàn chính trị. Tiêu biểu, những bài viết của
Người trên báo Người Cùng Khổ sau này thực chất bắt nguồn từ giai đoạn đầu Người quan
sát, ghi nhận đời sống lao động khổ cực của nhân dân thuộc địa và kết hợp với trải nghiệm
trực tiếp trong phong trào công nhân. Việc tích cực tham gia phong trào công nhân Pháp
đã giúp Hồ Chí Minh củng cố niềm tin vững chắc rằng chỉ có giai cấp công nhân mới là
lực lượng lãnh đạo cách mạng triệt để. Trong khoảng thời gian từ 1911 đến 1917, chính
nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh – gồm phẩm chất kiên định, tư duy độc lập, tầm nhìn
chiến lược, tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân, cùng tài năng hoạt động và khả
năng tổng kết thực tiễn – đã đóng vai trò quyết định, giúp Người vượt lên những hạn chế
của các phong trào yêu nước đương thời, từng bước tiến gần đến chủ nghĩa Mác – Lênin.
Đây chính là giai đoạn Hồ Chí Minh tích lũy hành trang tinh thần, trí tuệ và thực tiễn, chuẩn
bị cho bước ngoặt lớn năm 1920: lựa chọn con đường cách mạng vô sản.
Chính trên nền tảng phẩm chất và bản lĩnh ấy, giai đoạn 1919–1920 trở thành bước
ngoặt đặc biệt quan trọng trong hành trình tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu trước đó, Người
mới dừng ở khát vọng giải phóng dân tộc và quá trình tích lũy kinh nghiệm thì nay chính
nhân tố chủ quan đã phát huy trọn vẹn sức mạnh để biến khát vọng thành niềm tin và hành
động cụ thể. Có thể nói đây là thời kỳ Người chuyển từ một nhà yêu nước với khát vọng
giành độc lập cho dân tộc trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế, tìm thấy con đường cứu 12
nước đúng đắn cho nhân dân Việt Nam. Nếu các yếu tố khách quan như bối cảnh lịch sử,
phong trào cách mạng thế giới và sự ra đời của chủ nghĩa Mác-Lênin là điều kiện tất yếu
thì chính nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh đã giữ vai trò quyết định, biến những điều kiện
khách quan ấy thành tư tưởng, niềm tin và hành động cách mạng cụ thể.
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị
Versailles đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu cho dân tộc Việt Nam. Hành động này phản
ánh rõ nét lòng yêu nước thương dân nồng nàn, tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh dân
tộc. Không chỉ dừng lại ở khát vọng đó, nhờ vốn hiểu biết ngôn ngữ và khả năng tự học,
Người có thể tiếp cận diễn đàn quốc tế và trình bày yêu cầu của dân tộc bằng hình thức
ngoại giao chính trị hiện đại. Tuy bản yêu sách không được chấp nhận, nhưng chính thất
bại ấy qua sự tỉnh táo và tư duy phản biện sắc sảo đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra một
bài học lớn rằng các cường quốc tư sản sẽ không trao độc lập cho các dân tộc thuộc địa và
con đường cứu nước không thể trông chờ vào sự ban phát của kẻ thù. Nhân tố chủ quan ở
đây đóng vai trò như một “bộ lọc” nhận thức, giúp Người biến thất bại khách quan thành
động lực tìm kiếm con đường mới.
Đến tháng 7/1920, khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy đáp án cho khát vọng bấy
lâu độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội và chỉ có con đường cách mạng vô
sản mới có thể giải phóng các dân tộc thuộc địa. Để có thể tiếp thu luận cương ấy, Hồ Chí
Minh không chỉ nhờ vào vốn ngoại ngữ và tri thức rộng mà còn dựa vào kinh nghiệm thực
tiễn phong phú đã tích lũy qua nhiều năm bôn ba, đặc biệt là trải nghiệm trong phong trào
công nhân Pháp. Chính sự kết hợp giữa lý luận của Lênin với thực tiễn áp bức ở Việt Nam
và thuộc địa đã giúp Người khẳng định đây là con đường đúng đắn cho dân tộc mình. Một
lần nữa, nhân tố chủ quan thể hiện vai trò quyết định đó là khả năng tổng kết thực tiễn, tư
duy so sánh phản biện và sự sáng tạo trong tiếp thu lý luận mới.
Cuối năm 1920 tại Đại hội Tours, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập
Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Quyết định này đánh dấu
bước chuyển biến từ nhận thức sang hành động, từ một trí thức yêu nước thành một chiến
sĩ cộng sản quốc tế. Nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh lúc này không chỉ là niềm tin lý 13
tưởng mà còn là bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức, khả năng hòa nhập phong trào quốc
tế và đặc biệt là tinh thần dấn thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người không chỉ tiếp
nhận chủ nghĩa Mác-Lênin như một học thuyết, mà còn bắt đầu suy nghĩ cách vận dụng nó
vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và các dân tộc thuộc địa.
Có thể khẳng định rằng trong các dấu mốc 1919-1920, nhân tố chủ quan Hồ Chí
Minh chính là yếu tố then chốt quyết định biến những điều kiện khách quan thành tư tưởng
và hành động cách mạng. Nếu không có lòng yêu nước thương dân sâu nặng, trí tuệ sắc
bén, tinh thần độc lập, bản lĩnh kiên định và khả năng tổng kết thực tiễn của Người thì
“Bản yêu sách” 1919 chỉ dừng lại ở một văn bản ngoại giao vô vọng, “Luận cương của
Lênin” chỉ là một văn bản lý luận xa lạ, còn Quốc tế Cộng sản chỉ là một phong trào quốc
tế ngoài tầm với. Đó là động lực thôi thúc, là trí tuệ soi đường và là sức mạnh tổ chức biến
nhận thức thành hành động. Chính nhân tố chủ quan đã giúp Hồ Chí Minh chọn lọc, tiếp
thu và chuyển hóa tất cả thành niềm tin, tư tưởng và bước khởi đầu con đường cách mạng
vô sản ở Việt Nam. Nhờ đó, từ một thanh niên yêu nước, Hồ Chí Minh đã trở thành một
chiến sĩ cộng sản quốc tế, đặt nền móng cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn
đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.
Như vậy, trong suốt chặng đường từ 1911 đến 1920 các nhân tố chủ quan của Hồ
Chí Minh từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, đến bản
lĩnh trí tuệ sắc sảo và khả năng sáng tạo luôn giữ vai trò then chốt, quyết định việc biến
những tác động khách quan thành nội lực tư tưởng. Chính chúng đã giúp Người không gục
ngã trước thất bại, không rập khuôn theo lối mòn mà dám tìm tòi, lựa chọn con đường mới
cho dân tộc. Nhờ đó đến năm 1920 Hồ Chí Minh đã vươn lên thành một chiến sĩ cộng sản
quốc tế, tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định con đường giải phóng
dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp. Vai trò của nhân tố chủ quan ở đây là yếu tố quyết
định bởi nếu thiếu sự độc lập, sự sáng tạo và bản lĩnh kiên định của Người thì những điều
kiện khách quan của thời đại khó có thể chuyển hóa thành bước ngoặt lịch sử trong tư tưởng Hồ Chí Minh. 14
3. Thi k 1920 - 1930: Hình thành nhng nội dung cơ bản tư tưởng v cách mng Vit Nam
Giai đoạn 1920 - 1930 là giai đoạn hình thành những nội dung cơ bản về tư tưởng
cách mạng Việt Nam. Trong những năm này, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực hoạt động trong
phong trào cộng sản quốc tế, tham gia nhiều hoạt động của Đảng Cộng sản Pháp và Quốc
tế Cộng sản. Song song đó, Người đã sáng lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên,
đào tạo cán bộ và truyền bá tư tưởng cách mạng. Đỉnh cao của quá trình này là sự ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 với cương lĩnh chính trị đúng đắn, xác định
rõ mục tiêu, đường lối và lực lượng cách mạng. Cương lĩnh này thể hiện sự vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam, mở ra một giai đoạn mới cho cách mạng
Việt Nam. Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước,
đặt nền tảng cho những thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
Trong khoảng thời gian này với lòng yêu nước nồng nàn và ý chí kiên định giải
phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã sớm lên tiếng tố cáo chế độ thực dân trên diễn đàn báo
chí Pháp qua nhiều bài báo quan trọng như “Vấn đề dân bản xứ” (8/1919), “Ở Đông
Dương” (1920) đăng trên báo L’Humanité…, góp phần làm thức tỉnh nhân dân Pháp về tội
ác của thực dân và khẳng định quyền tự do của các dân tộc thuộc địa. Đến năm 1921, Người
tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa tại Paris, tích cực tuyên truyền tinh thần đoàn
kết các dân tộc bị áp bức, khẳng định quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức. Trong quá
trình hoạt động thực tiễn phong phú từ Pháp, Liên Xô đến Trung Quốc và Đông Nam Á,
Người vừa trực tiếp tham gia phong trào công nhân, cộng sản, vừa gắn bó với phong trào
giải phóng dân tộc thuộc địa, qua đó rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tầm nhìn toàn
cầu và khả năng gắn kết cách mạng Việt Nam với vận mệnh chung của nhân loại tiến bộ.
Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã tích lũy cho mình vốn sống thực tiễn cách mạng dày dạn, phong
phú trong nhiều môi trường chính trị – xã hội khác nhau, từ phương Tây đến phương Đông.
Không chỉ vậy bằng trí tuệ sắc sảo, óc nghiên cứu và tư duy độc lập, sáng tạo,
Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận ra vấn đề cốt lõi của cách mạng thuộc địa. Người thấu hiểu
về phong trào giải phóng dân tộc rằng mâu thuẫn chủ yếu ở các nước thuộc địa phương
Đông không phải trước hết là mâu thuẫn giai cấp như ở phương Tây, mà nổi bật hơn cả là 15
mâu thuẫn dân tộc giữa toàn thể nhân dân với chủ nghĩa đế quốc. Bởi vậy, con đường giải
phóng dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, làm tiền đề để đi đến giải phóng giai cấp và tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Người cũng thấu hiểu tính tất yếu của việc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, về xây dựng một chính đảng kiểu mới, đó là Đảng Cộng sản, với vai trò làm
lực lượng lãnh đạo cách mạng, kế thừa lý luận Mác – Lênin nhưng phải biết vận dụng sáng
tạo vào hoàn cảnh Việt Nam. Nhờ đó, Nguyễn Ái Quốc đã định hình rõ ràng: cách mạng
Việt Nam phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa phong trào trong nước và phong trào cách mạng thế giới.
Với tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, khả năng biến lý luận thành thực tiễn,
năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên, mở nhiều lớp huấn luyện chính trị để đào tạo một đội ngũ cán bộ nòng cốt như Trần
Phú, Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Đây là bước đi có tính chất
quyết định trong việc đưa chủ nghĩa Mác – Lênin thâm nhập vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nước ở Việt Nam. Cũng từ hoạt động giảng dạy ấy, tác phẩm “Đường Kách
mệnh” (1927) ra đời, đây một cẩm nang cách mạng đầu tiên, tập hợp các bài giảng của
Người, vừa truyền bá lý luận cách mạng, vừa định hướng phương pháp tổ chức phong trào.
Quan trọng hơn, Hồ Chí Minh đã sáng tạo trong việc vận dụng lý luận “công nông là gốc
của cách mệnh” vào thực tiễn Việt Nam, đồng thời mở rộng lực lượng cách mạng theo tinh
thần “sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”. Nhờ vậy, khái niệm liên
minh công – nông được Người nâng lên thành một chiến lược đại đoàn kết dân tộc toàn
diện, tạo cơ sở cho cách mạng Việt Nam phát triển vững chắc về sau.
Trong giai đoạn 1920–1930, phẩm chất tận trung với nước, tận hiếu với dân của
Người được thể hiện qua những hoạt động sôi nổi và mang tính quyết định đối với cách
mạng Việt Nam. Sau khi tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa (1921) tại
Paris và sáng lập báo “Người Cùng Khổ” (1921), Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì truyền bá
tiếng nói của các dân tộc bị áp bức, tố cáo tội ác thực dân, đồng thời khẳng định quyền độc
lập, tự do của nhân dân Việt Nam và các dân tộc thuộc địa. Đặc biệt, việc sáng lập Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên (1925); biên soạn tác phẩm “Đường Kách mệnh (1927) làm
cẩm nang cho cách mạng Việt Nam… những hoạt động ấy cho thấy Người luôn một lòng 16