Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Khoa Quản trị nhân lực  BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN
VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Giảng viên hướng dẫn: Hoàng Thị Thúy
Lớp học phần: 251_HCMI0111_39 Hà Nội, 03/2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP (Lần 1) (Nhóm 6)
Học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời gian: 20h00 ngày 03 tháng 9 năm 2025
Địa điểm: Họp trực tuyến qua Google Meet
Mục đích: Thảo luận tiến độ thực hiện, giải quyết các vấn đề phát sinh và hoàn thành,
chỉnh sửa bài thảo luận Thành viên tham gia: 20/20 101. Lưu Đức Tiến 107. Vũ Huyền Trang 113. Lê Khánh Vân
102.Nguyễn Thị Huyền Trang 108. Hà Thị Hương Trà 114. Tô Hải Vân
103. Nguyễn Thị Thùy Trang 109. Nguyễn Ngọc Bảo Trâm 115. Lê Nguyễn Hà Vi 104. Nguyễn Thu Trang 110. Hoàng Tùng 116. Nghiêm Thị Hà Vi 105. Nguyễn Thùy Trang 111. Bùi Anh Tú 117. Nguyễn Hà Vy 106. Trần Thị Thùy Trang 112. Phạm Minh Tú 118. Dương Thị Xuân
119. Nguyễn Thị Hồng Yến
120. Phạm Thị Phương Yến I. Nội dung cuộc họp
1. Nhóm trưởng gửi đề cương, các thành viên nhóm xem xét và góp ý
2. Các thành viên nhận nhiệm vụ của mình
Hà Nội, ngày 03 tháng 9 năm 2025. Nhóm trưởng Phạm Minh Tú 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP (Lần 2) (Nhóm 6)
Học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời gian: 20h00 ngày 13 tháng 9 năm 2025
Địa điểm: Họp trực tuyến qua Google Meet
Mục đích: Thảo luận tiến độ thực hiện, giải quyết các vấn đề phát sinh và hoàn thành,
chỉnh sửa bài thảo luận Thành viên tham gia: 20/20 101. Lưu Đức Tiến 107. Vũ Huyền Trang 113. Lê Khánh Vân
102.Nguyễn Thị Huyền Trang 108. Hà Thị Hương Trà 114. Tô Hải Vân
103. Nguyễn Thị Thùy Trang 109. Nguyễn Ngọc Bảo Trâm 115. Lê Nguyễn Hà Vi 104. Nguyễn Thu Trang 110. Hoàng Tùng 116. Nghiêm Thị Hà Vi 105. Nguyễn Thùy Trang 111. Bùi Anh Tú 117. Nguyễn Hà Vy 106. Trần Thị Thùy Trang 112. Phạm Minh Tú 118. Dương Thị Xuân
119. Nguyễn Thị Hồng Yến
120. Phạm Thị Phương Yến I. Nội dung cuộc họp
1. Nhóm trưởng nhận xét và chỉnh sửa bài làm của các thành viên
Hà Nội, ngày 13 tháng 9 năm 2025. Nhóm trưởng Phạm Minh Tú 3 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 5
1.1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa 5
1.1.2. Mối quan hệ của văn hóa với các lĩnh vực khác theo tư tưởng Hồ Chí Minh 5
1.1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính chất của nền văn hóa mới. 6
1.2. Định nghĩa nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY 8
2.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc 8
2.1.1. Giai đoạn 1986 - 1991 8
2.1.1. Giai đoạn 1996 - 1997 8 2.1.2. Giai đoạn 1998 8
2.1.3. Giai đoạn 2001- 2006 9 2.1.4. Giai đoạn 2011 9
2.1.5. Giai đoạn 2014 – Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (33-NQ/TW) 10
2.1.6. Giai đoạn 2016 – Đại hội XII của Đảng 10
2.1.7. Giai đoạn 2021 – nay – Đại hội XIII và triển khai 10
2.1. Thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay. 11
2.2.1 Những thành tựu trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc 11
2.2.2. Những hạn chế trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc tại Việt Nam 15 2.2.3 Đánh giá 17
CHƯƠNG III: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC XÂY DỰNG
NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC 19
3.1. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 19
3.2. Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa 21
3.3. Kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế 24
3.4. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về văn hóa 25
3.5. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng văn hóa 27 KẾT LUẬN 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, văn hóa luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là
nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – chính trị –
xã hội. Đối với Việt Nam, văn hóa không chỉ là kết quả của hàng nghìn năm dựng nước
và giữ nước, mà còn là sức mạnh nội sinh to lớn, góp phần bảo vệ bản sắc, củng cố khối
đại đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy khát vọng phát triển bền vững.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, anh hùng giải phóng dân tộc
và danh nhân văn hóa kiệt xuất – đã để lại một di sản tư tưởng sâu sắc, toàn diện, trong
đó tư tưởng về văn hóa là bộ phận trọng yếu. Người khẳng định: “Văn hóa soi đường cho
quốc dân đi”, nhấn mạnh văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp cách
mạng. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa không thể tách rời chính trị, kinh tế và xã hội; văn hóa
phải gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân, phục vụ nhân dân và do nhân dân sáng tạo
nên. Tư tưởng ấy đã trở thành kim chỉ nam cho đường lối văn hóa của Đảng và Nhà nước
ta trong suốt các giai đoạn cách mạng.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Việt Nam đang đứng trước
nhiều thời cơ và thách thức mới. Quá trình toàn cầu hóa và sự giao thoa mạnh mẽ của các
nền văn hóa đòi hỏi chúng ta vừa phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa
phải tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc. Đây không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt mà còn là chiến
lược lâu dài, gắn liền với mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Xuất phát từ ý nghĩa đó, nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh trong việc xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” nhằm
làm rõ những quan điểm cốt lõi của Người về văn hóa, phân tích thực trạng nền văn hóa
Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể để vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện đại. Thông qua bài thảo luận, chúng em mong muốn góp
phần khẳng định giá trị to lớn và tính thời sự của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự
nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển bền vững. 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
1.1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa
Tháng 8 năm 1943, khi còn ở trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí
Minh nêu ra một định nghĩa về văn hóa:
“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã khái quát được nội dung đầy đủ nhất, rộng
nhất, mang đầy đủ nội hàm của phạm trù văn hóa. Theo đó, văn hóa được hiểu là toàn bộ
sáng tạo những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của con người trong quá trình
tồn tại sinh sống và phát triển. Định nghĩa về văn hóa của Hồ Chí Minh có rất nhiều điểm
gần với quan niệm hiện đại về văn hóa, đồng thời, khắc phục được quan niệm phiến diện
về văn hóa trong lịch sử và hiện tại, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực tinh thần, trong văn học
nghệ thuật, hoặc chủ đề cập đến lĩnh vực giáo dục, phản ánh trình độ học vấn trên thực tế,
văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần mà loài người
đã sáng tạo ra, nhằm đáp ứng sự sinh tồn và cũng là mục đích cuộc sống của loài người.
1.1.2. Mối quan hệ của văn hóa với các lĩnh vực khác theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh cho rằng, trong đời sống có bốn vấn đề phải được coi là quan trọng
ngang nhau và có sự tác động qua lại lẫn nhau, đó là chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Về quan hệ giữa văn hóa với chính trị, chính trị có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải
phóng sẽ mở đường cho văn hóa phát triển. Văn hóa
không thể đứng ngoài mà phải ở trong chính trị. “Văn hóa ở trong chính trị” tức văn hóa
phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị, tham gia cách mạng, kháng chiến và xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Đổng thời mọi hoạt động của tổ chức và nhà chính trị phải có hàm lượng văn hóa. 4
Về quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ kinh tế thuộc về cơ sở hạ tầng, còn văn hóa thuộc
kiến trúc thượng tầng. Vì vậy, những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa
mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được. Văn hóa không thể đứng ngoài
mà phải ở trong kinh tế, phải thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Văn hóa có tính tích cực
chủ động, đóng vai trò to lớn thúc đẩy kinh tế.
Về quan hệ giữa văn hóa và xã hội, giải phóng chính trị đồng nghĩa với giải phóng
xã hội, từ đó văn hóa mới có điều kiện phát triển.
Cuối cùng là về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại. Bản sắc
văn hóa dân tộc là những giá trị văn hóa bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
là thành quả của quá trình lao động, sản xuất, chiến đấu và giao lưu của con người Việt
Nam. Bản sắc văn hóa dân tộc được nhìn nhận qua hai lớp quan hệ. Về nội dung, đó là
lòng yêu nước, thương nòi; tinh thần độc lập, tự tôn dân tộc … Về hình thức, cốt cách
văn hóa dân tộc biểu hiện ở ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống, cách
cảm và nghĩ … Bản sắc văn hóa dân tộc chứa đựng giá trị to lớn và có một ý nghĩa quan
trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nó phản ánh những nét độc đáo,
đặc tính dân tộc. Vì vậy, trách nhiệm của con người Việt Nam là phải trân trọng, khai
thác, giữ gìn, phát huy, phát triển những giá trị của văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Mục đích nhằm làm giàu cho văn hóa Việt
Nam, xây dựng văn hóa hợp với tinh thần dân chủ. Nội dung toàn diện bao gồm Đông,
Tây, kim, cổ, tất cả các mặt, các khía cạnh với tiêu chí “có cái gì hay, cái gì tốt là ta học
lấy”. Mối quan hệ giữa giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc với tiếp thu văn hóa nhân loại là
lấy văn hóa dân tộc làm gốc, là điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại.
1.1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính chất của nền văn hóa mới.
Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tháng 8-1943, cùng với việc
đưa ra quan niệm về ý nghĩa của văn hóa, Hồ Chí Minh quan tâm đến việc xây dựng nền
văn hóa dân tộc với 5 nội dung: tinh thần độc lập tự cường; biết hy sinh mình làm lợi cho
quần chúng, mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân; dân quyền; kinh tế.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh khẳng định lại quan điểm
của Đảng từ năm 1943 trong Đề cương văn hóa Việt Nam về phương châm xây dựng nền
văn hóa mới. Đó là nền văn hóa có tính chất, dân tộc, khoa học và đại chúng. 5
Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc.
1.2. Định nghĩa nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc có
tầm quan trọng đặc biệt không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai của tổ quốc ta.
Nhưng thế nào là nền văn hóa “tiên tiến”, thế nào là “đậm đà bản sắc dân tộc”. Thông
qua các văn bản nghị quyết của Đảng, nhất là nghị quyết TW5 khóa VIII năm 1998 có
thể khái quát nền văn hóa tiên tiến có 5 đặc trưng: yêu nước, tiến bộ, độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, nhân
văn (tất cả vì con người), không chỉ trong nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện.
Tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam không thể tách rời bản sắc dân tộc.
Lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc Việt Nam đã hun đúc cho dân tộc biết bao
truyền thống tốt đẹp. Đó là: lòng yêu nước, thương người như thể thương thân, sống có
tình có lý…Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc một là phát huy văn hóa đa dân
tộc tạo nên sự phong phú đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Hai
là, khôi phục vốn cũ thì chỉ nên khôi phục cái tốt, là quá trình gạn đục khơi trong, là sự
tiếp nối dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc trong thế giới hiện đại.
Sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, là phát
huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức tự lực tự cường xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu
vào toàn bộ đời sống xã hội, vào từng con người, từng địa phương, tập thể và cộng đồng,
tạo nên trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí ngày càng cao, khoa
học công nghệ ngày càng phát triển, phục vụ đắc lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 6
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
2.1.1. Giai đoạn 1986 - 1991
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đã mở đầu công
cuộc đổi mới. Đại hội VII tiếp tục chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để
nhằm đưa đất nước đi vào thế ổn định và phát triển. Sau một thời gian khủng hoảng kinh
tế - xã hội và sau những biến động phức tạp của tình hình chính trị quốc tế, hai kỳ đại hội
trên ưu tiên tập trung xác định đường lối phát triển kinh tế, ổn định xã hội; văn hóa mặc
dù được quan tâm phát triển, nhưng chưa được xem là vấn đề trọng tâm. Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (được Đại hội VII
thông qua) lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng: tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc thay cho quan niệm nền văn hóa Việt Nam có nội dung xã hội
chủ nghĩa, có tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân được nêu ra trước đây.
Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp,
phong phú và đa dạng. Cương lĩnh khẳng định: “Kế thừa và phát huy những truyền thống
văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân
loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con
người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng,
văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao
quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội”.
2.1.1. Giai đoạn 1996 - 1997 Trong giai đoạn 1996–1997, mặc
dù chưa có văn kiện chính thức nào của Đảng
Cộng sản Việt Nam đưa ra quan điểm cụ thể về “văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc”, nhưng tinh thần ấy đã bắt đầu xuất hiện trong đời sống văn hóa – xã hội của đất
nước. Điển hình là Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ XI, được tổ chức tại Hà Nội từ ngày
28 đến 30/11/1996, với khẩu hiệu “Vì một nền điện ảnh Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc”, thể hiện rõ định hướng đưa nội dung tiên tiến và bản sắc dân tộc vào nghệ
thuật điện ảnh. Sự kiện ấy đã đã phản ánh tư tưởng ấy, để rồi sau đó được tổng kết, hệ
thống và đưa vào nghị quyết vào năm 1998. 2.1.2. Giai đoạn 1998
Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7-1998) đã
ban hành nghị quyết chuyên đề về “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc”, cho thấy chuyển biến hết sức mạnh mẽ trong nhận thức của Đảng về tầm quan trọng
của văn hóa bên cạnh vấn đề phát triển kinh tế và xây dựng Đảng. Nghị quyết khẳng
định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và 7
phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam
về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành
mạnh cho sự phát triển xã hội”
2.1.3. Giai đoạn 2001- 2006
Đại hội IX (2001) của Đảng tiếp tục khẳng định, xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã
hội. Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về
chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng
nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia
đình, cộng đồng và xã hội. Bước phát triển trong quan điểm của Đảng về văn hóa thời kỳ
này là nhấn mạnh mục tiêu hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để
phát triển văn hóa. Đại hội xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện. Để đạt được mục tiêu đề ra, các chương trình hành động phải được
triển khai đồng bộ, chú trọng việc mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Người tốt, việc tốt”... làm cho văn hóa thấm
sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người…
Đến Đại hội X của Đảng, với quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
những yêu cầu về tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển
kinh tế- xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và việc
xây dựng, hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế…
được khẳng định lại, tiếp nối quan điểm về văn hóa của thời kỳ trước. Đại hội lần này
cũng đề ra yêu cầu đa dạng hóa các hình thức hoạt động của phong trào, xây dựng và
nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống… 2.1.4. Giai đoạn 2011
Đại hội XI khẳng định phương hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu
sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu
vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh
quan trọng của phát triển, coi “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng
thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với
quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Đại hội đề ra
mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức,
thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật. 8
2.1.5. Giai đoạn 2014 – Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (33-NQ/TW) Năm
2014 đánh dấu bước chuyển quan trọng khi Đảng ban hành Nghị quyết số
33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước”. Bối cảnh đất nước lúc này là quá trình đổi mới đã đạt
nhiều thành tựu về kinh tế, đời sống được nâng cao, song những biểu hiện xuống cấp đạo
đức, lối sống thực dụng, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và hội nhập cũng nổi lên
rõ rệt. Nghị quyết đề cao vai trò con người – lần đầu tiên nhấn mạnh phát triển con người
toàn diện về trí, đức, thể, mỹ, gắn liền với xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Nội
dung cốt lõi gồm: xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam, coi gia đình, cộng
đồng, trường học là thiết chế quan trọng; phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường giao
lưu quốc tế nhưng kiên quyết giữ gìn bản sắc dân tộc. Điểm nhấn là sự dịch chuyển từ
“văn hóa phục vụ kinh tế” sang “văn hóa vừa mục tiêu, vừa động lực phát triển”, đặt văn
hóa vào trung tâm phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy nhiều
thách thức như nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chênh lệch hưởng thụ văn hóa giữa đô thị –
nông thôn, và sự xâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa ngoại lai.
2.1.6. Giai đoạn 2016 – Đại hội XII của Đảng
Sau hai năm thực hiện Nghị quyết 33, Đại hội XII (2016) tiếp tục phát triển quan
điểm về văn hóa trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, ký kết nhiều hiệp
định thương mại tự do, đồng thời Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra cơ hội và thách thức
mới. Văn kiện Đại hội XII xác định rõ: “Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt
Nam toàn diện, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát
triển bền vững đất nước”. Đại hội nhấn mạnh bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc,
tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, đạo đức, lối sống; khuyến khích sáng tạo
văn học – nghệ thuật, mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa nhân loại, đồng thời
chống lại các xu hướng lai căng, thương mại hóa tầm thường. Điểm mới trong giai đoạn
này là sự quan tâm đến công nghiệp văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia bằng văn
hóa, coi đây là trụ cột phát triển song song với kinh tế. Đại hội XII cũng cảnh báo về
những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xói mòn giá trị đạo đức, đòi hỏi nâng cao năng lực
quản lý văn hóa, chấn chỉnh thông tin truyền thông, đặc biệt trong không gian mạng. Như
vậy, giai đoạn 2016 củng cố quan điểm văn hóa vừa bảo tồn truyền thống, vừa thích ứng hội nhập.
2.1.7. Giai đoạn 2021 – nay – Đại hội XIII và triển khai
Đại hội XIII (2021) mở ra thời kỳ mới với mục tiêu khơi dậy khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đặt văn hóa và con người lên vị trí nền tảng, sức mạnh
nội sinh, động lực then chốt. Bối cảnh quốc tế biến động mạnh: đại dịch COVID-19, cạnh
tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, toàn cầu hóa văn hóa tạo ra áp lực lớn
đối với bảo tồn bản sắc. Văn kiện Đại hội XIII khẳng định phải xây dựng hệ giá trị quốc
gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam phù hợp thời kỳ mới; đẩy mạnh
công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, phát triển thị trường và sản
phẩm văn hóa chất lượng cao, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Đảng yêu cầu gắn 9
xây dựng văn hóa với xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh, coi văn hóa là lá chắn bảo vệ Tổ quốc về tinh thần, đồng thời là cầu nối hội nhập.
Thực tiễn triển khai đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, phát triển nguồn nhân
lực sáng tạo, bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng, tăng cường hợp tác quốc
tế. So với các giai đoạn trước, tư duy văn hóa hiện nay nhấn mạnh sức mạnh mềm, khát
vọng phát triển, bản lĩnh hội nhập và tính dài hạn chiến lược hơn, coi văn hóa là trụ cột
song hành cùng kinh tế, chính trị, xã hội để hướng đến phát triển bền vững.
Việc Đảng từng bước xác định và hoàn thiện quan điểm xây dựng nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc phản ánh sự phát triển trong nhận thức lý luận và thực tiễn
lãnh đạo. Từ chỗ chỉ coi văn hóa là định hướng bổ trợ, đến nay văn hóa đã được khẳng
định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực then chốt của sự phát triển đất nước. Như vậy
, quan điểm của Đảng không chỉ mang tính định hướng
chiến lược mà còn thể hiện rõ mục tiêu cao nhất: phát triển con người và vì con người,
xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây chính là
sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời mở ra con đường để văn hóa
trở thành trụ cột để song hành cùng kinh tế và chính trị trong sự nghiệp xây dựng đất
nước phồn vinh, hạnh phúc.
2.1. Thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay.
2.2.1 Những thành tựu trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ nhất, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác văn hóa tiếp
tục được đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Đảng không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, ban hành nhiều chủ
trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, kết luận về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam; Công tác nghiên cứu lý luận được đẩy mạnh, cơ chế phối hợp giữa các
cơ quan được gắn kết hơn. Phong trào "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh" được chỉ đạo quyết liệt, góp phần xây dựng văn hóa, con người.
Các chuẩn mực về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của con người thời đại
mới đã được đưa vào nhiều văn bản pháp luật, quy ước, hương ước làng xã, và quy định
tại các cơ quan, đơn vị. Tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc của nhân dân được
phát huy. Các tầng lớp xã hội quan tâm hơn đến giáo dục con người toàn diện từ lứa tuổi
ấu thơ, kết hợp dạy chữ, dạy người, và kỹ năng sống. Phong trào "Toàn dân rèn luyện
thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" được triển khai rộng khắp, giúp cải thiện thể lực và
tầm vóc của người Việt. Các giá trị đạo đức truyền thống được giữ gìn và phát huy phù
hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Quá trình hội nhập sâu rộng đã giúp
con người Việt Nam đổi mới tư duy, sáng tạo hơn và có cơ hội tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. 10
Điều này được thể hiện rõ trong Phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh”. Tính đến 2023, 100% cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị
đã triển khai phong trào này; nhiều mô hình hay như “Người tốt, việc tốt”, “Ngày thứ Bảy tình nguyện”
, “Ngày Chủ nhật xanh”
… được nhân rộng. Đặc biệt tại Tỉnh Bắc
Giang gắn việc học Bác với thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần đưa địa phương trở
thành điểm sáng về xây dựng nông thôn mới.
Thứ hai, hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước về văn hóa từng bước được nâng cao.
Nhà nước đã có nhiều chính sách và giải pháp hiệu quả trong việc xây dựng và phát
triển văn hóa, con người. Cụ thể, Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm tạo
cơ sở pháp lý vững chắc, đồng thời chuyển đổi cơ chế quản lý các đơn vị văn hóa, nghệ
thuật theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng
cường để xử lý vi phạm và đấu tranh chống suy thoái đạo đức. Về nguồn nhân lực, Chính
phủ ban hành nhiều đề án đào tạo, bồi dưỡng, điều chỉnh chế độ đãi ngộ, thu hút những
tài năng và nguồn nhân lực về văn hóa, nghệ thuật, thể thao. Đối tượng chủ yếu là số
lượng lớn học sinh, sinh viên theo học các ngành văn hóa, nghệ thuật. Về cơ sở vật chất,
việc đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và tập huấn nâng cao chất lượng
nhân lực cho hoạt động văn hóa đã được quan tâm. Nhà nước sử dụng hiệu quả nguồn
vốn, tăng cường đầu tư cho hệ thống thiết chế văn hóa, bảo tồn di sản, và thúc đẩy xã hội
hóa các hoạt động văn hóa. Đặc biệt, Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý và khuyến khích
phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa, từ đó thúc đẩy sáng tạo, sản
xuất, và quảng bá các sản phẩm văn hóa, góp phần vào phát triển kinh tế-xã hội.
Nhà nước ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP và Nghị định 60/2021/NĐ-CP về cơ
chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Thực tế áp dụng ở nhiều nhà hát và bảo tàng
lớn đã giúp họ chủ động hơn trong tổ chức biểu diễn, khai thác dịch vụ, tự chịu trách
nhiệm về tài chính. Kết quả là nhiều nhà hát như Nhà hát Kịch Việt Nam, Nhà hát Tuổi
Trẻ đã chủ động xây dựng chương trình, nâng cao chất lượng nghệ thuật, thu hút khán giả
thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước.
Thứ ba, xây dựng môi trường văn hóa đạt được một số kết quả tích cực.
Trong thời kỳ đổi mới, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đã đạt nhiều kết quả rõ rệt, nếp sống
văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội có chuyển biến tích cực, mê tín dị đoan giảm dần.
Sự phối hợp gia đình – nhà trường – xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống cho giới trẻ
được phát huy; quy chế dân chủ ở cơ sở, xã hội hóa văn hóa được chú trọng, huy động
nguồn lực cộng đồng, hình thành nhiều mô hình văn hóa tiêu biểu. Công tác bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa có nhiều tiến bộ, gắn kết với phát triển du lịch, nhiều loại hình
nghệ thuật truyền thống được bảo tồn, nhiều di sản được UNESCO vinh danh; di sản văn
hóa dân tộc thiểu số cũng được gìn giữ. Nền văn học – nghệ thuật khởi sắc, tiếp nối dòng
chủ đạo yêu nước, nhân văn, phản ánh đời sống nhân dân, tôn vinh truyền thống dân tộc
và công cuộc đổi mới; đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức phát triển cả về số lượng và chất
lượng, nhiều tài năng trẻ xuất hiện. Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ sáng tác, phong 11
tặng danh hiệu, khuyến khích trí thức, nghệ sĩ trong và ngoài nước cống hiến. Báo chí,
truyền thông, xuất bản phát huy vai trò là vũ khí tư tưởng – văn hóa của Đảng, Nhà nước;
công tác quản lý thông tin, mạng xã hội, truyền thông số được tăng cường, góp phần xây
dựng con người và văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Thứ tư, xây dựng văn hóa trong chính trị được triển khai gắn với việc đẩy mạnh học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số văn
bản nhằm cụ thể hóa, hiện thực hóa quan điểm, chủ trương xây dựng văn hóa trong chính
trị, tăng cường kỷ luật của Đảng. Chính phủ chủ động xây dựng, kiến tạo, phát triển, liêm
chính, hành động phục vụ nhân dân. Tiếp tục xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ,
quy chế văn hóa công sở, cải cách thủ tục hành chính, quy tắc ứng xử của cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước. Đấu tranh chống suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đấu tranh chống
tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu; đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng
viên, nhất là người đứng đầu với quan điểm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Bản
lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, ý thức phục vụ nhân dân của cán
bộ, đảng viên từng bước được nâng lên. Chuẩn mực văn hóa chính trị từng bước được hình thành.
Nhiều vụ án tham nhũng lớn như vụ PVC – Trịnh Xuân Thanh, vụ chuyến bay giải
cứu, hay một số vụ liên quan đến cán bộ cấp cao đã được đưa ra xét xử nghiêm minh.
Điều này thể hiện rõ quan điểm “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”, không có
“vùng cấm” trong xử lý vi phạm.
Thứ năm, xây dựng văn hóa trong kinh tế bước đầu có chuyển biến về nhận thức và hành động.
Phát triển bền vững, an toàn là mục tiêu cao nhất của mọi hệ thống xã hội. Sự phát
triển không chỉ được xét trên mặt vật chất đơn thuần, mà còn phải bao hàm cả về mặt văn
hóa, tinh thần của xã hội. Xây dựng văn hóa kinh tế, trong đó quan trọng nhất là văn hóa
doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, văn hóa kinh doanh. Đảng nêu quan điểm xây dựng
“chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác
tiềm năng kinh tế, tài chính, hỗ trợ cho phát triển văn hóa, đồng thời bảo đảm yêu cầu
chính trị, tư tưởng cho hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”; xây dựng
“chính sách văn hóa trong kinh tế, bảo đảm cho văn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động
kinh tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp
phát triển văn hóa”. Cụ thể hóa quan điểm của Đảng, năm 2016, Chính phủ đã phê duyệt
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030. Nhờ đó, một số ngành công nghiệp văn hóa có bước phát triển như điện
ảnh; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; quảng cáo; thủ công mỹ
nghệ; phần mềm và các trò chơi giải trí; truyền hình và phát thanh, thời trang, du lịch văn hóa,... 12
Thứ sáu, bản sắc, giá trị văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được kế thừa, phát
huy cao độ khi đất nước gặp khó khăn, thử thách do thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch Covid-19.
Khi đại dịch Covid 19 diễn ra từ cuối năm 2019 và bùng phát gây hậu quả nặng nề,
nhà nước, các doanh nghiệp, các đoàn thể, cơ quan, đơn vị, các doanh nhân và nhà hảo
tâm đã quyên góp hàng trăm tỷ, hàng nghìn tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương và người
dân gặp khó khăn. Quỹ phòng chống Covid-19 đã quyên góp được hàng trăm nghìn tỷ
đồng hỗ trợ các địa phương, cơ quan, đơn vị, người dân vùng dịch. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự điều hành của Nhà nước, sự tập hợp lực lượng của Mặt trận Tổ quốc các cấp, hệ
thống chính trị, các giới, các lực lượng, tiêu biểu là các ngành y tế, quân đội, công an,
công đoàn, cựu chiến binh, thanh niên, phụ nữ, nông dân, báo chí, văn hóa, văn nghệ,...
đã hăng hái đi đầu trong cuộc chiến đấu phòng, chống dịch bệnh. Nhiều công trình, tác
phẩm văn hóa, văn nghệ ra đời để động viên, khích lệ, tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu
biểu; nhiều đơn vị văn hóa, văn nghệ, các văn nghệ sĩ đã hăng hái đi vào vùng tâm dịch
để gửi hàng cứu trợ, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, triển lãm, hỗ trợ ngành y.
Thứ bảy, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại
Việt Nam chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa
các hình thức văn hóa đối ngoại thông qua các hoạt động như Tuần, Ngày, Lễ hội văn hóa
Việt Nam thu được kết quả rõ rệt cả chiều rộng lẫn chiều sâu, song phương và đa
phương, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới,
thúc đẩy hội nhập, giao lưu quốc tế về văn hóa. Đồng thời các hoạt động thông tin đối
ngoại được tăng cường thông tin phong phú, đa dạng, phản ánh kịp thời các sự kiện và
quan hệ quốc tế về văn hóa, giới thiệu tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại tạo điều kiện
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Nhiều trí thức, văn nghệ sĩ gốc Việt ở nước ngoài đã về nước đầu tư và tham gia vào các
dự án phát triển văn hóa. Hợp tác với các nước trên thế giới trong đào tạo, bồi dưỡng tài
năng văn hóa, nghệ thuật có bước khởi sắc. Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc
tế được nâng lên, tạo môi trường hòa bình, ổn định, thân thiện thu hút khách du lịch.
Một minh chứng cụ thể cho quan điểm tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu
tinh hoa văn hóa của nhân loại là tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc
khánh 2-9/2025, Việt Nam đã mời 5 quốc gia — Nga, Trung Quốc, Lào, Campuchia,
Belarus — cử lực lượng tham gia diễu binh. Việc này không chỉ thể hiện tình hữu nghị
truyền thống, mà còn là dấu ấn của văn hóa chính trị: nghi lễ trang trọng, biểu tượng quốc
phòng kết hợp văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước với bạn bè quốc tế, qua đó khẳng
định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đây là ví dụ
sinh động cho việc tiếp thu tinh hoa của quốc tế trong tinh thần hòa nhập, nhưng vẫn giữ
được bản sắc dân tộc. 13
2.2.2. Những hạn chế trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc tại Việt Nam
Thứ nhất, việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ
mai một chưa được ngăn chặn: Mặc dù Việt Nam có kho tàng di sản văn hóa phong phú,
nhiều di sản được UNESCO công nhận, nhưng hiệu quả bảo tồn và phát huy vẫn còn hạn
chế. Nhiều di tích, lễ hội, loại hình nghệ thuật truyền thống xuống cấp, có nguy cơ mai
một. Hệ thống thiết chế văn hóa còn thiếu, lạc hậu, nhiều nơi hoạt động hình thức, hiệu
quả sử dụng thấp. Một số cơ quan truyền thông chạy theo xu hướng thương mại hóa, xa
rời tôn chỉ phục vụ chính trị – tư tưởng, dẫn đến lãng phí nguồn lực và làm suy giảm giá
trị văn hóa. Nguyên nhân chủ yếu do quy hoạch phát triển thiếu tầm nhìn, cơ chế chính
sách chưa cụ thể và nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu. Hệ quả là bản sắc văn hóa
dân tộc chưa được khai thác đúng mức để vừa bảo tồn vừa thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ hai, công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các
cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập: Nguồn nhân lực
trong lĩnh vực văn hóa, nhất là cán bộ lãnh đạo và nhân lực chất lượng cao, vẫn còn thiếu
và yếu. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn; cơ chế sử dụng
và đãi ngộ nhân tài còn hạn chế, chưa tạo động lực để thu hút người giỏi. Ngoài ra, sự du
nhập ồ ạt và thiếu chọn lọc các sản phẩm văn hóa nước ngoài khiến một bộ phận giới trẻ
tiếp nhận thụ động, dẫn đến lệch chuẩn giá trị, ảnh hưởng tiêu cực tới lối sống. Điều này
cho thấy công tác quản lý, định hướng và phát triển đội ngũ làm công tác văn hóa còn
chưa theo kịp bối cảnh hội nhập quốc tế. Thứ ba, nhận thức về
văn hóa và mối quan hệ giữa xây dựng văn hóa với phát triển
con người, về vai trò, vị trí của văn hóa trong xây dựng, phát triển đất nước, có nơi, có
lúc chưa đầy đủ, chưa sâu sắc: Ở một số nơi, văn hóa chưa được coi trọng ngang bằng
với chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh. Việc triển khai đường lối xây dựng văn hóa
của Đảng trong Cương lĩnh và các nghị quyết Đại hội Đảng chưa thật đồng bộ và toàn
diện. Một số cấp ủy đảng, chính quyền còn lúng túng trong việc thể chế hóa yêu cầu coi
văn hóa ngang bằng với chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Việc xây dựng và xác
định hệ giá trị chuẩn mực văn hóa, con người Việt Nam còn chậm, kéo theo sự lúng túng,
không thống nhất trong việc xây dựng các quy định, chuẩn mực văn hóa trong chính trị,
kinh tế, trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.
Thứ tư, tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội
tuy đã được cải thiện, song vẫn còn diễn biến phức tạp: Đời sống văn hóa – xã hội tuy đã
cải thiện nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp: Hưởng thụ văn hóa giữa đô thị với
nông thôn, giữa đồng bằng, trung du với khu vực vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch. Tệ
nạn xã hội, tội phạm còn phức tạp, tồn tại nhiều hiện tượng trái với thuần phong, mỹ tục,
làm cho môi trường văn hóa chưa thật lành mạnh. Những kết quả trong hoạt động văn
học, nghệ thuật, trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, chưa theo kịp yêu cầu, đòi
hỏi của thực tiễn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển nhanh nhưng chưa hợp lý; còn
có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong một số cơ quan, đơn vị; công 14
tác quản lý các phương tiện truyền thông mới chưa chặt chẽ, nhiều thông tin tiêu cực, sai
trái trên mạng in-tơ-nét và các kênh truyền thông xã hội gây nhiễu loạn nhận thức, bức
xúc cho người dân. Đấu tranh phản bác các tư tưởng sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng, các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân
lực, nhất là nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực văn hóa còn nhiều hạn chế, bất cập.
Hợp tác quốc tế về văn hóa hiệu quả chưa cao, chưa theo kịp yêu cầu phát triển.
Thứ năm, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số vẫn còn khó
khăn, bất cập: Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chương trình, đề án để bảo tồn văn
hóa dân tộc thiểu số, nhưng việc triển khai còn gặp nhiều trở ngại do thiếu nguồn kinh
phí riêng, phải lồng ghép vào ngân sách hàng năm. Chính sách dành cho đồng bào thiểu
số còn ít, thiếu tính đồng bộ và chưa phù hợp với đặc thù từng vùng. Việc tái tạo môi
trường sinh hoạt văn hóa, khôi phục không gian văn hóa truyền thống còn mờ nhạt. Nếu
không có biện pháp kịp thời, nguy cơ mất dần bản sắc của nhiều tộc người là rất rõ rệt,
kéo theo sự suy giảm đa dạng văn hóa quốc gia.
Thứ sáu, Giáo dục văn hóa và hình thành nhân cách chưa toàn diện: T rong hệ thống
giáo dục hiện nay, việc dạy học vẫn thiên về truyền đạt kiến thức chuyên môn và chạy
theo thành tích, trong khi đó việc giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và ý thức
cộng đồng chưa được chú trọng đúng mức. Các môn học và hoạt động liên quan đến văn
hóa, nghệ thuật trong trường học còn nghèo nàn, mang tính hình thức, chưa tạo được sự
hứng thú và gắn kết với đời sống thực tiễn. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa gia đình, nhà
trường và xã hội trong việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ còn thiếu chặt chẽ, nhiều
phụ huynh vẫn đặt nặng điểm số mà chưa quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức, nhân
cách. Nguồn lực dành cho giáo dục văn hóa cũng còn hạn chế cả về đội ngũ giáo viên, cơ
sở vật chất và hoạt động ngoại khóa. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển công nghệ số,
giới trẻ lại dễ bị tác động bởi các sản phẩm văn hóa ngoại lai, xu hướng giải trí thực
dụng, thiếu chọn lọc, từ đó dẫn đến những lệch chuẩn trong nhận thức và hành vi. Hệ quả
là một bộ phận thanh thiếu niên xuất hiện lối sống thực dụng, coi trọng giá trị vật chất
hơn tinh thần, thiếu kỹ năng ứng xử xã hội, bạo lực học đường và sự vô cảm trước các
vấn đề cộng đồng. Điều này đặt ra thách thức lớn cho mục tiêu xây dựng con người Việt
Nam phát triển toàn diện, vừa có tri thức, vừa có nhân cách, như Đảng ta đã khẳng định.
Cuối cùng, Công tác nghiên cứu lý luận và thực thi chính sách còn hạn chế: Mặc dù
nhiều nghị quyết và chiến lược phát triển văn hóa đã được ban hành, song công tác
nghiên cứu lý luận chưa theo kịp sự biến đổi nhanh của đời sống xã hội và hội nhập quốc
tế. Các vấn đề mới như công nghiệp văn hóa, kinh tế số hay toàn cầu hóa chưa được
nghiên cứu toàn diện, khiến việc hoạch định chính sách thiếu cơ sở khoa học. Đội ngũ
nghiên cứu còn mỏng, thiếu chuyên gia và nguồn lực tài chính hạn chế, trong khi cơ chế
khuyến khích sáng tạo, phản biện chưa phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó, việc triển khai
chính sách còn chậm, thiếu đồng bộ, nhiều nơi mang tính hình thức, dẫn đến khoảng cách
lớn giữa chủ trương và thực tế, làm giảm hiệu quả quản lý văn hóa và niềm tin xã hội. 15 2.2.3 Đánh giá
Trong những năm qua, công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trước hết, sự đổi mới trong nội
dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đã tạo ra định hướng rõ ràng, đồng bộ, gắn kết
giữa chủ trương, đường lối với thực tiễn phát triển văn hóa. Phong trào “Học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” cùng nhiều chủ trương khác đã góp
phần lan tỏa những giá trị đạo đức, tinh thần yêu nước, và lòng tự hào dân tộc. Những
chuẩn mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ngày càng được thể chế hóa trong
pháp luật, hương ước, quy ước, giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân trong xã hội hiện đại.
Nhà nước cũng từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý văn hóa thông qua
việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật, đổi mới cơ chế quản lý theo hướng tự chủ,
tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, và chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
Việc đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng thiết chế văn hóa, cũng như khuyến khích phát triển
công nghiệp văn hóa đã góp phần thúc đẩy sáng tạo, quảng bá sản phẩm văn hóa và gắn
văn hóa với phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa” cùng hoạt động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa đã đạt nhiều kết
quả tích cực, tạo sự chuyển biến trong nếp sống văn minh, gìn giữ và tôn vinh các giá trị
truyền thống, đồng thời quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Trong lĩnh vực chính trị, các chuẩn mực văn hóa được chú trọng thông qua việc xây
dựng văn hóa công sở, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là
đội ngũ lãnh đạo. Trong kinh tế, nhận thức về vai trò của văn hóa đã có chuyển biến, thể
hiện qua việc ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thúc đẩy
các lĩnh vực sáng tạo và khẳng định vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội. Đặc biệt,
trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và trách
nhiệm cộng đồng của người Việt Nam đã được phát huy mạnh mẽ, trở thành minh chứng
sống động cho sức mạnh của văn hóa dân tộc. Song song với đó, việc chủ động hội nhập
quốc tế đã giúp Việt Nam mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nâng cao
vị thế trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục.
Công tác bảo tồn di sản văn hóa còn nhiều bất cập, nguy cơ mai một các loại hình nghệ
thuật truyền thống vẫn hiện hữu do thiếu nguồn lực và tầm nhìn chiến lược. Nguồn nhân
lực văn hóa, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo và nhân tài chất lượng cao, còn thiếu về số
lượng, hạn chế về năng lực, trong khi cơ chế sử dụng và đãi ngộ chưa tạo động lực phát
huy. Sự du nhập thiếu chọn lọc các sản phẩm văn hóa nước ngoài cũng đặt ra thách thức
trong việc định hướng giá trị và xây dựng lối sống lành mạnh cho giới trẻ.
Ngoài ra, nhận thức về vai trò của văn hóa trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế,
xã hội chưa thật đầy đủ và thống nhất, dẫn đến tình trạng triển khai chưa đồng bộ, nhiều
nơi mang tính hình thức. Tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống vẫn còn diễn
biến phức tạp, sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền vẫn lớn, trong khi
môi trường văn hóa chưa thực sự lành mạnh. Công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số 16
còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực và chính sách đặc thù phù hợp. Đặc biệt, giáo
dục văn hóa và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ chưa toàn diện, còn thiên về tri thức
chuyên môn, thiếu chú trọng đến đạo đức, kỹ năng sống, dẫn đến nguy cơ lệch chuẩn giá
trị trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.
Cuối cùng, công tác nghiên cứu lý luận và thực thi chính sách về văn hóa còn chậm,
chưa theo kịp với sự vận
động nhanh của đời sống xã hội và sự phát triển của công
nghiệp văn hóa, kinh tế số, toàn cầu hóa. Điều này khiến việc hoạch định chính sách
thiếu tính dự báo, cơ chế triển khai còn thiếu đồng bộ, làm giảm hiệu quả và chưa đáp
ứng đầy đủ kỳ vọng của xã hội.
Tóm lại, có thể khẳng định rằng những thành tựu đã đạt được đã góp phần quan
trọng trong việc khẳng định vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống chính trị – xã hội,
tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, những hạn chế còn tồn tại
cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng quản lý,
đầu tư nguồn lực, đồng thời gắn kết văn hóa chặt chẽ hơn với kinh tế, chính trị và giáo
dục để phát huy tối đa vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 17
CHƯƠNG III: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM
TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
3.1. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đặt nền tảng cho việc xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Người cho rằng văn hóa không chỉ là kho tàng di
sản tinh thần mà còn là động lực phát triển của xã hội, là sức mạnh nội sinh quyết định sự
trường tồn của dân tộc. Văn hóa Việt Nam hình thành qua hàng nghìn năm dựng nước và
giữ nước, kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp như lòng yêu nước, tinh thần cộng
đồng, ý thức tự lập tự cường và lối sống nhân nghĩa. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế
hiện nay, việc giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc càng trở nên cấp thiết, nhằm
bảo vệ bản sắc riêng trước sự giao thoa mạnh mẽ của các nền văn hóa khác, đồng thời tạo
điều kiện để văn hóa Việt Nam vươn ra thế giới.
Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, trước hết cần nhận thức sâu sắc
rằng văn hóa phải phục vụ nhân dân, phản ánh đời sống tinh thần của nhân dân và thúc
đẩy tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh khẳng định: văn hóa soi đường cho quốc dân đi, vì thế
mọi chính sách văn hóa đều phải lấy con người làm trung tâm. Bảo tồn các di sản văn
hóa, từ các lễ hội truyền thống, làng nghề, nghệ thuật dân gian cho đến các di tích lịch sử,
phải gắn liền với việc nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về giá trị
và ý nghĩa của di sản đó. Chẳng hạn phát triển các không gian di sản như Hội An, Tràng
An không chỉ nhằm bảo tồn giá trị cổ truyền mà còn gắn với phát triển du lịch bền vững,
tạo nguồn lực kinh tế cho cộng đồng địa phương.
Bên cạnh việc bảo tồn, cần khuyến khích sáng tạo, đổi mới các sản phẩm văn hóa
dựa trên nền tảng truyền thống để vừa đáp ứng nhu cầu hiện đại, vừa giữ gìn bản sắc
riêng. Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa “cái cũ” và “cái mới” mà Hồ Chí Minh từng
đề cao. Ví dụ, các làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc hay tranh
Đông Hồ hiện nay đang kết hợp phương pháp sản xuất hiện đại, mở rộng kênh bán hàng
qua mạng xã hội, thương mại điện tử để vừa bảo tồn kỹ thuật truyền thống, vừa tạo sức
sống mới cho sản phẩm. Sự sáng tạo này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giúp
lan tỏa hình ảnh văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh vai trò của cán bộ, đảng viên trong
việc nêu gương giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc. Các chính sách phát triển văn hóa
cần đặt con người ở vị trí trung tâm, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần yêu
nước, đồng thời mở rộng giao lưu quốc tế để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân
loại. Trong nhà trường, việc đưa các môn học về di sản, lịch sử, truyền thống địa phương
vào chương trình giáo dục phổ thông là cách thiết thực để thế hệ trẻ hiểu và yêu hơn văn
hóa dân tộc. Ở cấp cộng đồng, việc tổ chức các ngày hội văn hóa như hội làng, các cuộc
thi tìm hiểu truyền thống, hay các chương trình nghệ thuật dân gian cũng là cách khơi
dậy lòng tự hào dân tộc.
Để thực hiện hiệu quả, cần củng cố vai trò lãnh đạo và kết hợp chặt chẽ giữa Đảng,
Nhà nước và nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh “dân là gốc”, vì vậy lãnh đạo phải đi đôi 18