Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH & KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
-----🙞🙜🕮🙞🙜----- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
Lớp học phần: 232_HCMI0121_25 Nhóm: 6
GVHD: Nguyễn Thị Lan Phương Hà Nội, 2024 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên MSV Nhiệm vụ Điểm Nhận đánh giá xét - 2.2.4. Giá trị tư 1 Trần Phạm Bảo Long 22D108046 tưởng Hồ Chí Minh về ĐKQT - Thư ký - 2.2.1. Sự cần 2 Đặng Hương Ly 22D211024 thiết phải ĐKQT - 2.1.3. Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái 3 Nguyễn Ngọc Mai 22D211025 Quốc - 2.1.4. Nhân tố chủ quan - Word - Khái quát quan hệ quốc tế của 4 Lê Quang Minh 22D108048 Việt Nam hiện nay 5 Nguyễn Chang My 22D108049 - 2.1.1. Truyền thống của dân tộc Việt nam - 2.1.2. Chủ nghĩa Mác-Lênin - PPT - Phần mở đầu và 6 Nguyễn Phương Nam 22D108051 kết luận - Thuyết trình - 3.1. Sự cần thiết phải xây dựng quan hệ đoàn 7 Vũ Thành Nam 22D108052 kết trong bối cảnh hiện nay - PPT - 3.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây 8 Vũ Thành Nam 22D108053 dựng khối đoàn kết quốc tế của Việt Nam hiện nay - 1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh 9Nguyễn Thu Ngà – - 1.1.2. Tư tưởng Nhóm trưởng 22D108054 Hồ Chí Minh về ĐKQT - Word 10 Phạm Kim Ngân 22D108055 - 2.2.3. Nguyên tắc ĐKQT 11 Bùi Thị Ngọc 22D108056 - 2.2.2 Lực lượng đoàn kết quốc tế MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
NỘI DUNG............................................................................................................................ 3
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT........................................................................................................ 3
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ.......................3
1.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?.....................................................................................3
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế..............................................................3
1.1.3. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.............................................................3
1.1.4. Chủ nghĩa Mác Lênin và Quốc tế cộng sản...............................................................5
1.1.5. Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc...............................................6
1.1.6. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh.................................................................................8
1.1.6.1. Phẩm chất Hồ Chí Minh...........................................................................................8
1.1.6.2. Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận.......................................9
1.2. NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ..................11
1.2.1. Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế...........................................................................11
1.2.1.1. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng........................................................................11
1.2.2. Lực lượng đoàn kết quốc tế và hình thức tổ chức...................................................12
1.2.3. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế.....................................................................................15
1.2.4. Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế.................................................16
2.3. VẬN DỤNG.......................................................................................................................18
2.3.1. Sự cần thiết phải xây dựng quan hệ đoàn kết với các nước trong bối cảnh hiện
nay........................................................................................................................................ 18
2.3.2. Khái quát quan hệ quốc tế của Việt Nam hiện nay (ưu điểm, hạn chế)................20
2.3.2.1. Ưu điểm...................................................................................................................21
2.3.2.2. Hạn chế................................................................................................................... 24
2.3.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng khối đoàn kết quốc tế của Việt
Nam hiện nay....................................................................................................................... 26
KẾT LUẬN..........................................................................................................................29
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................31 LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên tên Nguyễn Sinh Cung và sau này được biết đến
với nhiều bí danh khác, là một biểu tượng vĩ đại trong lịch sử Việt Nam và cả thế giới.
Người không chỉ là biểu tượng sáng ngời của đại đoàn kết dân tộc, mà còn là hiện thân
rực rỡ của tinh thần đoàn kết quốc tế cao đẹp trong thời đại ngày nay. Trên thế giới, hiếm
có một lãnh tụ cách mạng nào lại bàn nhiều, tiến hành hoạt động nhiều và đạt được nhiều
kết quả tốt đẹp về đoàn kết quốc tế như người.
Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung rộng lớn,
sâu sắc, cao đẹp, trong đó trước hết là đoàn kết trong phong trào cộng sản, công nhân
quốc tế và đoàn kết trong đại gia đình các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Người luôn xác
định, đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đoàn kết gắn
bó trong các nước xã hội chủ nghĩa anh em là cơ sở nền tảng, là nhân tố quan trọng bậc
nhất, nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ thuộc về
chúng ta, sẽ thuộc về chủ nghĩa xã hội... Nếu như tất cả các nước anh em và các đảng anh
em đoàn kết chặt chẽ với nhau”. Với tinh thần ấy, Người tiếp tục khẳng định: ''Cuộc đấu
tranh kiên quyết của các dân tộc bị áp bức nhất định sẽ đánh bại bọn đế quốc thực dân.
Chủ nghĩa xã hội cuối cùng sẽ toàn thắng trên khắp thế giới. Hiện nay, trong bối cảnh
quốc tế biến đổi nhanh chóng và xu thế toàn cầu hóa đang gia tăng, nhất là lĩnh vực kinh
tế, không một quốc gia nào có thể phát triển mà lại không mở rộng quan hệ, đoàn kết, hợp
tác với các nước khác. Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, để phát triển và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, một
trong những vấn đề quan trọng là phải mở rộng đoàn kết hợp tác theo tinh thần "Việt Nam
sẵn sàng làm bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế". Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đoàn kết quốc trễ có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đổi mới của Đảng và nhà nước ta.
Hôm nay, chúng tôi xin trình bày đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam” để khẳng định lại tầm quan trọng của sự
đoàn kết quốc tế, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại và vận dụng những di sản ấy vào bối cảnh hiện nay. 1 NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là một trong những đóng góp quan trọng
của Người vào kho tàng tư tưởng của Đảng ta. Tư tưởng này không chỉ có ý nghĩa lý luận
sâu sắc mà còn có giá trị thực tiễn to lớn, định hướng cho đường lối đối ngoại của Việt
Nam trong suốt những năm qua.
1.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
Theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): “Tư
tưởng Hồ Chí Minh” là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã
hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của
Đảng, dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết quốc tế” là hệ thống những luận điểm,
nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tư tưởng này trước hết là đoàn kết trong phong trào
cộng sản, công nhân quốc tế và đoàn kết trong các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đoàn
kết quốc tế là nhân tố đảm bảo sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội cũng như thắng lợi của
công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, phi thực dân hóa trên phạm vi toàn thế giới.
Nói cách khác, tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những định
hướng, nền tảng, cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định và thực thi đường lối,
chính sách đối ngoại Việt Nam, là ánh sáng soi đường của đối ngoại Việt Nam.
1.1.3. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Ý thức dân tộc, làm chủ đất nước của người Việt Nam đã có từ ngàn năm nay. Cuộc
chiến đấu với thiên nhiên, với giặc ngoại xâm trong lịch sử ngàn năm đã hun đúc nên 2
truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam: Yêu nước nồng nàn, độc lập tự chủ, kiên cường
bất khuất, đoàn kết thống nhất, nhân ái khoan dung.
Đầu tiên, là chủ nghĩa yêu nước. Lòng yêu nước là một nét đẹp truyền thống của dân
tộc Việt Nam. Những nội dung chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã từng bước
được đúc kết, hình thành một hệ thống các nguyên lý với tư tưởng của các anh hùng hào
kiệt như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,… chính sức mạnh truyền thống
ấy đã thúc giục người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Đó cũng
là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước chứ chưa
phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo quốc tế thứ III. Truyền thống yêu
nước của dân tộc được Nguyễn Tất Thành tiếp thu từ những ngày ở quê hương và trên
con đường bôn ba khắp năm châu bốn bể. Người đã đến với những người lao động trên
thế giới, đến với tình hữu ái vô sản và đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin, đó là con đường
cứu nước, giải phóng dân tộc.
Thứ hai, đó là tinh thần đoàn kết, tương ái của dân tộc. Dân tộc Việt Nam từ lâu đã
có truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Tinh thần này được thể hiện rõ nét trong các
cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, trong quan hệ láng giềng và trong đời sống xã hội.
Người Việt Nam quen gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau.
Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống
này vẫn bền vững. Chính truyền thống này đã ngấm sâu vào tâm hồn của Bác Hồ, trở
thành nền tảng cho tư tưởng đoàn kết quốc tế của Người.
Thứ ba, ngoại giao truyền thống của Việt Nam cũng là một nhân tốc quan trọng hình
thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh. Ngoại giao truyền thống Việt Nam
xem trọng việc giữ hòa khí, đoàn kết hữu nghị với các nước, phấn đấu cho sự thái hòa,
yêu chuộng hòa bình là bản chất của ngoại giao Việt Nam. Trong khi lập trường nguyên
tắc giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược của các ngoại
bang. Đại Việt luôn kiên trì đường lối hòa bình trong quan hệ ngoại giao với các nước
láng giềng. Hòa hiếu là tư tưởng cốt lõi của ngoại giao Đại Việt đúng như nhà sử học
Phan Huy Chú đã đúc kết lịch sử ngoại bang của đất nước chúng ta: “Trong việc trị nước,
hòa hiếu với láng giềng là việc lớn”. 3
1.1.4. Chủ nghĩa Mác Lênin và Quốc tế cộng sản
Sau nhiều năm bôn ba ở các nước, cuối năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại nước
Pháp, tham gia phong trào công nhân Pháp và gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Ái
Quốc muốn nhanh chóng tìm ra con đường cứu nước đúng đắn và tìm lực lượng đoàn kết
tin cậy. Điều quan trọng hơn hết của Nguyễn Ái Quốc là “sự đoàn kết”, “đoàn kết với các
dân tộc thuộc địa”. Hầu hết trong các buổi mít ting, thảo luận, Người đều phát hiện và
khéo lái những vấn đề đang thảo luận sang vấn đề đoàn kết với các vấn đề thuộc địa.
Người đã từng nói: “Trong các cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các
dân tộc thuộc địa, nhưng đó lại là vấn đề mà tôi quan tâm hơn hết.”
Sau khi được biết Quốc tế thứ III do Lênin sáng lập có chủ trương đoàn kết các dân
tộc thuộc địa và nhất là được đọc “Bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa” của Lênin, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc biết có một tổ chức quốc tế ủng hộ
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức. Luận cương của Lênin đã giải quyết
trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm là vấn đề dân tộc
và thuộc địa đặt ra trong mối quan hệ quốc tế, chỉ ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa.
Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua (tháng 12/1920), Nguyễn Ái
Quốc bỏ qua phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III, trở thành một trong những người
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Bằng việc làm đó, Nguyễn Ái Quốc đã nêu cao ngọn cờ
đoàn kết quốc tế. Từ đoàn kết các dân tộc thuộc địa, mở thành đoàn kết với giai cấp vô
sản chính quốc và giai cấp vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc viết những bản tham luận,
phát biểu trong các kỳ sinh hoạt đảng và các cuộc họp của các tổ chức xã hội khác, tham
gia lãnh đạo Ban Nghiên cứu về thuộc địa, ra báo Người cùng khổ… Nguyễn Ái Quốc đã
vạch rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận tiến bộ
Pháp và thế giới, hình thành mặt trận đoàn kết quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng các
dân tộc bị áp bức. Những việc làm đó đã đánh dấu một bước chuyển biến quyết định trong
nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ đây, Người đã tiếp thu
sâu sắc và sáng tạo những khẩu hiệu chiến lược của Mác – Lênin, “Vô sản toàn thế giới,
đoàn kết lại”, “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”. Người đã gọi
Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể. Người nhấn mạnh: “Lao động tất cả các nước 4
đoàn kết lại” và Người khẳng định, chính Lênin và Quốc tế Cộng sản đã chỉ ra cho dân
tộc và giai cấp vô sản thế giới sự cần thiết và con đường tập hợp đoàn kết các lực lượng
cách mạng trong phạm vi từng nước và thế giới vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư
bản, chủ nghĩa đế quốc. Hồ Chí Minh tiếp thu và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin trên tinh
thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, trên cơ sở đó Người xây dựng và phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của mình.
Có thể nói rằng chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc tế Cộng sản là nhân tốc quan trọng
có ý nghĩa định hình rõ rệt tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh. Trải qua gần 10
năm tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với
chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc tế Cộng sản, từ một nhà yêu nước trở thành một chiến sĩ quốc tế chân chính.
1.1.5. Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành bắt đầu từ ngày 5/6/1911 tại
Bến cảng Nhà Rồng khi Người lên tàu Amiral Latouche Tréville rời Việt Nam với khát
vọng tìm con đường giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ. Suốt nhiều năm bôn ba qua các
châu lục, Người sống hòa mình với nhân dân lao động, với phong trào của công nhân và
nhân dân các dân tộc thuộc địa, khảo nghiêm thực tiễn cách mạng thế giới. Điều này đã
thôi thúc Người nhận ra rằng, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam không đơn
độc mà gắn liền với cuộc đấu tranh chung của nhân loại. Chính trong quá trình này,
Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho
dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: "Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
Trong những năm hoạt động ở Pháp (từ cuối năm 1917 đến năm 1923), Nguyễn Ái
Quốc đã khẳng định vai trò của sự đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc. Ngày 18/6/1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người yêu nước Việt
Nam tại Pháp, Hồ Chí Minh gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho
nhân dân Việt Nam và cũng là đòi quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Người
tham gia Đảng Xã hội Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và tiếp tục
phát triển tư tưởng cách mạng dựa trên nền tảng liên kết quốc tế. Từ năm 1923 đến 1924,
khi làm việc tại Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô, Người đã gắn kết phong trào cách mạng 5
Việt Nam với phong trào cộng sản quốc tế, tranh đấu cho quyền lợi của các dân tộc thuộc
địa tại nhiều diễn đàn quốc tế.
Từ tháng 6/1923 đến tháng 11/1924, thời kỳ Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô làm việc
tại Quốc tế Cộng sản. Tại đây, Người tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất;
tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội III Quốc tế Cộng hội Đỏ, Đại hội IV Quốc
tế Thanh niên,... Tại diễn đàn các đại hội đó, Người đã nói lên tiếng nói của nhân dân
thuộc địa, bảo vệ những luận điểm đúng đán của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc
địa và tuyên truyền những tư tưởng cách mạng của mình trên lập trường mácxít. Đây
cũng là thời kỳ Người tự hoàn thiện thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, đặt mối
liên hệ trực tiếp giữa Quốc tế Cộng sản, Đáng Cộng sản Liên Xô với phong trào cách mạng Việt Nam.
Từ 1924 đến 1941, Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều hoạt động quốc tế quan trọng, kết
nối phong trào cách mạng Việt Nam với thế giới. Từ tháng 11/1924 đến năm 1927 tại
Quảng Châu (Trung Quốc), Người làm việc trong Đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô tại
Trung Quốc, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và xuất bản báo Thanh niên.
Sau đó, Người đi nhiều nước châu Âu như Đức, Bỉ và Italia để tham dự các hội nghị và
phong quốc tế. Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị thành lập Đảng tại Hương
Cảng, Cửu Long, Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt
của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng - Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng. Những năm 1934 - 1938, Nguyễn Ái Quốc học tập, nghiên cứu và
giảng dạy tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô)
tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.
Ngày 28/1/1941, Người đã đặt chân lên mảnh đất địa đầu Tổ quốc. Tháng 5/1941,
Người triệu tập Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định đường
lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), tổ
chức xây dựng lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Sự đoàn kết quốc tế mà Hồ Chí Minh theo đuổi không chỉ dừng ở việc liên kết với
các đảng cộng sản khác, mà còn mở rộng qua việc tìm kiếm liên minh chống phát xít
trong những năm 1942-1943 tại Trung Quốc. Từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943, lấy tên
là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc 6
Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối
hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương.
Những năm 1944 - 1945, Người trở về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam;
thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân; lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến
hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân.
Sự kiện ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khép lại hành
trình bôn ba tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh - mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.
Hành trình của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từ năm 1911
đến năm 1945 không chỉ là quá trình tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc mà
còn là quá trình hình thành và phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của Người. Tư tưởng
này đã trở thành một trong những giá trị cốt lõi của cách mạng Việt Nam và có ý nghĩa to
lớn đối với quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay.
1.1.6. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
1.1.6.1. Phẩm chất Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh có lý tưởng cao cả về việc giải phóng dân tộc và quốc tế. Người
không chỉ mong muốn cứu dân tộc Việt Nam khỏi cảnh lầm than, mà còn khát vọng giải
phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn cầu. Lý tưởng này không chỉ giới hạn ở việc giải
phóng Việt Nam mà còn mở rộng đến sự đoàn kết quốc tế, đặc biệt là với các dân tộc
thuộc địa và các phong trào cách mạng trên thế giới.
Người có ý chí, nghị lực to lớn, một mình dám đi ra nước ngoài khảo sát thực tế
các nước đế quốc giàu có cũng như các dân tộc thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, mà chỉ với
hai bàn tay trắng. Người đã làm nhiều nghề nghiệp khác nhau để kiếm sống, biết rất
nhiều ngoại ngữ, tự học hỏi và hoạt động cách mạng. Kết hợp học ở nhà trường, học trong
sách vở, học trong thực tế hoạt động cách mạng, học ở nhân dân khắp những nơi Người
đã đến, và đã có vốn học thức văn hoá sâu rộng Đông Tây kim cổ để vận dụng vào hoạt
động cách mạng. Qua quá trình tự học và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, Hồ Chí 7
Minh đã nắm bắt được thực tiễn của cả những quốc gia thuộc địa và đế quốc. Điều này
giúp Người thấu hiểu sâu sắc mối quan hệ bất công giữa các nước lớn và các dân tộc bị
trị, từ đó hình thành tư tưởng đoàn kết các dân tộc bị áp bức để tạo nên sức mạnh chung,
đứng lên chống lại các thế lực áp bức. Ý chí kiên cường và sự linh hoạt của Người cũng là
yếu tố quyết định giúp lan tỏa tinh thần đoàn kết quốc tế.
Sự hiểu biết sâu rộng về văn hóa Đông Tây, khả năng học hỏi từ thực tiễn và nhân
dân, cùng với bản lĩnh tư duy độc lập và sáng tạo đã giúp Hồ Chí Minh vận dụng các bài
học cách mạng quốc tế một cách phù hợp với điều kiện Việt Nam. Điều này phản ánh sự
tự chủ và tính sáng tạo trong cách tiếp cận của Người, từ đó hình thành tư tưởng đoàn kết
quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng hợp tác vì lợi ích chung.
Đặc biệt là Hồ Chí Minh là người có bản lĩnh tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, giàu
tính phê phán, đổi mới và cách mạng; đã vận dụng đúng quy luật chung của xã hội loài
người, của cách mạng thế giới vào hoàn cảnh riêng, cụ thể của Việt Nam, đề xuất tư
tưởng, đường lối cách mạng mới đáp ứng đúng đòi hỏi thực tiễn; có năng lực tổ chức biến
tư tưởng, đường lối thành hiện thực. Điều này giúp Hồ Chí Minh xây dựng được mối
quan hệ quốc tế rộng rãi, đồng thời tạo điều kiện cho Việt Nam trở thành điểm tựa tinh
thần cho nhiều phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa khác.
Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, đã đưa cách mạng
Việt Nam vào dòng chảy chung của cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh là người có năng
lực tổng kết thực tiễn, năng lực tiên tri, dự báo tương lai chính xác và kỳ diệu để dẫn dắt
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đi tới bến bờ thắng lợi vinh quang.
Hồ Chí Minh là người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, Là người suốt
đời đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam và của cách mạng
thế giới. Những phẩm chất cá nhân đó là một nhân tố quyết định những thành công sáng
tạo của Hồ Chí Minh trong hoạt động lý luận và thực tiễn không vì cho sự nghiệp riêng
mình mà vì cả dân tộc Việt Nam và nhân loại. Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Người phản
ánh phẩm chất cao quý của một nhà cách mạng luôn đặt lợi ích của cộng đồng và toàn dân
lên trên lợi ích cá nhân. Điều này đã tạo nên lòng tin và sự kính trọng của nhiều quốc gia, 8
phong trào cách mạng, và là một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ quốc tế bền vững.
1.1.6.2. Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận
Hồ Chí Minh là người có vốn sống và thực tiễn cách mạng phong phú, phi thường.
Trước khi trở thành Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã sống, học tập, hoạt động, công tác ở
khoảng 30 nước trên thế giới. Người đặc biệt xác định rõ bản chất, thủ đoạn của chủ nghĩa
đế quốc, thực dân; thấu hiểu tình cảnh người dân ở nhiều nước thuộc hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa đế quốc ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh. Thông qua việc sống và
làm việc tại các nước đế quốc như Pháp, Mỹ, và các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã
nhận ra rằng sự đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức là cách duy nhất để chống lại chủ
nghĩa thực dân và giành độc lập. Từ đó, tư tưởng đoàn kết quốc tế của Người hình thành,
với mục tiêu là sự hợp tác giữa các quốc gia thuộc địa và các nước tiến bộ chống lại kẻ
thù chung. Những trải nghiệm của Hồ Chí Minh tại các nước thuộc địa như châu Á, châu
Phi và Mỹ Latinh đã giúp Người thấy rõ sự tương đồng giữa các dân tộc bị đô hộ. Từ đó,
Người đề xuất một sự đoàn kết giữa các nước thuộc địa để cùng nhau đứng lên đấu tranh
giành độc lập, đặt nền móng cho tư tưởng quốc tế về giải phóng dân tộc. Người thấu hiểu
về phong trào giải phóng dân tộc, về xây dựng chủ nghĩa xã hội, về xây dựng đảng cộng
sản,... không chỉ qua nghiên cứu lý luận mà còn qua việc tham gia sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp, qua hoạt động trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, qua tham gia phong trào cộng
sản quốc tế ở nhiều nước, qua nghiên cứu đời sống xã hội ở Liên Xô – nước xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới,...
Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu lý luận mà còn trực tiếp tham gia
và đóng góp vào các phong trào cách mạng quốc tế. Thông qua việc tham gia các phong
trào cộng sản tại nhiều quốc gia, Hồ Chí Minh đã xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các
giai cấp vô sản trên toàn thế giới. Từ đó, Người phát triển tư tưởng về sự hỗ trợ lẫn nhau
giữa các quốc gia trong cuộc đấu tranh chung chống lại chủ nghĩa đế quốc và xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh là nhà tổ chức vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Người đã hiện thực
tiễn cách mạng, bổ sung, phát triển lý luận, tư tưởng cách mạng. Cùng với việc tìm thấy 9
mục tiêu, phương hướng cách mạng Việt Nam ở chủ nghĩa Mác - Lênin, Người tham gia
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; chuẩn bị về nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam – tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Người
sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập Quân đội nhân dân Việt Nam; khai sinh
Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Hồ Chí Minh đã áp dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
vào hoàn cảnh Việt Nam, đồng thời thúc đẩy sự liên kết giữa cách mạng Việt Nam và các
phong trào quốc tế. Người đã hiện thực hoá các lý luận cách mạng qua việc sáng lập các
tổ chức, từ đó góp phần gắn kết cách mạng trong nước với các cuộc đấu tranh trên toàn
thế giới. Người luôn nhận thức rõ ràng rằng, muốn thành công, các cuộc cách mạng tại
các nước thuộc địa phải gắn liền với phong trào cách mạng quốc tế, đồng thời tiếp nhận
và phát triển các lý luận phù hợp với thực tiễn đấu tranh của từng dân tộc.
1.2. Nội dung và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
1.2.1. Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế
1.2.1.1. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế để tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh
thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam.
Sức mạnh dân tộc là sự tổng hợp của các yếu tố vật chất và tinh thần, trước hết là sức
mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường của dân tộc; sức mạnh tinh thần
đoàn kết; của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do,... Sức mạnh đó đã
giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách khó khăn trong dựng nước và giữ nước.
Sức mạnh thời đại là mà Bác Hồ đề cập chính là sức mạnh to lớn của phong trào cách
mạng thế giới, được khởi nguồn từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917
và tư tưởng Mác- Lênin. Qua quá trình hoạt động cách mạng và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác- Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Bác Hồ nhận thấy tiềm năng vô hạn của các
phong trào cách mạng trên toàn cầu. Người tin rằng, khi các phong trào này liên kết, đoàn 10
kết lại thành một khối thống nhất, chúng sẽ tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn, có thể giúp
cách mạng Việt Nam giành thắng lợi
Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng
thế giới ngay từ khi thấy con đường cứu nước. Người cho rằng, cách mạng Việt Nam chỉ
có thể thành công khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới.
Thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; đại đoàn kết toàn dân
tộc là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế. Cùng với quá trình phát triển thắng lợi
của cách mạng Việt Nam trong quan hệ quốc tế, tự tưởng đoàn kết với phong trào cách
mạng thế giới được Hồ Chí Minh phát triển ngày càng đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn.
1.2.1.2. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện
thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa chủ nghĩa yêu nước chân
chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người khẳng định, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền
với đoàn kết quốc tế, và mục tiêu của đoàn kết quốc tế không chỉ vì thắng lợi của cách
mạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ. Trong bối cảnh thế giới
đang chuyển biến sâu sắc, các quốc gia ngày càng trở nên gắn kết, Hồ Chí Minh đã tiên
phong nhấn mạnh rằng, vận mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của nhân loại.
Nhận thức rõ đặc điểm của thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng
hoạt động để đưa cách mạng Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy chung của cách mạng thế
giới. Người không chỉ phát huy cao độ tinh thần yêu nước mà còn kiên trì đấu tranh để
củng cố khối đại đoàn kết giữa các lực lượng cách mạng. Theo Người, để tăng cường
đoàn kết quốc tế, các đảng cộng sản cần kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của
chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc. Việc giáo dục lý tưởng chủ nghĩa yêu nước
chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nhiệm vụ cấp bách của các đảng cộng sản.
Thắng lợi của Cách mạng Việt Nam là minh chứng sinh động cho sự sáng tạo độc
đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa giải phóng dân tộc và giải
phóng giai cấp, Người đã không chỉ mang đến độc lập cho Tổ quốc mà còn góp phần vào 11
sự nghiệp chung của nhân loại. Nhờ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã
trở thành một điểm sáng, thu hút sự đồng tình và ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế
giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế đã chứng minh rằng, chỉ có bằng sự
đoàn kết, chúng ta mới có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách để giành thắng lợi.
1.2.2. Lực lượng đoàn kết quốc tế và hình thức tổ chức
1.2.2.1. Các lực lượng cần đoàn kết
Lực lượng đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào hoà
bình, dân chủ thế giới, trước hết là phong trào chống chiến tranh của nhân dân các nước đang xâm lược Việt Nam
Với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản
quốc tế là một bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Tiếp nhận học
thuyết Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy một lực lượng ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Đó là phong trào cộng sản và công nhân
thế giới, là Liên Xô và sau này là các nước xã hội chủ nghĩa, là Quốc tế thứ ba và sau này
là Cục Thông tin quốc tế. Từ đó, Người đã dành nhiều thời gian và tâm lực, phấn đấu-
không mệt mỏi cho việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Chủ trương đoàn kết giai cấp vô sản các nước, đoàn kết
giữa các đảng cộng sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ tính tất yếu về vai trò
của giai cấp vô sản trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã phát
hiện ra âm mưu chia rẽ dân tộc của các nước đế quốc, tạo sự biệt lập, đối kháng và thù
ghét dân tộc, chủng tộc nhằm làm suy yếu phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa. Chính vì vậy, Người đã kiến nghị Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản
về những biện pháp nhằm "Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt
nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông
tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản. Thêm
vào đó, Hồ Chí Minh còn đề nghị Quốc tế cộng sản bằng mọi cách phải "Làm cho đội tiên
phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn 12
đường cho một sự hợp tác thật sự sau này; chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai
cấp công nhân quốc tế giành thắng lợi cuối cùng". Người nói đứng trước chủ nghĩa đế
quốc, quyền lợi của giai cấp vô sản chính quốc và của nhân dân các nước thuộc địa là thống nhất.
Với các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tự do và
công lý, Hồ Chí Minh cũng tìm mọi cách để thực hiện đoàn kết. Trong xu thế mới của
thời đại, sự thức tỉnh dân tộc gắn liền với thức tỉnh giai cấp, Hồ Chí minh đã gắn cuộc đấu
tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để
tập hợp và tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Sau khi Việt Nam
giành được độc lập, thay mặt Chính phủ Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố: "Chính sách
ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ
trên thế giới để gìn giữ hòa bình"; "Thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là
một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè". Bên cạnh ngoại giao nhà
nước, Hồ Chí Minh đẩy mạnh ngoại giao nhân dân, cho đại diện các tổ chức của nhân dân
Việt Nam tiếp xúc, hợp tác với các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa của nhân dân thế
giới, của nhân dân Á Phi..., xây dựng các quan hệ hữu nghị, đoàn kết với các lực lượng tiến bộ thế giới.
1.2.1.2. Hình thức tổ chức
Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt tới các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.
Cả ba dân tộc đều là láng giềng gần gũi của nhau, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử
văn hóa và cùng chung một kẻ thù là thực dân Pháp. Năm 1941 để khơi dậy sức mạnh và
quyền tự quyết của mỗi dân tộc, Người quyết định thành lập riêng biệt Mặt trận độc lập
đồng minh cho từng nước Việt Nam, Lào, Cao Miên tiến tới thành lập Đông Dương độc
lập đồng minh. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hồ Chí
Minh đã chỉ đạo việc hình thành Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào ( Mặt trận nhân dân
ba nước Đông Dương) phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau cùng chiến đấu, cùng thắng lợi
Với các dân tộc Châu Á, Người chỉ rõ, các dân tộc châu Á có độc lập thì nền hòa
bình thế giới mới thực hiện, vận mệnh dân tộc châu Á quan hệ mật thiết với vận mệnh dân
tộc Việt Nam. Do vậy, từ những năm 20 của thế kỷ XX, cùng với việc sáng lập Hội liên
hiệp thuộc địa tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp 13
bức tại Trung Quốc. Đây là hình thức sơ khai của mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp
bức theo xu hướng vô sản, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc. Với việc tham gia sáng lập các tổ chức này, Hồ Chí Minh đã góp phần đặt
cơ sở cho sự ra đời của Mặt trận nhân dân Á Phi đoàn kết với Việt Nam.
Những năm đấu tranh giành độc lập, Hồ Chí Minh tìm mọi cách xây dựng các
quan hệ với Mặt trận dân chủ và lực lượng Đồng minh chống phát xít nhằm tạo thế dựa
cho cách mạng Việt Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bằng
hoạt động ngoại giao không mệt mỏi, Hồ Chí Minh đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh
em, của bạn bè quốc tế và nhân loại tiến bộ, trong đó có cả nhân dân Pháp trong kháng
chiến chống thực dân Pháp và nhân dân Mỹ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, hình
thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.
Như vậy, tư tưởng đại đoàn kết vì thắng lợi cách mạng của Hồ Chí Minh đã định
hướng cho việc hình thành bốn tầng mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận
đoàn kết Việt - Miên - Lào; Mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam; Mặt trận
nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam.
1.2.3. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế
1.2.3.1. Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích; có lý, có tình
Muốn thực hiện được đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc và các lực lượng phản động quốc tế, phải tìm ra được những điểm tương đồng về
mục tiêu và lợi ích giữa các dân tộc, các lực lượng tiến bộ và phong trào cách mạng thế
giới. Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra sự tương đồng này nhờ đặt cách mạng Việt Nam
trong bối cảnh chung của thời đại, kết hợp lợi ích của cách mạng Việt Nam với trào lưu
cách mạng thế giới và nhận thức về nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng
chung của nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương cao ngọn
cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đoàn kết thống nhất trên nền
tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Hồ Chí Minh
đã suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong cách mạng
thế giới, trước hết là phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lực lượng tiên phong của 14