Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI
“VÌ LỢI ÍCH MƯỜI NĂM THÌ PHẢI TRỒNG CÂY, VÌ LỢI
ÍCH TRĂM NĂM THÌ PHẢI TRỒNG NGƯỜI”.
LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY.
Nhóm thực hiện: Nhóm 8
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Thị Thu Hà
Lớp học phần: 241_HCMI0111_02 Hà Nội, 2024 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
CHƯƠNG 1: LUẬN ĐIỂM: “VÌ LỢI ÍCH MƯỜI NĂM THÌ PHẢI TRỒNG
CÂY, VÌ LỢI ÍCH TRĂM NĂM THÌ PHẢI TRỒNG NGƯỜI”.............................2
1.1. Hoàn cảnh ra đời luận điểm..........................................................................2
1.2. Phân tích nội dung của luận điểm.................................................................2 1.2.1.
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây”.............................................2 1.2.2.
“Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”..........................................3
1.3. Ý nghĩa của luận điểm....................................................................................4
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ LUẬN ĐIỂM.....................7
2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của việc trồng cây.........................7
2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và vai trò của con người.........9
2.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người................................11 2.3.1.
Ý nghĩa xây dựng con người...............................................................11 2.3.2.
Nội dung xây dựng con người.............................................................12 2.3.3.
Phương pháp xây dựng con người.....................................................15
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ VỚI THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT
NAM HIỆN NAY.......................................................................................................18
3.1. Thực trạng....................................................................................................18 3.1.1.
Thành tựu và nguyên nhân của thành tựu.........................................18 3.1.2.
Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế...............................................24
3.2. Giải pháp.......................................................................................................29
PHẦN KẾT LUẬN....................................................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................33 LỜI MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh (1890-1969) là vị lãnh tụ vĩ đại, một nhà cảnh mạng tài ba, anh
hùng giải phóng dân tộc và được UNESCO công nhận là danh nhân văn hoá thể giới,
Người đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, đóng
góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
của các dân tộc trên thế giới. Hơn thế nữa, tuần báo Time của Hoa Kỳ còn bình chọn
Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20, Bác
Hồ được tờ báo nhận định là người đã góp phần “làm thay đổi diện mạo hành tinh
chúng ta trong thế kỷ 20”. Bác Hồ là một con người vĩ đại, cả cuộc đời và sự nghiệp
của Bác đã tạo nên huyền thoại, ghi dấu ấn mạnh mẽ không chỉ với riêng đất nước Việt
Nam, con người Việt Nam mà còn được cả thế giới ghi nhận và tôn vinh. Trong những
câu nói nổi tiếng của Bác có một câu nói vô cùng ý nghĩa mà chúng ta, những thế hệ
con cháu Việt Nam luôn luôn cần ghi nhớ và thực hiện theo, đấy cũng chính là một lời
răn dạy, đạo lý mà Bác muốn truyền đạt đến tất cả nhân dân và đồng bào cả nước, đó
là: " Vì lợi ích của mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
người". Vậy câu nói của Bác có ý nghĩa như thế nào đối với xây dựng và phát triển
con người Việt Nam trong thời đại ngày nay? Vấn đề đó sẽ được làm sáng tỏ ngay sau đây. 1
CHƯƠNG 1: LUẬN ĐIỂM: “VÌ LỢI ÍCH MƯỜI NĂM THÌ PHẢI TRỒNG
CÂY, VÌ LỢI ÍCH TRĂM NĂM THÌ PHẢI TRỒNG NGƯỜI” 1.1.
Hoàn cảnh ra đời luận điểm
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (1954) và Hiệp định Geneve chia đôi đất
nước, miền Bắc Việt Nam bước vào giai đoạn khôi phục và xây dựng lại đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân
miền Bắc đã đạt được những thành tựu đáng kể. Trong bối cảnh đất nước vừa trải qua
chiến tranh, cần phải xây dựng lại mọi mặt, Bác Hồ nhận thấy rằng, con người là yếu
tố quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng đất nước. Việc đào tạo, giáo dục
con người không chỉ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước mà còn
góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ. Vậy nên, tại lớp học chính trị của
giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc ngày 13-9-1958, Bác đã căn dặn: “Vì lợi ích
mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải
đào tạo ra những công dân tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các
nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang”... 1.2.
Phân tích nội dung của luận điểm
1.2.1. “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây”
Trồng cây – biểu tượng cho sự đầu tư bền vững
Trồng cây là một hành động cần thời gian dài để cây phát triển và cho ra hoa,
trái, hoặc bóng mát. Tương tự, mọi hành động hay đầu tư ngắn hạn nhằm cải thiện
cuộc sống không thể mang lại kết quả ngay lập tức. Phải có sự kiên nhẫn và đầu tư liên
tục mới có thể nhận được lợi ích sau mười năm, cũng như một cây trồng cần thời gian để trưởng thành. Lợi ích mười năm
Câu nói của Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, để đạt được những lợi ích trong một
thập kỷ, con người cần có những kế hoạch và hành động thích hợp. Đó có thể là những
chính sách phát triển kinh tế, cải thiện hạ tầng hoặc bảo vệ môi trường. Những điều
này giống như “trồng cây” vì chúng cần thời gian và nỗ lực để sinh hoa kết quả. 2
Câu nói “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây” của Hồ Chí Minh mang ý
nghĩa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư cho tương lai gần. Trong khoảng thời
gian mười năm, việc trồng cây sẽ mang lại lợi ích thiết thực, chẳng hạn như tạo ra
bóng mát, bảo vệ môi trường, cung cấp gỗ, và duy trì sự cân bằng sinh thái. “Trồng
cây” ở đây là biểu tượng cho những hành động cụ thể, có kết quả nhanh trong thời
gian tương đối ngắn, góp phần tạo nên một môi trường sống tốt đẹp hơn cho xã hội.
Tuy nhiên, việc trồng cây không chỉ đơn thuần dừng lại ở khía cạnh vật chất mà
còn bao hàm những giá trị tinh thần. Nó tượng trưng cho sự đầu tư có ý thức vào các
hoạt động hay lĩnh vực mang lại hiệu quả trong ngắn hạn, nhưng vẫn giữ vai trò quan
trọng trong việc kiến tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trồng cây
là một hành động thể hiện trách nhiệm với môi trường và xã hội, nhằm mang lại lợi ích
cho thế hệ hiện tại và mai sau.
1.2.2. “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Trồng người – Biểu tượng của giáo dục và phát triển con người
“Trồng người” ở đây chính là việc giáo dục và đào tạo con người từ trẻ nhỏ đến
người trưởng thành, giúp họ trở thành những công dân có đạo đức, tri thức và năng
lực. Giáo dục không chỉ cung cấp kiến thức mà còn hình thành những phẩm chất và
giá trị đạo đức, giúp cá nhân phát triển toàn diện. Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng con
người là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự phát triển và tồn vong của một quốc gia. Lợi ích trăm năm
“Lợi ích trăm năm” ám chỉ những giá trị bền vững và lâu dài cho tương lai của
đất nước. Bác Hồ nhấn mạnh rằng chỉ có việc đầu tư vào con người qua việc giáo dục,
đào tạo thế hệ trẻ mới mang lại sự phát triển ổn định và thịnh vượng trong cả một thế
kỷ. Nếu muốn quốc gia phát triển về mọi mặt, chúng ta phải chú trọng đến việc xây
dựng con người ngay từ bây giờ.
“Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” của Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm
quan trọng lâu dài của việc giáo dục và phát triển con người. Trong câu này, “trồng
người” là cách nói ẩn dụ cho việc bồi dưỡng, giáo dục con người về cả tri thức, kỹ 3
năng, và đạo đức. Nếu “trồng cây” mang lại lợi ích trong mười năm, thì “trồng người”
là đầu tư cho sự phát triển bền vững của quốc gia trong hàng thế kỷ.
“Trồng người” ở đây đề cao vai trò của giáo dục trong việc xây dựng con người
toàn diện, vừa có năng lực chuyên môn, vừa có phẩm chất đạo đức. Chỉ khi có những
con người được giáo dục tốt, xã hội mới có thể phát triển một cách bền vững, bởi con
người là nhân tố quyết định mọi sự tiến bộ. Câu nói này thể hiện tầm nhìn chiến lược
của Hồ Chí Minh, nhận thấy rằng giáo dục chính là nền tảng cốt lõi để xây dựng một
quốc gia phồn thịnh, văn minh, và tiến bộ trong dài hạn.
Trong bối cảnh hiện nay, việc “trồng người” không chỉ bao hàm giáo dục về
mặt kiến thức, mà còn cả về đạo đức, tinh thần trách nhiệm, và ý thức cộng đồng,
nhằm phát triển những thế hệ công dân có khả năng cống hiến cho xã hội trong tương lai.
1.3. Ý nghĩa của luận điểm
Bằng những từ ngữ rất mộc mạc lại dễ hiểu, Bác Hồ đã thể hiện một tư tưởng
rất mới lạ. Đó là tư tưởng “trồng cây” đi đôi với quan điểm “trồng người”, thống nhất
cả hình thức và nội dung, thể hiện được nhân sinh quan cách mạng triệt để của Người.
Bác có cách nói, cách so sánh rất hữu ý. Trước hết, nói về cách so sánh, liên tưởng
trong câu nói này của Bác: “Ai cũng biết muốn trồng cây có kết quả thì phải chọn
được giống tốt, đất tốt, phải quan tâm chăm sóc, nhưng sự chăm sóc cũng phải đúng
cách và khoa học, thì cây mới sinh trưởng tốt được. Việc trồng người cũng như vậy;
nó là cả một quá trình và liên quan đến nhiều yếu tố như môi trường, phương pháp
giáo dục v.v...” Lấy một cái cụ thể (trồng cây) để nói về một khái niệm trừu tượng
(trồng người), Bác đã giúp cho người nghe hình dung một cách dễ hiểu hơn rất nhiều
lần một bài giảng dài dòng về ý nghĩa, mục đích, tầm quan trọng... của sự nghiệp giáo
dục thế hệ trẻ. Trồng cây hay trồng người cũng đều là “trồng” cả nhưng nếu trồng cây
là vì lợi ích “mười năm”, thì trồng người lại là vì lợi ích “trăm năm”. Sự khác biệt ở
đây là sự khác biệt về chất: trồng cây là vì lợi ích trước mắt, trồng người là vì lợi ích
lâu dài. Và như vậy, nó đòi hỏi sự bền bỉ hơn, tốn nhiều công sức hơn; đồng thời cái
mà người ta thu hoạch được từ công việc trồng người không phải là ngày một, ngày
hai, mà gắn liền với sự tồn vong, phát triển của cả một dân tộc, qua nhiều thế hệ... Nói
cách khác, giáo dục thế hệ trẻ theo tư tưởng của Hồ Chủ tịch là vun trồng, chăm sóc, 4
bồi dưỡng, đào tạo cho đời sau những con người, lớp người khoẻ khoắn, cả về thể chất
và tinh thần. Cũng như người nông dân trồng cây vậy, là để có những cây, những rừng
tươi tốt... Điều này có nghĩa là việc “Trồng người" là công việc trăm năm, không thể
nóng vội một sớm một chiều, không phải một lúc là xong, cũng không phải tùy tiện,
đến đâu hay đến đó. Nhớ lại ngày xưa, Quản Trọng - một nhà chính trị và nhà tư tưởng
lớn của Trung Quốc, tướng quốc nước Tề, giúp vua Hoàn Công, làm nên nghiệp bá
cũng từng đưa ra kế sách: “Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu. Kế sách
cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu. Kế sách cho trọn đời, lấy việc trồng người
làm đầu. Lúa, thì trồng một gặt một. Cây, thì trồng một hái mười. Người, thì trồng một gặt trăm”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “trồng người” chính là chăm sóc, rèn luyện, bồi
dưỡng, giáo dục, đào tạo con người, nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác quan niệm, “trồng người” là một trách nhiệm
nặng nề nhưng rất vẻ vang, là công việc “trăm năm”, không thể nóng vội “một sớm,
một chiều", mà tất yếu phải trải qua một quá trình lâu dài, gắn với các giai đoạn phát
triển của cách mạng. Khẳng định vai trò quyết định của con người trong sự nghiệp
cách mạng, Hồ Chí Minh đã nói đến “lợi ích trăm năm” của việc đào tạo, giáo dục con
người nhằm thực hiện mục tiêu “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
“Trồng người” còn là giáo dục, đào tạo con người phát triển toàn diện về chính
trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, chuyên môn kỹ thuật. Hồ Chí Minh đề cao vai trò của
giáo dục, coi giáo dục là biện pháp cơ bản trong sự nghiệp “trồng người”. Bởi con
người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Như
thế có nghĩa là nói rằng con người là yếu tố quan trọng trong việc phát triển đất nước.
Như vậy có thể thấy rằng vấn đề giáo dục luôn luôn là vấn đề then chốt, là quốc sách
hàng đầu của mỗi quốc gia ở mọi thời đại. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu
ngày ngày càng cao của xã hội. Và con người chính là chủ thể của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, là chủ thể chân chính của các quá trình xã hội. Đồng thời,
xuất phát từ tư tưởng của C. Mác về sự phát triển vì con người, vì sự nghiệp giải
phóng của con người, giải phóng nhân loại, chúng ta có thể khẳng định rằng sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên thế giới nói chung và đặc biệt là ở nước ta hiện nay 5
chính là một cuộc cách mạng - cách mạng con người. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
phải vì mục tiêu phát triển con người. Chỉ có như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
mới trở thành sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Chính vì vậy, việc thực hiện công
tác “trồng người” theo lời căn dặn của Bác càng phải được đề cao và chú trọng hơn nữa. 6
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ LUẬN ĐIỂM 2.1.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của việc trồng cây
Bác cũng yêu thiên nhiên và thích trồng cây, nhưng với một tư tưởng và phong
cách hoàn toàn khác. Bác gắn chặt thiên nhiên với cuộc đời. Bác trồng cây thực sự với
một mục đích dân sinh kinh tế thiết thực và lâu dài.
Bác Hồ là người trồng cây vĩ đại. Yêu cây, trồng cây ở Bác thể hiện năm phẩm
chất cách mạng cao đẹp.
Trước hết yêu cây, trồng cây ở Bác là cả một tấm lòng yêu nước, thương đồng
bào. Hoa râm bụt là một hình tượng về tấm lòng yêu nước của Bác. Khi còn ẵm ngửa,
Bác đã say sưa đùa giỡn với bông hoa râm bụt mà mẹ và chị buộc chỉ treo trước mặt.
Trong hành trang đi tìm đường cứu nước, Bác luôn luôn mang theo những hình tượng
dân tộc, trong đó có lòng thương người, nụ cười dí dỏm, Truyện Kiều, Chinh phụ
ngâm, câu thơ Bà Huyện Thanh Quan, câu hát ru em và cả cây hoa râm bụt. Làm giỗ
mẹ chẵn hai mươi năm trên đất Pháp, Bác vẫn tìm được hoa râm bụt cho gà thờ ngậm,
đúng như câu ngạn ngữ ngàn xưa ông cha căn dặn “Gà thờ giỗ cha, gà ngậm ngọn
trúc/ Gà thờ giỗ mẹ, gà ngậm hoa râm bụt”. Ngày hoạt động ở Xiêm, Bác nhắc anh
em trồng cây râm bụt để nhớ về đất nước. Ngày ở chiến khu cũng như khi về ở Thủ đô
Hà Nội, nơi Bác ở luôn luôn có cây râm bụt thân thương của quê nhà. Cây vú sữa là
một hình tượng của tấm lòng Bác luôn nhớ thương đồng bào Nam bộ. Năm 1955, đồng
bào miền Nam gửi biếu Bác một cây vú sữa và một quả dừa. Cây vú sữa được Bác
trồng giữa bờ ao cạnh ngôi nhà Bác ở đầu tiên trong Phủ Chủ tịch. Ngày ngày, tuy bận
trăm công nghìn việc của Chủ tịch nước, nhưng trước giờ làm việc buổi sáng hay sau
giờ làm việc buổi chiều, Bác Hồ đều chăm sóc tưới cho cây vú sữa. Năm 1958, Bác
chuyển sang ở và làm việc bên nhà sàn. Bác cho chuyển cây vú sữa sang trồng cạnh
nhà sàn, để Bác chăm sóc được thuận tiện hơn. Hàng ngày làm việc tại nhà sàn, luôn
được nhìn thấy cây vú sữa, mỗi khi đi xa về chưa đến cổng nhà sàn Bác đã để ý nhìn
cây xanh tốt thế nào. Thấy cây như thấy đồng bào miền Nam, vơi đi nỗi nhớ da diết
miền Nam trong trái tim Người. Vào những năm cuối đời, khi sức khỏe đã giảm sút,
nỗi nhớ miền Nam dâng tràn, Bác muốn vào miền Nam thăm đồng bào, đồng chí
nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh và sức khỏe nên Bác không vào được. Do vậy, ngày 7
ngày chăm sóc và trông thấy cây vú sữa mang lại cho Bác cảm giác đang ở bên chiến sĩ, đồng bào miền Nam.
Thứ hai, trồng cây ở Bác là cả một chiến lược dân sinh kinh tế thiết thực và lâu
dài. Các tao nhân mặc khách xưa kia cũng trồng cây, nhưng chỉ là mấy gốc liễu, mấy
khóm cúc hay vài luống rau để thưởng thức hay tiêu sầu còn Bác trồng cây với một
mục đích nhân sinh rõ ràng. Việc trồng cây của Bác tùy hoàn cảnh thực tế cụ thể mà
có khác. Ngày mới giành lại được độc lập, dân ta vừa qua một trận đói chết hai triệu
người chưa kịp hồi hơi, Bác đã phát động ngày việc trồng rau màu cứu đói. Ngày ở
căn cứ cách mạng hay chiến khu, Bác chủ trương trồng rau màu là để góp phần cải
thiện đời sống cán bộ, chiến sĩ, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân. Bác thả cải xoong
trên dòng suối, làm vườn rau bên lán ở, hướng dẫn chiến sĩ rải đất trồng rau trên vách
đá. Khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cải cách ruộng đất thành công, cái ăn cái
mặc của dân bước đầu đã được đảm bảo, Bác liền phát động Tết trồng cây chuẩn bị
cho dân có gỗ làm nhà. Bác kêu gọi trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc, là mong
trồng những rừng vàng mang lại những núi tiền vô tận làm giàu cho Tổ quốc.
Thứ ba, trồng cây ở Bác là cả một phong cách khoa học. Bác gắn bó với cây với
bản chất của một người lao động cần cù đất Việt. Ngày ở Pháp có lúc Bác đã kiếm
sống bằng nghề làm vườn. Ngày hoạt động ở Xiêm, rồi ở khu căn cứ Pác Bó, Tân
Trào, chiến khu Việt Bắc, cho đến khi về ở Thủ đô Hà Nội, Bác luôn luôn tăng gia sản
xuất một cách hoàn toàn tự giác và tổ chức lôi cuốn mọi người cùng làm theo. Bác
không phải trồng cây với tính tượng trưng để động viên phong trào, mà Bác đã lao
động thường xuyên và thật sự. Bác trồng cây với một phong cách khoa học. Trước hết
phải chọn cây gì có lợi ích thiết thực, hiệu quả rõ ràng, trồng cây nào phải tốt cây ấy.
Khi trồng rau phục vụ nhà ăn, Bác đã chọn cây cải canh thu hoạch nhiều lần, chứ
không phải cây cải củ chỉ thu một lượt. Đi đâu thấy cây gì sinh lợi được cho dân là
Bác đem về trồng như cây cọ dầu Hải Nam. Cảm động nhất là Bác đã du nhập cây
săng xanh không rụng lá về định làm cây đường phố cho người quét rác đỡ vất vả.
Thứ tư, trồng cây ở Bác còn là một phương thức trồng người. Liên hệ ngôn ngữ
phương Tây thấy từ “Trồng trọt” trong tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga cùng có một
nguồn gốc chữ La - tinh cultura, đều có hai nghĩa; vừa là trồng trọt, vừa là văn hóa.
Cái cây xưa kia mọc tự nhiên ở trong rừng hay ngoài bãi, con người đã biết lấy bàn tay 8
và khối óc của mình mà thuần hóa nó, nghĩa là trồng trọt nó, vì lợi ích của bản thân
con người, cái cây được trồng trọt đó trở thành một sản phẩm văn hóa. Và nói rộng ra,
tất cả những cái gì do lao động và tư duy con người cải tạo hay sáng tạo đều gọi là văn
hóa. Chính bản thân con người, một động vật sinh ra trong tự nhiên, có thể nói, nó tự
trồng mình bằng lao động và tư duy để trở thành con người, và con người cũng là một
sản phẩm văn hóa. Văn hóa tựu trung là cái làm cho con người khác con vật. Quả thật,
lời nói của Hồ Chủ tịch, đặt song song trồng cây và trồng người, có một ý nghĩa triết
lý và thực tiễn rộng lớn, bao trùm. Bác Hồ quan tâm da diết đến việc trồng người, nhất
là việc giáo dục thanh thiếu niên. Bác từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội
trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa”, và, vì tương lai lâu dài của sự nghiệp
cách mạng, ngay trong Di chúc của Người để lại, Bác cũng nhắc nhở đến việc chăm lo
giáo dục cho các thế hệ mai sau… Ta nghĩ đến Nguyễn Trãi xưa đi tìm cái thiện chân,
thiên tính trong “đạo tự nhiên”. Ông chủ trương “ẩn cả” (tức đại ẩn) ngay giữa nơi
triều đường để lo việc nước việc dân. Cả hai vị anh hùng dân tộc đều có cái phong thái
của bậc hiền triết phương Đông, nắm được cái triết lý con người thống nhất với thiên
nhiên như một thể hoàn chỉnh, và đều mang tấm lòng nhân ái mênh mông, tựu trung là
để lo việc trồng cây và trồng người.
Thứ năm, trồng cây ở Bác là một phong thái triết học cách mạng phương Đông.
Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: Có tâm hồn cách mạng, Cụ Hồ thương người. Có tâm
hồn thi nhân, Cụ Hồ yêu thiên nhiên. Yêu thiên nhiên của Cụ Hồ và yêu thiên nhiên
của Lão Trang có khác và khác xa. Cụ Hồ yêu thiên nhiên không phải để tiêu dao, xa
trần tục. Cụ Hồ yêu thiên nhiên mà gắn liền thiên nhiên với cuộc chiến đấu giải phóng
dân tộc và giải phóng con người. Ở thiên nhiên Cụ Hồ thấy một con người cổ vũ, chia
vui buồn. Ở thiên nhiên Cụ Hồ cũng tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn sau
những giờ làm việc căng thẳng.
Ở Cụ Hồ, thiên nhiên như có tính người, thiên nhiên được nhân hóa, thiên nhiên
là bạn tri âm, bạn chiến đấu của Người… Yêu nước, yêu dân, yêu con người một cách
nồng nhiệt, Cụ Hồ cũng yêu thiên nhiên một cách nồng thắm, hòa hiệp thiên nhiên với
cuộc đấu tranh vì phẩm chất và tự do của con người. Ắt có quan hệ gần gũi giữa tình
yêu thiên nhiên với trạng thái tâm hồn thanh thản, tỉnh táo, ung dung trong lúc bình cũng như trong khi biến. 9 2.2.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và vai trò của con người
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
Con người là một chỉnh thể thống nhất về trí lực, tâm lực, thể lực, đa dạng bới
các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Bởi trí lực giúp con người tư duy và sáng tạo,
tâm lực định hướng đạo đức và tình cảm, còn thể lực là nền tảng của sức khỏe và lao
động. Những yếu tố này không thể tách rời, mà cần được nuôi dưỡng đồng đều. Đồng
thời, con người tồn tại và phát triển trong mạng lưới các mối quan hệ xã hội đa dạng,
nơi mỗi cá nhân vừa chịu ảnh hưởng, vừa có trách nhiệm đóng góp vào cộng đồng và xã hội.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yếu tố sinh vật của con người được nhìn nhận
như nền tảng tự nhiên của sự tồn tại và phát triển cá nhân. Ông khẳng định rằng con
người là một sinh vật có nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, và sức khỏe. Vì vậy, những
nhu cầu vật chất cần được đáp ứng để con người có thể tồn tại và phát triển. Tuy
nhiên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng con người không chỉ là một sinh vật đơn thuần
mà còn là một thực thể xã hội, với trí tuệ và đạo đức, cần được phát triển toàn diện cả
về vật chất lẫn tinh thần.
Hồ Chí Minh đề cập con người cụ thể, lịch sử; không có con người chung
chung, trừu tượng phi nguồn gốc lịch sử hay con người kiểu tôn giáo. Người thường
nói tới con Lạc cháu Hồng, Người đã có sự cảm nhận thiêng liêng về hai tiếng “đồng
bào”. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí
Minh sử dụng khái niệm “người bản xứ bị bóc lột”, “người mất nước”, “người da
đen”, “người cùng khổ”, “người vô sản”...
Nét đặc sắc trong cách tiếp cận con người của Hồ Chí Minh là ông luôn gắn con
người với các yếu tố như giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, dân tộc trong từng giai đoạn
lịch sử cụ thể. Hồ Chí Minh hiểu rằng mỗi nhóm người có vai trò và đóng góp khác
nhau trong sự nghiệp cách mạng. Ví dụ, ông đề cao vai trò của thanh niên trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhấn mạnh rằng “Thanh niên là rường cột của nước
nhà”. Đồng thời, ông luôn quan tâm đến phụ nữ, nhấn mạnh sự bình đẳng giới và
khẳng định phụ nữ không chỉ lo việc nhà mà còn có thể tham gia xây dựng xã hội. 10
Điều này cho thấy Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc về sự đa dạng và đặc thù của mỗi
nhóm người trong xã hội.
Quan điểm về vai trò của con người
Con người là mục tiêu của Cách mạng: Mục tiêu cách mạng của Hồ Chí Minh
là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, thực hiện độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội. Khi đất nước còn nô lệ, lầm than thì mục tiêu trước hết, trên
hết là giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc. Sau khi chính quyền đã về tay nhân
dân, thì mục tiêu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh lại được ưu tiên hơn. Bởi vì,
Người cho rằng, nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập
cũng không có nghĩa lý gì; vì vậy, chúng ta phải thực hiện ngay: làm cho dân có ăn,
làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành. Trong Di
chúc, Người viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Khẳng định con người là
mục tiêu của sự nghiệp cách mạng thì một điều quan trọng là mọi chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người. Có thể
đó là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ phận, giai
cấp, tầng lớp và cá nhân.
Con người là động lực của Cách mạng: Con người là động lực của cách mạng
được nhìn nhận trên phạm vi cả nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp
công nhân và nông dân. Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không phải mọi con người đều trở thành động lực, mà
phải là những con người được thức tỉnh, giác ngộ, giáo dục, định hướng và tố chức.
Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền
thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam… Con người là động
lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Vì vậy, vai trò của
Đảng cách mạng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là vô cùng quan
trọng. Qua các phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng sẽ nhân sức mạnh của con
người lên gấp bội. Trong khi nhận thức sâu sắc, đầy đủ vai trò động lực của con người
thì phải thấy mối quan hệ biện chứng giữa con người - mục tiêu và con người - động
lực. Càng chăm lo cho con người - mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ phát huy con người -
động lực tốt bấy nhiêu. Ngược lại, tăng cường được sức mạnh của con người - động
lực thì sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu cách mạng. 11 2.3.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người
2.3.1. Ý nghĩa xây dựng con người
Xây dựng con người là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa cấp
bách vừa lâu dài, có ý nghĩa chiến lược. Xây dựng con người là một trọng tâm, bộ
phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm
vụ xây dựng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hồ Chí Minh nêu hai quan điểm nổi
bật làm sáng tỏ sự cần thiết xây dựng con người.
“Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” là công việc lâu dài,
gian khổ, vừa vì lợi ích trước mắt vừa vì lợi ích lâu dài, là công việc của văn hóa giáo
dục. “Trồng người” phải được tiến hành thường xuyên trong suốt tiến trình đi lên chủ
nghĩa xã hội và phải đạt được những kết quả cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng.
Nhiệm vụ “trồng người” phải được tiến hành song song với nhiệm vụ phát triển lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. “Trồng người” phải được tiến
hành bền bỉ, thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người, với ý nghĩa vừa là quyền lợi
vừa là trách nhiệm của cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Công việc “trồng
người” là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội kết hợp với
tính tích cực, chủ động của từng người.
Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội
chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa, con người xã
hội chủ nghĩa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không phải chờ cho kinh tế, văn
hóa phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; cũng không phải xây
dựng xong những con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc
xây dựng con người xã hội chủ nghĩa được đặt ra ngay từ đầu và phải được quan tâm
trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Trước hết cần phải có những con
người xã hội chủ nghĩa” cần được hiểu trước hết cần có những con người với những
nét tiêu biểu của xã hội xã hội chủ nghĩa như lý tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong xã
hội chủ nghĩa. Đó là những con người đi trước, làm gương lôi cuốn người khác theo
con đường xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong bất cứ phong trào cách mạng
nào, tiên tiến là số ít và số đông là trung gian, muốn củng cố và mở rộng phong trào,
cần phải nâng cao hơn nữa trình độ giác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến”.
2.3.2. Nội dung xây dựng con người 12
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một vấn đề quan trọng về việc xây dựng con
người toàn diện. Người cho rằng nội dung cơ bản của giáo dục là phải đào tạo ra
những con người xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng vừa chuyên”. Đây là tư tưởng
then chốt, cốt lõi của Người về giáo dục trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa,
nhằm hình thành nên những con người có phẩm chất đạo đức cao đẹp và năng lực
chuyên môn vững vàng, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Thể hiện qua quan điểm của Hồ Chí Minh, rằng con người toàn diện trong xã
hội phải “vừa hồng vừa chuyên”, tức là đồng thời phát triển cả hai mặt: chuyên môn và
đạo đức. “Chuyên” ở đây là trình độ học vấn, kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực
hiện công việc hiệu quả, trong khi “hồng” là những phẩm chất đạo đức cách mạng,
lòng trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và tình yêu thương con người. Sự kết
hợp này là nền tảng để xây dựng nên con người toàn diện không chỉ dừng lại ở trình
độ kiến thức, mà còn phải bao gồm cả tinh thần yêu nước, mục đích và lối sống cao
đẹp, và lòng trung thành với lý tưởng cách mạng. Con người mà Chủ tịch Hồ Chí
Minh hướng đến xây dựng, trước hết, là con người có lý tưởng sống cao đẹp, sống vì
mọi người và có tinh thần đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người và xã hội loài
người, đó là con người “hồng thắm”; thứ hai, là con người có sự hiểu biết, năng lực
chuyên môn và thể hiện ở hành động, hiệu quả trong lao động cần cù sáng tạo, đó là
con người “chuyên sâu”, “có tài”. Theo Người, “hồng thắm” và “chuyên sâu” phải
được kết hợp chặt chẽ với nhau, quan hệ mật thiết với nhau, là cơ sở, điều kiện, tiền đề
của nhau, thúc đẩy lẫn nhau, làm nên sự hoàn thiện trong nhân cách con người. Những
con người hồng thắm, chuyên sâu, có đức, có tài, đó là những con người biết kết hợp
hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Những con người như vậy không phải tự
nhiên có, mà là sản phẩm của một quá trình giáo dục, đào tạo và rèn luyện lâu dài, công phu.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người nêu ra một số yếu tố của
con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”. Một trong số đó, trước hết là phải có
mục đích sống cao đẹp, gắn liền với lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Mục đích này không
chỉ là sự phát triển cá nhân, mà còn hướng tới sự phát triển chung của cộng đồng, của
dân tộc. Câu nói “mình vì mọi người, mọi người vì mình” chính là sự khẳng định về 13
tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong xã hội, một mục đích và lối sống cao đẹp,
nơi mà mỗi cá nhân đều có trách nhiệm và quyền lợi như nhau. Đồng thời, Hồ Chí
Minh nhấn mạnh rằng một người sống trong xã hội chủ nghĩa cần phải có bản lĩnh
chính trị vững vàng, tức là luôn kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, đồng thời sẵn sàng đối mặt với mọi khó khăn, thách thức mà không dao động. Con
người trong xã hội chủ nghĩa cũng cần phải có ý thức làm chủ, không chỉ làm chủ bản
thân mà còn làm chủ xã hội, đất nước. Ý thức làm chủ còn đòi hỏi mỗi người phải tự
giác trong công việc và cuộc sống, không thụ động chờ đợi sự chỉ đạo từ trên xuống
mà phải luôn chủ động, sáng tạo, tìm cách đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa là sự gắn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng,
cùng nhau hành động vì lợi ích chung và cùng hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội
công bằng, dân chủ và văn minh.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người toàn diện cũng nêu ra một số khía
cạnh chủ yếu trong quá trình xây dựng. Lòng yêu nước là một trong những giá trị quan
trọng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người cho rằng mỗi con người cần phải có
lòng yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để bảo vệ Tổ quốc khi cần
thiết. Lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua việc bảo vệ lãnh thổ, mà còn qua việc xây
dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, để mỗi người dân Việt Nam đều có
thể tự hào về quê hương mình. Chính vì vậy, để tạo ra một con người toàn diện thì
phải xây dựng được khía cạnh này. Bên cạnh đó, tinh thần quốc tế trong sáng cũng là
một yêu cầu quan trọng. Con người xã hội chủ nghĩa không chỉ yêu nước mà còn phải
biết đoàn kết, hợp tác với các dân tộc khác, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình,
công bằng. Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của
Việt Nam gắn liền với phong trào cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp làm việc
khoa học, tức là mỗi cá nhân cần phải có cách tiếp cận vấn đề một cách có hệ thống,
hợp lý, tránh làm việc theo cảm tính. Một phương pháp làm việc khoa học không chỉ
giúp nâng cao hiệu quả công việc mà còn góp phần xây dựng một xã hội trật tự, kỷ
cương. Bên cạnh đó, để xây dựng nên một con người toàn diện theo tư tưởng của
Người thì cũng cần chú ý phải tôn trọng ý kiến của mọi người và tạo ra môi trường 14
làm việc mà mọi người đều có thể tham gia, đóng góp ý kiến một cách cởi mở và chân thành.
Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức cách mạng là yếu tố quan trọng hàng đầu,
đặc biệt quan tâm đến vấn đề này trong quá trình xây dựng con người toàn diện. Người
khẳng định rằng nếu không có đạo đức thì dù tài giỏi đến đâu, con người cũng không
thể đóng góp lâu dài cho cách mạng. Đạo đức cách mạng là tinh thần hy sinh, cống
hiến hết mình vì lợi ích chung, không màng tới lợi ích cá nhân. Để đạt được điều này,
mỗi người cần phải “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, tức là loại bỏ những thói quen xấu
như ích kỷ, tham lam, vụ lợi và chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Ngoài việc chú
trọng đến đạo đức, cũng cần quan tâm đến việc bồi dưỡng trí tuệ và chuyên môn cho
con người. Người nhấn mạnh rằng mỗi cá nhân cần phải không ngừng học tập để nâng
cao trình độ lý luận chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, và chuyên môn nghiệp vụ.
Việc nâng cao trình độ này không chỉ giúp cá nhân phát triển bản thân mà còn góp
phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Trong một thế giới đang thay đổi
nhanh chóng, việc không ngừng học hỏi, nắm bắt những tiến bộ khoa học kỹ thuật và
công nghệ là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi người lao động trong xã hội hiện đại.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về việc xây dựng con người toàn diện “vừa hồng
vừa chuyên” không chỉ là lý tưởng, mà còn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của
cách mạng Việt Nam. Đây là nền tảng để hình thành nên những con người không chỉ
có phẩm chất đạo đức cao đẹp mà còn có năng lực chuyên môn vững vàng, đủ sức góp
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2.3.3. Phương pháp xây dựng con người
Hồ Chí Minh khẳng định rằng việc xây dựng con người cần được thực hiện
thông qua những phương pháp khoa học và cách mạng. Điều này có nghĩa là không
thể chỉ dựa trên những lý tưởng trừu tượng hay giáo điều cứng nhắc, mà phải có những
biện pháp cụ thể, hợp lý và phù hợp với thực tế xã hội. Phương pháp khoa học đòi hỏi
sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa tự rèn luyện cá nhân và xây dựng cơ chế xã
hội. Mỗi người cần phải ý thức về việc tự tu dưỡng và rèn luyện bản thân, nhưng điều
đó không thể tách rời khỏi môi trường xã hội mà cá nhân đang sống và làm việc. Để
một cá nhân có thể phát triển toàn diện, xã hội phải tạo ra những cơ chế, môi trường
thuận lợi, bao gồm cả cơ chế tổ chức của bộ máy chính quyền, nền dân chủ, và các 15
phong trào tập thể. Phương pháp cách mạng trong xây dựng con người không chỉ là
việc giáo dục, định hướng từ trên xuống, mà còn phải đi từ nhu cầu thực tiễn của xã
hội và ý chí của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của quần chúng trong
quá trình xây dựng và cải cách, vì Người tin rằng chỉ có thông qua ý kiến và sự tham
gia của nhân dân, bộ máy lãnh đạo và cơ chế quản lý mới có thể thực sự hiệu quả.
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự rèn luyện và tu
dưỡng. Người khẳng định rằng mỗi cá nhân đều có trách nhiệm với sự phát triển của
bản thân mình. Để có thể đóng góp vào sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước,
mỗi người trước hết phải “tu thân, chính tâm”. Đây là triết lý sâu sắc trong văn hóa
phương Đông, nơi mà việc rèn luyện đạo đức cá nhân được coi là nền tảng để quản lý
xã hội và thúc đẩy sự phát triển của quốc gia. “Tu thân, chính tâm” nghĩa là mỗi người
phải biết rèn luyện tâm hồn, giữ gìn đạo đức, điều chỉnh hành vi để trở thành một công
dân có ích cho xã hội. Từ việc tu dưỡng bản thân, người ta mới có thể quản lý gia
đình, tổ chức, và sau đó là cả xã hội. Triết lý này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự
giác, tự ý thức, và đặc biệt là trách nhiệm cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng.
Hồ Chí Minh thường nói về việc “lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục
lẫn nhau”, nhấn mạnh rằng quá trình tự rèn luyện không chỉ diễn ra trong môi trường
giáo dục chính thức, mà còn thông qua những tấm gương sống động trong đời sống
hàng ngày. Những hành động tốt, dù nhỏ bé, đều có giá trị giáo dục lớn. Người Việt
Nam có câu “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” (trước tiên phải trách mình, sau mới trách
người), điều này cũng phù hợp với triết lý của Hồ Chí Minh, rằng mỗi người cần phải
bắt đầu từ việc tự điều chỉnh và rèn luyện bản thân trước khi mong muốn người khác thay đổi.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu gương, đặc biệt là gương sáng của những
người đứng đầu, là biện pháp quan trọng trong việc xây dựng con người. Người lãnh
đạo, cán bộ không chỉ làm tròn nhiệm vụ quản lý, điều hành, mà còn phải trở thành
tấm gương sáng cho quần chúng noi theo. Như Hồ Chí Minh đã nói: “Một tấm gương
sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Đây là minh chứng rõ ràng
cho triết lý giáo dục của Người, rằng những hành động cụ thể, tích cực có sức mạnh
hơn nhiều so với lời nói sáo rỗng. Người đứng đầu không chỉ lãnh đạo bằng mệnh lệnh
hay chỉ thị, mà còn bằng chính tấm gương đạo đức và hành động thực tiễn. Khi người 16
lãnh đạo thực hiện đúng những điều mình nói, họ sẽ tạo được niềm tin và sự tín nhiệm
từ quần chúng, khuyến khích sự tự giác, tinh thần phấn đấu và học hỏi trong xã hội.
Giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách con
người. Người nói: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Điều này cho thấy tư tưởng của Người rất coi trọng giáo dục như một công cụ chính
yếu trong việc phát triển con người. Theo Hồ Chí Minh, con người không phải sinh ra
đã tốt hay xấu, mà chính giáo dục và môi trường xã hội mới là yếu tố quyết định. Do
đó, việc xây dựng hệ thống giáo dục tốt sẽ giúp tạo ra những công dân có đạo đức và
trách nhiệm với cộng đồng. Bác đưa ra hình ảnh học sinh như “tờ giấy trắng”, tức là
con người khi mới sinh ra còn trong sáng, chưa bị ảnh hưởng bởi những thói quen, tư
tưởng tiêu cực. Chính vì vậy, việc giáo dục đúng cách, từ sớm, sẽ giúp hình thành
những giá trị đạo đức tốt đẹp, còn ngược lại, nếu không chú trọng đến giáo dục, sẽ dễ
dẫn đến những lệch lạc trong hành vi và tư duy của con người.
Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng đến vai trò của cá nhân trong quá trình rèn
luyện, mà còn đặt vai trò quan trọng lên các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể
quần chúng. Người luôn nhấn mạnh rằng việc xây dựng con người không chỉ dừng lại
ở việc giáo dục cá nhân, mà phải thông qua các phong trào cách mạng, các hoạt động
tập thể như “Thi đua yêu nước”, “Người tốt việc tốt”. Những phong trào này tạo ra
môi trường và động lực để con người phấn đấu, rèn luyện, học hỏi lẫn nhau. Người
còn cho rằng việc sửa chữa, cải thiện bộ máy lãnh đạo và tổ chức cần phải dựa vào ý
kiến của nhân dân. Điều này đã thể hiện tư tưởng dân chủ sâu sắc của Người, khi mà
mọi cải cách, thay đổi trong xã hội đều phải được thực hiện dựa trên sự đóng góp và
giám sát của quần chúng. Đây là một biểu hiện của sự kết hợp giữa dân chủ và khoa
học trong quản lý và xây dựng con người. 17
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ VỚI THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1. Thực trạng
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là mục tiêu cao cả của Cách
mạng. Bác đã hình dung về một con người Việt Nam mới, vừa kế thừa truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, vừa hội nhập với tinh hoa văn hóa nhân loại. Trải qua hơn ba thập kỷ
đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong xây dựng con người,
thể hiện ở sự nâng cao trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, bên
cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tồn tại những vấn đề như suy thoái đạo đức, lối sống
thực dụng, tình trạng bất bình đẳng.
3.1.1. Thành tựu và nguyên nhân của thành tựu -Thành tựu
Có thể khẳng định, qua hơn 35 năm đổi mới, các chủ trương, đường lối của
Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã được cụ thể hóa trong
các chính sách, pháp luật của Nhà nước, được ghi rõ trong Hiến pháp. Việc triển khai
thực hiện trong thực tiễn cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên một số phương diện.
Một là, đời sống nhân dân không ngừng nâng cao
Đánh giá về những thành tựu trong việc phát triển con người, Báo cáo chính trị
tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Đời sống nhân dân được cải
thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở xã hội
được quan tâm; đã hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, trong đó có nhiều
mục tiêu về giảm nghèo, y tế, giáo dục hoàn thành trước thời hạn, được đánh giá là
điểm sáng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập 1: 66).
Từ định hướng của Đảng, Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình kinh tế -
xã hội lớn nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng thụ hưởng các quyền con người của
mọi người dân và hoàn thành trước hạn mục tiêu phát triển. Thiên niên kỷ (MDG).
Theo Liên Hợp Quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng theo 18