lOMoARcPSD| 61265515
NHÓM 10: Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát
triển. Phân tích sự thay đổi của nguồn vốn này trong giai đoạn 2016-2020
Mục lục
I. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát triển……….2
1. Nhu cầu của các nước đang và kém phát triển đối với nguồn vốn ODA…………………….2
2. Lợi ích ODA mang lại chp các nước đang và kém phát triển……………………...…………3
2. 1.ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển,
giảm gánh nặng cho ngân sách nhà
nước……………………...………….……………………...…….
2.2. ODA giúp các nước phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường…………………...…….
2.3.ODA giúp các nước xóa đói giảm nghèo……………...………….……………………...……5
2.4 ODA là nguổn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các
nước..5
2.5 ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn nhân lực bổ sung cho đầu tư tư
nhân…..
2.6 ODA giúp các nước tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự
án hỗ
trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù
hợp với thông lệ quốc tế……………...………….……………………...…….……….……….
2.7 ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợ tiếp thu những
thànhtựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân
lực…………...…….……….………..
II. Sự thay đổi của nguồn vốn ODA từ năm 2016-2020…………...…….……….……………..
1.ODA ở Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành nước có thu nhật trung bình (2010)…………
2.ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế Việt Nam………………...…….……….…………
2.1 Lĩnh vực giao thông - vận tải ………...………….……………………...…….……….……….
2.2 Lĩnh vực năng lượng……………...………….……………………...…….……….…………...
I. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát
triển
1. Nhu cầu của các nước đang và kém phát triển đối với nguồn vốn ODA
Nguồn vốn ODA nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế các chính phủ
nước ngoài cung cấp với các mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với các
hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF nào khác.
Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn cho vay
lOMoARcPSD| 61265515
lớn, bao giờ trong ODA cũng yếu tố không hoàn lại (còn gọi thành tố tài trợ)
đạt ít nhất 25%.
ODA - Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức. Gọi “hỗ
trợ” các khoản đầu này thường các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi
suất thấp với thời hạn cho vay dài. Gọi “phát triển” mục tiêu danh nghĩa của
các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước đầu tư. Gọi là
chính thức vì bên nhận vốn vay thường là Nhà nước. Thông qua các thành tố trên về
ODA thì các nước đều thấy được lợi ích của nguồn vốn vay ODA. Đặc biệt các
nước đang và kém phát triển nói chung, trong đó Việt Nam là nước điển hình.
Trên thực tế hiện nay, Việt Nam cũng đang nhu cầu lớn trong việc sử dụng vốn
ODA để phát triển cơ sở hạ tầng. Bước vào năm 2012, năm bản lề cho việc hoàn tất
kế hoạch Phát triển KT - XH 5 năm (2011-2015), Việt Nam càng cần nhiều hơn nữa
sự hỗ trợ về ODA, trong đó đối tác chính yếu là Nhật Bản trong việc cung cấp nguồn
vốn vay này, nhằm phát triển sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, đặc
biệt là công tác xóa đói giảm nghèo.
Hiện nay với các dự án đang giải ngân thực hiện bằng nguồn vốn ODA từ Nhật
Bản như: Dự án Phát triển sở hạ tầng Cảng quốc tế Cái Mép - Thị Vải, đường cao
tốc Bắc Nam (đoạn TP HCM Dầu Giây), nhà máy nhiệt điện Ô Môn II, đại lộ Đông
Tây TP HCM, dự án cải thiện môi trường nước TP HCM vẫn đang cần thêm nguồn
vốn bổ sung để hoàn tất. Bên cạnh đó, còn hàng loạt công trình sở hạ tầng quy
mô lớn thiết yếu như dự án phát triển cơ shạ tầng cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng
(cảng Lạch Huyện), đường cao tốc Bắc Nam (đoạn Đà Nẵng - Quảng Ngãi), Trung
tâm trụ Việt Nam, dự án cấp nước xử nước thải Đồng Nai , cũng đang
được chính phủ Việt Nam đề nghị chính phủ Nhật Bản cung cấp vốn
ODA.
lOMoARcPSD| 61265515
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nguồn vốn vay ODA chủ yếu được dung vào các
dự án phúc lợi phát triển cộng đồng tại các quốc gia đang kém phát triển
đây cũng là nhu cầu cấp thiết nhất tại các quốc gia này. Trong đó lĩnh vực giáo dục
một trong những ưu tiên hàng đầu để các nước đồng ý hỗ trợ cho các nước đang
và kém phát triển vay bằng hình thức ODA. Chẳng hạn, vào ngày 21/08/2009, ngân
hàng Nhà nước và WB tại Việt Nam đã Hiệp định tài trợ cho chương trình đảm
bảo chất lượng giáo dục trường học và Chính sách phát triển giáo dục đại học giai
đoạn 1. Tổng số vốn ODA WB cho vay trong hai dán này 177 triệu USD.
Chương trình được thực hiện tại 35 tỉnh thành phố trên cả nước từ 2009-2015.
2. Lợi ích ODA mang lại chp các nước đang và kém phát triển
Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các nước
thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế hội của mình. Vai trò của ODA thể hiện
trên các giác độ cơ bản như:
2.1.ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư
phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước
Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm,
lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm. Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho
vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước mới thể tập trung đầu cho các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã
hội như giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được xây dựng mới hoặc
cải tạo nhờ nguồn vốn ODA điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh
tế của các nước nghèo. Theo tính toán của các chuyên gia của WB, đối với các nước
có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng thêm 0.5%.
lOMoARcPSD| 61265515
2.2. ODA giúp các nước phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường
Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ các nước tiếp nhận ưu tiên dành
cho đầu phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của
lĩnh vực này, tăng cường một bước sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy học của
các nước. Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương
trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng
đồng quốc tế, các nước đã gia tăng đáng kể ch số phát triển con người của quốc gia
mình.
Về phát triển nguồn nhân lực, tại Indonesia, mỗi năm khoảng 7000 người
được đưa đi đào tạo tại Nhật Bản trong chương trình đào tạo đối tác của JICA. Trong
năm tài chính 2000, 12 khóa học đã được tổ chức tại Indo và 131 học viên từ châu
Á và châu Phi đã đến Indo học tập.
Tại Trung Quốc, từ năm 1990 đến năm 1997, có khoảng 16 dán gìn giữ môi
trường sử dụng vốn ODA của Nhật Bản. Các khoản vay ODA cam kết cho năm tài
chính 2000 có 20 trong số 23 dự án là các dự án nhằm bảo vệ môi trường. Bên cạnh
đó, việc hợp tác cũng mở rộng sang lĩnh vực chống ô nhiễm công nghiệp, các biện
pháp chống ô nhiễm nước không khí, quản i trường, trồng rừng, chống sa
mạc hóa...
2.3.ODA giúp các nước xóa đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ
quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức. Mục tiêu này
biểu hiện tính nhân đạo của ODA. Trong bối cảnh sdụng hiệu quả, tăng ODA
một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tử vong ở
trẻ sinh. nếu như các nước giàu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được
lOMoARcPSD| 61265515
25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhật dành nhiều vốn ODA cho việc xóa
đói giảm nghèo tại Indonesia, đất nước chịu nhiều thiên tai và dịch bệnh.
Tuy nhiên thực tế cho thấy nghèo vẫn còn là vấn đề lớn nhất cần được giải
quyết tại nước này, đặc biệt trong tình hình khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh
tế và sự bất ổn trong nước trong những năm gần đây. Tại Trung Quốc, nhờ sử dụng
vốn ODA hiệu quả, số nông thôn nghèo khó ở Trung Quốc từ 94,22 triệu người tính
đến cuối năm 2000, giảm xuống còn 26,88 triệu người năm 2010. Tỷ lệ dân số nông
thôn nghèo khó trong tổng số dân nông thôn Trung Quốc từ 10,2% năm 2000, giảm
xuống còn 2,8% năm 2010. Trung Quốc đã thực hiện trước thời hạn mục tiêu giảm
50% dân số nghèo khó theo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của LHQ, góp phần
quan trọng cho sự nghiệp xóa giảm đói nghèo của toàn thế giới.
2.4 ODA nguổn bổ sung ngoại tệ làm lành mạnh cán cân thanh toán
quốc tế của các nước
Đối với các nước đang phát triển, khó khăn kinh tế điều không thể tránh
khỏi, trong đó nợ ớc ngoài và thâm hụt cán n thanh toán quốc tế ngày một gia
tăng tình trạng phổ biến. vậy ODAnguồn bổ sung ngoại tệ làm lành mạnh
cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển... ODA, đặc biệt các khoản
trợ giúp của IMF chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước
tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ.
Bên cạnh đó, việc chuyển chính sách kinh tế nhà nước đóng vai trò trung tâm
sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu
vực kinh tế tư nhân cần phải có một lượng vốn lớn, do vậy mà các chính phủ lại dựa
vào nguồn hỗ trợ ODA.
lOMoARcPSD| 61265515
Khủng hoảng tài chính châu Ácuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng
7 năm 1997 Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền
tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó
được coi “những con hổ Đông Á”. Cuộc khủng hoảng này thường được gọi
Khủng hoảng tiền tệ châu Á.
Ngày 14 tháng 5 ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng Baht Thái bị tấn công
đầu cơ quy mô lớn mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức
56 Baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt
từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn
hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One,
công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố
sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar M cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8,
IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ đôla Mỹ.
Kết quả: đồng Bath Thái Lan đã tăng giá trở lại sau 1 năm sụt giá thảm hại (55
Baht/USD vào tháng 12/1997 tăng lên khoảng 38 Baht/USD tháng 11/1998).
2.5. ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn nhân lực bổ sung cho
đầu tư tư nhân
những quốc gia chế quản kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam
châm “hút” đầu nhân theo tỷ lxấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ. Đối với
những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm
tin của khu vực nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ.Tuy nhiên, không phải
lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư nhân. Ở những nền kinh tế
môi trường bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung
còn “loại trừ” đầu nhân. Điều này giải thích tại sao các nước ĐPT mắc nợ nhiều,
lOMoARcPSD| 61265515
mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc
tiếp nhận được rất ít vốn FDI.
2.6. ODA giúp các nước tăng cường năng lực thể chế thông qua các
chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải ch hành chính
xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế
Lượng vốn ODA nhận được từ các tổ chức tài chính quốc tế càng cao, càng
chứng tỏ độ tin cậy của cộng đồng quốc tế nước tiếp nhận càng lớn. Ngược lại nước
nhận viện trợ phải nỗ lực cải cách thể chế, tích cực chống thể chế, tích cực chống
tham nhũng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn quốc gia, đây những điều khoản
tiên quyết để được nhận hỗ trợ nhiều hơn từ các nhà tài trợ song phương đa
phương.
ODA giúp các nước nghèo cải cách hành chính, kinh tế thông qua các chương
trình viện trợ dự án, làm cho chế quản lý kinh tế những nước này tiếp cận với
những chuẩn mực chung quốc tế; góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa và đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh
mẽ.
Căn cứ vào những kết quả đã đạt được cho đến nay trong quá trình thực hiện
tuyên bố Paris cam kết Nội (HCS) về Hiệu quả viện trợ, cũng như kế hoạch
thực hiện chương trình hành động Accra tại một số Bộ địa phương thể rút ra
một số bài học sau đây: Những hoạt động hiệu quả viện trợ cụ thể có thể được thực
hiện một cách tích cực bởi các cơ quan và đơn vị thụ hưởng có lợi ích thực tế và rõ
ràng hoạt động này mang lại. Bộ Y tế đã có sáng kiến xây dựng các cột mốc thực
hiện HSC về hiệu quả viện trợ để gắn với các hoạt động của Bộ. Tác động của các
hoạt động này thể đóng góp cải thiện dịch vụ y tế cho xã hội. Đó chính tác động
lOMoARcPSD| 61265515
của hiệu quả viện trợ đối với hiệu quả phát triển trong lĩnh vực y tế. Cam kết chính
trị cấp cao là hết sức quan trọng để thúc đẩy thực hiện các hoạt động hiệu quả viện
trợ. Việc Thứ trưởng Bộ Y tế đồng chủ tọa Nhóm quan hệ đối tác Y tế (HPG) là một
dụ cụ thể về cam kết chính trị cấp cao đối với việc thực hiện Chương trình nghị
sự về hiệu quả viện trợ. Ví dụ cụ thể về việc thay đổi, cải cách chính sách quản
kinh tế ảnh hưởng đến việc nhận được viện trợ nước ngoài. Năm 1999, sau khi khảo
sát dự án cải tạo hệ thống cấp thoát nước tránh lụt cho các quận 5, quận 6, quận
11 của TP.HCM, ADB nhận thấy dự án này rất quan trọng nên đã đồng ý cho vay ưu
đãi ODA 70 triệu USD thỏa thuận với chính quyền thành phố đóng khoản vay vào
tháng 12-2005 gia hạn thêm 6 tháng nữa trước khi đóng gói thầu. Trên thực tế,
ADB đã đóng gói thầu vào cuối tháng 62006. do sau 7 năm kể tkhi dự án
được triển khai, ADB nhận thấy dự án chỉ được rút ra 6 triệu USD dành cho hoạt
động vấn. Tuy chính quyền thành phố bàn bạc gia hạn thêm vài năm nữa nhưng
ADB nhận thấy rằng có kéo dài thêm 10 năm nữa, dự án vẫn không hoạt động được.
Đại diện ngân hàng tuyên bố nếu thành phố muốn tiếp tục thực hiện dự án này, họ
phải đưa ra kế hoạch cụ thể, cách thức cũng như thời gian thực hiện. ADB muốn có
câu trả lời rõ ràng hơn và sẵn sàng giúp đỡ để thực hiện dự án.
Trước 2007, với sự hỗ trợ kỹ thuật của ODA, một số bộ luật quan trọng đã
được chuẩn bị đúng hạn được Chính phủ trình Quốc hội thông qua đáp ứng nhu
cầu cải cách thể chế trong tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam như Luật Đầu tư,
Luật Đấu thầu, Luật Phòng chống tham nhũng...
2.7. ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợ tiếp
thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
cho các nước tài trợ thường không muốn chuyển giao những công nghệ
cao nhưng trên thực tế cũng có công nghệ tương đối cao được chuyển giao làm tăng
lOMoARcPSD| 61265515
thêm tiềm lực khoa học công nghệ của nước tiếp nhận. Khả năng này thường được
chuyển giao qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật với nhiều loại hình khác nhau và gắn với
các dự án khác nhau, như các dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chương
trình về tuyển cử quốc gia, các dự án về cung cấp thiết bị vật liệu độc lập; các
chương trình cử các đoàn khảo sát về phát triển… Bên cạnh đó, ODA giúp các nước
đang phát triển phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường. Một lượng ODA lớn
được các nhà tài trợ các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu phát triển giáo
dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường
một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước đang phát triển.
Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ
lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc
tế, các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc
gia mình.
II. Sự thay đổi của nguồn vốn ODA từ năm 2016-2020
1.ODA ở Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành nước có thu nhật trung bình
(2010)
ODA là một nguồn ngoại lực quan trọng ở Việt Nam. Kể từ khi Việt Nam trở
thành nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2010, đến năm 2017 thì tổng số vốn
ODA cam kết gần 39,15 tỷ USD Việt Nam đã giải ngân được hơn 33,13 tỷ USD
(tương đương với 84,64% tổng vốn ODA cam kết), (xem Hình 1 để hơn chi tiết
ODA theo các năm). Một điểm cần lưu ý là, do vốn ODA cam kết theo sliệu của
OECD chính số tiền mà các nhà tài trợ đã tạm ứng đthực hiện các dự án ODA
nên mức độ giải ngân vốn ODA của Việt Nam theo cách hiểu này là cao hơn so với
các số liệu về tỷ lệ giải ngân/cam kết vốn ODA do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố.
lOMoARcPSD| 61265515
Số ODA giải ngân ở Việt Nam có xu hướng tăng lên từ năm 2010 đến
năm 2014 nhưng bắt đầu suy giảm từ năm 2015 đến 2017 do các nhà tài trợ bắt đầu
cắt giảm ODA cho Việt Nam. Thêm vào đó, bắt đầu từ 01/7/2017, Việt Nam đã chính
thức tốt nghiệp ODA theo tiêu chuẩn của WB. Điều đó có nghĩa là Việt Nam không
còn nhận được các khoản vay vốn ưu đãi tIDA của WB phải chịu các khoản
vay kém ưu đãi, dần tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB) cũng xếp Việt Nam vào nhóm B, nhóm đối tượng vay hỗn hợp chứ không
thuộc diện chỉ nhận được các khoản vay ưu đãi. Tuy nhiên, Việt Nam đã đàm phán
xây dựng thành công cơ chế htrợ chuyển đổi tốt nghiệp ODA trong 3 năm nhằm
củng cố và phát triển bền vững nền kinh tế trong giai đoạn đầu tốt nghiệp
Tỷ lệ ODA trên tổng thu nhập quốc dân (GNI) liên tục giảm Việt Nam nhưng
ODA bình quân đầu người Việt Nam lại liên tục tăng. Năm 2010, vốn ODA giải
ngân đạt 2,64% GNI nhưng đến năm 2017 thì chỉ còn đạt 1,11% GNI của Việt Nam.
ODA bình quân đầu người năm 2014 45,55 USD nhưng đến năm 2017 chỉ còn
24,87 USD. Mặc dù được xác định một nguồn ngoại lực quan trọng quy
lOMoARcPSD| 61265515
hoạch, định hướng thu hút sử dụng ODA định kỳ 5 năm một lần song sđóng
góp của ODA cho GNI của Việt Nam chỉ ở mức độ khiêm tốn. Tuy nhiên, nguồn vốn
này vị trí quan trọng đối với đầu phát triển trong bối cảnh ngân sách nhà nước
còn hạn hẹp mà nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội lại rất lớn.
ODA vào Việt Nam chủ yếu dưới hai hình thức ODA viện tr ODA vay
trong đó vốn vay ODA xu hướng ngày càng tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn so với ODA viện trợ. Xét trong cả giai đoạn, ODA vay chiếm 77,8% tổng ODA
giải ngân trong đó 3 năm từ 2014 - 2016, vốn vay ODA luôn chiếm trên 80% tổng
số vốn ODA. Đây chính là điểm mà Việt Nam cần lưu ý khi đi vay ODA bởi nguồn
vốn này không còn được nhiều ưu đãi từ phía nhà tài trợ mà lại kèm theo khá nhiều
ràng buộc của nhà tài trợ. Xét theo tỷ lệ giải ngân/cam kết, ODA viện trợ vào Việt
Nam luôn tỷ lệ giải ngân/cam kết rất cao, đạt 97,43% cho cả giai đoạn 2010 -
2016, cao hơn so với tỷ lệ này đối với ODA vay khoảng 17%. Tuy nhiên, một điểm
đáng lo ngại tỷ lgiải ngân/cam kết vốn ODA vay luôn suy giảm, năm 2010
84% nhưng đến năm 2016 chỉ đạt 67,7% (trừ năm 2014 đạt 128% do tích lũy dồn lại
từ các năm trước)2 . Chính vì nguồn vốn vay ODA ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so
với ODA viện trợ nên số tiền trả nợ vay ODA của Việt Nam ngày càng tăng qua các
năm thể hiện gánh nặng ODA đối với nền kinh tế càng ngày càng lớn. Trong giai
đoạn 2010 - 2017, Việt Nam đã phải trả hơn 5,83 tỷ USD tiền nợ gốc vay ODA
hơn 2,3 tỷ lãi vay ODA, tổng cộng là gần 8,15 tỷ USD (tương đương với 24,6% tổng
vốn ODA giải ngân cho cả giai đoạn)2 . Bên cạnh 2 hình thức ODA viện trợ và ODA
vay thì còn một hình thức ODA vào Việt Nam nữa ODA đầu vào tài sản
(Equity Investment) tuy nhiên hình thức này chiếm ttrọng rất nhỏ (0,43% tổng
ODA vào Việt Nam cho cả giai đoạn 2010 - 2017) với giá trị khoảng 142,54 triệu
USD cho cả giai đoạn
lOMoARcPSD| 61265515
Các nước thuộc Uỷ ban Hỗ trợ phát triển của OECD - DAC và các tổ
chức đa phương quốc tế là các nhà tài trợ ODA chủ yếu cho Việt Nam trong đó
ODA từ các nước DAC chiếm 62,2%, từ các tổ chức đa phương chiếm 37,56% tổng
số ODA giải ngân cho cả giai đoạn 2010 - 2017. Tuy nhiên, số ODA từ các nước
DAC hiện đang có tỷ trọng giảm so với số ODA từ các tổ chức đa phương tài trợ cho
Việt Nam. Điều này cho thấy xu hướng của các đối tác tài trợ cho Việt Nam trong
thời gian tới là các tổ chức đa phương chứ không phải c nước riêng rẽ. Đối với các
nhà tài trợ là các tổ chức đa phương thì vốn ODA từ IDA chiếm tỷ trọng lớn nhất
(24,63% tổng vốn ODA cho cả giai đoạn). Tuy nhiên, tỷ trọng vốn
ODA của tổ chức này hiện nay đang giảm do Việt Nam trở thành nước thu nhập trung
bình. Nếu như năm 2010 tỷ trọng ODA từ IDA vào Việt Nam chiếm 26% vốn ODA
thì đến năm 2016, con số này chỉ còn là 20% và năm 2017 là 22%. Ngân hàng Phát
triển châu Á là nhà tài trợ lớn thứ hai trong nhóm các nhà tài trợ đa phương cho Việt
Nam với tỷ trọng ODA cho Việt Nam chiếm 8,57% cho giai đoạn 2010 - 2017. Vốn
ODA từ ADB vào Việt Nam sau khi tăng mạnh tnăm 2010 đến năm 2014 thì những
năm gần đây lại có xu hướng giảm. Theo thông lệ quốc tế, ODA có thể chuyển giao
qua các kênh như: khu vực công; tổ chức phi chính phủ tổ chức dân sự; đối tác
công tư; các tổ chức đa phương; các tổ chức giáo dục, nghiên cứu nhóm think-
tanks; các tổ chức khu vực tư nhân và các tổ chức khác. Ở Việt Nam, 89,56% ODA
qua khu vực công; 2,8% qua các tổ chức đa phương; 2,41% qua các tổ chức phi
chính phủ và dân sự; 2,27% qua các tổ chức khác và 1,7% qua các tổ chức giáo dục,
nghiên cứu và nhóm think-tanks. Các kênh khác chỉ chiếm chưa đầy 0,2% tổng vốn
ODA. Tuy nhiên một điểm đáng lưu ý mức độ giải ngân ODA qua khu vực công
chỉ đạt 84,66% ODA cam kết (thấp thứ hai trong nhóm các kênh chuyển giao vốn
ODA vào Việt Nam). Mức độ giải ngân thấp nhất qua kênh các tchức đa phương
(đạt 72,83% vốn ODA cam kết)2 . Bên cạnh đó, xét theo hình thức ODA thì 98,86%
lOMoARcPSD| 61265515
ODA vay là thông qua khu vực công hay nói cách khác, chỉ có khu vực công mới
khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ODA (Hình 8). Còn đối với ODA viện trợ, 57,56%
ODA viện trợ vào Việt Nam qua kênh chuyển giao từ khu vực công; 12,41%
qua các tổ chức đa phương; 7,8% qua các tổ chức giáo dục, nghiên cứu và nhóm
think-tanks. Đây chính là một điểm Việt Nam cần lưu ý khi lập đán thu hút vốn
ODA viện trợ
Theo OECD, căn cứ vào mục tiêu thực hiện mà các dự án ODA được phân b
vào 11 nhóm lĩnh vực. Đó là:
- Nhóm 1: Các dịch vụ và cơ sở hạ tầng xã hội
- Nhóm 2: Các dịch vụ và cơ sở hạ tầng kinh tế
- Nhóm 3: Nhóm ngành sản xuất
- Nhóm 4: Nhóm đa ngành, đa lĩnh vực
- Nhóm 5: Nhóm hỗ trợ chương trình chung và hỗ trợ hàng hóa
- Nhóm 6: Các hoạt động liên quan đến nợ
- Nhóm 7: Nhóm hỗ trợ nhân đạo
- Nhóm 8: Chi phí hành chính của nhà tài trợ
- Nhóm 9: Hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ
- Nhóm 10: Hỗ trợ người tị nạn ở nước tài trợ
- Nhóm 11: Các lĩnh vực khác
lOMoARcPSD| 61265515
Từ năm 2010 đến 2017, tỷ trọng ODA cho nhóm Các dịch vụ và cơ sở hạ tầng kinh
tế chiếm tlcao nhất với giá trị gần 15,77 tỷ USD (chiếm 47,6% tổng số vốn ODA
giải ngân cho cgiai đoạn); tiếp đến nhóm Các dịch vụ sở hạ tầng hội
(9,3 tỷ USD, chiếm 28,11%) (3). Nhóm Đa ngành, đa lĩnh vực xếp vị trí thứ ba với
3,89 tỷ USD (11,76%); xếp thứ nhóm ngành sản xuất với 2,67 tUSD (8%).
ODA đã hỗ trợ xây dựng và phát triển một số ngành và lĩnh vực trọng yếu của Việt
Nam như Giao thông - vận tải và kho bãi; năng lượng (chính sách năng lượng, năng
lượng tái tạo, chính sách phân phối năng lượng); cấp nước và vệ sinh; giáo dục; các
lĩnh vực đa ngành; bảo vệ môi trường; ng lâm nnghiệp; Chính phủ hội
dân sự; y tế; hỗ trợ ngân sách; Dịch vụ i chính ngân hàng; công nghiệp, khai
khoáng và xây dựng…
Tuy nhiên, một điểm rất đáng lưu ý vốn ODA phân bổ cho lĩnh vực Giao thông
- vận tải và kho bãi lĩnh vực Năng lượng chủ yếu vốn ODA vay với số lượng
vay vốn ngày càng tăng. Nếu như năm 2010, 93,94% vốn ODA cho lĩnh vực Giao
thông - vận tải là vốn vay thì đến năm 2017, tỷ trọng này 97,95%. Tương tự như
vậy, vốn vay ODA của ngành Năng lượng vào năm 2010 95,57% đến năm 2017
96,73%. Vốn ODA cho lĩnh vực Cấp nước và vệ sinh cũng tới 82,62% vốn
vay. Riêng đối với lĩnh vực Giáo dục thì vốn ODA cho lĩnh vực này có gần một nửa
là từ nguồn ODA viện trợ (47,74%). Lĩnh vực Bảo vệ môi trường nói chung và Các
lĩnh vực đa ngành có hơn 30% vốn ODA là từ ODA viện trợ.
2.ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế Việt Nam
Trong giai đoạn 2016 - 2020, vốn ODA được tập trung đầu vào lĩnh vực
như: xây dựng hạ tầng giao thông vận tải; xây dựng các công trình thuỷ điện, nhiệt
điện và năng lượng tái tạo, lưới điện và trạm phân phối điện; các công trình hạ tầng
đô thị, bảo vệ môi trường như cung cấp thoát nước, xnước thải; các dự án phòng,
lOMoARcPSD| 61265515
chống, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; các chương trình
dán phát triển nông nghiệp, nông thôn như thủy lợi, giao thông nông thôn, nước
sạch và vệ sinh môi trường, phát triển lưới điện nông thôn; các công trình dự án y tế,
giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; các công trình dự án khoa học kỹ thuật
chuyển giao công nghệ, xây dựng các khu công nghệ cao; các dự án hỗ trợ xây
dựng và cải cách chính sách, thể chế... Biểu đồ 2: cấu vốn ODA thời kỳ 2011-
2015 và 2016-2020
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Vốn ODA trong thời kỳ 2016 - 2020 được đầu tư vào các ngành giao thông
vận tải khoảng 35,68%; đầu tư vào môi trường và phát triển nguồn nhân lực khoảng
18,65%; đầu vào năng lượng công nghiệp khoảng 17,14%; đầu vào nông
nghiệp phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo khoảng 9,47%; đầu vào các
ngành y tế, hội, giáo dục đào tạo khoảng 88%; còn lại 11.05% đầu vào các
ngành khác. Như vậy, có khoảng 62,29% được đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng h
lOMoARcPSD| 61265515
tầng giao thông vận tải, năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn, tác
động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Có khoảng 37,71% được đầu tư
vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, phát triển nhân lực... tác động thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn hoặc không trực tiếp tác động thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
- Mối quan hệ giữa đầu tư ODA và tăng trưởng GDP
Bảng 2: Tăng trưởng ODA và GDP giai đoạn 1993-2020
Ghi chú: % tăng so với năm trước
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả
lOMoARcPSD| 61265515
Bảng 2 Biểu đồ 3 cho thấy, trong giai đoạn 1993-2020, tăng trưởng ODA
tính “khập khiễng”, không ổn định, những năm tăng trưởng dương cao đột biến
(năm cao nhất 2009 tăng trưởng lên đến 81,72%), từ năm 2015 đến 2020 vốn ODA
giảm liên tục với mức tăng trưởng âm (năm thấp nhất 2020 ng trưởng âm -74,37).
Mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong cả giai đoạn 1993-
2020 là 5,1%/năm. Trong khi đó, tăng trưởng GDP có nhịp độ khá ổn định, nếu loại
trừ năm 2020 tăng trưởng GDP chỉ có 2,91% do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-
19, thì trong suốt giai đoạn 1993-2019 GDP mức độ dao động tăng trưởng từ 5,32
% (2015) đến 9,5% (1995). Mức tăng trưởng giai đoạn 1993-2020 bình quân GDP
hàng năm 7,0 %/năm, cao hơn mức tăng trưởng trung bình của ODA 1,9 %/năm.
Biểu đồ 3: Tăng trưởng ODA và GDP giai đoạn 1993-2020
Đơn vị: % /năm
lOMoARcPSD| 61265515
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê
Như vậy, giai đoạn vừa qua, tăng trưởng vốn ODA hàng năm không ổn định,
dao động lớn từ âm -74,37% đến dương 81,72 %, nhưng tăng trưởng GDP vẫn ổn
định với mức bình quân hàng năm 7,26 %/năm. Trong nhiều năm, tăng trưởng vốn
ODA rất lớn, nhưng GDP vẫn tăng trưởng không tương xứng. Ngược lại, trong
suốt những năm 2015-2020, ODA giảm sút rệt, liên tục tăng trưởng âm rất lớn,
nhưng tăng trưởng GDP vẫn mức cao. Điều đó cho thấy, vốn ODA ít ảnh hưởng
đến tăng trưởng GDP trong giai đoạn vừa qua.
2.1 Lĩnh vực giao thông - vận tải
Nhận thức được vai trò của giao thông - vận tải đối với phát triển kinh tế, ngay
từ năm 1986, Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VI (1986) đã khẳng
định giao thông vận tải phải đi trước một bước đđáp ứng u cầu phát triển của
nền kinh tế quốc dân”. Chính vì vậy, giao thông - vận tải đã nhận được nhiều ưu đãi,
hỗ trợ từ nguồn vốn ODA.
Trong giai đoạn 2010 - 2017, tổng số vốn ODA giải ngân cho lĩnh vực giao
thông - vận tải và kho bãi đạt 9,76 tỷ USD, chiếm gần 62% tổng số vốn ODA giải
ngân trong nhóm sở hạ tầng. Số vốn này được phân bổ chủ yếu cho hệ thống giao
thông đường bộ (6444 triệu USD, tương đương 61,89%), tiếp đó giao thông đường
sắt (1378 triệu USD, 14%); đường thủy (1121 triệu USD, 11%) đường không (563
triệu USD, 6%) (xem Hình 3). ODA cho hạ tầng giao thông vận tải chủ yếu từ
nguồn vốn vay ODA (chiếm hơn 95% tổng vốn ODA giải ngân) (3).
Chính nhờ nguồn vốn ODA, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy nội
địa, cảng biển, đường hàng không của Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt.
lOMoARcPSD| 61265515
Đối với hạ tầng đường bộ, ODA tập trung đầu phát triển nâng cấp hệ
thống đường cao tốc, quốc lộ, cầu lớn, đường tỉnh, giao thông nông thôn. Điển hình
các dự án như: Dự án cầu Nhật Tân, Dự án đường vành đai 3 Nội từ ODA Nhật
Bản, Dự án phát triển hạ tầng giao thông đồng bằng sông Cửu Long từ
ODA của Ngân hàng Thế giới... Chính nhờ từ sự htrợ từ nguồn vốn ODA, năm
2016, các tuyến cao tốc trọng điểm nằm trên trục Bắc - Nam, kết nối hai vùng kinh
tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam với các cảng biển cửa ngõ và cửa khẩu quốc tế,
bao gồm tuyến: TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương; Pháp Vân - Ninh Bình; Liên
Khương - Đà Lạt; Vành đai 3 Nội; Đại lộ Thăng Long; Hà Nội - Thái Nguyên;
Nội Bài - Lào Cai; Nội Bài - Nhật Tân; TP. Hồ Chí Minh - Dầu Giây; Hà Nội - Hải
Phòng đã được đưa vào sử dụng, giúp Việt Nam đứng vào top 3 các nước có đường
cao tốc lớn và hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á [3]. Tính đến năm 2017, cả nước
tổng số 13 tuyến đường cao tốc, 146 tuyến đường quốc lộ chính với tổng chiều
dài là 23.816 km, trong đó chủ yếu là đường bê tông nhựa [1].
Đối với hạ tầng đường sắt, vốn ODA tập trung vào bảo tphát triển tuyến
đường sắt Bắc - Nam, xây dựng một số tuyến đường sắt trên cao tại Hà Nội TP.
Hồ Chí Minh, xây dựng tuyến đường sắt cao tốc nối liền hai miền Bắc - Nam, nâng
cấp, hiện đại hóa hthống thông tin tín hiệu trên các tuyến đường sắt chyếu, đầu
đầu y hiện đại, sức kéo lớn. Các dự án lớn trong lĩnh vực này có thể kra
Dự án Metro Bến Thành - Suối Tiên TP. Hồ Chí Minh, Dự án xây dựng đường sắt
đô thị TP. Hồ Chí Minh (Đoạn Bến Thành - Suối Tiên)... Với hiện trạng kết cấu hạ
tầng xuống cấp nặng nề kỹ thuật lạc hậu thì nhu cầu về vốn đầu vào ngành
đường sắt rất lớn, ngân sách lại quá hạn hẹp nên nguồn vốn ODA không thể
thiếu. Tuy nhiên, việc thu hút ODA vào ngành đường sắt thời gian qua chưa nhiều
(mới chỉ đạt gần 1,38 tỷ USD từ năm 2010 đến 2017), nguyên nhân chủ yếu do
lOMoARcPSD| 61265515
lĩnh vực này cần lượng vốn đầu tư lớn, tập trung trên cùng một tuyến nên phải có sự
đồng tài trợ, nhưng mỗi nhà tài trợ lại có quan điểm và công nghệ khác nhau nên đạt
được đồng thuận đdự án đầu không ddàng. Mặt khác, những khó khăn về
đồng bộ hóa hệ thống ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả khai thác sau dự án. Ngoài
ra, đặc thù của các ng trình đầu kết cấu hạ tầng kỹ thuật đường sắt (trừ tuyến
đầu mới) vừa phải thi công vừa phải bảo đảm khai thác vận tải trên tuyến, do
đó thời gian thi công kéo dài, chi phí bảo đảm giao thông cao, giải ngân chậm.
Đối với hạ tầng đường không, trong thời gian qua, nhiều cảng hàng không
trong cả nước được nâng cấp nhờ có sự đóng góp của vốn ODA. Một số dán đầu
lớn tại cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, sử dụng vốn
ODA hiệu quả chất lượng cao. ODA còn góp phần hỗ trợ xây dựng hệ thống
chương trình, biên soạn giáo trình huấn luyện đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn,
quản lý, kỹ năng vận hành máy móc thiết bị công nghệ cao của cán bộ, nhân viên
hàng không theo các chuẩn mực quốc tế thông qua các hợp đồng mua sắm thiết bị
và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập trong lĩnh
vực hàng không.
Đối với hạ tầng đường thủy, nhờ vốn ODA, nhiều công trình quan trọng
trong ngành hàng hải đã được nâng cấp và xây dựng mới. Đến cuối năm 2015, Việt
Nam đã hoàn thành nâng cấp các cảng biển quốc gia địa phương như cảng Cái
Lân, cảng Hải Phòng, cảng Cửa Lò, cảng Vũng Áng, cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn,
cảng Nha Trang, cảng Sài Gòn, cảng Cần Thơ; đáp ứng nhu cầu giao thương hàng
hóa, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận lao động dư thừa
vùng nông thôn các địa phương công trình cảng. Ngoài ra, để thuận lợi hơn
trong quá trình vận chuyển đường thủy và đường biển, nhờ nguồn vốn ODA mà dự
án cảng Cái Mép - Thị Vải được thực hiện với mục tiêu đưa cảng trở thành cảng

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61265515
NHÓM 10: Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát
triển. Phân tích sự thay đổi của nguồn vốn này trong giai đoạn 2016-2020 Mục lục
I. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát triển……….2
1. Nhu cầu của các nước đang và kém phát triển đối với nguồn vốn ODA…………………….2
2. Lợi ích ODA mang lại chp các nước đang và kém phát triển……………………...…………3 2.
1.ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển,
giảm gánh nặng cho ngân sách nhà
nước
……………………...………….……………………...…….
2.2. ODA giúp các nước phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường…………………...…….
2.3.ODA giúp các nước xóa đói giảm nghèo……………...………….……………………...……5
2.4 ODA là nguổn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước..5
2.5 ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn nhân lực bổ sung cho đầu tư tư nhân…..
2.6 ODA giúp các nước tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ
trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù
hợp với thông lệ quốc tế……………...………….……………………...…….……….……….
2.7 ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợ tiếp thu những
thànhtựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân
lực
…………...…….……….………..
II. Sự thay đổi của nguồn vốn ODA từ năm 2016-2020…………...…….……….……………..
1.ODA ở Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành nước có thu nhật trung bình (2010)…………
2.ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế Việt Nam………………...…….……….…………
2.1 Lĩnh vực giao thông - vận tải ………...………….……………………...…….……….……….
2.2 Lĩnh vực năng lượng……………...………….……………………...…….……….…………...
I. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển của các quốc gia đang phát triển
1. Nhu cầu của các nước đang và kém phát triển đối với nguồn vốn ODA
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ
nước ngoài cung cấp với các mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với các
hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF nào khác.
Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn cho vay lOMoAR cPSD| 61265515
lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố tài trợ) đạt ít nhất 25%.
ODA - Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức. Gọi là “hỗ
trợ” vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi
suất thấp với thời hạn cho vay dài. Gọi là “phát triển” vì mục tiêu danh nghĩa của
các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước đầu tư. Gọi là
chính thức vì bên nhận vốn vay thường là Nhà nước. Thông qua các thành tố trên về
ODA thì các nước đều thấy được lợi ích của nguồn vốn vay ODA. Đặc biệt là các
nước đang và kém phát triển nói chung, trong đó Việt Nam là nước điển hình.
Trên thực tế hiện nay, Việt Nam cũng đang có nhu cầu lớn trong việc sử dụng vốn
ODA để phát triển cơ sở hạ tầng. Bước vào năm 2012, năm bản lề cho việc hoàn tất
kế hoạch Phát triển KT - XH 5 năm (2011-2015), Việt Nam càng cần nhiều hơn nữa
sự hỗ trợ về ODA, trong đó đối tác chính yếu là Nhật Bản trong việc cung cấp nguồn
vốn vay này, nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, đặc
biệt là công tác xóa đói giảm nghèo.
Hiện nay với các dự án đang giải ngân thực hiện bằng nguồn vốn ODA từ Nhật
Bản như: Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng Cảng quốc tế Cái Mép - Thị Vải, đường cao
tốc Bắc Nam (đoạn TP HCM – Dầu Giây), nhà máy nhiệt điện Ô Môn II, đại lộ Đông
Tây TP HCM, dự án cải thiện môi trường nước TP HCM vẫn đang cần thêm nguồn
vốn bổ sung để hoàn tất. Bên cạnh đó, còn hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng quy
mô lớn thiết yếu như dự án phát triển cơ sở hạ tầng cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng
(cảng Lạch Huyện), đường cao tốc Bắc Nam (đoạn Đà Nẵng - Quảng Ngãi), Trung
tâm vũ trụ Việt Nam, dự án cấp nước và xử lý nước thải Đồng Nai , … cũng đang
được chính phủ Việt Nam đề nghị chính phủ Nhật Bản cung cấp vốn ODA. lOMoAR cPSD| 61265515
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nguồn vốn vay ODA chủ yếu được dung vào các
dự án phúc lợi và phát triển cộng đồng tại các quốc gia đang và kém phát triển và
đây cũng là nhu cầu cấp thiết nhất tại các quốc gia này. Trong đó lĩnh vực giáo dục
là một trong những ưu tiên hàng đầu để các nước đồng ý hỗ trợ cho các nước đang
và kém phát triển vay bằng hình thức ODA. Chẳng hạn, vào ngày 21/08/2009, ngân
hàng Nhà nước và WB tại Việt Nam đã ký Hiệp định tài trợ cho chương trình đảm
bảo chất lượng giáo dục trường học và Chính sách phát triển giáo dục đại học giai
đoạn 1. Tổng số vốn ODA mà WB cho vay trong hai dự án này là 177 triệu USD.
Chương trình được thực hiện tại 35 tỉnh thành phố trên cả nước từ 2009-2015.
2. Lợi ích ODA mang lại chp các nước đang và kém phát triển
Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các nước
thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình. Vai trò của ODA thể hiện
trên các giác độ cơ bản như:
2.1.ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư
phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước
Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm,
lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm. Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho
vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã
hội như giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được xây dựng mới hoặc
cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh
tế của các nước nghèo. Theo tính toán của các chuyên gia của WB, đối với các nước
có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng thêm 0.5%. lOMoAR cPSD| 61265515
2.2. ODA giúp các nước phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường
Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành
cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của
các nước. Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương
trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng
đồng quốc tế, các nước đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình.
Về phát triển nguồn nhân lực, tại Indonesia, mỗi năm có khoảng 7000 người
được đưa đi đào tạo tại Nhật Bản trong chương trình đào tạo đối tác của JICA. Trong
năm tài chính 2000, 12 khóa học đã được tổ chức tại Indo và 131 học viên từ châu
Á và châu Phi đã đến Indo học tập.
Tại Trung Quốc, từ năm 1990 đến năm 1997, có khoảng 16 dự án gìn giữ môi
trường sử dụng vốn ODA của Nhật Bản. Các khoản vay ODA cam kết cho năm tài
chính 2000 có 20 trong số 23 dự án là các dự án nhằm bảo vệ môi trường. Bên cạnh
đó, việc hợp tác cũng mở rộng sang lĩnh vực chống ô nhiễm công nghiệp, các biện
pháp chống ô nhiễm nước và không khí, quản lý môi trường, trồng rừng, chống sa mạc hóa...
2.3.ODA giúp các nước xóa đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ
quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức. Mục tiêu này
biểu hiện tính nhân đạo của ODA. Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA
một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tử vong ở
trẻ sơ sinh. Và nếu như các nước giàu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được lOMoAR cPSD| 61265515
25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhật dành nhiều vốn ODA cho việc xóa
đói giảm nghèo tại Indonesia, đất nước chịu nhiều thiên tai và dịch bệnh.
Tuy nhiên thực tế cho thấy nghèo vẫn còn là vấn đề lớn nhất cần được giải
quyết tại nước này, đặc biệt là trong tình hình khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh
tế và sự bất ổn trong nước trong những năm gần đây. Tại Trung Quốc, nhờ sử dụng
vốn ODA hiệu quả, số nông thôn nghèo khó ở Trung Quốc từ 94,22 triệu người tính
đến cuối năm 2000, giảm xuống còn 26,88 triệu người năm 2010. Tỷ lệ dân số nông
thôn nghèo khó trong tổng số dân nông thôn Trung Quốc từ 10,2% năm 2000, giảm
xuống còn 2,8% năm 2010. Trung Quốc đã thực hiện trước thời hạn mục tiêu giảm
50% dân số nghèo khó theo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của LHQ, góp phần
quan trọng cho sự nghiệp xóa giảm đói nghèo của toàn thế giới.
2.4 ODA là nguổn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán
quốc tế của các nước
Đối với các nước đang phát triển, khó khăn kinh tế là điều không thể tránh
khỏi, trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một gia
tăng là tình trạng phổ biến. Vì vậy ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh
cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển... ODA, đặc biệt các khoản
trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước
tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ.
Bên cạnh đó, việc chuyển chính sách kinh tế nhà nước đóng vai trò trung tâm
sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu
vực kinh tế tư nhân cần phải có một lượng vốn lớn, do vậy mà các chính phủ lại dựa vào nguồn hỗ trợ ODA. lOMoAR cPSD| 61265515
Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng
7 năm 1997 Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền
tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó
được coi là “những con hổ Đông Á”. Cuộc khủng hoảng này thường được gọi là
Khủng hoảng tiền tệ châu Á.
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng Baht Thái bị tấn công
đầu cơ quy mô lớn mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức
56 Baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt
từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn
hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One,
công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố
sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8,
IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ đôla Mỹ.
Kết quả: đồng Bath Thái Lan đã tăng giá trở lại sau 1 năm sụt giá thảm hại (55
Baht/USD vào tháng 12/1997 tăng lên khoảng 38 Baht/USD tháng 11/1998).
2.5. ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn nhân lực bổ sung cho đầu tư tư nhân
Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam
châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ. Đối với
những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm
tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ.Tuy nhiên, không phải
lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân. Ở những nền kinh tế có
môi trường bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung mà
còn “loại trừ” đầu tư tư nhân. Điều này giải thích tại sao các nước ĐPT mắc nợ nhiều, lOMoAR cPSD| 61265515
mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc
tiếp nhận được rất ít vốn FDI.
2.6. ODA giúp các nước tăng cường năng lực và thể chế thông qua các
chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và
xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế
Lượng vốn ODA nhận được từ các tổ chức tài chính quốc tế càng cao, càng
chứng tỏ độ tin cậy của cộng đồng quốc tế nước tiếp nhận càng lớn. Ngược lại nước
nhận viện trợ phải nỗ lực cải cách thể chế, tích cực chống thể chế, tích cực chống
tham nhũng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn quốc gia, đây là những điều khoản
tiên quyết để được nhận hỗ trợ nhiều hơn từ các nhà tài trợ song phương và đa phương.
ODA giúp các nước nghèo cải cách hành chính, kinh tế thông qua các chương
trình viện trợ dự án, làm cho cơ chế quản lý kinh tế những nước này tiếp cận với
những chuẩn mực chung quốc tế; góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa và đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.
Căn cứ vào những kết quả đã đạt được cho đến nay trong quá trình thực hiện
tuyên bố Paris và cam kết Hà Nội (HCS) về Hiệu quả viện trợ, cũng như kế hoạch
thực hiện chương trình hành động Accra tại một số Bộ và địa phương có thể rút ra
một số bài học sau đây: Những hoạt động hiệu quả viện trợ cụ thể có thể được thực
hiện một cách tích cực bởi các cơ quan và đơn vị thụ hưởng có lợi ích thực tế và rõ
ràng mà hoạt động này mang lại. Bộ Y tế đã có sáng kiến xây dựng các cột mốc thực
hiện HSC về hiệu quả viện trợ để gắn với các hoạt động của Bộ. Tác động của các
hoạt động này có thể đóng góp cải thiện dịch vụ y tế cho xã hội. Đó chính là tác động lOMoAR cPSD| 61265515
của hiệu quả viện trợ đối với hiệu quả phát triển trong lĩnh vực y tế. Cam kết chính
trị cấp cao là hết sức quan trọng để thúc đẩy thực hiện các hoạt động hiệu quả viện
trợ. Việc Thứ trưởng Bộ Y tế đồng chủ tọa Nhóm quan hệ đối tác Y tế (HPG) là một
ví dụ cụ thể về cam kết chính trị cấp cao đối với việc thực hiện Chương trình nghị
sự về hiệu quả viện trợ. Ví dụ cụ thể về việc thay đổi, cải cách chính sách quản lý
kinh tế ảnh hưởng đến việc nhận được viện trợ nước ngoài. Năm 1999, sau khi khảo
sát dự án cải tạo hệ thống cấp thoát nước tránh lũ lụt cho các quận 5, quận 6, và quận
11 của TP.HCM, ADB nhận thấy dự án này rất quan trọng nên đã đồng ý cho vay ưu
đãi ODA 70 triệu USD và thỏa thuận với chính quyền thành phố đóng khoản vay vào
tháng 12-2005 và gia hạn thêm 6 tháng nữa trước khi đóng gói thầu. Trên thực tế,
ADB đã đóng gói thầu vào cuối tháng 62006. Lý do là sau 7 năm kể từ khi dự án
được triển khai, ADB nhận thấy dự án chỉ được rút ra 6 triệu USD dành cho hoạt
động tư vấn. Tuy chính quyền thành phố có bàn bạc gia hạn thêm vài năm nữa nhưng
ADB nhận thấy rằng có kéo dài thêm 10 năm nữa, dự án vẫn không hoạt động được.
Đại diện ngân hàng tuyên bố nếu thành phố muốn tiếp tục thực hiện dự án này, họ
phải đưa ra kế hoạch cụ thể, cách thức cũng như thời gian thực hiện. ADB muốn có
câu trả lời rõ ràng hơn và sẵn sàng giúp đỡ để thực hiện dự án.
Trước 2007, với sự hỗ trợ kỹ thuật của ODA, một số bộ luật quan trọng đã
được chuẩn bị đúng hạn và được Chính phủ trình Quốc hội thông qua đáp ứng nhu
cầu cải cách thể chế trong tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam như Luật Đầu tư,
Luật Đấu thầu, Luật Phòng chống tham nhũng...
2.7. ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợ tiếp
thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
Dù cho các nước tài trợ thường không muốn chuyển giao những công nghệ
cao nhưng trên thực tế cũng có công nghệ tương đối cao được chuyển giao làm tăng lOMoAR cPSD| 61265515
thêm tiềm lực khoa học công nghệ của nước tiếp nhận. Khả năng này thường được
chuyển giao qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật với nhiều loại hình khác nhau và gắn với
các dự án khác nhau, như các dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chương
trình về tuyển cử quốc gia, các dự án về cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập; các
chương trình cử các đoàn khảo sát về phát triển… Bên cạnh đó, ODA giúp các nước
đang phát triển phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường. Một lượng ODA lớn
được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo
dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường
một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước đang phát triển.
Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ
lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc
tế, các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình.
II. Sự thay đổi của nguồn vốn ODA từ năm 2016-2020
1.ODA ở Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành nước có thu nhật trung bình (2010)
ODA là một nguồn ngoại lực quan trọng ở Việt Nam. Kể từ khi Việt Nam trở
thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010, đến năm 2017 thì tổng số vốn
ODA cam kết là gần 39,15 tỷ USD và Việt Nam đã giải ngân được hơn 33,13 tỷ USD
(tương đương với 84,64% tổng vốn ODA cam kết), (xem Hình 1 để rõ hơn chi tiết
ODA theo các năm). Một điểm cần lưu ý là, do vốn ODA cam kết theo số liệu của
OECD chính là số tiền mà các nhà tài trợ đã tạm ứng để thực hiện các dự án ODA
nên mức độ giải ngân vốn ODA của Việt Nam theo cách hiểu này là cao hơn so với
các số liệu về tỷ lệ giải ngân/cam kết vốn ODA do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố. lOMoAR cPSD| 61265515
Số ODA giải ngân ở Việt Nam có xu hướng tăng lên từ năm 2010 đến
năm 2014 nhưng bắt đầu suy giảm từ năm 2015 đến 2017 do các nhà tài trợ bắt đầu
cắt giảm ODA cho Việt Nam. Thêm vào đó, bắt đầu từ 01/7/2017, Việt Nam đã chính
thức tốt nghiệp ODA theo tiêu chuẩn của WB. Điều đó có nghĩa là Việt Nam không
còn nhận được các khoản vay vốn ưu đãi từ IDA của WB mà phải chịu các khoản
vay kém ưu đãi, dần tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB) cũng xếp Việt Nam vào nhóm B, nhóm đối tượng vay hỗn hợp chứ không
thuộc diện chỉ nhận được các khoản vay ưu đãi. Tuy nhiên, Việt Nam đã đàm phán
và xây dựng thành công cơ chế hỗ trợ chuyển đổi tốt nghiệp ODA trong 3 năm nhằm
củng cố và phát triển bền vững nền kinh tế trong giai đoạn đầu tốt nghiệp
Tỷ lệ ODA trên tổng thu nhập quốc dân (GNI) liên tục giảm ở Việt Nam nhưng
ODA bình quân đầu người ở Việt Nam lại liên tục tăng. Năm 2010, vốn ODA giải
ngân đạt 2,64% GNI nhưng đến năm 2017 thì chỉ còn đạt 1,11% GNI của Việt Nam.
ODA bình quân đầu người năm 2014 là 45,55 USD nhưng đến năm 2017 chỉ còn
24,87 USD. Mặc dù được xác định là một nguồn ngoại lực quan trọng và có quy lOMoAR cPSD| 61265515
hoạch, định hướng thu hút và sử dụng ODA định kỳ 5 năm một lần song sự đóng
góp của ODA cho GNI của Việt Nam chỉ ở mức độ khiêm tốn. Tuy nhiên, nguồn vốn
này có vị trí quan trọng đối với đầu tư phát triển trong bối cảnh ngân sách nhà nước
còn hạn hẹp mà nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội lại rất lớn.
ODA vào Việt Nam chủ yếu dưới hai hình thức là ODA viện trợ và ODA vay
trong đó vốn vay ODA có xu hướng ngày càng tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn so với ODA viện trợ. Xét trong cả giai đoạn, ODA vay chiếm 77,8% tổng ODA
giải ngân trong đó có 3 năm từ 2014 - 2016, vốn vay ODA luôn chiếm trên 80% tổng
số vốn ODA. Đây chính là điểm mà Việt Nam cần lưu ý khi đi vay ODA bởi nguồn
vốn này không còn được nhiều ưu đãi từ phía nhà tài trợ mà lại kèm theo khá nhiều
ràng buộc của nhà tài trợ. Xét theo tỷ lệ giải ngân/cam kết, ODA viện trợ vào Việt
Nam luôn có tỷ lệ giải ngân/cam kết rất cao, đạt 97,43% cho cả giai đoạn 2010 -
2016, cao hơn so với tỷ lệ này đối với ODA vay khoảng 17%. Tuy nhiên, một điểm
đáng lo ngại là tỷ lệ giải ngân/cam kết vốn ODA vay luôn suy giảm, năm 2010 là
84% nhưng đến năm 2016 chỉ đạt 67,7% (trừ năm 2014 đạt 128% do tích lũy dồn lại
từ các năm trước)2 . Chính vì nguồn vốn vay ODA ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so
với ODA viện trợ nên số tiền trả nợ vay ODA của Việt Nam ngày càng tăng qua các
năm thể hiện gánh nặng ODA đối với nền kinh tế càng ngày càng lớn. Trong giai
đoạn 2010 - 2017, Việt Nam đã phải trả hơn 5,83 tỷ USD tiền nợ gốc vay ODA và
hơn 2,3 tỷ lãi vay ODA, tổng cộng là gần 8,15 tỷ USD (tương đương với 24,6% tổng
vốn ODA giải ngân cho cả giai đoạn)2 . Bên cạnh 2 hình thức ODA viện trợ và ODA
vay thì còn có một hình thức ODA vào Việt Nam nữa là ODA đầu tư vào tài sản
(Equity Investment) tuy nhiên hình thức này chiếm tỷ trọng rất nhỏ (0,43% tổng
ODA vào Việt Nam cho cả giai đoạn 2010 - 2017) với giá trị khoảng 142,54 triệu USD cho cả giai đoạn lOMoAR cPSD| 61265515
Các nước thuộc Uỷ ban Hỗ trợ phát triển của OECD - DAC và các tổ
chức đa phương quốc tế là các nhà tài trợ ODA chủ yếu cho Việt Nam trong đó
ODA từ các nước DAC chiếm 62,2%, từ các tổ chức đa phương chiếm 37,56% tổng
số ODA giải ngân cho cả giai đoạn 2010 - 2017. Tuy nhiên, số ODA từ các nước
DAC hiện đang có tỷ trọng giảm so với số ODA từ các tổ chức đa phương tài trợ cho
Việt Nam. Điều này cho thấy xu hướng của các đối tác tài trợ cho Việt Nam trong
thời gian tới là các tổ chức đa phương chứ không phải các nước riêng rẽ. Đối với các
nhà tài trợ là các tổ chức đa phương thì vốn ODA từ IDA chiếm tỷ trọng lớn nhất
(24,63% tổng vốn ODA cho cả giai đoạn). Tuy nhiên, tỷ trọng vốn
ODA của tổ chức này hiện nay đang giảm do Việt Nam trở thành nước thu nhập trung
bình. Nếu như năm 2010 tỷ trọng ODA từ IDA vào Việt Nam chiếm 26% vốn ODA
thì đến năm 2016, con số này chỉ còn là 20% và năm 2017 là 22%. Ngân hàng Phát
triển châu Á là nhà tài trợ lớn thứ hai trong nhóm các nhà tài trợ đa phương cho Việt
Nam với tỷ trọng ODA cho Việt Nam chiếm 8,57% cho giai đoạn 2010 - 2017. Vốn
ODA từ ADB vào Việt Nam sau khi tăng mạnh từ năm 2010 đến năm 2014 thì những
năm gần đây lại có xu hướng giảm. Theo thông lệ quốc tế, ODA có thể chuyển giao
qua các kênh như: khu vực công; tổ chức phi chính phủ và tổ chức dân sự; đối tác
công tư; các tổ chức đa phương; các tổ chức giáo dục, nghiên cứu và nhóm think-
tanks; các tổ chức khu vực tư nhân và các tổ chức khác. Ở Việt Nam, 89,56% ODA
là qua khu vực công; 2,8% qua các tổ chức đa phương; 2,41% qua các tổ chức phi
chính phủ và dân sự; 2,27% qua các tổ chức khác và 1,7% qua các tổ chức giáo dục,
nghiên cứu và nhóm think-tanks. Các kênh khác chỉ chiếm chưa đầy 0,2% tổng vốn
ODA. Tuy nhiên một điểm đáng lưu ý là mức độ giải ngân ODA qua khu vực công
chỉ đạt 84,66% ODA cam kết (thấp thứ hai trong nhóm các kênh chuyển giao vốn
ODA vào Việt Nam). Mức độ giải ngân thấp nhất là qua kênh các tổ chức đa phương
(đạt 72,83% vốn ODA cam kết)2 . Bên cạnh đó, xét theo hình thức ODA thì 98,86% lOMoAR cPSD| 61265515
ODA vay là thông qua khu vực công hay nói cách khác, chỉ có khu vực công mới có
khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ODA (Hình 8). Còn đối với ODA viện trợ, 57,56%
ODA viện trợ vào Việt Nam là qua kênh chuyển giao từ khu vực công; 12,41% là
qua các tổ chức đa phương; 7,8% là qua các tổ chức giáo dục, nghiên cứu và nhóm
think-tanks. Đây chính là một điểm mà Việt Nam cần lưu ý khi lập đề án thu hút vốn ODA viện trợ
Theo OECD, căn cứ vào mục tiêu thực hiện mà các dự án ODA được phân bổ
vào 11 nhóm lĩnh vực. Đó là:
- Nhóm 1: Các dịch vụ và cơ sở hạ tầng xã hội
- Nhóm 2: Các dịch vụ và cơ sở hạ tầng kinh tế
- Nhóm 3: Nhóm ngành sản xuất
- Nhóm 4: Nhóm đa ngành, đa lĩnh vực
- Nhóm 5: Nhóm hỗ trợ chương trình chung và hỗ trợ hàng hóa
- Nhóm 6: Các hoạt động liên quan đến nợ
- Nhóm 7: Nhóm hỗ trợ nhân đạo
- Nhóm 8: Chi phí hành chính của nhà tài trợ
- Nhóm 9: Hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ
- Nhóm 10: Hỗ trợ người tị nạn ở nước tài trợ
- Nhóm 11: Các lĩnh vực khác lOMoAR cPSD| 61265515
Từ năm 2010 đến 2017, tỷ trọng ODA cho nhóm Các dịch vụ và cơ sở hạ tầng kinh
tế chiếm tỷ lệ cao nhất với giá trị gần 15,77 tỷ USD (chiếm 47,6% tổng số vốn ODA
giải ngân cho cả giai đoạn); tiếp đến là nhóm Các dịch vụ và cơ sở hạ tầng xã hội
(9,3 tỷ USD, chiếm 28,11%) (3). Nhóm Đa ngành, đa lĩnh vực xếp vị trí thứ ba với
3,89 tỷ USD (11,76%); xếp thứ tư là nhóm ngành sản xuất với 2,67 tỷ USD (8%).
ODA đã hỗ trợ xây dựng và phát triển một số ngành và lĩnh vực trọng yếu của Việt
Nam như Giao thông - vận tải và kho bãi; năng lượng (chính sách năng lượng, năng
lượng tái tạo, chính sách phân phối năng lượng); cấp nước và vệ sinh; giáo dục; các
lĩnh vực đa ngành; bảo vệ môi trường; nông lâm ngư nghiệp; Chính phủ và xã hội
dân sự; y tế; hỗ trợ ngân sách; Dịch vụ tài chính và ngân hàng; công nghiệp, khai khoáng và xây dựng…
Tuy nhiên, một điểm rất đáng lưu ý vốn ODA phân bổ cho lĩnh vực Giao thông
- vận tải và kho bãi và lĩnh vực Năng lượng chủ yếu là vốn ODA vay với số lượng
vay vốn ngày càng tăng. Nếu như năm 2010, 93,94% vốn ODA cho lĩnh vực Giao
thông - vận tải là vốn vay thì đến năm 2017, tỷ trọng này là 97,95%. Tương tự như
vậy, vốn vay ODA của ngành Năng lượng vào năm 2010 là 95,57% và đến năm 2017
là 96,73%. Vốn ODA cho lĩnh vực Cấp nước và vệ sinh cũng có tới 82,62% là vốn
vay. Riêng đối với lĩnh vực Giáo dục thì vốn ODA cho lĩnh vực này có gần một nửa
là từ nguồn ODA viện trợ (47,74%). Lĩnh vực Bảo vệ môi trường nói chung và Các
lĩnh vực đa ngành có hơn 30% vốn ODA là từ ODA viện trợ.
2.ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế Việt Nam
Trong giai đoạn 2016 - 2020, vốn ODA được tập trung đầu tư vào lĩnh vực
như: xây dựng hạ tầng giao thông vận tải; xây dựng các công trình thuỷ điện, nhiệt
điện và năng lượng tái tạo, lưới điện và trạm phân phối điện; các công trình hạ tầng
đô thị, bảo vệ môi trường như cung cấp thoát nước, xử lý nước thải; các dự án phòng, lOMoAR cPSD| 61265515
chống, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; các chương trình
và dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn như thủy lợi, giao thông nông thôn, nước
sạch và vệ sinh môi trường, phát triển lưới điện nông thôn; các công trình dự án y tế,
giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; các công trình dự án khoa học kỹ thuật
và chuyển giao công nghệ, xây dựng các khu công nghệ cao; các dự án hỗ trợ xây
dựng và cải cách chính sách, thể chế... Biểu đồ 2: Cơ cấu vốn ODA thời kỳ 2011- 2015 và 2016-2020
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Vốn ODA trong thời kỳ 2016 - 2020 được đầu tư vào các ngành giao thông
vận tải khoảng 35,68%; đầu tư vào môi trường và phát triển nguồn nhân lực khoảng
18,65%; đầu tư vào năng lượng và công nghiệp khoảng 17,14%; đầu tư vào nông
nghiệp và phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo khoảng 9,47%; đầu tư vào các
ngành y tế, xã hội, giáo dục đào tạo khoảng 88%; còn lại 11.05% đầu tư vào các
ngành khác. Như vậy, có khoảng 62,29% được đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng hạ lOMoAR cPSD| 61265515
tầng giao thông vận tải, năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn, có tác
động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Có khoảng 37,71% được đầu tư
vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, phát triển nhân lực... có tác động thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn hoặc không trực tiếp tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Mối quan hệ giữa đầu tư ODA và tăng trưởng GDP
Bảng 2: Tăng trưởng ODA và GDP giai đoạn 1993-2020
Ghi chú: % tăng so với năm trước
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả lOMoAR cPSD| 61265515
Bảng 2 và Biểu đồ 3 cho thấy, trong giai đoạn 1993-2020, tăng trưởng ODA
có tính “khập khiễng”, không ổn định, có những năm tăng trưởng dương cao đột biến
(năm cao nhất là 2009 tăng trưởng lên đến 81,72%), từ năm 2015 đến 2020 vốn ODA
giảm liên tục với mức tăng trưởng âm (năm thấp nhất là 2020 tăng trưởng âm -74,37).
Mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong cả giai đoạn 1993-
2020 là 5,1%/năm. Trong khi đó, tăng trưởng GDP có nhịp độ khá ổn định, nếu loại
trừ năm 2020 tăng trưởng GDP chỉ có 2,91% do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-
19, thì trong suốt giai đoạn 1993-2019 GDP có mức độ dao động tăng trưởng từ 5,32
% (2015) đến 9,5% (1995). Mức tăng trưởng giai đoạn 1993-2020 bình quân GDP
hàng năm là 7,0 %/năm, cao hơn mức tăng trưởng trung bình của ODA là 1,9 %/năm.
Biểu đồ 3: Tăng trưởng ODA và GDP giai đoạn 1993-2020 Đơn vị: % /năm lOMoAR cPSD| 61265515
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê
Như vậy, giai đoạn vừa qua, tăng trưởng vốn ODA hàng năm không ổn định,
dao động lớn từ âm -74,37% đến dương 81,72 %, nhưng tăng trưởng GDP vẫn ổn
định với mức bình quân hàng năm là 7,26 %/năm. Trong nhiều năm, tăng trưởng vốn
ODA là rất lớn, nhưng GDP vẫn tăng trưởng không tương xứng. Ngược lại, trong
suốt những năm 2015-2020, ODA giảm sút rõ rệt, liên tục tăng trưởng âm rất lớn,
nhưng tăng trưởng GDP vẫn ở mức cao. Điều đó cho thấy, vốn ODA ít ảnh hưởng
đến tăng trưởng GDP trong giai đoạn vừa qua.
2.1 Lĩnh vực giao thông - vận tải
Nhận thức được vai trò của giao thông - vận tải đối với phát triển kinh tế, ngay
từ năm 1986, Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VI (1986) đã khẳng
định “giao thông vận tải phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của
nền kinh tế quốc dân”. Chính vì vậy, giao thông - vận tải đã nhận được nhiều ưu đãi,
hỗ trợ từ nguồn vốn ODA.
Trong giai đoạn 2010 - 2017, tổng số vốn ODA giải ngân cho lĩnh vực giao
thông - vận tải và kho bãi đạt 9,76 tỷ USD, chiếm gần 62% tổng số vốn ODA giải
ngân trong nhóm Cơ sở hạ tầng. Số vốn này được phân bổ chủ yếu cho hệ thống giao
thông đường bộ (6444 triệu USD, tương đương 61,89%), tiếp đó là giao thông đường
sắt (1378 triệu USD, 14%); đường thủy (1121 triệu USD, 11%) và đường không (563
triệu USD, 6%) (xem Hình 3). ODA cho hạ tầng giao thông vận tải chủ yếu là từ
nguồn vốn vay ODA (chiếm hơn 95% tổng vốn ODA giải ngân) (3).
Chính nhờ nguồn vốn ODA, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy nội
địa, cảng biển, đường hàng không của Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt. lOMoAR cPSD| 61265515
Đối với hạ tầng đường bộ, ODA tập trung đầu tư phát triển và nâng cấp hệ
thống đường cao tốc, quốc lộ, cầu lớn, đường tỉnh, giao thông nông thôn. Điển hình
là các dự án như: Dự án cầu Nhật Tân, Dự án đường vành đai 3 Hà Nội từ ODA Nhật
Bản, Dự án phát triển hạ tầng giao thông đồng bằng sông Cửu Long từ
ODA của Ngân hàng Thế giới... Chính nhờ từ sự hỗ trợ từ nguồn vốn ODA, năm
2016, các tuyến cao tốc trọng điểm nằm trên trục Bắc - Nam, kết nối hai vùng kinh
tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam với các cảng biển cửa ngõ và cửa khẩu quốc tế,
bao gồm tuyến: TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương; Pháp Vân - Ninh Bình; Liên
Khương - Đà Lạt; Vành đai 3 Hà Nội; Đại lộ Thăng Long; Hà Nội - Thái Nguyên;
Nội Bài - Lào Cai; Nội Bài - Nhật Tân; TP. Hồ Chí Minh - Dầu Giây; Hà Nội - Hải
Phòng đã được đưa vào sử dụng, giúp Việt Nam đứng vào top 3 các nước có đường
cao tốc lớn và hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á [3]. Tính đến năm 2017, cả nước
có tổng số 13 tuyến đường cao tốc, 146 tuyến đường quốc lộ chính với tổng chiều
dài là 23.816 km, trong đó chủ yếu là đường bê tông nhựa [1].
Đối với hạ tầng đường sắt, vốn ODA tập trung vào bảo trì phát triển tuyến
đường sắt Bắc - Nam, xây dựng một số tuyến đường sắt trên cao tại Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh, xây dựng tuyến đường sắt cao tốc nối liền hai miền Bắc - Nam, nâng
cấp, hiện đại hóa hệ thống thông tin tín hiệu trên các tuyến đường sắt chủ yếu, đầu
tư đầu máy hiện đại, sức kéo lớn. Các dự án lớn trong lĩnh vực này có thể kể ra là
Dự án Metro Bến Thành - Suối Tiên TP. Hồ Chí Minh, Dự án xây dựng đường sắt
đô thị TP. Hồ Chí Minh (Đoạn Bến Thành - Suối Tiên)... Với hiện trạng kết cấu hạ
tầng xuống cấp nặng nề và kỹ thuật lạc hậu thì nhu cầu về vốn đầu tư vào ngành
đường sắt rất lớn, mà ngân sách lại quá hạn hẹp nên nguồn vốn ODA là không thể
thiếu. Tuy nhiên, việc thu hút ODA vào ngành đường sắt thời gian qua chưa nhiều
(mới chỉ đạt gần 1,38 tỷ USD từ năm 2010 đến 2017), nguyên nhân chủ yếu là do lOMoAR cPSD| 61265515
lĩnh vực này cần lượng vốn đầu tư lớn, tập trung trên cùng một tuyến nên phải có sự
đồng tài trợ, nhưng mỗi nhà tài trợ lại có quan điểm và công nghệ khác nhau nên đạt
được đồng thuận để có dự án đầu tư không dễ dàng. Mặt khác, những khó khăn về
đồng bộ hóa hệ thống ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả khai thác sau dự án. Ngoài
ra, đặc thù của các công trình đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật đường sắt (trừ tuyến
đầu tư mới) là vừa phải thi công vừa phải bảo đảm khai thác vận tải trên tuyến, do
đó thời gian thi công kéo dài, chi phí bảo đảm giao thông cao, giải ngân chậm.
Đối với hạ tầng đường không, trong thời gian qua, nhiều cảng hàng không
trong cả nước được nâng cấp nhờ có sự đóng góp của vốn ODA. Một số dự án đầu
tư lớn tại cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, sử dụng vốn
ODA có hiệu quả và chất lượng cao. ODA còn góp phần hỗ trợ xây dựng hệ thống
chương trình, biên soạn giáo trình huấn luyện đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn,
quản lý, kỹ năng vận hành máy móc thiết bị công nghệ cao của cán bộ, nhân viên
hàng không theo các chuẩn mực quốc tế thông qua các hợp đồng mua sắm thiết bị
và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập trong lĩnh vực hàng không.
Đối với hạ tầng đường thủy, nhờ có vốn ODA, nhiều công trình quan trọng
trong ngành hàng hải đã được nâng cấp và xây dựng mới. Đến cuối năm 2015, Việt
Nam đã hoàn thành nâng cấp các cảng biển quốc gia và địa phương như cảng Cái
Lân, cảng Hải Phòng, cảng Cửa Lò, cảng Vũng Áng, cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn,
cảng Nha Trang, cảng Sài Gòn, cảng Cần Thơ; đáp ứng nhu cầu giao thương hàng
hóa, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận lao động dư thừa ở
vùng nông thôn và các địa phương có công trình cảng. Ngoài ra, để thuận lợi hơn
trong quá trình vận chuyển đường thủy và đường biển, nhờ nguồn vốn ODA mà dự
án cảng Cái Mép - Thị Vải được thực hiện với mục tiêu đưa cảng trở thành cảng