Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

1. Tất cả các Cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can.
=> Sai, vì: Theo Đ33 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: CQĐT, Viện kiểm sát; Tòa án.
Theo Đ104 BLTTHS thì tất cả các cơ quan trên đều có quyền khởi tố vụ án hs. Tuy
nhiên, về thẩm quyền khởi tố bị can, theo Đ126 BLTTHS thì Tòa án không có quyền khởi tố bị can.
Như vậy, không phải tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố bị can.
2. Tất cả những người có quyền giải quyết vụ án hình sự đều là những người tiến hành tố tụng.
=> Sai, vì: Những cơ quan khác không phải cơ quan tiến hành tố tụng như: Bộ đội biên
phòng, Kiểm lâm, Hải quan, Cảnh sát biển và những cơ quan khác trong CAND và
QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Đ111
BLTTHS cũng có quyền tham gia giải quyết vụ án hình sự theo những trường hợp luật định.
3. Tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong vụ án hình sự
đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
=> Sai, tại vì: Căn cứ vào Đ43 BLTTHS quy định những người có quyền đề nghị thay
đổi người tiến hành tố tụng bao gồm: Kiểm sát viên; bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của haị; người bào
chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự. Theo
quy định trên thì những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám
định, người phiên dịch…không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
Như vậy, không phải tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý
trong vụ án hình sự đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
4. Trong mọi trường hợp người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của
người tiến hành tố tụng.
Sai, tại vì: Căn cứ vào mục 1, phần II NQ 03 thì căn cứ vào thời điểm mà người bào chữa
tham gia để quyết định thay đổi hoặc không thay đổi. Nếu người bào chữa không tham
gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu mà có quan hệ thân thích với người đã và
đang tiến hành tố tụng thì sẽ từ chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được
nhờ bào chữa đó. Còn nếu người bào chữa tham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ
đầu thì sẽ được cấp giấy chứng nhận người bào chữa và người bị thay đổi trong trường
hợp này là người tiến hành tố tụng có mối quan hệ thân thích với người bào chữa.
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người
thân thích của người tiến hành tố tụng.
5. Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố vụ án
hình sự đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại K2 Đ57 BLTTHS.
Đúng, tại vì: Căn cứ vào điểm a mục 3 phần II NQ 03 quy định thì trường hợp khi phạm
tội là người phạm tội là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã
đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b, khoản 2 điều 57 BLTTHS.
6. Trong trường hợp bào chữa bắt buộc quy định tại Điểm b K2 Đ57 BLTTHS, khi bị
can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa thì yêu
cầu đó luôn được chấp nhận.
Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm c.1 mục 3 phần II NQ 03 quy định trường hợp yêu cầu thay
đổi người bào chữa thì thẩm phán được phân công làm chủ tòa phiên tòa căn cứ vào
khoản 2 và khoản 3 Điều 56 BLTTHS, hướng dẫn tại mục 1 phần II nghị quyết để xem
xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận.
7. Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo.
Đúng, tại vì: Theo quy định tại K2 Đ55 BLTTHS quy định về những người không được
làm chứng không liệt kê người thân thích của bị can bị cáo. Căn cứ theo khoản 1 Đ55
BLTTHS, nếu người thân thích của bị can bị cáo biết được tình tiết liên quan đến vụ án
đều có thể được triệu tập đến làm chứng.
8. Người dưới 14 tuổi không được làm chứng.
Sai, tại vì: Căn cứ vào K2 Đ55 BLTTHS không liệt kê người dưới 14 tuổi không được
làm chứng. Và căn cứ theo Khoản 1 Điều 55 BLTTHS nếu người dưới 14 tuổi biết được
tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làn chứng.
9. Người giám định có thể là người thân thích của bị can bị cáo.
Sai, tại vì: Điểm a Khoản 4 Điều 60 và căn cứ vào Khoản 1 Điều 42 BLTTHS thì khi
người giám định là người thân thích của bị can, bị cáo thì người giám định phải từ chối hoặc bị thay đổi.
10. Người phiên dịch có thể là người thân thích của bị can, bị cáo.
Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 61 và Khoản 1 Điều 42 BLTTHS thì khi
người phiên dịch là người thân thích của bị can, bị cáo thì phải từ chối hoặc bị thay đổi.
11. Trong mọi trường hợp, thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị
thay đổi nếu đã được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ án đó.
Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm b Mục 6 Phần I NQ03, đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc
phúc thẩm trong vụ án là đã tham gia giải quyết vụ án và đã ra bản án sơ thẩm hoặc bản
án phúc thẩm hoặc quyết định đình chỉ vụ án. Nếu thẩm phán, hội thẩm được phân công
tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm nhưng chỉ tham gia ra các quyết định: trả hồ sơ
để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, hủy quyết định đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa thì
vẫn được tiếp tục giải quyết vụ án.
12. Những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án đều có quyền
nhờ luật sư bào chữa cho mình.
Sai, tại vì: Theo quy định tại chương IV BLTTHS về người tham gia tố tụng, thì chỉ có
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
bởi họ là người bị buộc tội, còn những người tham gia tố tụng khác không có quyền này.
13. Khai báo là quyền của người làm chứng.
Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm b, Khoản 4 Điều 55 BLTTHS quy định: khai báo là nghĩa vụ của người làm chứng.
14. Người thân thích của thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tu cách là người làm chứng trong vụ án đó.
Sai. tại vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 BLTTHS về những người không được làm
chứng đã không liệt kê về người thân thích của thẩm phán. Do đó căn cứ vào Khoản 1
Điều 55 BLTTHS nếu người than thích của thẩm phán biết được tình tiết liên quan đến
vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng.
15. Thẩm phán và hội thẩm đều phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là
người thân thích với nhau trong cùng một vụ án.
Sai, tại vì: Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 46 BLTTHS nếu thẩm phán, hội thẩm
trong cùng một hội đồng xét xử là người thân thích với nhau thì phải từ chối tham gia xét
xử hoặc bị thay đổi. Và theo hướng dẫn tại điểm a, mục 6 phần I NQ03 thì khi có hai
người thân thích với nhau thì chỉ có một ngừơi phải từ chối hoặc bị thay đổi.
16. Chỉ có kiểm sát viên viện kiểm sát thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày
lời buộc tội tại phiên tòa.
Sai, tại vì:Căn cứ vào Khoản 3 Điều 51 BLTTHS, trong trường hợp vụ án được khởi tố
theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS thì người bị hại hoặc đại
diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
17. Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là
người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.
Đúng, tại vì: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 55 BLTTHS quy định về những người không
được làm chứng không liệt kê người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.Tuy nhiên đây
là một điểm thiếu sót trong phần quy định về người không được làm chứng của BLTTHS.
Bởi nếu cho phép người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại làm chứng thì khi họ đưa
ra những tình tiết sự thật mà tình tiết đó có thể không có lợi chống lại người bị hại thì
không phù hợp với chức năng công việc của họ. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối
cao về người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì người làm chứng trong vụ án không được
chấp nhận làm người bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Như vậy, người biết các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là
người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.
18. Chỉ có quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mới mang tính quyền lực nhà nước.
Sai, quan hệ pháp luật hành chính
19. Quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước là QHPL TTHS.
Sai, phải thỏa các điều kiện khác (chủ thể: người THHT, CQ THTT, người tham gia tố
tụng; khách thể: các QH giữa các chủ thể của luật TTHS, đối tượng điều chỉnh: QH
TTHS); ngoài ra QHPL mang tính QTLNN có thể là QHPL khác (QHPL TTHC, HS…)
20. Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT. Đúng
21. Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” là nguyên
tắc đặc thù mà chỉ Luật TTHS mới có.
Đúng, điều 11 định nghĩa bị can, bị cáo… chỉ có luật TTHS có
22. Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình
trong các phiên tòa xét xử VAHS.
Đúng, điều 11 định nghĩa bị can, bị cáo… chỉ có luật TTHS có
23. Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình
trong các phiên tòa xét xử VAHS.
Sai, chỉ người tham gia tố tụng only (điều 24)
24.. Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” là nguyên tắc đặc thù của luật TTHS? Đúng
25. . Tất cả các CQTHTT đều có quyền khởi tố VAHS và khởi tố bị can.
=> Nhận định này sai, vì: Theo Điều 33 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; Tòa án. Theo Điều 104 BLTTHS thì tất cả các cơ quan
trên đều có quyền khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, về thẩm quyền khởi tố bị can, theo
Điều 126 BLTTHS thì Tòa án không có quyền khởi tố bị can.
Như vậy, không phải tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố bị can.
26. Tất cả những người có quyền giải quyết VAHS đều là những người tiến hành tố tụng.
=> Nhận định này sai, vì: Những cơ quan khác không phải cơ quan tiến hành tố tụng như:
Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hải quan, Cảnh sát biển và những cơ quan khác trong
CAND và QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định
tại Đ111 BLTTHS cũng có quyền tham gia giải quyết vụ án hình sự theo những trường hợp luật định.
27. Tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong VAHS đều
có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
=> Nhận định này sai, tại vì: Căn cứ vào Đ43 BLTTHS quy định những người có quyền
đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng bao gồm: Kiểm sát viên; bị can, bị cáo, người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của haị;
người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự. Theo quy định trên thì những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng,
người giám định, người phiên dịch…không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
Như vậy, không phải tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý
trong vụ án hình sự đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
28. Trong mọi trường hợp người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của
người tiến hành tố tụng.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào mục 1, phần II NQ 03 thì căn cứ vào thời điểm mà
người bào chữa tham gia để quyết định thay đổi hoặc không thay đổi. Nếu người bào
chữa không tham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu mà có quan hệ thân thích
với người đã và đang tiến hành tố tụng thì sẽ từ chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa
cho người được nhờ bào chữa đó. Còn nếu người bào chữa tham gia trong các giai đoạn
tố tụng ngay từ đầu thì sẽ được cấp giấy chứng nhận người bào chữa và người bị thay đổi
trong trường hợp này là người tiến hành tố tụng có mối quan hệ thân thích với người bào chữa.
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người
thân thích của người tiến hành tố tụng.
29. Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố vụ án
hình sự đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại K2 Đ57 BLTTHS.
=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào điểm a mục 3 phần II NQ 03 quy định thì trường
hợp khi phạm tội là người phạm tội là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố,
xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b, khoản 2 điều 57 BLTTHS.
30. Trong trường hợp bào chữa bắt buộc quy định tại điểm b K2 Đ57 BLTTHS, khi bị
can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa thì yêu
cầu đó luôn được chấp nhận
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm c.1 mục 3 phần II NQ03 quy định trường hợp
yêu cầu thay đổi người bào chữa thì thẩm phán được phân công làm chủ tòa phiên tòa căn
cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 56 BLTTHS, hướng dẫn tại mục 1 phần II nghị quyết để
xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận.
31. Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo
=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại K2 Đ55 BLTTHS quy định về những
người không được làm chứng không liệt kê người thân thích của bị can bị cáo. Căn cứ
theo khoản 1 Đ55 BLTTHS, nếu người thân thích của bị can bị cáo biết được tình tiết liên
quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng.
32. Người dưới 14 tuổi không được làm chứng.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ55 BLTTHS không liệt kê người dưới 14 tuổi
không được làm chứng. Và căn cứ theo Khoản 1 Điều 55 BLTTHS nếu người dưới 14
tuổi biết được tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làn chứng
33. Người giám định có thể là người thân thích của bị can bị cáo
=> Nhận định này sai, vì: Điểm a Khoản 4 Điều 60 và căn cứ vào Khoản 1 Điều 42
BLTTHS thì khi người giám định là người thân thích của bị can, bị cáo thì người giám
định phải từ chối hoặc bị thay đ
34. Người phiên dịch có thể là người thân thích của bị can, bị cáo.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 61 và Khoản 1 Điều 42
BLTTHS thì khi người phiên dịch là người thân thích của bị can, bị cáo thì phải từ chối hoặc bị thay đổi.
35. Trong mọi trường hợp, thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị
thay đổi nếu đã được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ án đó.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm b Mục 6 Phần I NQ03, đã tham gia xét xử sơ
thẩm hoặc phúc thẩm trong vụ án là đã tham gia giải quyết vụ án và đã ra bản án sơ thẩm
hoặc bản án phúc thẩm hoặc quyết định đình chỉ vụ án. Nếu thẩm phán, hội thẩm được
phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm nhưng chỉ tham gia ra các quyết định:
trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, hủy quyết định đình chỉ vụ án, hoãn
phiên tòa thì vẫn được tiếp tục giải quyết vụ án.
36. Những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án đều có quyền
nhờ luật sư bào chữa cho mình.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại chương IV BLTTHS về người tham gia tố
tụng, thì chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa bởi họ là người bị buộc tội, còn những người tham gia tố tụng khác không có quyền này.
37. Khai báo là quyền của người làm chứng.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm b, Khoản 4 Điều 55 BLTTHS quy định: khai
báo là nghĩa vụ của người làm chứng.
38. Người thân thích của thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tu cách là người làm chứng trong vụ án đó.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 BLTTHS về những người
không được làm chứng đã không liệt kê về người thân thích của thẩm phán. Do đó căn cứ
vào Khoản 1 Điều 55 BLTTHS nếu người than thích của thẩm phán biết được tình tiết
liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng.
39. Thẩm phán và hội thẩm đều phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là
người thân thích với nhau trong cùng một vụ án.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 46 BLTTHS nếu thẩm
phán, hội thẩm trong cùng một hội đồng xét xử là người thân thích với nhau thì phải từ
chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi. Và theo hướng dẫn tại điểm a, mục 6 phần I NQ03
thì khi có hai người thân thích với nhau thì chỉ có một ngừơi phải từ chối hoặc bị thay đổi.
40. Chỉ có kiểm sát viên viện kiểm sát thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày
lời buộc tội tại phiên tòa.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 51 BLTTHS, trong trường hợp vụ án
được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS thì người bị
hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
41. Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là
người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.
=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 55 BLTTHS quy định về những
người không được làm chứng không liệt kê người bảo vệ quyền lợi ích của người bị
hại.Tuy nhiên đây là một điểm thiếu sót trong phần quy định về người không được làm
chứng của BLTTHS. Bởi nếu cho phép người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại làm
chứng thì khi họ đưa ra những tình tiết sự thật mà tình tiết đó có thể không có lợi chống
lại người bị hại thì không phù hợp với chức năng công việc của họ. Theo hướng dẫn của
Tòa án nhân dân tối cao về người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì người làm chứng
trong vụ án không được chấp nhận làm người bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Như vậy, người biết các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là
người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.
42. Mọi sự vật tồn tại khách quan mà có liên quan đến VAHS thì là chứng cứ.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 1Điều 64 BLTTHS: “chứng cứ là những gì
có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định mà CQĐT, Viện kiểm
sát và Tòa án dung làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực
hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng
đắn vụ án”. Như vậy, theo quy định trên thì chứng cứ phải bao gồm tính khách quan, tính
liên quan và tính hợp pháp. Nếu một sự vật tồn tại khách quan có liên quan đến vụ án
hình sự nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định (tính hợp pháp) thì
không được coi là chứng cứ
43. Kết quả thu được từ hoạt động nghiệp vụ (trinh sát, đặc tình, sổ đen) là chứng cứ.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 64 BLTTHS thì chứng cứ phải có
đầy đủ các đặc điểm: phải tồn tại khách quan, có tính liên quan và tính hợp pháp. Đối với
kết quả thu được từ hoạt động nghiệp vụ ( trinh sát, đặc tình, sổ đen), đặc điểm của hoạt
động nghiệp vụ này là bí mật, lén lút nên không thỏa mãn được tính hợp pháp (được thu
thập theo trình tự thủ tục luật định). Do vậy, kết quả thu được tù hoạt động nghiệp vụ
( trinh sát, đặc tình, sổ đen) không được sử dụng làm chứng cứ mà chỉ là căn cứ để định
hướng giải quyết vụ án
44. Tất cả những người THTT đều là những người có nghĩa vụ chứng minh VAHS.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 BLTTHS những người tiến
hành tố tụng gồm có: Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên; viện
trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát, kiểm sát viên; chánh án, phó chánh án tòa án,
thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án. Nhưng không phải tất cả những người trên đều có
nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự, như thư ký tòa án, theo quy định tại Điều 41
BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thư ký tòa án không quy định về
nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự. Và căn cứ vào Điều 66 BLTTHS quy định về việc
đánh giá chứng cứ_ một hoạt động quan trọng trong chứng minh vụ án cũng không đề
cập đến nghĩa vụ của thư ký tòa án.
45. Kết luận giám định là nguồn chứng cứ có thể thay thế được.
=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 73 và Điều 159 BLTTHS thì cơ quan
THTT có thể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục chung nếu kết
luận giám định chưa rõ hoặc chưa đầy đủ. Do đó, kết luận giám định là nguồn chứng cứ có thể thay thế được.
46. Kết luận giám định là chứng cứ trong tố tụng hình sự.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điểm c, Khoản 2, Điều 64 BLTTHS thì kết luận giám
định là nguồn dùng để xác định chứng cứ chứ không phải là chứng cứ. Kết luận chỉ được
coi là chứng cứ khi: thông tin trong kết luận là có thật, được tiến hành theo trình tự thủ
tục theo pháp luật quy định và được cơ quan có thẩm quyền dùng làm căn cứ để xác định
có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình
tiết cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
47. Lời khai của người bào chữa không phải là nguồn chứng cứ trong TTHS
=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 64 BLTTHS quy định về nguồn của
chứng cứ không liệt kê lời khai của người bào chữa. Do vậy, lời khai của người bào chữa
không phải là nguồn của chứng cứ trong TTHS.
48. Lời khai của người tham gia tố tụng là nguồn chứng cứ có thể thay thế được.
=> Nhận định này sai, vì: Lời khai của người tham gia tố tụng có thể xem là duy nhất,
chính họ là người biết tình tiết sự thật của vụ án do đó không thể lấy lời khai của người
này thay thế cho lời khai của người khác. Do đó, lời khai của người tham gia tố tụng là
nguồn chứng cứ không thể thay thế được. Và theo quy định của BLTTHS thì chỉ có một
nguồn chúng cứ duy nhất có thể thay thế được đó là kết quả giám định.
49. Vật chứng là nguồn chứng cứ không thể thay thế được
=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại Điều 74 BLTTHS thì “vật chứng: là vật
được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu hiệu tội phạm, vật là đối
tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và
người phạm tội”. Như vậy, vật chứng chứa đựng sự thật của vụ án do đó không thể thay thế được.
50. Vật chứng chỉ có thể trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vụ án đã được giải quyết xong.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ theo Khoản 3, Điều 76 BLTTHS thì trong quá trình
điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền có quyền quyết định trả lại những vật
chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến
việc giải quyết vụ án.
Như vậy, vật chứng không chỉ có thể trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
khi vụ án đã được giải quyết xong mà có thể trả lại trong qua trình điều tra, truy tố, xét xử.
51. Thư ký tòa án có quyền chứng minh trong vụ án hình sự.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 41 BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của thư ký tòa án không quy định về quyền chứng minh của thư ký trong
VAHS và căn cứ vào Điều 66 BLTTHS quy định về đánh giá chứng cứ, một hoạt động
quan trọng trong quá trình chứng minh VAHS cũng không quy định về quyền của thư ký
tòa án trong hoạt động này.
52. Biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 79 BLTTHS các BPNC được áp dụng để kịp thời
ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như cần đảm bảo thi hành án.
Theo quy định này thì trường hợp áp dụng BPNC để kịp thời ngăn chặn tội phạm thì đối
tượng bị áp dụng BPNC không phải là bị can, bị cáo. Cụ thể, đối với BPNC bắt người
trong trường hợp khẩn cấp thì đối tượng bị áp dụng không phải là bị can, bị cáo mà khi
các chủ thể thực hiện các hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 81 BLTTHS thì có thể bị áp
dụng BPNC này. Và đối với các BPNC khác như : bắt người phạm tội quả tang, biện
pháp tạm giữ cũng có thể áp dụng đối với người chưa phải là bị can, bị cáo.
53. VKS có quyền áp dụng tất cả các biện pháp ngăn chặn trong TTHS.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ79 BLTTHS thì BPNC bao gồm: bắt, tạm
giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
đảm. Trong tất cả các biện pháp ngăn chặn trên không phải biện pháp nào VKS cũng có
quyền áp dụng. Theo quy định tại K2 Đ81 BLTTHS quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt
người trong trường hợp khẩn cấp thì VKS không có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
này. Và căn cứ vào k2 Đ86 BLTTHS quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ
thì VKS cũng không có quyền áp dụng biện pháp này.
54. VKS không có quyền hủy bỏ BPNC trái pháp luật của Tòa án.
=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 94 BLTTHS thì đối với
những BPNC do VKS phê chuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải do VKS quyết định.
Theo quy định về thủ tục áp dụng trong các BPNC được quy định tại chương VI
BLTTHS thì các BPNC do Tòa án áp dụng không cần có sự phê chuẩn của VKS. Do vậy
VKS không có quyền hủy bỏ BPNC trái pháp luật của Tòa án
55. Biện pháp tạm giữ vẫn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo.
=> Nhận định này đúng, vì:Căn cứ K1 Đ86 BLTTHS thì biện pháp tạm giữ có thể được
áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người
phạm tội đầu thú, tự thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Đối với trường
hợp người phạm tội đã có quyết định khởi tố VAHS hoặc bị tòa án quyết định đưa ra xét
xử nhưng bỏ trốn sau đó cơ quan có thẩm quyền quyết định ra lệnh truy nã và bị bắt thì
có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ. Như vậy, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ
trong trường hợp này là bị can, bị cáo. Do đó, biện pháp tạm giữ có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo.
56. Biện pháp tạm giữ là biện pháp ngăn chặn duy nhất có thể được áp dụng ngay sau khi
bắt được người đang bị truy nã.
=> Nhận định này sai, tại vì: Căn cứ vào điểm a K2 Đ88 BLTTHS thì bị can bị cáo bỏ
trốn và bị bắt theo lệnh truy nã thì cũng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam. Và căn cứ
vào K2 Đ83 thì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng ngay sau khi bắt được người
đang bị truy nã. Cụ thể là sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã
có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi ngay lệnh tạm giam đã
được VKS cùng cấp phê chuẩn cho CQĐT nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh
tạm giam, CQĐT nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất.
Như vậy, biện pháp tạm giữ không phải là biện pháp ngăn chặn duy nhất có thể được áp
dụng ngay sau khi bắt được người đang bị truy nã.
57. Thời hạn tạm giữ không được tính vào thời hạn tạm giam.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ K4 Đ87 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ được trừ vào
thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
58. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền ra quyết định tạm giữ.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định về những chủ thể
có quyền ra quyết định tạm giữ bao gồm: những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy
định tại k2 Đ81 BLTTHS, chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển. Và trong các chủ thể quy
định tại k2 Đ81 BLTTHS không quy định thẩm quyền của VTVKSND các cấp.
59.. Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ91 BLTTHS thì biện pháp cấm đi khỏi
nơi cư trú có thể được áp dụng đối với bị can bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo
sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, Tòa án. Như vậy, việc áp dụng
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không căn cứ vào bị can, bị cáo là người Việt Nam hay
là người nước ngoài. Do đó, nếu người nước ngoài phạm tội mà có nơi cư trú rõ ràng thì
cũng có thể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
60. Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị cáo là người chưa thành niên.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ92 BLTTHS thì biện pháp bảo lĩnh là
biện pháp ngăn chặn được áp dụng thay thế cho biện pháp tạm giam. Và căn cứ vào Đ88
BLTTHS thì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can bị cáo phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; bị can bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng
mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn
hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Như vậy, biện pháp bảo lĩnh có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo nêu trên chứ không
phải chỉ áp dụng cho bị cáo là người chưa thành niên
61. Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng.
=> Nhận định này sai, vì: Giải thích tương tự câu 9
70. Không được áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
=> Nhận định này sai, vì: Giải thích tương tự câu 9.
71. Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo được áp dụng không phụ thuộc vào việc bị
can, bị cáo phạm loại tội gì
=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ K1 Đ93 BLTTHS thì biện pháp đặt tiền hoặc tài sản
để bảo đảm được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam mà căn cứ vào K1 Đ88
BLTTHS thì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với mọi loại tội phạm. Do đó
biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo được áp dụng không phụ thuộc vào việc bị
can, bị cáo phạm loại tội gì.
72. Mọi quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đều phải được Viện
trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
=> Nhận định này sai, vì: Theo k2 Đ93 BLTTHS thì có nhiều chủ thể có quyền quyết
định việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, bao gồm những người quy định tại
K1 Đ80 BLTTHS, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Tuy nhiên, chỉ có quyết
định của những người quy định tại Điểm d, K1 Đ80 BLTTHS bao gồm: thủ trưởng, phó
thủ trưởng CQĐT mới phải được VKS cùng cấp phê chuẩn.
Do đó, không phải mọi quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đều
phải được Viện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
73. Biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm.
=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Đ88 BLTTHS thì biện pháp tạm giam có thể được áp
dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; bị
can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà bộ luật hình sự quy định
hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc
điều tra truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Mặt khác, theo quy định của BLHS
thì tất cả các loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng) đều có khung hình phạt trên hai năm. Do đó đối với loại tội nghiêm trọng
ít nghiêm trọng mà có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra,
truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội thì có thể áp dụng biện pháp tạm giam.
Do đó, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm.
74. Lệnh bắt người của CQĐT trong tất cả các trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của
VKS cùng cấp trước khi thi hành.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ81 BLTTHS thì lệnh bắt người của cơ quan
điều tra trong trường hợp khẩn cấp thì không cần có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành.
75. Lệnh bắt người của CQĐT trong tất cả các trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của
Viện trưởng VKS cùng cấp.
=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định của BLTTHS thì có hai trường hợp bắt người
CQĐT phải ra lệnh bắt người đó là: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam được quy định tại
Điểm d K1 Đ80 BLTTHS và bắt người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại
Điểm a K2 Đ81 BLTTHS. Và cả hai trường hợp này đều phải có sự phê chuẩn của Viện
trưởng VKS cùng cấp (bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì phải được VKS cùng cấp phê
chuẩn trước khi thi hành còn bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì phải thông báo
ngay cho VKS và phê chuẩn sau khi thi hành)
76. Tất cả các trường hợp bắt người đều phải có lệnh.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ82 BLTTHS về bắt người phạm tội quả
tang hoặc đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ
quan có thẩm quyền. Do đó trong trường hợp bắt người này không cần phải có lệnh.
77. Tất cả các lệnh tạm giam đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 88 BLTTHS thì những người
có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 BLTTHS thì có quyền ra lệnh tạm
giam. Tuy nhiên, không phải tất cả các lệnh tạm giam do những người có thẩm quyền
trên ra lệnh đều phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành mà chỉ lệnh tạm giam của
những người được quy định tại Điểm d K1 Đ80 BLTTHS mới phải được VKS cùng cấp
phê chuẩn trước khi thi hành.
78. Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên.
=> Nhận định này sai, vì: Bị can, bị cáo là người chưa thành niên vẫn có thể bị áp dụng
biện pháp tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại K1, K2 Đ303 và Đ88 BLTTHS, cụ thể là :
– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại
Đ88 BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại
Đ88 BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất
nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
79. Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành
niên phạm tội ít nghiêm trọng.
=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào Đ303 BLTTHS thì không có trường hợp nào
người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng bị áp dụng biện pháp tạm giam.
80. Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang mang thai, người già yếu.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ88 BLTTHS thì bị can, bị cáo là phụ nữ có
thai, người già yếu mà có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng BPNS khác
ngoại trừ những trường hợp :
– bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã ;
– Bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở
nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử.
– Bị can, bị cáo phạm tội an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam
đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Như vậy, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang
mang thai, người già yếu.
81. Biện pháp tạm giam được áp dụng đối với mọi loại tội phạm.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ88 BLTTHS thì đối với bị can, bị cáo phạm
tội đặc biệt nghiêm trọng ; phạm tội rất nghiêm trọng thì có thể được áp dụng trong mọi
trường hợp. Còn đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng
thì chỉ có thể được áp dụng khi thỏa mãn điều kiện : phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít
nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho
rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Như vậy, không phải biện pháp tạm giam được áp dụng đối với mọi loại tội phạm mà đối
với loại tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng phải thỏa mãn được các điều kiện trên mới được áp dụng
Lưu ý : Nếu biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với mọi loại tội phạm thì nhận định này là đúng.
82. Người chưa thành niên chỉ bị tạm giam khi họ phạm tội rất nghiêm trọng.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ303 BLTTHS thì người chưa thành niên cũng có
thể bị tạm giam khi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, cụ thể :
– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại
Đ88 BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại
Điều 88 BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội
rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
83. Tất cả các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang đều
phải ra quyết định tạm giữ.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại k1 Đ83 BLTTHS sau khi bắt hoặc nhận
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang không phải trong mọi
trường hợp cơ quan điều tra đều phải ra quyết định tạm giữ mà còn có thể trả tự do cho người bị bắt.
84. Trong mọi trường hợp việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đã được áp
dụng đều phải do viện kiểm sát quyết định.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tai K2 Đ94 BLTTHS thì chỉ đối với những biện
pháp ngăn chặn do viện kiểm sát phê chuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế mới phải do
viện kiểm sát quyết định. Như vậy, không phải trong mọi trường hợp việc hủy bỏ hoặc
thay thế biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đều phải do viện kiểm sát quyết định như
trường hợp biện pháp ngăn chặn ( bắt bị can, bị cáo để tam giam ; tạm giam ; cấm đi khỏi
nơi cư trú..) do tòa án áp dụng không cần có sự phê chuẩn của viện kiểm sát thì khi hủy
bỏ hoặc thay thế không do viện kiểm sát quyết định mà do tòa án quyết định.
85 . Tố giác của công dân là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K1 Đ100 BLTTHS thì tố giác của công dân không
phải là căn cứ để khởi tố VAHS mà là cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm.
86. Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án là cơ quan tiến hành tố tụng.
=> Nhận định này sai, vì: Ngoài CQTHTT thì một số cơ quan khác cũng có thẩm quyền
KTVA như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ
quan khác trong CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
được quy định tại Điều 111.
87. Mọi hành vi phạm tội do cán bộ thuộc cơ quan tư pháp thực hiện đều do cơ quan điều
tra thuộc VKSNDTC khởi tố vụ án.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ18 Pháp lệnh số 23 về tổ chức điều tra
hình sự quy định về thẩm quyền điều tra của VKSNDTC thì CQĐT VKSNDTC điều tra
các VAHS về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ
thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. Như vậy,
hành vi phạm tội do cán bộ tư pháp thực hiện không thuộc các loại tội xâm phạm hoạt
động tư pháp và các tội này không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì CQĐT thuộc
VKSNDTC không có quyền điều tra và do đó cũng không có quyền khởi tố vụ án.
88. Trong mọi trường hợp việc KTVAHS không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điều 105 BLTTHS thì những vụ án về các tội
phạm quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 171
BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp
của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất. Và trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa
sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.
89. KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại k1 Đ105 BLTTHS thì KTVAHS theo yêu
cầu của người bị hại được áp dụng đối với những vụ án án về các tội phạm quy định tại
khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 171 BLHS. Mà theo quy
định tại khoản 1 Điều 111 có mức hình phạt tù tối đa là 7 năm và khoản 1 Điều 113 có
mức hình phạt tù tối đa là 5 năm đã thuộc loại tội nghiêm trọng được quy định tại Điều 8 BLHS .
Như vậy, KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại không chỉ được áp dụng đối với tội ít
nghiêm trọng mà còn đối với tội nghiêm trọng.
90. Trong mọi trường hợp khi người bị hai rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì vụ án phải được đình chỉ.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ K2 Đ105 BLTTHS: trường hợp có căn cứ để xác định
người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc cưỡng
bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể tiến
hành tố tụng đối với vụ án.
Lưu ý: Trong mọi trường hợp khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố một cách hợp pháp thì
cơ quan có thẩm quyền phải đình chỉ vụ án. => Nhận định này sai, vì: tùy vào giai đoạn
mà người bị hại rút yêu cầu để ra quyết định. Nếu trong giai đoạn điều tra thì ra quyết
định đình chỉ điều tra theo quy định tại đa k2 Đ164 BLTTHS. Nếu trong giai đoạn truy tố
thì ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại k1 Đ169 BLTTHS. Nếu trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử thì ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 180 BLTTHS.
91. HĐXX có thể thực hiện đồng thời việc yêu cầu VKS khởi tố và tự mình khởi tố vụ án đó.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ đoạn 3 k1 Đ104 BLTTHS thì HĐXX ra quyết định khởi
tố hoặc yêu cầu viện kiểm sát KTVAHS nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện
được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra. Như vậy, Tòa án chỉ có thể
thực hiện một trong hai hành vi là yêu cầu VKS khởi tố hoặc tự mình khởi tố chứ không
được đồng thời thực hiện hai hành vi trên
92. Tất cả các hoạt động chứng minh tội phạm chỉ được thực hiện sau khi có quyết định
khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền
=> Nhận định này sai, vì: Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động chứng minh tội
phạm và căn cứ vào k2 Đ150 thì hoạt động khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi KTVAHS.
93. Trong mọi trường hợp, căn cứ khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm.
=> Nhận định này sai, vì: Đối với trường hợp KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại
quy định tại Đ105 thì căn cứ để KTAHS không chỉ là dấu hiệu tội phạm mà còn có căn
cứ là yêu cầu khởi tố của người bị hại.
94. Khi thực hiện chức năng công tố, VKS có quyền hủy bỏ mọi quyết định không khởi
tố không có căn cứ của các cơ quan có thẩm quyền.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ khoản 1 Điều 108 BLTTHS thì HĐXX có quyền ra
quyết định không KTVA và căn cứ vào khoản 3 Điều 109 BLTTHS thì cũng tương tự
như quyết định KTVA không có căn cứ thì đối với quyết định không KTVA không có
căn cứ của HĐXX thì VKS không có quyền hủy bỏ mà chỉ được kháng nghị lên Tòa án
cấp trên. Tuy nhiên, trên thực tế HĐXX không ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
95. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì có quyền thay đổi, bổ
sung quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 104 BLTTHS thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết
định KTVAHS bao gồm: CQĐT, VKS, HĐXX và ngoài ra căn cứ vào Điều 111
BLTTHS thì các cơ quan như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh
sát biển, các cơ quan khác của CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra cũng có quyền ra quyết định KTVA. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
KTVA nhiều như vậy nhưng không phải tất cả các cơ quan trên đều có quyền thay đổi bổ
sung mà theo quy định tại Điều 106 BLTTHS thì chỉ có CQĐT và VKS mới có quyền
thay đổi, bổ sung quyết định KTVAHS.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 109 BLTTHS thì đối với các quyết định KTVA không
có căn cứ của HĐXX thì VKS kháng nghị với TA cấp trên còn đối với các quyết định
khởi tố không có căn cứ của các chủ thể còn lại thì VKS ra quyết định hủy bỏ đối với các
quyết định khởi tố đó chứ không phải thay đổi, bổ sung. Việc thay đổi bổ sung chỉ áp
dụng đối với những quyết định khởi tố có căn cứ nhưng khởi tố không đúng với hành vi
phạm tội được quy định tại Điều 106 BLTTHS.
96. Mọi trường hợp thường dân phạm tội đều do CQĐT thuộc lực lượng CAND điều tra.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ3 PLTCTAQS thì trường hợp thường dân
phạm tội nhưng phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội
thì TAQS có thẩm quyền xét xử. Và căn cứ vào K2 Đ110 BLTTHS quy định: “CQĐT
trong QĐND điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS. Do đó trong
trường hợp thường dân phạm tội nhưng phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc
gây thiệt hại cho quân đội thì do CQĐT trong QĐND điều tra. Như vậy, không phải trong
mọi trường hợp thường dân phạm tội đều do CQĐT thuộc lực lượng CAND điều tra,
97. Trong mọi trường hợp, quân nhân phạm tội đều do CQĐT trong QĐND tiến hành điều tra.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ4 PL TCTAQS thì đối với trường hợp người đang
phục vụ trong quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trước khi
vào quân đội nhưng tội phạm mà họ thực hiện không liên quan đến bí mật quân sự hoặc
gây thiệt hại cho quân đội thì thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. Do đó căn cứ Khoản
2 Điều 110 BLTTHS quy định “CQĐT trong QĐND điều tra các tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của TAQS” thì trong trường hợp này mặc dù là quân nhân phạm tội nhưng
CQĐT trong QĐND không có thẩm quyền điều tra
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, quân nhân phạm tội đều do CQĐT trong
QĐND tiến hành điều tra.
98. Trong mọi trường hợp khi Cán bộ ngành tư pháp thực hiện hành vi phạm tội xâm
phạm hoạt động tư pháp đều do CQĐT trong VKSNDTC thực hiện việc điều tra.
=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 18 PLTCĐTHS thì VKSNDTC điều tra các vụ án
hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ
thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. Do
đó, nếu cán bộ ngành tư pháp thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp
nhưng tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS thì cơ quan điều tra trong
VKSNDTC không có thẩm quyền điều tra.
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp khi cán bộ ngành tư pháp thực hiện hành vi
phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp đều do CQĐT trong VKSNDTC thực hiện điều tra.
99. Tất cả các cơ quan có thẩm quyền KTVA đều có thẩm quyền điều tra vụ án.
=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ104 và Đ111 BLTTHS có nhiều cơ quan có
thẩm quyền khởi tố vụ án: VKS, TA, CQĐT, Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hải quan…