












Preview text:
Câu 1. Vì sao độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội ?
Câu 2 Bài học cho Việt Nam sau sự sụp đổ của Liên Xô?
Câu 3: Sự khác biệt nào giữa quá trình cải cách mở cửa của Trung Quốc so với Liên Xô đã
dẫn tới cải cách của Trung Quốc thành công trong khi Liên Xô thì bị thất bại
Câu 4: Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và giá trị thời đai
Câu 5: Ngày nay, trong thời đại phát triển, Việt Nam cần Giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa trong tiến trình đổi mới như thế nào?
Câu 6: Cho biết biểu hiện của truyền thống đại đoàn kết của dân tộc VN trong công tác
phòng chống dịch bệnh ?
Câu 7: Hãy cho biết vai trò của đoàn kết quốc tế? liên hệ sự vận dụng tư tưởng đoàn kết của
Bác Hồ trong giai đoạn hiện nay
Câu 8: Nội dung chủ yếu nhằm củng cố và phát triển khối liên minh công - nông - trí trong
thời kỳ công nghiệp hóa nước ta là gì?
Câu 9: Biện pháp tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam hiện nay
Câu 10: Trong các nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, nguồn gốc nào
quan trọng nhất? Vì sao?
Câu 11: Hồ Chí Minh quan niệm như thế nào về khối đại đoàn kết toàn dân tộc?
Câu 12: Quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân của Đảng ta?
Câu 13:Hãy trình bày cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Câu 14: . Đánh giá cách thể hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân
Câu 15: Đảng và Nhà nước cần làm gì để chăm lo cho đời sống nhân dân? Liên hệ với tình
hình hiện nay?
Câu 16: Phân biệt “dân là chủ” và “dân làm chủ”
Câu 17 .Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII-1998) về văn hóa nêu quan điểm: “Văn hóa vừa
là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”. Nhóm bạn có ý kiến gì về
quan điểm này?
Câu 18. Như chủ đề thuyết trình của nhóm bạn đó là “ Văn hóa soi đường quốc dân đi “ và
các văn kiện của Đảng đều khẳng định phải đặt văn hóa ngang tầm với chính trị và kinh tế,
coi văn hóa là động lực tinh thần của sự phát triển. Theo bạn, trong thực tế, vấn đề này đã
được thực sự được coi trọng hay chưa?
Câu 19. Trong những năm vừa qua, Đảng và nhà nước đã làm gì để tiếp nối tinh thần “Văn
hóa soi đường cho quốc dân đi”
Câu 20. Toàn cầu hóa như một cơn lốc mạnh, mặc dầu đã có sự chuẩn bị, song chúng ta chưa
lường hết được tác động phức tạp của quá trình đó. Theo các bạn, những tác động tiêu cực
của toàn cầu hóa đến văn hóa như thế nào?
Câu 21. Trong phần liên hệ thực tiễn VN hiện nay, các bạn có nói : “Nhiều di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo” vậy các bạn có thể đưa ra 1 ví dụ và chỉ rõ xem VN
đã làm những gì cho vật thể/phi vật thể đó ?
Câu 22. Nhiều người nhìn nhận chủ tịch Hồ Chí Minh như một biểu tượng văn hóa Việt
Nam. Các bạn có đồng ý với quan điểm này không ? Tại sao ?
Câu 23: Theo các bạn để có 1 nền văn hoá mang tính dtoc thì lớp trẻ cần làm gì để bảo tồn
văn hoá dân tộc?
1. Vì sao độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội ?
Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội vì:
Thứ nhất, vì độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết, là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Con đường cách mạng Việt Nam có hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thì độc lập dân tộc là mục tiêu
trực tiếp, trước mắt, cấp bách, nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, độc lập dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để nhân dân lao động tự quyết định con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong thời đại mới, chủ nghĩa xã hội là xu
hướng phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Thứ ba, chủ nghĩa xã hội là con đường củng cố vững chắc độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc một
cách hoàn toàn triệt để. Về lý luận, độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa
mục tiêu trước mắt và mục tiêu cuối cùng; mối quan hệ giữa hai giai đoạn của một quá trình cách mạng.
Cách mạng dân tộc dân chủ xác lập cơ sở, tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội
chủ nghĩa khẳng định và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập bao giờ cũng gắn liền với đời sống ấm no, hạnh phúc của quần chúng nhân
dân, những người đã trực tiếp làm nên thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ. Để bảo đảm vững chắc
độc lập dân tộc, để không rơi vào lệ thuộc, đói nghèo, lạc hậu, chặng đường tiếp theo chỉ có thể đi lên
chủ nghĩa xã hội. Do những đặc trưng nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội sẽ củng cố những thành quả đã
giành được trong cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc lập và phát triển dân tộc.
Hồ Chí Minh khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân
tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ; chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm cho một nền độc lập thật sự, chân chính.
2) Bài học cho Việt Nam sau sự sụp đổ của Liên Xô?
Liên Xô sụp đổ có ảnh hưởng nhất định đến Việt Nam. Từ sự sụp đổ và tan rã của CNXH ở Liên Xô,
chúng ta có thể rút ra được những bài học bổ ích sau đây:
Một là, phải thường xuyên chăm lo xây dựng đảng để giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng, bộ máy
chính quyền trong sạch vững mạnh và gắn bó với nhân dân. Xây dựng đảng vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, tổ chức. Luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm chắc quần chúng và động viên được sức mạnh của nhân dân.
Hai là, vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng và thực hiện tốt chiến lược công tác cán bộ.
Nhất là cán bộ chủ trì và xây dựng nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận, kế tiếp ở các cấp từ Trung
ương đến địa phương.
Ba là, xây dựng nền kinh tế ổn định và phát triển vững chắc. Giữ được độc lập tự chủ trong hội nhập
kinh tế quốc tế có hiệu quả. Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với nền
kinh tế. Sự ổn định và phát triển vững chắc của nền kinh tế là nền tảng vật chất bảo đảm sự ổn định và
phát triển bền vững của đất nước.
Bốn là, tăng cường công tác chính trị tư tưởng. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị
của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Phòng, chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình” và “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”.
Năm là, Đảng cầm quyền phải nắm chắc lực lượng vũ trang. Đặc biệt chăm lo xây dựng quân đội nhân
dân và công an nhân dân thực sự trung thành, tin cậy về chính trị. Có chất lượng tổng hợp và sức mạnh
chiến đấu cao, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Câu 3: Sự khác biệt nào giữa quá trình cải cách mở cửa của Trung Quốc so với Liên Xô đã dẫn
tới cải cách của Trung Quốc thành công trong khi Liên Xô thì bị thất bại
Trong quá trình cải cách, Trung Quốc vẫn kiên trì 4 nguyên tắc cơ bản: con đường xã hội chủ nghĩa,
chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Mao Trạch Đông ⇒ tạo ra một sự chỉ đạo nhất quán trong quá trình cải cách
- Liên Xô: sau khi cải cách kinh tế không thành công, Liên Xô chuyển sang cải cách chính trị, thực hiện
đa nguyên về chính trị tức nhiều đảng phái chính trị tham gia lãnh đạo đất nước ⇒ quyền lực bị phân
tán, tạo ra sự hỗn loạn về chính trị, không thể tiến hành được cải cách khi không có sự thống nhất của các đảng phái
⇒ Cải cách mở cửa ở Trung Quốc thành công, cải tổ của Liên Xô thất bại"
Bài học kinh nghiệm lớn nhất rút ra từ cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc và cải tổ của Liên Xô cho
Việt Nam là phải kiên định theo phương hướng chiến lược ban đầu và tăng cường quyền lực cho giai cấp lãnh đạo.
Câu 4: Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và giá trị thời
đai Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
Thứ nhất, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
Thứ hai, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Thứ ba, cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân trên cơ sở liên minh công nông
Thứ tư, cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực, kết hợp
đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; thực hiện khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng
khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn Giá trị thời đại
Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc mang tính thời đại thể hiện
đậm nét ở chỗ, nó đã tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nếu như thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thức tỉnh các dân tộc trên thế giới về quyền tự do, độc lập của
mỗi dân tộc, thì thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với đỉnh cao là chiến
thắng Điện Biên Phủ đã làm “chấn động địa cầu”, thức tỉnh các dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ -
Latinh vùng lên đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã kiên định con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã lựa chọn là: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên trì mục tiêu: “Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc”. Hiện nay, tư tưởng của Người vẫn soi sáng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam, giúp thực
hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Câu 5: Ngày nay, trong thời đại phát triển, Việt Nam cần Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
trong tiến trình đổi mới như thế nào?
Ngày nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chỉ có thể có được nếu Đảng và nhân dân ta giải quyết
thành công hàng loạt vấn đề trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối nội và đối
ngoại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trung thành với con đường Hồ Chí Minh đã vạch ra. Đảng ta
khẳng định trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đề
phòng và chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, đang xuất hiện nhiều vấn đề lý luận nằm trong tổng thể quan niệm chung về chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam. Nhu cầu phát triển đất nước đang đặt ra, đòi lại phải nhận diện và hiểu biết về chủ nghĩa xã
hội vừa mang tính tổng thể, vừa trong những chi tiết, đường nét cụ thể. Do vậy, giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết cần làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:
Cả trong lý luận và thực tiễn cần khẳng định vấn đề định hướng đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội là
duy nhất đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của dân tộc và xu thế thời đại.
Làm rõ và cụ thể hoá mục tiêu của đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội, trước hết là ở mục tiêu mang đậm bản chất nhân văn này.
Xác định rõ bản chất đặc trưng và mô hình cấu trúc của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Làm rõ các động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội, trong đó động lực con người với nhu cầu và lợi ích
của họ giữ vị trí trung tâm. Mặt khác việc phát hiện động lực, có chính sách phát huy và kết hợp các
động lực phát triển sẽ làm cho chủ nghĩa xã hội sinh động, năng động và mang tính thực tiễn.
Xác định rõ bước đi và cách làm chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
đang bị chi phối, tác động mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; thách thức rất lớn,
nhưng cũng rất nhiều thời cơ, vận hội. Trên cơ sở quan niệm đúng đắn của Hồ Chí Minh về độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, lại có kinh nghiệm thực tiễn hơn 70 năm qua, đặc biệt là thực tiễn của gần 20
năm đổi mới, cho phép chúng ta hiểu được thực chất con đường độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội
trong bối cảnh hiện nay. Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội là nhu cầu sống còn, là sự lựa chọn
duy nhất đúng của Việt Nam.
Câu 6: Cho biết biểu hiện của truyền thống đại đoàn kết của dân tộc VN trong công tác phòng
chống dịch bệnh ?
Trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, kế thừa truyền thống đại đoàn kết của dân tộc và
hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ, nhân dân Việt Nam lại cùng chung tay, đồng lòng chống
dịch. Tất cả tỉnh, thành phố, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đều nhiệt tình,tích
cực tham gia phòng, chống dịch.
Mặc dù đã có không ít nhân viên y tế bị nhiễm bệnh nhưng với tinh thần "tất cả vì cộng đồng", các y,
bác sĩ trên tuyến đầu chống dịch đã nêu cao tinh thần đoàn kết, chia sẻ những khó khăn, vất vả trong các
khu điều trị cách ly để hàng ngày, hàng giờ cứu chữa người bệnh.
Ở khắp cả nước, đã có nhiều Tổ Covid cộng đồng với sự tham gia của nhiều cán bộ cơ sở như công
an, dân phòng, mặt trận, phụ nữ, thanh niên... Nhiều doanh trại quân đội được trưng dụng làm cơ sở cách
ly cho nhân dân. Nhiều cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng vào rừng nhường lại nơi ăn, chốn ở cho nhân dân có
điều kiện tốt để cách ly. Trong các doanh trại cách ly của quân đội, người cán bộ, chiến sĩ vừa là người
hướng dẫn nhân dân thực hiện đúng quy định của Nhà nước về cách li tập trung song họ cũng giống như
những người thân trong gia đình, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người cách ly mỗi khi họ cần.
Biểu tượng cao đẹp nhất cho tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến chống đại
dịch là Quỹ Vaccine. Quỹ được thành lập ngày 26/5/2021 để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài
trợ, hỗ trợ, đóng góp tự nguyện bằng tiền, vaccine của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các
nguồn vốn hợp pháp khác cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong
nước và sử dụng vaccine phòng, chống Covi-19 cho nhân dân
Câu 7: Hãy cho biết vai trò của đoàn kết quốc tế? liên hệ sự vận dụng tư tưởng đoàn kết của Bác
Hồ trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng
hợp cho cách mạng Việt Nam. Thực hiện đoàn kết quốc tế để tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự
đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của các trào
lưu cách mạng thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng chiến thắng kẻ thù là một trong
những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là một trong những bài học kinh nghiệm
quan trọng nhất, mang tính thời sự sâu sắc nhất của cách mạng Việt Nam.
Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của thời đại. Khi tìm
thấy con đường cứu nước Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách
mạng thế giới, cách mạng Việt Nam có thể thành công và thành công đến nơi khi thực hiện đoàn kết
chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Cùng với quá trình phát triển thắng lợi của cách mạng Việt
Nam trong quan hệ với tình hình quốc tế, tư tưởng đoàn kết với phong trào cách mạng thế giới đã được
Hồ Chí Minh phát triển ngày càng đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn.
Như vậy theo Hồ Chí Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; đại
đoàn kết dân tộc phải là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế. Đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn
kết quốc tế là để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng
chiến thắng kẻ thù. Nếu đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định
thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố thường xuyên và hết sức
quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước và quả độ lên chủ nghĩa xã hội.
Về sự vận dụng tư tưởng đoàn kết của Bác Hồ trong giai đoạn hiện hiện nay:
- Chú trọng phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phồn vinh
- Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước;
phát huy vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất.
- Đổi mới chính sách giai cấp, chính sách xã hội, hoàn thiện chính sách dân tộc.
- Thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu, hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa, củng cố khối đại đoàn
kết với mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và phát triển.
Câu 8: Nội dung chủ yếu nhằm củng cố và phát triển khối liên minh công - nông - trí trong thời kỳ
công nghiệp hóa nước ta là gì?
Quá trình công nghiệp hoá đất nước, tự bản thân nó tạo ra những điều kiện cho công, nông, trí thức
cố kết với nhau, liên minh với nhau chặt chẽ hơn do quan hệ của họ với tư liệu sản xuất, với sự phát
triển lực lượng sản xuất trong quan hệ với tư liệu tiêu dùng và trong tiến bộ về đời sống tinh thần, vǎn
hoá. Đây thực sự là một quá trình "công nông trí thức hoá. Trí thức công nông hoá" như Hồ Chí Minh
đã nói. Song sự biến động cơ cấu giai cấp xã hội này có làm cho khối liên minh công - nông - trí thức
được củng cố vững chắc hay không hoàn toàn tuỳ thuộc vào thái độ của giai cấp công nhân đối với nông dân và trí thức
Công nghiệp hoá là một quá trình chuyển biến cách mạng từ xã hội nông nghiệp lạc hậu sang xã hội
công nghiệp vǎn minh, là quá trình cải biến về phương thức sản xuất, về quan hệ và cơ cấu xã hội. Thích
ứng với phương thức sản xuất mới và quan hệ xã hội mới do công nghiệp hoá đạt được phải là một
thượng tầng chính trị mới
Quá trình này đòi hỏi giai cấp công nhân mà đại diện là Đảng Cộng sản phải thực sự mạnh, phải có ý
chí chiến đấu cao, bền bỉ, quyết tâm phấn đấu vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc. Nói cách khác là giai
cấp công nhân cùng với đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản phải có uy tín trong xã hội, trong dân
tộc, thường xuyên giữ vững và phát triển uy tín trong xã hội và trong nhân dân.
Những lợi ích cơ bản, lâu dài của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và của cả
dân tộc về cǎn bản là thống nhất. Nó từng bước được thực hiện trong quá trình công nghiệp hóa nhằm
đưa Việt Nam trở thành một nước giàu mạnh, công bằng vǎn minh, mọi người dân được sống ấm no, tự
do, hạnh phúc. Mục tiêu chung của liên minh công - nông - trí thức trong quá trình công nghiệp hoá là
thống nhất, nhưng giữa nông dân và trí thức có nhiều điểm khác nhau. Vì vậy nội dung cụ thể nhằm
củng cố, phát triển liên minh này trong quá trình công nghiệp hoá phải đặt ra những vấn đề khác nhau
đối với nông dân và trí thức.
Câu 9: Biện pháp tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam hiện nay
Một là, nâng cao nhận thức về vai trò, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc
Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, các ngành, các lực lượng, mọi người dân nhận thức rõ và
đúng về sự cần thiết của tăng cường đại đoàn kết toàn dân. Tuyên truyền, làm cho mỗi cán bộ, đảng
viên, mọi người Việt Nam nhận thức sâu sắc lời căn dặn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến
các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đồng
thời, phải quán triệt và thực hiện lời dạy của Người: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì
nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.
Quán triệt và thực hiện quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt
Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, tăng cường vai trò của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong củng cố và phát
huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước hướng vào tăng cường củng cố, phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thông qua đường lối, chính sách, pháp luật, tạo cơ sở cho sự thống
nhất các lợi ích, thống nhất về ý chí và hành động của các giai cấp, tầng lớp, nhất là giữa giai cấp công
nhân, nông dân và đội ngũ trí thức.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể phải là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân để
nhân dân tin tưởng, chủ động phản ánh, góp ý kiến, tham gia bàn bạc những vấn đề quan trọng của đất
nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phải chủ động phối hợp với chính quyền giải quyết triệt để
những vấn đề xã hội bức xúc, lợi ích chính đáng của nhân dân trên cơ sở tin nhân dân và tôn trọng nhân dân.
Ba là, phát huy vai trò của nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc
Trân trọng, tôn vinh những đóng góp, công hiến của nhân dân; có cơ chế chính sách đặc biệt để thu hút
nhân tài. Tôn vinh những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước. “Xóa bỏ rào
cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng.
Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân...”. Có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo
thuận lợi cho thế hệ trẻ học tập, nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, kỹ năng, thể lực để cống
hiến cho đất nước. Tôn trọng và tạo điều kiện, cơ hội để nhân dân tham gia thảo luận, góp ý những vấn
đề quan trọng của đất nước
Tiếp tục thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong nhân dân để phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng cho bản thân, cho gia đình, nêu
cao tính cộng đồng và truyền thống nhân ái, tham gia xóa đói giảm nghèo
Câu 10: Trong các nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, nguồn gốc nào quan
trọng nhất? Vì sao?
Trong các nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, nguồn gốc lý luận chủ nghĩa Mác –
Lênin về đoàn kết là quan trọng nhất vì: HÀ ????
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo
lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh
công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng. Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các
dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng. Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh
giai cấp công nhân với nông dân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản Rằng
nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức
giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.
Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích
cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp
lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường tự giải phóng dân tộc, thấy rõ
sự cần thiết và cách thức để tổ chức thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với đoàn kết quốc tế,
tạo lực lượng đưa cách mạng đến thành công.
Câu 11: Hồ Chí Minh quan niệm như thế nào về khối đại đoàn kết toàn dân tộc? Từ thực tiễn cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, đó là: Đoàn kết làm ra sức mạnh; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết
là sức mạnh, là then chốt của thành cô
Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải đứng vững trên lập trường giai cấp
công nhân để giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp – dân tộc. Để tập hợp lực lượng, không được phép
bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không
là Việt gian, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng. “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn
đoàn kết lâu dài... Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải kế thừa truyền thống yêu nước
- nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc. Để thực hành đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân, với
đại đa số là công nhân, nông dân. Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng “phần
thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để lôi kéo, tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng: “Trong mấy
triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của Tổ tiên ta.
Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay
nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ.
Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. “Bất kỳ ai mà thật thà
tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây
giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”.
Câu 12: Quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân của Đảng ta?
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm xuyên suốt của Đảng ta, đó là: “Dân chủ xã hội chủ
nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”(10). Để đáp
ứng yêu cầu mở rộng dân chủ, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
Đại hội VI của Đảng mở đầu công cuộc đổi mới đã đề ra phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra" và đúc kết bài học kinh nghiệm: "Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt
tư tưởng "lấy dân làm gốc", xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động".
Đại hội VII của Đảng nêu yêu cầu, phải tổ chức và vận động các tầng lớp nhân dân hăng hái tham
gia xây dựng pháp luật, chính sách, đóng góp ý kiến với cơ quan nhà nước các cấp xây dựng các quy
chế, quy ước phù hợp với luật pháp và chủ trương, chính sách của Nhà nước, tham gia phổ biến pháp
luật trong nhân dân và tổ chức các phong trào quần chúng thực hiện pháp luật và chính sách của Nhà nước.
Đại hội VIII của Đảng xác định nhiệm vụ xây dựng cơ chế để thực hiện phương châm "Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện tốt cơ
chế làm chủ của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử, làm chủ trực tiếp bằng hình thức tự quản, bảo
đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định.
Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: “Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở,
tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng.
Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng Luật trưng cầu ý dân”.
Đại hội Đảng lần thứ X xác định: “Mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển
năm 2011), một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải
xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết
với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận
mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”,“Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”,“Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết
với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và
chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm
kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục nêu rõ:“Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được
nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định
liên quan đến lợi ích, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện.
Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân
dân”(11),“Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”(12
Câu 13:Hãy trình bày cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
->nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trả lời :
Cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân do dân,vì dân.
Nghiên cứu lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh tiếp thu kinh nghiệm xây dựng Nhà nước trong lịch sử Việt Nam.
Tư tưởng xây dựng Nhà nước Việt Nam được phản ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc: Đại Việt sử ký
toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí...; trong những bộ luật nổi tiếng như Bộ luật Hồng Đức (đời Lê) Các bộ luật sách nói
trên phản ánh những tư tưởng pháp quyền.
Hồ Chí Minh nghiên cứu sâu sắc lịch sử Việt Nam, Người viết Việt Nam quốc sử diễn ca để giáo dục và
vận động nhân dân, trong đó có nói đến các triều đại Việt Nam trong lịch sử.
Hồ Chí Minh nghiên cứu các kiểu Nhà nước trong lịch sử.
Nhà nước thực dân phong kiến.
+ Hồ Chí Minh vạch trần bản chất vô nhân đạo, chỉ rõ bản chất cái gọi là “công lý” mà thực dân, đế
quốc thi hành ở các xứ “bảo hộ”.
+ Năm 1919, Hồ Chí Minh gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam đòi các quyền
tự do tối thiểu cho dân tộc mình. Đây là văn kiện pháp lý đầu tiên đặt vấn đề kết hợp khăng khít quyền
tự quyết của dân tộc với quyền tự do, dân chủ của nhân dân.
Nhà nước dân chủ tư sản.
Người coi Nhà nước tư sản Mỹ, Pháp là sản phẩm của “những cuộc cách mạng không đến nơi”, vì ở đó
chính quyền vẫn trong tay một số ít người - một xã hội bất bình đẳng. Nhà nước Xô viết.
Người gọi Nhà nước Xô Viết là kết quả của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 - cuộc cách
mạng “đến nơi”, đã “phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền... ra sức tổ chức kinh
tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”
Hồ Chí Minh nghiên cứu vấn đề Nhà nước trong chủ nghĩa Mác – Lênin.
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề nhà nước, bản chất của nhà nước chuyên
chính vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Câu 14: . Đánh giá cách thể hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân ?
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân thể hiện trình độ kết hợp
nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin với việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kho tàng tri
thức, kinh nghiệm của nhân loại, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Thứ nhất, nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể
nhân dân Việt Nam” (1) - đó là tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong phiên họp Hội
đồng Chính phủ ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị tiến hành cuộc Tổng tuyển cử. Người
khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức
để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì
đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì có quyền đi bầu cử… Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra
Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân” (2). Quyền lực
nhà nước là quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy thác cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước
Thứ hai, nhà nước hợp hiến, hợp pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật, kết hợp với giáo dục đạo
đức. Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày trước Hội đồng
Chính phủ Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó nhiệm vụ
thứ ba được đề cập là xây dựng một Hiến pháp dân chủ. Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chủ tịch chỉ đạo
soạn thảo đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập một Nhà nước của nhân dân, thiết lập trật tự xã hội trên
tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
Thứ ba, nhà nước tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trong bản Tuyên ngôn
Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Người ta sinh
ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (4). Đây là
một trong những bản tuyên ngôn nhân quyền có tinh thần cách mạng, khoa học và nhân văn cao cả; phản
ánh một tầm nhìn thời đại, một tư duy sắc sảo về quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ dừng lại ở quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do,
quyền mưu cầu hạnh phúc mà Người còn bàn tới quyền làm chủ, quyền được pháp luật bảo vệ, quyền đi
lại, cư trú, quyền làm công dân, quyền hôn nhân và xây dựng gia đình, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do
tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo… Có thể nói, quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một khái
niệm phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu trên các phương diện quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…
Thứ tư, nhà nước có hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân Trong tác phẩm
Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cách mạng tháng Tám thành công ta lập ra
Chính phủ mới với pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi
của nhân dân” (5). Tính dân chủ của pháp luật không chỉ thể hiện ở chỗ nội dung các đạo luật ghi nhận
quyền và lợi ích của nhân dân mà còn thể hiện ở chỗ nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng các đạo luật.
Việc xây dựng pháp luật phải xuất phát từ sáng kiến của nhân dân, có sự tham gia đóng góp ý kiến của
các cơ quan đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân.
Thứ năm, nhà nước có trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước nhân dân, công dân phải làm tròn
nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của Đảng,
Nhà nước và cán bộ đảng viên nếu không làm tốt chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình: “Nếu dân
đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính
phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (7). Bác đã nhắc nhở: Nhà nước phải có chính
sách phát triển kinh tế - xã hội thiết thực, đáp ứng lợi ích của quần chúng nhân dân, “đạo nghĩa, là chính
sách của Chính phủ đối với quần chúng. Chính sách này phải phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi
của dân chúng. Đối với dân, Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết như cải thiện đời sống
của nhân dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá... Có như thế, dân
chúng mới đoàn kết chung quanh Chính phủ, mới vì quyền lợi thiết thân của mình mà hy sinh sống chết giết giặc” (8).
Thứ sáu, có biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng
phí trong bộ máy nhà nước Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong nhà nước kiểu mới, thanh tra, kiểm tra,
giám sát là các biện pháp hữu ích giúp phát hiện, ngăn chặn, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và
các hiện tượng tiêu cực khác.
Thứ bảy, nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân phải có đội ngũ cán bộ, công chức chuyên
nghiệp, trong sạch, thực sự là công bộc của nhân dân Hồ Chủ tịch đã đề ra những yêu cầu đối với cán
bộ, công chức, đó là: “Những người tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong đấu tranh;
những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân
chúng…; những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn…; những
người luôn luôn giữ đúng kỷ luật
Câu 15: Đảng và Nhà nước cần làm gì để chăm lo cho đời sống nhân dân? Liên hệ với tình hình
hiện nay? Chăm lo đời sống nhân dân là nhiệm vụ chính trị trung tâm, là thước đo và tiêu chí đánh giá
sự hoàn thành trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân. Vì vậy, để tiếp tục học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát
huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, cần tập
trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm:
Một là, nâng cao nhận thức, cụ thể hóa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh nói chung, về chăm lo đời sống nhân dân nói riêng gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ
quan, địa phương, đơn vị và cá nhân. Đưa nội dung này vào chương trình, kế hoạch cụ thể của cơ quan,
địa phương, đơn vị và cá nhân hằng năm, hằng quý, nhất là thành chuyên đề sinh hoạt tại chi bộ gắn với
nhiệm vụ chuyên môn, bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và hành động của mỗi cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên.
Hai là, gắn thực hiện nội dung chăm lo đời sống nhân dân với việc tập trung giải quyết những vấn
đề trọng tâm, cấp bách tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị, góp
phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là, chú trọng việc lựa chọn, xây dựng và tuyên truyền sâu rộng những cá nhân, tập thể điển hình,
những cách làm hay trong học tập, làm theo Bác về sự tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân, chăm lo đời
sống nhân dân để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và có hình
thức kỷ luật nghiêm những cơ quan, địa phương, đơn vị, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ chăm lo
đời sống nhân dân, gây bức xúc, phiền hà, nhũng nhiễu, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Với phương châm: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức
tránh”(6), Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Cụ thể là: Không ngừng hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội; đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả nhằm bảo đảm an sinh xã hội
cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu; thực hiện tốt
chính sách đối với người có công; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi;
phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất, sinh viên...;
phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người
yếu thế; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống nhân dân.
Đặc biệt là từ cuối năm 2019 đến nay, khi đại dịch COVID-19 đang là hiểm họa đối với loài người,
tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời
sống nhân dân lại tiếp tục lan tỏa, và Việt Nam được đánh giá là hình mẫu về phòng, chống dịch cho
nhân dân. Ngay từ khi dịch bắt đầu bùng phát, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội
tới Chính phủ đều xác định chống dịch là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và huy động cả hệ thống chính
trị vào cuộc với tinh thần “coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết”, “không ai bị bỏ ở lại
phía sau”, “chống dịch như chống giặc”... Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã ra lời kêu gọi đồng bào, đồng
chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài cùng chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn,
thách thức để chiến thắng đại dịch COVID-19.
Thủ tướng Chính phủ đưa ra thông điệp sẵn sàng chấp nhận thiệt hại về kinh tế để bảo vệ tính
mạng, sức khỏe của người dân. Trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, Chính phủ đã đưa ra nhiều chủ
trương, chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh COVID-19; xét nghiệm, điều trị miễn
phí cho người bị nhiễm bệnh; nỗ lực tối đa để đưa hàng nghìn công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước...
Các doanh nghiệp Nhà nước chủ động giảm giá điện, nước, cước viễn thông và nhiều loại phí
khác để san sẻ khó khăn cho nhân dân. Đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các cấp, các địa phương, cả hệ thống chính trị đã đoàn kết,
thống nhất triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, vừa ngăn chặn, đẩy lùi sự lây lan của dịch
bệnh, vừa bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phát triển kink tế - xã hội, bảo đảm an sinh, an toàn xã hội, (về
cơ bản, Việt Nam đã khống chế được dịch bệnh.) Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là
sứ mệnh của Đảng; là mục tiêu và bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Để
hoàn thành sứ mệnh cao cả ấy, cấp ủy và chính quyền các cấp cần luôn ghi nhớ lời Bác dạy để nhận thức
rõ hơn trách nhiệm của mình: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính
phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(7). Với
tinh thần đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân sẽ tiếp tục lan tỏa, soi sáng mục tiêu
xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Câu 16: Phân biệt “dân là chủ” và “dân làm chủ”
Khẳng định dân chủ của Hồ Chí Minh, “dân là chủ, dân làm chủ” đánh dấu sự thay đổi căn bản tư duy
và hành động dân chủ, thông qua cách mạng “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” và thông qua tiến
trình lịch sử lâu dài xây dựng
nghĩa xã hôị. Đặc trưng cơ bản, hàng dầu của xã hôị xã hội chủ nghĩa là đặc
trưng về quyền làm chủ của nhân dân. Đó là một xã hôị do nhân dân làm chủ
như Đảng ta đã xác định. Là nhà tư tưởng lớn, Hồ Chí Minh đã làm một cuộc cách mạng về dân chủ,
trước hết trên lý luận, đồng thời và sau đó trên thực tiễn với “thực hành dân chủ” để “phát huy quyền
làm chủ của nhân dân”.
HCM khi đưa ra tư tưởng dân chủ. Người đưa ra một quan niệm dân chủ hết sức ngắn gọn, giản dị mà
sâu sắc, có giá trị như một định nghĩa khoa học: “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ”. “Là chủ” thể
hiện vị thế, vai trò của dân, họ là người chủ, là chủ thể chứ không phải nô lệ. “ “Làm chủ” thể hiện năng
lực của người dân với tư cách người chủ, chủ động, tích cực, sáng tạo trong mọi việc làm, mọi hoạt động
đem lại lợi ích cho mình và cho xã hôị .
Nhân dân với vị thế và năng lực của mình là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Chỉ vs 4 từ ngắn gọn, khi nhìn
qua có thể nghĩ nghĩa cuar chúng tương đồng nhưng nếu hiểu sâu hơn nó lai chứa đựng một tư tưởng
lớn: đề cao dân, khẳng định quyền của dân trong nhà nước và trong xã hôị . Phải ra sức thực hiện quyền
của dân để đem lại lợi ích cho dân.
Câu 17 .Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII-1998) về văn hóa nêu quan điểm: “Văn hóa vừa là
mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”. Nhóm bạn có ý kiến gì về quan điểm này?
Đó là quan điểm mới (so với trước đó). Song, tổng kết thực tiễn gần 20 năm đổi mới, trong Nghị
quyết Trung ương 33 (khóa XI-2014) đã thay đổi một cụm từ trong quan điểm trên, Văn hóa là mục tiêu,
động lực phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa đã được khẳng định ở một tầm nhìn mới,
rộng và toàn diện hơn, không chỉ dừng lại ở hai lĩnh vực kinh tế và xã hội.
Phát triển kinh tế để làm gì? Mục tiêu cuối cùng và cao nhất phải là, nhất thiết là: Xây dựng và
phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn
diện (Nghị quyết Trung ương 5- khóa VIII). Đây là luận điểm cực kỳ hệ trọng đối với sự chỉ đạo phát
triển kinh tế, mà thời gian qua, đã có biểu hiện, quan điểm đó chưa được nhận thức đúng tầm của nó,
nhiều lúc dừng lại hay rơi vào mục tiêu chỉ lo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Luận điểm trên đòi hỏi đồng thời, không thể tách rời nhau hai yêu cầu trong tư duy chỉ đạo, một
mặt, tạo bằng được sự phát triển tương xứng, hài hòa, gắn kết với nhau giữa bốn trụ cột của sự phát
triển: kinh tế, chính trị, văn hóa và môi trường (xã hội là một lĩnh vực quan trọng trong môi trường) và
mặt khác, làm cho văn hóa thẩm thấu vào toàn bộ đời sống xã hội và từng lĩnh vực như chính trị, luật
pháp, kinh tế, kỷ cương, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, các quan hệ xã hội để văn hóa thật sự là
nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển bền vững.
Nhấn mạnh hai luận điểm trên của Đảng ta từ đổi mới đến nay về vai trò của văn hóa trong phát
triển bền vững để thấy rõ tầm nhìn mới và xa của Đảng và
thể hiện năng lực tổng kết thực tiễn, nắm bắt quy luật phát triển của thế giới đương đại và cả những quy
luật đặc thù về văn hóa đang tác động đến sự vận động của xã hội hiện đại. Hai luận điểm trên đã gặp gỡ
với những nhận thức có tính đột phá của Liên hợp quốc những năm gần đây về vai trò của văn hóa trong
đời sống hiện đại. Đó là thừa nhận văn hóa là một trong bốn trụ cột của sự phát triển bền vững, làm cho
các lĩnh vực quan trọng của đời sống như kinh tế, chính trị, môi trường, xã hội phải bắt rễ trong văn
hóa, trong đó, đặc biệt, làm cho nhân tố chính trị, đường lối chính trị trở thành giá trị văn hóa và tuyệt
đối không coi thường, hạ thấp hay hy sinh văn hóa để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Câu 18. Như chủ đề thuyết trình của nhóm bạn đó là “ Văn hóa soi đường quốc dân đi “ và các
văn kiện của Đảng đều khẳng định phải đặt văn hóa ngang tầm với chính trị và kinh tế, coi văn
hóa là động lực tinh thần của sự phát triển. Theo bạn, trong thực tế, vấn đề này đã được thực sự
được coi trọng hay chưa?
Tại Hội nghị Văn hóa lần thứ nhất năm 1946, Bác Hồ đã nói: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. 75
năm qua, lời Bác dặn vẫn là ánh sáng chỉ đường định hướng cho văn hóa phát triển.Đảng đã đề ra nhiều
Nghị quyết quan trọng để khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, động lực, mục tiêu phát triển xã
hội.Xây dựng, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho sự phát triển con người vì con người là trung tâm của xã
hội. Đó là văn hóa đã đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội - một nhiệm vụ hết sức quan trọng của văn hóa.
Tuy nhiên, văn hóa còn nhiều bất cập trong đời sống xã hội vì văn hóa có lúc, có nơi chưa được
đặt “ngang hàng” với kinh tế, chính trị, xã hội. Mặt khác, do tác động của kinh tế thị trường, cũng xuất
hiện không ít những mặt trái.Trong đó phải kể đến như: Đạo đức xã hội xuống cấp; văn hóa truyền
thống đang bị mai một; đời sống văn hóa ở các vùng miền có sự chênh lệch về thụ hưởng; văn nghệ sĩ
gặp khó khăn, một bộ phận không nhỏ không sống được bằng nghề; không có nhiều tác phẩm văn học
nghệ thuật có giá trị tư tưởng và chất lượng nghệ thuật cao…
Các Nghị quyết của Đảng về văn hóa ra đời, Chính phủ đã xây dựng nhiều chương trình, giải pháp để
triển khai thực hiện. Nhưng những chương trình, giải pháp này đi vào đời sống còn gặp nhiều khó
khăn.Bởi thế, đời sống văn hóa trong thời gian qua chưa được nâng tầm đúng với vị trí là “chân kiềng”
vững chắc của xã hội.Có những cán bộ nhận thức về văn hóa còn ở dạng mơ hồ, coi văn hóa là “cờ, đèn,
kèn, trống”, hoạt động đơn thuần mang tính hành chính...Xuất phát từ thực tế đó nên việc bố trí công tác
cán bộ; đầu tư cơ sở vật chất; đầu tư kinh phí; công tác đào tạo; chế độ chính sách... cho đội ngũ cán bộ
làm văn hóa, chính sách đối với văn hóa văn nghệ còn nhiều bất cập, chưa xứng tầm.
Câu 19. Trong những năm vừa qua, Đảng và nhà nước đã làm gì để tiếp nối tinh thần “Văn hóa
soi đường cho quốc dân đi”
Trước yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển đất nước, lĩnh vực văn hóa còn bộc lộ một số
hạn chế, bất cập như đã xuất hiện các hiện tượng văn hóa tầm thường, dễ dãi, mang tính thị trường; các
biểu hiện “lệch chuẩn” trong hưởng thụ văn hóa. Môi trường văn hóa, đạo đức xã hôị , đạo đức kinh doanh, trách nhi êṃ
nghề nghiêp, quy tắc ứng xử, văn minh công công chưa được xây dựng
theo hướng văn hóa… Đời sống văn hóa, tinh thần ở một số nơi còn đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ
văn hóa chậm được rút ngắn.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ ra nhiệm vụ trọng tâm là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”. Đây là những quan điểm, nội dung hết sức quan trọng,
xuyên suốt, có tính thế thừa và có nhiều điểm mới về phát triển văn hóa. xác định nhiệm vụ tham mưu,
đề xuất xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa, thể thao và du lịch là nhiệm
vụ trọng tâm ưu tiên, đột phá phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ, trên cơ sở xuất phát từ thực
tiễn. Giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030 tập trung tham mưu, đề xuất xây dựng các dự án luật, nghị
định thuộc lĩnh vực văn hóa .
Triển khai thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 với 3 trụ cột, gồm tăng
cường đầu tư, đổi mới sáng tạo và đột phá thể chế nhằm phát huy vai trò của trụ cột văn hóa gắn liền với
trụ cột kinh tế, chính trị, xã hội theo hướng phát triển bền vững.
Ba là, định hình hệ sinh thái văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Việc tham mưu, đề
xuất xây dựng thể chế theo hướng gắn văn hóa với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội chính là giải pháp
căn cốt để hình thành hệ sinh thái có khả năng thúc đẩy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa; tạo sự chủ
động hợp tác và quảng bá các giá trị văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam ra thế giới
nhằm gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, định vị “thương hiệu quốc gia”, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.
Bốn là xây dựng con người Viêṭ Nam phát triển toàn diên. Sự hoàn thiêṇ con
người cần và chỉ có thể thực hiêṇ được trong văn hóa và bằng văn hóa. Do đó,
cần xác định và thực hành hệ giá trị con người Việt Nam với những phẩm chất phù hợp yêu cầu của thời
đại mới như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo và hội nhập.
Năm là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có trọng tâm, trọng điểm để phát huy sức mạnh
mềm của văn hóa Việt Nam, dựa trên sự sáng tạo, khoa học công nghệ và bản quyền trí tuệ, phấn đấu
đạt mục tiêu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030; gắn phát
triển văn hóa với phát triển du lịch, đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ, gìn
giữ tài nguyên văn hóa cho các thế hệ mai sau.
Sáu là quan tâm, dành nguồn lực thỏa đáng để đầu tư cho văn hóa.
Câu 20. Toàn cầu hóa như một cơn lốc mạnh, mặc dầu đã có sự chuẩn bị, song chúng ta chưa
lường hết được tác động phức tạp của quá trình đó. Theo các bạn, những tác động tiêu cực của
toàn cầu hóa đến văn hóa như thế nào?
Do sức sống nội tại và bản lĩnh của văn hóa Việt Nam, do đã từng trải nghiệm qua một quá trình
lịch sử lâu dài biết sàng lọc và tiếp thu các giá trị văn hóa từ bên ngoài vào Việt Nam, và do đường lối
chỉ đạo phù hợp với quy luật, nên từ những năm đổi mới, cùng với quá trình hội nhập và giao lưu văn
hóa quốc tế, nền văn hóa đương đại Việt Nam đã trở nên phong phú, đa dạng và hiện đại hơn. Một số giá
trị văn hóa truyền thống được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp hơn với thời đại và với sự phát triển đang
vươn lên hiện đại hóa của dân tộc ta.
Tuy vậy, từ kinh nghiệm lịch sử và từ thực tiễn những năm gần đây, chúng ta cần đặc biệt chú ý
đến tác động tiêu cực của xu hướng toàn cầu hóa trên lĩnh vực văn hóa.
Toàn cầu hóa kinh tế, thông qua hợp tác quốc tế, chuyển giao cống nghệ và các quá trình kinh
doanh, quản lý, tổ chức, thông qua tài trợ và đầu tư, thương mại..., một vài thế lực đã và đang có mưu đồ
sâu xa, thực hiện sự tấn công vào chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức và tâm lý,... của đất nước ta.
Xuất hiện sự áp đặt vô hình một số giá trị văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa Việt Nam. Xuất
hiện và len lỏi phát triển vào văn hóa dân tộc những “giá trị” văn hóa theo khuynh hướng xã hội công
nghiệp hiện đại và mặt trái của kinh tế thị trường như chủ nghĩa thực dụng kinh tế, lối sống tiêu thụ,
hưởng thụ, khát vọng tiền tài, tư tưởng kỹ trị và vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, sự sùng ngoại và đua
đòi những lối sống và thị hiếu thấp kém, xa lạ, không phù hợp với dân tộc, những tệ nạn xã hội nguy
hiểm như ma tuý, mại dâm,...Thực tiễn đó cho chúng ta rút ra một bài học, một kinh nghiệm quan trọng
rằng, không thể xem thường những tác động tiêu cực của sự tấn công, sự “áp đặt” văn hóa đó.
Thời gian qua, ở nước ta đã diễn ra không ít sự đảo lộn các giá trị văn hóa, trong đó các giá trị văn
hóa tốt đẹp, truyền thống như trọng tình nghĩa, ưu tiên về mặt đạo đức, vị tha, trung thực,... bị lấn lướt,
xâm hại, sự lên ngôi của những giá trị ngoại lai, xa lạ trong một bộ phận quần chúng, sự lộn xộn, lúng
túng, bị động, không bình yên trong đời sống tinh thần, trong lối sống và thị hiếu, trong đạo đức, đặc
biệt những biến động phức tạp của các lĩnh vực tâm linh, tôn giáo,...
Câu 21. Trong phần liên hệ thực tiễn VN hiện nay, các bạn có nói : “Nhiều di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo” vậy các bạn có thể đưa ra 1 ví dụ và chỉ rõ xem VN đã làm
những gì cho vật thể/phi vật thể đó ?
Có thể thấy ở slide nói về di sản văn hóa phi vật thể, chúng mình có đưa hình ảnh áo dài vào. Việt
Nam không những đang nỗ lực bảo tồn mà còn cố gắng từng bước để áo dài được công nhận là di sản
văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) quốc gia, hướng tới đề trình ghi danh vào danh sách DSVHPVT đại
diện của nhân loại. Thời gian qua, nhiều hoạt động đã được tổ chức nhằm ráo riết chuẩn bị ghi danh áo
dài vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tiến tới lập hồ sơ trình UNESCO xem xét.
Nhằm bảo tồn, phát huy hiệu quả giá trị di sản áo dài tiến tới xây dựng hồ sơ đệ trình Tổ chức Giáo
dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhân
loại, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa phê duyệt đề cương đề án “Huế - Kinh đô áo dài”.
Đề án đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể, như: Tuyên truyền, quảng bá về giá trị, thương hiệu Áo dài
Huế, xây dựng và phát triển thương hiệu “Huế- Kinh đô Áo dài Việt Nam”. Khuyến khích từng bước
đưa Áo dài Huế trở thành trang phục truyền thống trong các không gian văn hóa, hoạt động lễ nghi, lễ
hội truyền thống nhằm tạo nét đặc trưng riêng có của vùng đất Cố đô Huế. Tổ chức Ngày hội Áo dài
Huế trở thành chuỗi sự kiện văn hóa cộng đồng, được tổ chức định kỳ 2 lần/năm, là điểm nhấn của các
kỳ lễ hội tại Huế, đặc biệt là các kỳ Festival Huế.
Nhằm bảo tồn, giữ gìn bản sắc áo dài truyền thống, hướng tới chuẩn bị ghi danh áo dài vào Danh
mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, những năm qua, Bộ VH Thể Thao & Du Lịch đã phối hợp với
nhiều bộ, ngành, địa phương tổ chức nhiều chương trình, sự kiện, hoạt động nhằm nâng cao ý thức, trách
nhiệm của các tầng lớp Nhân dân trong việc gìn giữ, phát huy giá trị của áo dài truyền thống cũng như
đề ra những giải pháp quản lý, bảo vệ phù hợp, bảo đảm sức sống của di sản.
Đơn cử, vào tháng 4/2021, hơn 600 bộ áo dài đa dạng về phong cách, kiểu dáng, sắc màu cùng hội tụ,
khoe vẻ đẹp tại không gian văn hóa Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) trong sự kiện “Áo dài của
chúng ta”. Trước đó, chào mừng thành công Đại hội XIII của Đảng và kỷ niệm 111 năm Ngày Quốc tế
Phụ nữ (8/3/1910 - 8/3/2021), T.Ư Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động "Tuần lễ áo dài" từ ngày
1-8/3 trên toàn quốc. Ngoài ra, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, một chuỗi các hoạt động kỷ niệm, tôn
vinh áo dài Việt Nam được tổ chức. Bên cạnh việc vận động cán bộ, công nhân viên mặc áo dài, bảo
tàng đã tiếp nhận hình ảnh, tài liệu hiện vật với chủ đề "Ký ức và di sản".
Câu 22. Nhiều người nhìn nhận chủ tịch Hồ Chí Minh như một biểu tượng văn hóa Việt Nam. Các
bạn có đồng ý với quan điểm này không ? Tại sao ?
Hoàn toàn đồng ý. Hồ Chí Minh chính là người mở đường xây nền văn hóa mới ở Việt Nam
và là cầu nối đưa văn hóa việt nam đến với thế giới. Những giá trị bền vững tạo nên bản sắc văn hóa
Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm; là tình đoàn kết,
yêu thương gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; là lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình
đạo lý, là tính cần cù, sáng tạo trong lao động, giản dị trong lối sống..., tất cả đều hội tụ và tỏa sáng ở vị
Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận
xét trong công trình Hồ Chủ tịch - hình ảnh của dân tộc: “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn
bất cứ người Việt Nam nào hết”. Nhưng ở “người Việt Nam này” luôn hiện diện thái độ trân trọng mọi
giá trị văn hóa của nhân loại, không ngừng rộng mở tiếp nhận những yếu tố tích cực, tiến bộ để làm giàu
thêm cho văn hóa Việt Nam.
Trong tư duy và trong hành động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam kiên quyết
kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng không chống lại những giá trị văn hóa của nhân dân Pháp,
chống đế quốc Mỹ nhưng vẫn trân trọng những truyền thống văn hóa - cách mạng Mỹ.
Câu 23: Theo các bạn để có 1 nền văn hoá mang tính dtoc thì lớp trẻ cần làm gì để bảo tồn văn
hoá dân tộc?
Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước do đó có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhất là
trong giai đoạn hội nhập, toàn cầu như hiện nay.
Bản sắc văn hóa dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của nền văn hóa, thể hiện tâm hồn, cốt cách, tình
cảm, lý trí, sức mạnh của dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người gắn bó, đoàn kết với
nhau để cùng tồn tại và phát triển. Những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những động
lực to lớn đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia dân tộc.
Hiện nay nhiều nguồn văn hóa đang du nhập vào nước ta khiến nhiều người dần thay đổi nhận
thức và đánh mất đi những bản sắc, giá trị dân tộc. Hơn lúc nào hết, lúc này chúng ta, nhất là thế hệ trẻ
phải "xung kích" để bảo vệ những giá trị tinh thần lớn lao ấy, để đất nước chúng ta vẫn giữ nguyên được
bản sắc, hòa nhập chứ không hòa tan.
Thế hệ trẻ là mũi nhọn của đất nước trước sự "xâm lược" của văn hóa độc hại. Những người trẻ là
lực lượng xung kích, sáng tạo có vai trò quan trọng to lớn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, họ
là lực lượng trực tiếp tham gia bảo vệ, giữ gìn, bổ sung, phát triển và quảng bá những giá trị bản sắc văn
hóa dân tộc thông qua việc thực hiện nội dung, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để phát huy
vai trò, sức mạnh của mình, thế hệ trẻ nên trau dồi kiến thức về văn hóa dân tộc, lên án những hành vi
sai trái làm suy đồi đạo đức, văn hóa, tuyên truyền những thông tin chính thống, đúng đắn cho mọi
người và phải rèn luyện lối sống tốt đẹp, bảo lưu những giá trị tinh thần của dân tộc.
Thế hệ trẻ là thế hệ sẽ tiếp nối, xây dựng đất nước, chính vì vậy, hơn ai hết họ phải nhận thức, hiểu
được tầm quan trọng của những nét đặc sắc văn hóa, bản sắc dân tộc. cố gắng thực hiện được lời dạy của
Bác Hồ, đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu.
Mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh, sinh viên phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc,
giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu. Học sinh, sinh viên cần phải đặt trách nhiệm
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu. Tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn
hóa tốt đẹp của nước nhà.